CHUYỆN
CỬA THIỀN
Minh
Ðức - Triều Tâm Ảnh
---o0o---
[01]
TÊN ĂN TRỘM
Có tiếng ồn ào ở phía trên
rẫy, Nhà Sư vừa bước ra khỏi thiền thất thì chú Liễu Minh cũng vừa đi tới.
- Bạch Thầy! Rẫy mình vừa
bị mất trộm, sáng nay lên nhổ sắn chúng con mới biết.
- Thế à!
- Dạ mất đâu khoảng chừng
vài vồng.
Nhà Sư dừng lại chậm rãi
nói:
- Con ạ! Mất sắn và trộm
sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta
là nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ
lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng? Ta có
móng khởi một tiếc rẻ nào khi mất đi một ít vật chất, của cải? Ta có thể
san sẻ cho người bằng cách nhịn ăn một vài bữa? Và, sau hết, trong ta có
dậy mối bất bình, phiền não chăng? Chúng ta là người học hạnh giải thoát,
có vấn đề gì phải giải quyết ngoài những việc tương tự?
Liễu Minh sững lại, Nhà Sư
mỉm cười nắm tay chú theo lối mòn lên rẫy.
Liễu Minh nói:
- Bạch Thầy! Hồi nãy, con
với chú Bất Ðạt cãi nhau. Con thì nói "tha", chú Bất Ðạt lại nói "bắt".
Con và chú ấy thường có quan niệm bất đồng.
Bất Ðạt và Bất Ác từ trong
những lùm sắn bước ra, mỗi người tay xách mấy chùm sắn vụn. Thấy Nhà Sư,
Bất Ðạt cất giọng oang oang:
- Bạch Thầy! Cái lũ ăn
trộm này, gặp con, chúng sẽ biết tay!
Liễu Minh cãi lại:
- Biết tay như thế nào?
Chú "bắt" chăng? Ý Thầy là Thầy sẽ "tha" cho phù hợp với tâm từ!
Nhà Sư nói:
- Không, Liễu Minh con!
Thầy không "tha"! Vì tâm từ nên Thầy không "tha"!
Bất Ðạt reo lên:
- Ðó, chú Liễu Minh thấy
chưa? Vì tâm từ nên Thầy không "tha", Thầy sẽ "bắt".
Nhà Sư cười:
- Không, Bất Ðạt con! Thầy
không "bắt"! Vì tâm từ Thầy sẽ không "bắt".
Cả ba chú đều ngơ ngác:
- Bạch Thầy thế thì ...
Thấy vầng trán và cặp chân
mày của Liễu Minh cau lại, Nhà Sư dịu dàng nói:
- Liễu Minh! Con hiểu về
tâm từ như thế nào mà bảo nên "tha"?
- Vì tâm từ là thương
người, yêu chúng sanh!
- Như vậy vì lòng thương
mù quáng, con sẽ dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian!
Bất Ðạt góp lời:
- Vì không muốn dung dưỡng
kẻ trộm trên thế gian, cho nên, con sẽ "bắt" mới đúng nghĩa tâm từ!
- Như vậy vì tâm mù quáng,
con sẽ nuôi dưỡng hận thù giữa cuộc đời!
Im lặng một lúc, nhà Sư
tiếp:
- Các con ạ! Từ bi là vậy
mà không phải vậy. Thật ra, trong các con, chưa ai hiểu tâm từ là gì!
Biết là cả hai chú đều rơi
vào mối hoài nghi to lớn, nhưng Nhà Sư vẫn chưa trả lời vội, người dẫn cả
ba chú đến một lùm cây rậm, chỉ vào đám cỏ rạp .
- Ðêm kia, Thầy thấy cậu
ăn trộm rình núp ở đây. Người bạn ăn ban đêm kiên nhẫn đợi Thầy tắt đèn và
đi nghỉ, nên Thầy đã tắt đèn và đi nghỉ!
Không cưỡng được ý mình,
Liễu Minh buộc miệng:
- Thế là Thầy đã tha!
- Ừ! Thầy đã tha nhưng cái
tha của Thầy khác với tha của con. Thầy tha mà không dung dưỡng kẻ trộm
trên thế gian, vì may mắn làm sao, tên trộm kia sẽ không còn ăn trộm nữa!
Im lặng một lúc, Chú Liễu
Minh lại nói:
- Thế là con sai ít mà chú
Bất Ðạt sai nhiều. Thầy đã không "bắt"!
- Không, không phải thế
đâu con! Thầy có bắt, nhưng không nuôi dưỡng hận thù, nên cái bắt của Thầy
khác với cái bắt của Bất Ðạt!
- Ðầu óc của các đệ tử rối
loạn như mớ bòng bong, như tổ chim, chẳng biết đạo lý câu chuyện nó nằm ở
đâu nữa!
Buổi chiều, trong giờ học
Ðạo, Nhà Sư lấy trong túi ra một lá thư bằng giấy học trò, nét chữ cứng
cáp, không thẳng hàng thẳng lối, chẳng có chấm phết, sai chính tả lung
tung.
Liễu Minh và Bất Ðạt chăm
chú đọc:
"Thưa Thầy,
Thầy biết con là thằn
ăn cắp không những hai vồng thắn mà còn ăn cắp một tượng Phật
nhỏ bằng đồng đen, ăn cắp mười giò phong lan tước đây nữa. Thầy
biết mà Thầy lặng lẽ không nói với ai, cũng không hề tả lời một câu
khi công an xã qua điều ta! Bây giờ Thầy lại còn giúp con vốn
liếng, tiền ăn tiêu mười ngày để con lên " đá bạc" khai thác đá là nghề cũ
tước đây của con. Tiền Thầy cho, con còn dư dã để để thắm thanh
dụng cụ hành nghề. Ơn đức Thầy thật là kể thao cho xiết. Con hứa từ
nay cho đến tọn đời, con thề làm người lương thiện để khỏi phụ tấm
lòng cao cả của Thầy.
Con, ..."
Lá thư bên dưới có ký tên
nhưng Nhà Sư đã lấy kéo cắt đi rồi.
Bất Ác bây giờ mới cất
giọng nói:
- Con nhận nhiệm vụ bí mật
của Thầy, con biết cả. Con nghe hai chú Liễu Minh và Bất Ðạt cãi nhau, con
chỉ cười.
Nhà Sư hỏi:
- Con cười sao?
- Con cười vì cả hai chú
đều sai!
- Không đâu con! cả hai
chú đều không sai!
Câu trả lời của Nhà Sư
thật bất ngờ.
Nhà Sư lại phải giải
thích:
- Cả hai đều không sai,
nhưng cả hai chú không đúng! Tại sao vậy? Vì trên sự tướng, tha hay bắt
không quan trọng. Tha hay bắt chỉ quan trọng là khi tha để làm gì và bắt
là để làm gì? Tha rồi có giáo hóa được người và bắt thì có giáo hóa được
người? Trên tất cả, đối với chúng ta, tha hay bắt là để học bài học
giác ngộ mà thôi!
Bất Ðạt chợt nói:
- Ý con cũng có thể là vậy
lắm! Con " bắt " rồi con sẽ tìm cách giáo dục người ta nữa chứ!
Liễu Minh nhíu mày:
- Chú mà giáo dục! Chú
thượng cẳng chân hạ cẳng tay thì có! Rồi chú còn bắt trói người ta mà giải
qua công an! Cái bắt ấy là cái bắt của người đời, chỉ tăng thêm oán thù
chứ không được tích sự gì!
Bất Ðạt không giận mà cười
khì khì:
- Còn chú thì sao hử? Chú
" tha" rồi chú giáo dục người ta làm sao nào, nói đi? Tha trống không cái
kiểu của chú thì chi bằng kêu ba thằng trộm vô khiêng chùa chiền đi hết
cho khỏe! Vậy là tha theo hạnh " Bố thí Ba la mật" đấy!
Nhà Sư khoát tay:
- Các con tranh cãi hay
tranh luận đấy? Các con đừng nghĩ rằng giải pháp của thầy là tối ưu, từ
đó, lấy làm thước đo để xử sự ở đời! Các con có biết rằng, tha hay bắt chỉ
là sự thể hiện bên ngoài? Tha hay bắt rồi sau đó tìm cách giáo hoá, cũng
chỉ là sự khôn ngoan của sự thể hiện bên ngoài ấy mà thôi. Có một cái tâm,
các con ạ! Khi biết cái tâm ấy, trú nơi cái tâm ấy, thì tha hay bắt đều
trở nên đúng cả vậy. Tâm ấy là tâm gì, ai biết?
Cả ba chú đồng đáp:
- Dạ, Tâm Từ!
- Ðúng thế! Vậy thì từ rày
về sau, khi gặp bất cứ tình huống nào cũng phải sáng suốt, bình tĩnh.
Sáng suốt là Tuệ, bình tĩnh là Ðịnh. Từ Tuệ, từ Ðịnh mà khởi Tâm Từ,
thì mọi hành động của các con đều phù hợp với giáo Pháp cả, không sợ sai
lầm đâu!
- Chúng con đã hiểu cả
rồi. Ôi! Thật tuyệt vời thay cái bài học hôm nay!
Nhà Sư từ bi nhìn ba chú,
tủm tỉm cười, thầm nghĩ: "Chỉ nên dẫn cho chúng lên ngang chổ đó thôi!
Chúng đâu có hiểu rằng, Tâm Từ mà
còn có trước ý, dụng ý, còn vấn đề lợi và hại, hay và dở, tốt và xấu thì
Tâm Từ ấy đâu đã được gọi là Từ vô lượng?"
-ooOoo-
CON CHIM SẺ
Một ngày vừa lên bên ngoài
khung cửa. Bình minh. Mùa xuân. Nắng nhẹ lung linh trên những đọt lá xanh
non.
Rời bàn viết, Nhà Sư đi
lần về phía cửa sổ. Muôn hoa nở đầy vườn. Nhà Sư vươn vai đón nhận làn
thanh khí mát mẻ của đất trời mà cảm nghe một hoà điệu mênh mông, chan hoà
với vạn vật.
- Bạch Thầy, bạch Thầy ...
Tiếng gọi ngập ngừng từ
bên ngoài vọng vào. Nhà Sư quay lại:
- Liễu Minh đấy à? Có
chuyện gì vậy con?
Liễu Minh mở nhẹ cánh cửa:
- Sau giờ công phu khuya
đến giờ, chẳng hay Thầy bận rộn điều gì mà không ngồi Thiền theo lệ
thường?
Nhà Sư mỉm cười dịu dàng:
- Con thấy Thầy chong đèn
rồi bảo Thầy bận rộn đó à?
- Con ... con ...
Nhà Sư cất giọng từ ái:
- Con ạ! Ðọc sách, xem
kinh không phải là bận rộn; viết truyện, biên khảo không phải là bận rộn.
Cho chí lao động suốt ngày, làm việc để kiếm thêm sắn khoai, rau cải cũng
không phải là bận rộn. Trái lại, có kẻ công việc chẳng làm ra đầu ra đũa,
bỏ mứa chuyện này, bỏ phế chuyện kia, lăng xăng, loay hoay ... mà bận rộn
suốt cả cuộc đời! Hai trường hợp ấy khác nhau ra sao con có hiểu không?
Khác nhau ở cái "tâm" con có biết không?
- Dạ, con đâu có dám nghĩ
là tâm Thầy bận rộn ... Con chỉ hỏi chừng sức khỏe của Thầy!
Nhà Sư ôn tồn:
- Con thấy đó, Thầy làm
việc nơi bàn viết mỗi ngày năm, sáu tiếng, lao động chân tay hai, ba
tiếng; công phu hành thiền hai hoặc ba thời; còn tập thể dục, yoga, thái
cực quyền ... nữa. Ơn Phật cho Thầy được sức khỏe nên chẳng bao giờ uống
thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc; thế mà rất ít ốm bệnh, vài ba năm chỉ
nhức đầu, sổ mũi sơ sơ ... vậy thì còn đòi hỏi gì nữa hở con?
Liễu Minh cúi đầu. Nhà Sư
khẽ vỗ lên vai chú:
- Mà cho dù sức khỏe có sa
sút, có ốm đau này nọ cũng là chuyện thường tình. Có thân ắt có bệnh. Mình
muốn thân này không bệnh là đi ngược lại với vận hành tự nhiên của định
luật. Vậy là không được. Vậy là dục vọng. Người hiểu Ðạo phải sống theo
Pháp, thuận Pháp.
- Dạ, con đã hiểu.
- Còn nữa, đấy là chưa nói
cái chí hướng, cái chí nguyện. Ðức Bồ Tát thí thân cứu hổ dữ, cắt thịt
mình cho chim ăn, hy sinh cái thân vì hạnh phúc cho phần đông. Chúng ta là
kẻ xuất gia, cái thân này chỉ tạm mượn mà tu hành. Lại nữa, xuất gia là ý
chí tối thượng, là Ba La Mật; như mũi tên kia đã đặt trên dây cung, như
hành trang nọ đã chuẩn bị sẵn với con thiên lý mã; vậy chỉ còn là sự tinh
tiến, quyết tâm lên đường nữa thôi. Có sá gì cái thân này hở con?
Liễu Minh gục gặc đầu ra
vẻ lãnh hội được bài học, chú nói:
- Thế ra cái thân này chỉ
dùng để mà thể nghiệm Ðạo lớn?
Nhà Sư cười:
- Ðúng, nhưng không cần
nói đao to búa lớn như vậy. Giới nơi thân có ba, có ba là nói theo pháp
học chứ thật ra là hằng chục. Không phải chỉ có sát, đạo, dâm ... mà tất
thảy những vọng động của thân, những lắc lư, ưỡn ẹo, tay đấm chân đá nữa!
Mỗi lần xin giới con đều có đọc: "Con xin vâng giữ điều học ..." Ðiều học
gì? Phải học bài học giác ngộ ở đó!
Nhà Sư tự nghĩ: "Ðơn giản
vậy mà không dễ gì nó lãnh hội hết đâu, nhưng chỉ cần cái gợi ý, gợi ý
đúng hường nó sẽ tư duy đúng hướng".
Lát sau, Nhà Sư ân cần nắm
tay Liễu Minh đi về hướng chánh điện. Mùi hoa huệ trắng tỏa hương thơm
tinh khiết phảng phất trong không gian.
- Con chim sẻ, bạch Thầy!
Con chim sẻ hồi hôm vẫn còn!
Theo hướng tay chỉ của
Liễu Minh, Nhà Sư thấy phía trên bệ thờ, một con chim sẻ đang kêu chiêm
chiếp, vươn vai ưỡn cánh vô tư ...
Nhà Sư nói:
- Con chim kia có vẻ vô
tư, thoải mái con nhỉ! Dường như đó là những giây phút hạnh phúc, bình yên
của nó.
- Vâng, quả có vậy.
Trầm ngâm giây lâu, Nhà Sư
hỏi:
- Con có thể cho Thầy biết
rằng, là cái hạnh phúc, bình yên kia có chân thật không? Hay là ẩn sau cái
hạnh phúc, bình yên ấy là những sợ hãi, những lo âu?
Vầng trán đầy thông minh
của Liễu Minh chợt cau lại. Nhà Sư biết là mình đã đặt một câu hỏi vượt
quá sức của chú. Vừa định tìm cách khơi dẫn thì con chim sẻ cũng vừa cất
cánh bay lên khung cửa gương phía trên cao. Chim vì thấy có người, định
tìm lối thoát nhưng cũng bị dội ngược trở lại. Ðã mấy lần chim lặp lại mãi
cái nổ lực vô vọng ấy.
Liễu Minh chợt reo lên:
- Con tìm ra câu trả lời
rồi! Hạnh phúc, bình yên kia chẳng phải là cái chân thật, chỉ là cái tạm
thời. Bạch Thầy vì quê hương nó không phải là ở đây, mà ở phía bên ngoài
cửa gương, nơi bầu trời mênh mông, cao rộng ...
Nhà Sư nhè nhẹ gật đầu:
- Con đã nghĩ đúng. Ôi!
Nếu cái nghỉ ngơi tạm thời kia mà được gọi là hạnh phúc, bình yên thì hạnh
phúc, bình yên của đời người mới ngắn ngủi, mới đáng mỉa mai làm sao, con
nhỉ! Thụ hưởng được tí chút hạnh phúc, bình yên để rồi phải đối đầu với
mọi nỗi lo âu, sợ hãi. Thụ hưởng được tí chút hạnh phúc, bình yên để rồi
nhận ra rằng mình đang bị vây bủa trong bốn bức tường cao!
- Liễu Minh, con! Hãy nhìn
thêm sự đau khổ đã rã rời trên đôi cánh của chim. Con hãy nhìn để biết, để
thấy và để cứu!
Trên cao, chim vẫn láo
liêng, ngơ ngác, bay ngược bay xuôi; vẫn lặp đi lặp lại mãi cái động tác
quen thuộc: lao vào liền bị dội ra!
Như đã không còn chịu đựng
nổi cái đau khổ của chim, Liễu Minh hốt hoảng:
- Hãy cứu, bạch Thầy, hãy
cứu nó!
Vừa nói, Liễu Minh vừa
chạy tới chạy lui đầy thương yêu và đầy lo lắng; nhưng khoảng cách giữa
người đến chim quá xa, chẳng thể làm gì được. Chú vỗ tay, chú đập thùng,
chú hét, chú la ... Tất cả đều vô ích. Nỗ lực của chú chỉ làm cho chim hốt
hoảng, sợ hãi thêm mà thôi.
Nhà Sư cũng thương yêu
chim nhưng bình tĩnh hơn. Nhà Sư đưa mắt nhìn quanh, quan sát và suy nghĩ
biện pháp, rồi nói:
- Con chạy ra sau vườn,
nơi chỗ cây khế, lấy ngay cây sào vào đây.
Khi đã có cây sào, Nhà Sư
lấy tấm vải rách cột lên đầu sào. Chỉ cho Liễu Minh thấy lỗ hổng thông gió
ở đầu hồi chánh điện, Nhà Sư hướng dẫn chú xua chim vào hướng ấy.
Quả nhiên, theo cách làm
như vậy, lát sau chim sẻ được cứu thoát ra ngoài.
Liễu Minh thở một hơi dài
nhẹ nhõm:
- Nếu không có Thầy thì
con chỉ làm cho nó thêm sợ hãi. Con quả là thiểu trí.
- Con đã tỏ ra đầy lo
lắng, thương yêu khi chim bị nạn, như vậy là có lòng từ bi. Nhưng nếu
thiếu trí, thì từ bi kia sẽ rơi vào những tình cảm sướt mướt, bá vơ, đôi
khi không hữu ích gì cho cuộc đời này; lại làm cho cuộc đời này thêm rối
loạn, như chim đã rối loạn. Thiếu Trí con sẽ chạy tới chạy lui mãi
giữa thế gian, thương người, thương đời nhưng không biết làm sao mà cứu!
Thấm thía bài học, Liễu
Minh rưng rưng như chực sa nước mắt.
Nhà Sư bước tới điện thờ,
tự tay đốt đèn cầy, thắp hương, xông trầm với tư thái chậm rãi, cẩn trọng,
trang nghiêm. Rồi Nhà Sư nói:
- Con hãy đến đảnh lễ Phật
- nhìn Liễu Minh đảnh lễ, Nhà Sư tiếp - đảnh lễ một cách định tĩnh, buông
xả cả thân lẫn tâm! Ngay giây phút đảnh lễ thì bản ngã, kiêu căng, tham
sân, sầu muộn ... thảy đều phải được buông xuống hết. Ðảnh lễ là giải
thoát thân, giải thoát tâm, giải thoát trí đấy con ạ! Thôi
được, xong rồi, bây giờ con hãy ngồi xếp bằng theo thế liên hoa và nhắm
mắt lại.
Thấy Liễu Minh làm y lời,
Nhà Sư nói:
- Những tạp niệm đã lắng
xuống rồi, bây giờ hãy làm cho tâm trong sáng và lớn rộng hơn. Con có nghe
rõ đấy không?
- Dạ, nghe rõ.
- Con có thấy bầu trời
trong xanh và cao rộng chưa?
- Dạ thấy rồi.
- Bây giờ con hãy "tưởng"
con là bầu trời, không một tư niệm nào; một bầu trời rộng lớn, vô biên,
trong sáng không hề có một đám mây nào gợn! - Chăm chú nhìn Liễu Minh, lát
sau Nhà Sư tiếp - Vậy là tốt, hãy cứ để tâm như vậy chừng năm, mười phút.
Cuộc đối thoại chìm trong
im lặng. Trầm, hương mênh mang tỏa khói, những sợi nhỏ lãng đãng uốn mình
xuyên qua những tia nắng bình minh rồi tan hòa mất hút giữa thinh không.
Vài tiếng động bên ngoài cũng chợt như xa vắng. Thời gian và không gian
đọng lại trong vũng sáng lưu ly ... nơi cái giây phút hư không, vô nhiễm.
Tất cả đều là hư không, vô nhiễm!
Nhà Sư "đánh thức" Liễu
Minh:
- Thôi, đủ rồi con!
Liễu Minh mở mắt ra.
- Tâm hồn con bình yên rồi
đấy chứ!
- Dạ vâng.
- Cái hư không vô nhiễm
kia không phải là Niết Bàn nhưng là chỗ "tạm thời nghĩ ngơi" của chúng ta!
Chỗ "tạm cư" ấy nó nhẹ nhàng hơn, yên ổn hơn tất cả những cái gọi là hạnh
phúc giữa cuộc đời này. Khi nào phiền muộn con hãy đến đó mà nghĩ ngơi
nhá! Con chưa thiền quán được thì tạm thời lấy cái "tưởng" hư không vô
nhiễm ấy làm nơi an trú ...
- Dạ, con nghe rõ.
- Còn nữa! Thầy phải cần
lặp lại rằng, cái chỗ nghỉ ngơi của con chim sẻ là không yên ổn, chỗ nghỉ
ngơi vừa rồi yên ổn hơn, nhưng nó chưa phải là mục đích phạm hạnh của
chúng ta. Bài học của con chim sẻ không phải chỉ có chừng đó, con hãy
chiêm nghiệm thêm. Nhớ nhé!
Buổi tối, sau giờ tụng
kinh, Nhà Sư hỏi:
- Từ chuyện chim sẻ hồi
sáng, con học thêm được bài học gì, nói cho Thầy nghe thử xem?
Liễu Minh vòng tay:
- Con suy nghĩ kỹ rồi,
bạch Thầy! Thuở mới vào chùa, con tưởng đời sống tu sĩ nhàn hạ, thảnh
thơi. Nhưng con đã lầm, sự nhàn hạ thảnh thơi ấy dễ phát sanh những thụ
hưởng ích kỷ, biếng nhác. Vậy con chính là con chim sẻ ấy và Thầy là người
dẫn lối đưa đường, cho con ánh sáng để thấy rõ mình hơn .
- Rất tốt. Vậy còn bài học
gì nữa?
- Thầy đưa con đến chỗ hư
không vô nhiễm mà Thầy còn nói đó là chỗ nghỉ ngơi tạm thời. Bởi chính
ngay nơi chỗ nghỉ ngơi ấy cũng dễ phát sanh thụ hưởng, ích kỷ, vị ngã. Con
đã hiểu như vậy, là bài học thứ hai, không biết có sai lầm chăng, bạch
Thầy?
- Không sai đâu! Còn bài
học nào nữa hở con?
- Bây giờ, chim sẻ không
còn là con nữa mà chim sẻ chính là hình ảnh của chúng sanh vạn loài. Vì
vô minh, vì ái dục, chúng sanh cứ mải mê trong hạnh phúc tạm bợ
thế tình, những thoả mãn ngũ dục phù du. Khi nhìn lại thì xung quanh đã bị
vây bủa bít bùng, không còn tìm thấy lối ra. Ðâu đâu cũng là bóng đêm. Ðâu
đâu cũng là tử sinh và nước mắt. Bạch Thầy, đấy là bài học thứ ba .
Nhà Sư mỉm cười:
- Khá lắm! Nhưng dường như
con muốn nói gì đó nữa?
- Dạ đúng thế. Con còn
muốn ví con rằng, tấm gương mỏng và trong trên cửa sổ cao kia được ví như
màn vô minh. Vì trong và mỏng quá nên chúng sanh không biết đấy là
vô minh. Nhưng vô minh dầu mỏng, dầu dày cũng rất khó thấy. Ðối với kẻ
trí, ít nghiệp chướng thì nó rất mỏng. Ðối với người ngu, nhiều nghiệp
chướng vì nó chắc hẳn phải dày. Nhưng, đập vỡ nó ra thì bên kia là vùng
trời giải thoát!
- Lành thay! - Nhà Sư tán
thán - Con còn muốn nói gì nữa không?
- Bạch Thầy! Hồi sáng nhờ
cây sào của Thầy, con mới đưa chim ra được bầu trời tự do. Cây sào ấy được
ví như là Giáo Pháp, nói gọn và gần hơn nó chính là Bát Chánh Ðạo mới đưa
được chúng sanh từ nơi lo âu, sợ hãi, phiền muộn đến nơi giải thoát an
vui!
- Hay lắm!
- Bạch Thầy - Liễu Minh
say sưa nói - Phải xua, phải đuổi, phải đánh, phải đập những con chim sẻ
đần độn, ngu muội! Phải tát vào mặt, phải quất vào lưng những con chim sẻ
ngủ mê, hưởng thụ, biếng nhác! Phải làm cho chúng tỉnh dậy, phải làm cho
chúng ra đi, cho chúng bay, cho chúng thoát. Phải giúp đỡ cho chúng sanh
bằng mọi phương tiện có thể được. Bây giờ không còn là thứ từ bi thụ động,
tiêu cực, nước mắt sướt mướt ... mà phải là bão để cuốn phăng, phải là lửa
để đốt cháy ... cho chúng sanh tỉnh giấc mộng trường! Và ngay chính bản
thân con, con chim sẻ ngu muội, cũng phải biết thủ tiêu cái hèn mọn của tự
ngã, sự nghỉ ngơi tạm thời ... để lên đường, để ra đi ...
- Nói ra đi như vậy, nhưng
con chưa dám nghĩ là để thành tựu điều gì, mà chỉ là đáp đền hồng ân Tam
Bảo, đáp đền ân Thầy Tổ, đàn na tín thí chủ và tình nghĩa đệ huynh. Và
nhất là để khỏi hổ thẹn với chính mình!
- Ðấy là những suy nghĩ
chân chính, đáng khen. Chà! Một con chim sẻ vừa ngu muội đó mà bây giờ đã
trở nên thông minh rồi! Thầy hài lòng lắm, con biết không?
Liễu Minh nở nụ cười sung
sướng còn tươi đẹp hơn mùa xuân bên ngoài.
-ooOoo-
GIÀN BÍ ÐỎ
Sáng nay, cả chùa ai cũng
phải gánh nước tưới cây. Cái khô hạn của nắng hè làm cho cây vườn héo úa,
cháy vàng. Lá xanh như bốc hơi. Ðất đai như lửa nung.
Bất Ðạt nói:
- Phải chăng đây là quả
của nghiệt chướng? của tội lỗi? của tham sân? Làm thế nào để tắt được lửa
này?
Bất Ác than:
- Lửa! Lửa! Ôi! Lạy Phật
từ bi!
Bất Ðạt nhăn mày:
- Cứ than như vậy mà được
à? Thầy nói đúng, chú là kẻ lười biếng, thụ động, tiêu cực. Tu mà chỉ
thích nguyện cầu. Cái cầu nguyện kia hãy để cho người yếu đuối. Nam nhi
như chú phải mạnh dạn lên. Hãy dùng dõng lực của Trí tuệ mà tu, hiểu chưa?
Bất Ác cãi lại:
- Nguyện cầu không được
sao? Ối! Em nguyện cầu hoài rồi thì Ðức Phật cũng cứu. Người tu theo đức
tin, người tu theo trí tuệ, người tu theo tinh tấn; chưa biết rồi mèo nào
cắn "mỉu" nào!
Liễu Minh tưới xong mấy
dây bầu, để thùng gánh nước một bên, bước lại góp chuyện:
- Ðố các chú, lửa này do
đâu mà có?
Bất Ác nói:
- Do nắng hạn chứ sao?
Bất Ðạt lắc đầu:
- Do lòng tham sân của con
người! Chú em không biết thì ngồi dựa cột mà nghe!
Bất Ác tức tối:
- Chú khi nào cũng ưa áp
đảo người khác. Vậy do nguyên nhân gì hở chú Liễu Minh?
Liễu Minh cười đáp:
- Chú Bất Ðạt nói đúng
đấy! Này nhé! Do lòng tham của con người mà phá rừng làm gỗ, làm củi, đốt
than. Cứ mỗi phút như vậy, khắp nơi trên thế giới, mất đi hằng trăm ngàn
hecta rừng nguyên sinh. Khắp nơi hạn hán lụt lội là do vậy. Còn nữa, các
chất bụi công nghiệp, các chất thải hóa học làm vẫn đục và nung nóng bầu
khí quyển, nhiệt độ trái đất tăng lên. Hiểm họa môi sinh đã báo động khắp
nơi trên thế giới. Lòng tham vô tận, vô độ của con người đã tự hủy diệt
môi trường sinh thái của mình. Lại nữa, những tâm địa sân hận của thế gian
như ác độc, hận thù, ganh ghét ... như những năng lượng từng giờ từng phút
tung ra bầu khí quyển những sức nóng kinh khiếp. Ôi! Tâm như vậy, cảnh như
vậy, tạo một cộng lực vĩ đại, đến một lúc nào đó trái đất sẽ bị thiêu hủy
ra tro, hà huống ...!
Bất Ác "à" lên một tiếng:
- Trong kinh có nói quả
đất sẽ bị thiêu hủy khi bảy mặt trời xuất hiện?
Bất Ðạt gật đầu:
- Chú em rứa là giỏi! Bảy
mặt trời là như thế. Ðừng hy vọng nhân loại sau này sẽ tốt hơn. Cái tham
lam ác độc của con người mỗi ngày mỗi tăng, và sẽ tăng nhiệt độ cho bằng
bảy mặt trời là vừa "hết ý"!
Bất Ác hỏi "mát":
- Là người tu hành mà chú
hỏi dửng dưng như vậy à?
- Chứ sao! Cho chết luôn!
Liễu Minh cười giàn hòa:
- Chú ấy nói chơi đó mà!
Thôi ta còn đi tưới, thêm nước "từ bi" cho vườn chùa kẻo tội quá!
Nhà Sư từ vườn dưới cũng
vừa gánh nước đi lên. Bỏ nhẹ đôi gánh trên vai xuống, Nhà Sư hỏi:
Các con vừa thảo luận với
nhau chuyện gì?
Bất Ác mau mắn, thưa:
- Dạ ... Nóng. Lửa. Tham
lam, sân hận, ác độc, khô hạn ... là một, cho đến khi bảy mặt trời xuất
hiện thì quả đất địa cầu thành tro! Bạch Thầy!
Liễu Minh và Bất Ðạt thay
nhau kể lại tường tận hơn.
Nhà Sư tán thán:
- Thế là các con đã thấy
được chiều sâu của vấn đề, như vậy là vừa đủ chẳng cần góp thêm ý kiến gì.
Rồi Nhà Sư lại hỏi:
- Trên này đã tưới xong
chưa?
Liễu Minh đáp:
- Dạ! Chỉ còn giàn bí đỏ.
- Vậy các con hãy lấy đôi
nước kia mà tưới cho nó.
Bất Ðạt nhanh tay xách hai
thùng từ từ tưới cho giàn bí đỏ.
Nhà Sư quay qua hỏi Bất
Ác:
- Này con! Mùa này muốn
cho bí ra hoa được đậu trái, chúng ta tưới như vậy đã đủ chưa?
- Dạ thưa - Bất Ác đáp -
vậy cũng tạm đủ, nó sẽ đơm hoa kết trái thôi.
Nhà Sư hỏi Liễu Minh:
- Còn con thì sao?
Liễu Minh đưa mắt nhìn
giàn bí rồi trả lời:
- Nắng hạn quá, bạch Thầy!
Có lẽ phải tưới nhiều hơn nữa!
Bất Ðạt phát biểu ý mình:
- Còn con thì khác. Mùa
này hết thời vụ trồng bí rồi, nên trồng thứ khác.
Nhà Sư im lặng một lúc,
bảo ba chú cùng ngồi xuống, chậm rãi nói:
- Các con biết không,
chúng ta là người tu hành, từ khi bắt đầu công phu cho đến khi giác ngộ
cũng ví như trồng một giàn bí đỏ vậy. Trồng một giàn bí đỏ muốn thành
công, ra hoa và kết trái thì phải làm giàn, sau đó phải đầu tư phân, nước
và công lao chăm sóc. Cái giàn chính là giới, nước chính là đức
tin, phân là trí, công lao chăm sóc là tinh tấn ... Câu
trả lời của Bất Ác chứng tỏ ngay chính đức tin cũng chưa vững vàng, chưa
biết bồi dưỡng và phát huy đức tin. Còn giới, tấn và trí dường như hoàn
toàn thiếu sót. Kẻ tu hành như vậy thường dễ nảy sinh buông xuôi, biếng
nhác, hời hợt. Như vậy cái giàn bí ấy, dẫu có ra trái cũng rụng mất. Quả
Bồ Ðề làm sao lớn, làm sao có kết quả được hở con?
Cả ba chú nghe mà lạnh
mình.
Nhà Sư quay qua Liễu Minh:
- Còn con là người có chút
nghị lực, có chút ý chí phấn đấu, biết tô bồi đức tin, biết nuôi dưỡng và
nâng đở đức tin ... Cái giàn bí kia nếu cứ việc tưới, tưới mãi thì trái
cũng không thể lớn. Con có biết tại sao không?
Liễu Minh gãi đầu. Nhà Sư
nói:
- Vì con không biết thêm
phân! Sở dĩ gọi là thêm phân, vì nó cần phải có trí để soi rọi và
hướng dẫn đức
tin. Tín và trí phải song đôi, ngoài ra phải bỏ công
lao chăm sóc theo dõi cái giàn bí đỏ ấy, nghĩa là phải cần có tinh tấn
nữa, thì may ra quả Bồ Ðề mới có cơ hội tăng trưởng. Con biết như vậy chứ?
Nhà Sư quay qua Bất Ðạt:
- Con luôn là người ngược
lại với huynh đệ! Con thuộc căn trí nên nhặm lẹ, mau mắn, nhưng
nhặm lẹ, mau mắn thì dễ sinh ra nóng nảy, gốc của tâm sân. Trí phát
triển thì nghi dễ sinh và tín dễ mất. Vậy thì con cần bồi
dưỡng đức tin. Ðức tin là nước và từ bi cũng là nước, con
cần hai yếu tố mát mẻ này may ra mới quân bình được đời sống phạm hạnh!
Nhà Sư như đọc được tâm ý,
sở học, sở hành của mỗi người nên ba chú ngồi im re.
- Các con xem kìa! Hồi nãy
Thầy có nhắc đến giới là lý do này đây. Dây bí kia không có gì nâng đỡ
phía dưới nên không biết bám víu vào đâu. Cũng vậy, cuộc sống trên đời của
những kẻ không có giới, cũng bò, nhưng không biết bò về đâu, vất
vưởng, lênh đênh, vô định. Dẫu có hoa có trái cũng teo tóp, rồi thân bí sẽ
bị lôi tuột xuống đất đen, xuống vực! Do vậy tín, giới, tấn, trí là
cái gì căn bản nhất, cần thiết nhất cho mỗi người để trồng môït giàn bí đỏ
trong lòng mình. Các con hiểu những điều Thầy muốn trao gởi đó chứ?
Họ đồng thanh đáp:
- Dạ hiểu!
Rồi Bất Ác rụt rè:
- Bạch Thầy cái giàn bí đỏ
của con chỉ có một chút nước ... còn thiếu thì thiếu tất cả?
Nhà Sư mỉm cười:
- Cái giàn bí của con chưa
chắc, nước tưới lại ít, phân không có, công chăm sóc thì "bạ đâu hay đó".
Có phải thế không?
Bất Ác cúi đầu lẳng lặng
nghĩ đến cái tên "Bất Ác" Thầy đặt cho mình. "Bất Ác" nghĩa là không làm
điều ác! Không làm điều ác thì mới là khía cạnh tiêu cực, thụ động của
giới. Còn khía cạnh tích cực nữa là "phải làm thiện". "Khi mà
làm thiện thì ta lại có thêm đầy đủ giới, tín và tấn.
Thêm tấn thì có luông cả trí. À hay lắm!"
Nghĩ vậy, chú bèn đáp:
- Bạch Thầy, con hiểu toàn
bộ vấn đề rồi.
Ðến phiên Liễu Minh:
- Riêng con thì cần thêm
một chút tấn, chút trí nữa.
- Ðúng vậy Nhà Sư đáp,
Thầy hy vọng rằng lần hồi con sẽ "liễu minh" vấn đề của chính con!
Còn Bất Ðạt thì phát biểu:
- Con thường ỷ y mình là
người có căn trí nên cái gì cũng muốn chóng xong, chóng đạt. Cái này mà
ngó bộ không xong là quay qua cái khác liền! Bạch Thầy, con đã hiểu con,
hiểu ẩn nghĩa "bất đạt"
là gì rồi!
Trời đã khá trưa, không
gió, núi rừng im phăng phắt. Có tiếng mang khàn khàn vọng từ trên suối
xuống, nghe rõ mồn một. Nhà Sư trìu mến nhìn ba người đệ tử rồi từ từ đứng
dậy.
Bất Ác chợt nói:
- Bây giờ ấy à? bây giờ là
phải thu xếp, cất đặt đồ đạc; sau đó cùng phụ nhau để nấu cơm trưa. Ðạo lý
chính là chổ ấy!
Nói xong, Nhà Sư đi về
phía am tranh. Cả ba chú đều sững lại, dường như họ đang cố tìm cho ra
đạo lý cất đồ đạc và nấu ăn trưa!
-ooOoo-
TRÁI ÐU ÐỦ CẮT TƯ
Sửa soạn mâm cơm cho Nhà
Sư xong, Bất Ðạt cầm trái đu đủ ngắm nghía. Chú nghĩ, trái đu đủ này quá
nhỏ, tuy thế cắt bốn phần đều đặn là việc con nít làm cũng được. Chỉ hơi
bực một chút là những khi có thêm một hoặc ba vị khách, phải chia năm,
chia bảy mới phiền.
Trái đu đủ vừa cắt xong
thì đã nghe Bất Ác ồn ào ở phía cửa bếp:
- Cái bụng nó xuống đường
biểu tình rồi chú "hỏa đầu quân" ơi! Hôm nay chú dẹp tụi nó bằng "lựu đạn"
(khoai) hay "ca - nông" (sắn)? À, mà "axít" (tương) có còn không?
- Lựu đạn và axit đã khan
hiếm - Bất Ðạt vừa nói vừa lấy lồng bàn úp mâm cơm lại - Kho cơ hữu nhà ta
chỉ còn ca - nông và ca - nông thôi! Bảy quả ca - nông, báo cáo chú em!
Bất Ác dựng vội cúp và rựa
ở bên hiên, lao nhanh vào:
- Sắn với sắn thôi à? Thế
là chết tôi! Thế là chết em rồi chú ơi!
Bất Ðạt cười khì khì:
- Chết chú nhưng mà nhất
tôi! Này nhé: bột sắn nấu là một, bánh sắn hấp là hai, bánh sắn ram là ba,
nước tương sắn là bốn, canh sắn là năm, sắn nướng là sáu, chè bột sắn là
bảy, vị chi bảy món. Sắn bảy món có thua gì các chú đâu!
Bất Ác xụ mặt:
- Thế là chú chẳng thương
em chút nào. Em có mấy cái mụt nhọt mưng mủ chưa lành mà chú lại cho ăn
cái kiểu này! Ôi, sắn ơi là sắn! Mủ ôi là mủ!
Bất Ðạt phì cười:
- Chú em, "dĩ độc trị độc"
thế mà hay đấy! Chú có nhớ hôm đến phiên chú, chú làm "cà bảy món" mà chú
gọi là "ca bảy câu" không? "Ca bảy câu" sao nổi khi thời gian đó tôi vừa
bớt bệnh, thế mà tôi đành phải bịt tai nhắm mắt "ca" cho xong "bảy câu"
của chú! "Một chén cà bằng ba chén thuốc", hèn chi tôi bị hành dữ!
Bất Ác nhăn mày nói:
- Thuở đó em đâu có biết
cà là âm độc? Vô tâm là không có tội! Còn chú là người học rộng nghe
nhiều, y lý tinh thông, chú há không biết sắn cũng độc không thua gì cà
sao?
Thất Bất Ác buồn, Bất Ðạt
xuống giọng:
- Ừ, thật ra tôi quên,
không nhớ là chú bị nhiệt! Số là sáng nay đến phiên tôi nấu ăn, xuống bếp
lục "cụi", lục "kho" thấy chẳng còn thứ gì. Rau muống mới trỉa hạt, môn
vừa trồng lại, khoai hôm kia bị bò liếm hết trơn; rau dền, rau má thì
nhiều nhưng ăn hoài cũng ngán ... Tuy nhiên khi đứng tần ngần, tôi chợt
nghĩ ra cái ý làm "ca - nông bảy quả" để đáp trả tấm thịnh tình "ca bảy
câu" của chú và "môn bảy kiểu" của chú Liễu Minh đó mà!
Bất Ác im lặng không nói
gì. Chợt nhiên có giọng ồm ồm bên tai hai người:
- Cái gì là "ca bảy câu",
cái gì là "ca - nông" bảy quả? Con nhà Phật mà chẳng có văn chương cửa
Thiền chút nào cả. Cái món của tôi được gọi là "bảy cửa (môn) vào cõi
Huyền Không" chứ lị!
- Chú ... chú! Bất Ác gọi
Liễu Minh - "Ca bảy câu" cũng được, "bảy cửa vào cõi Huyền Không" cũng
hay, nhưng "ca - nông bảy quả" làm sao nổi khi em mụt nhọt cả người như
thế này này?
Liễu Minh quăng khúc củi
xuống hiên, cười trấn an Bất Ác:
- Không có sao đâu chú em.
Ðể chút nữa tôi đi kiếm cái gì mát mát như lá chùm bao, lá rau má, hoặc
trái đu đủ ... thuộc âm hàn mà "bổ" vào là nó quân bình âm dương lại ngay.
Bất Ðạt cười hề hề:
- Khỏi lo! Có món đu đủ.
Tôi thủ hậu món đu đủ cho nó giải nhiệt mà!
Liễu Minh sà lại bên mâm
cơm. Bất Ác đưa tay giở lồng bàn, chợt chú la toáng lên:
- Phật ôi! Chú đành lòng
nào mà trái đu đủ có bấy nhiêu lại cắt làm bốn phần đều đặn như vậy? Ta
nóng thì Thầy cũng nóng, nỡ nào ...
- "Lợi hòa đồng chia" -
Bất Ðạt nói át - bấy lâu Thầy đã từng dạy như thế. Cắt phần Thầy lờn thì
Thầy quở trách đó, chú không nhớ sao?
Bất Ác thò tay lẳng lặng
lấy phần của mình bỏ vào đĩa trong mâm cơm của Nhà Sư rồi bưng lên tịnh
thất. Liễu Minh và Bất Ðạt thoáng ngỡ ngàng, nhưng như đồng một lúc, cùng
lấy phần đu đủ của mình bỏ vào đó luôn.
Khi Bất Ác bưng mâm cơm đi
rồi, Liễu Minh và Bất Ðạt ngồi thừ như vậy rất lâu.
Liễu Minh chợt nói:
- Bỏ cái âm hàn dương
nhiệt đi chú nhé, ta chỉ bàn chuyện vừa rồi. "Lợi hoà đồng quân" mà cái gì
cũng chia phần đều nhau như trường hợp vừa rồi, tôi thấy bất ổn sao sao
là!
- Tôi cũng nghĩ như vậy -
Bất Ðạt đăm chiêu - Hôm kia làm bánh sắn nhân đậu xanh, mỗi người được tám
cái. Thầy ăn tám cái chắc vừa bụng. Tôi và chú tám cái thì e là ... đã
đánh mất "trung đạo" rồi!
Liễu Minh gật đầu:
- Dường như từ lâu Thầy
muốn chỉ dạy chúng ta điều gì đây, chú có thấy không? Ðáng lý ra, Thầy tối
thiểu cũng phải có một sa-di làm thị giả. Thế mà ở đây, chúng ta chỉ lo
được có một mâm cơm! Có lẽ Thầy muốn nâng đỡ chúng ta mặt nào đó nên Thầy
đã sống rất bình đẳng với mọi người. Chính Thầy đã tự tước đi tất cả các
tiện nghi đáng ra Thầy xứng đáng được hưởng. Nói xứng đáng cũng không đúng
nữa - chính nhờ công đức phước báu của Thầy, Thầy đã san sẻ, nuôi nấng
chúng ta. Còn đến công việc thì Thầy không bao giờ ra giọng sai bảo; chỉ
gợi ý, đề nghị hoặc vạch chương trình để làm chung. Cho đến những lao động
nặng nhọc Thầy cũng cùng làm với chúng ta. Mà bao giờ Thầy cũng là người
vác cúp, vác cuốc đi trước. Còn chúng ta thì ... "chưa ăn thì anh dìu em
dạ, ăn rồi anh ngã em nghiêng", thế đấy!
Bất Ðạt khẽ cúi đầu xuống:
- Ðúng là vậy. Nghĩ chuyện
trái đu đủ, tôi còn hổ thẹn với Bất Ác. Nhưng đôi khi lý trí tôi nó làm
việc như cái máy. Thiệt là bậy, thiệt là cái đầu óc tôi nó hư hỏng, lệch
lạc mất rồi! Té ra, " y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan "! Nguy hiểm,
thậm nguy hiểm!
Liễu Minh như đang chìm
trong suy tư của mình:
- Chú có nhớ cái "bánh ít
chia bốn" của chú Bất Ác không?
- Nhớ, còn nhớ! Chả là hôm
đó Bất Ác vừa mới vào, chùa mình có chín một trái ổi xá lị đầu tiên, Thầy
bảo nên chia bốn phần cho mỗi người thưởng thức một tí. Ít hôm sau, thầy
đi bát về, ngoài gạo và khoai sắn ra, có một cái bánh ít. Thế là bổn cũ
soạn lại, Bất Ác cắt chia bốn phần đều nhau, ăn không dính kẽ răng. Có
điều lạ là hôm đó, tôi hầu cơm Thầy, Thầy mỉm cười nói: "Con hỏi Bất Ác có
phải cái bánh ít mà chia làm bốn phần, nó lúng túng lắm phải không?"
- Phải rồi - Liễu Minh
cướp lời - vậy là Thầy biết, Thầy dư biết chúng ta chưa học được bài học
"Lợi hòa đồng quân". Không những Thầy cười Bất Ác mà Thầy còn cười cả sự
... máy móc của chúng ta đó! "Lợi hòa đồng quân" kiểu của chúng ta là hình
thức chia chác lợi lộc rất là nguy hiểm, nó còn thiếu "nội dung" đó chú!
- Chú cứ trình bày cho hết
ý.
- Tôi từng sống nhiều nơi,
tôi biết. Có nhiều chuyện xảy ra không hay ho gì trong đời sống cộng đồng
Tăng lữ. Vật phát sanh đến, nếu chia không đủ thì bốc thăm, làm cho nhiều
vị rất tốt, đôi khi nảy tâm mong cầu được cái này, cái nọ ... Mà thôi,
đừng nói chuyện ấy nữa, ta thường thấy hạt bụi trong mắt người mà không
thấy được cái rác trong mắt ta! Tôi chỉ muốn nêu lên vài trường hợp cụ thể
để chúng ta cùng thấy rằng, "Lợi hòa đồng quân" không phải chỉ dừng lại
nơi hình thức bên ngoài, mà còn phải để ý đến cái tâm bên trong nữa chứ!
Bất Ðạt "à" lên một tiếng:
- Phải rồi! Cái gì cũng
chia đều thì đến một lúc nào đó mình tưởng là mình có quyền ngang bằng với
Thầy tất cả. Ngang bằng sao được, ngoài đời còn có ông bà cha mẹ nữa. Coi
chừng, nếu không suy xét cho thấu đáo, lửa địa ngục sẽ thiêu cháy tan
xương nát thịt chúng ta mất thôi!
Hai người nói chuyện ngang
đây thì Bất Ác bưng mâm cơm trở xuống. Thức ăn gần hết, nhưng đĩa đu đủ
thì còn ba lát, Nhà Sư chỉ dùng một.
Bất Ác mau mắn kể lại:
- Khi thấy đĩa đu đủ có
bốn miếng, Thầy hỏi: "Hôm qua có mấy trái đu đủ chín hả con?" Em đáp: "Dạ,
chỉ có một". Thầy cười với đôi mắt sáng lấp lánh: "Có lẽ là cho đến hôm
nay, các con mới bắt đầu hiểu ý nghĩa sâu xa của 'Lợi hoà đồng quân' rồi
đấy!"
Liễu Minh chợt vỗ tay:
- Tôi biết rồi! Tôi hiểu
rồi!
Bất Ác vô tình kể tiếp:
- Khi nghe Thầy nói vậy,
em ngạc nhiên vô cùng, liền láu táu: "Bạch Thầy, 'Lợi hoà đồng quân' thì
con đã hiểu lâu rồi!" Thầy bèn nghiêm mặt: "Ðừng có đại ngôn! Kể cả những
người ăn cơm Phật, mặc áo càsa cho đến bạc đầu mà áp dụng nó chẳng khác gì
là phỉ báng Phật! Con mới vào tu mà nói vậy, coi chừng mắc thói 'tăng
thượng mạn' đó!" Mấy chú ơi, em thấy mặt Thầy nghiêm lại, em ơn quá, em le
lưỡi, thụt cổ rồi im thin thít luôn.
Bất Ác quay qua Liễu Minh:
- Chú nói hiểu là hiểu làm
sao nói cho em nghe thử coi?
Liễu minh chỉ vào mâm cơm:
- Ðói bụng rồi, ăn đã!
- Không! Bất Ác giẫy nãy -
"sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam". Chú không nói thì em tuyệt thực.
Bất Ðạt cười khì:
- Chú em ngán sắn thì nói
ngán sắn cho rồi, vờ nói tuyệt thực làm gì! Xấu, xấu lắm nghe em!
- "Ðốt" chú đi! Em không
chơi với chú. Em nói chuyện đứng đắn với chú Liễu Minh!
Liễu Minh xen vào:
- Thôi chúng ta cùng ăn
rồi thảo luận. Chú em Bất Ác à, tôi bụng to thì cứ việc ăn nhiều, chú bụng
nhỏ thì cứ việc ăn ít, vậy là "Lợi hòa đồng quân" đó!
Thế là cả ba bắt đầu ăn.
Bất Ðạt dường như đã hiểu nên chú gục gặc đầu có vẻ đắc ý lắm. Một lát chú
nói:
- Hôm nay, phần đu đủ của
mình, mình dâng hết cho Thầy. Thầy nhường lại cho mình, rồi mình nhường
lại hết cho chú Bất Ác để chú "tả nghiệt". Thế là "Lợi hòa đồng quân",
phải không chú Liễu minh?
- Phải "Lợi hòa đồng quân"
theo cách chia bên ngoài mới chỉ là "tướng hòa"! "Tướng hòa mà thiếu Tâm
hòa" thì dễ đưa đến xung đột, tranh chấp; và là điều kiện để phát sanh
phiền não, khổ đau. Còn khi tâm đã hòa rồi thì mọi thể hiện bên ngoài cũng
là hòa cả. Chú đã hiểu chưa, Bất Ác? Ðôi khi chú đã từng thực hành theo
nghĩa "tâm hòa" rồi mà chú không biết đó thôi!
- Em ư? Bất Ác nhướng mắt
hỏi - em là kẻ hay làm phiền rộn Thầy và chư huynh lắm mà, có hòa gì đâu?
- Không phải thế! Bất Ðạt
thân thiết nhìn Bất ác nói - Chú em không làm ai bực mình cả, ngược lại là
khác. Chú em sống rất có tình nghĩa, biết kính, biết lễ, biết thương yêu
mọi người. Chú em hay hành động theo con tim, theo lý lẽ của con tim nên
đôi khi tưởng là hư, là xấu. Hư xấu cũng có đấy, nhưng chỉ là một phần
nhỏ, còn đa phần đều tốt, như trường hợp chú tự động lấy phần mình để vào
phần Thầy. Tâm hòa là như rứa đó.
- Em chưa hiểu. Chú đừng
nịnh em!
Tiếp lời Bất Ðạt, Liễu
Minh giải thích:
- Ðúng thế chú em à! Tâm
hòa nghĩa là tình Thầy trò, tình huynh đệ, tình chúng sanh đấy chứ gì lạ
đâu! Khi sống với nhau trong một ngôi chùa, không cần phải chia chác vật
gì cả, lợi lộc phát sanh cứ để chung một nơi và tùy theo nhu cầu của mỗi
người mà sử dụng. Có thương nhau thật sự mới sống được như thế. Như trường
hợp trái đu đủ, vì kính trọng và yêu thương Thầy, ta hoan hỷ dâng hết cho
Thầy. Nếu Thầy nhường lại mình hay Thầy dùng hết thì cái đó cũng chẳng là
vấn đề. Còn chú Bất Ác có ăn trọn cả trái đu đủ, chúng ta vẫn hòa với nhau
như thường. Ðấy mới đúng nghĩa "chữ hòa" mà Chư Phật muốn chỉ dạy.
Bất Ác chợt la lên:
- A! Chính trong tâm em,
em cũng nghĩ như vậy mà em lại không biết mới chết chứ!
Cả ba cùng cười vui. Thật
là không có ở đâu "hòa" hơn thế nữa!
Bất Ác chăm chú nhìn nụ
cười của Nhà Sư, chợt chú vỗ tay:
- Thầy móm mém mà nụ cười
rất có duyên, các chú ơi!
Nhà Sư la gắt:
- Tầm bậy, tầm bạ!
Rồi Nhà Sư nói với Liễu
Minh:
- Con thường hay đi đây đi
đó lo công việc chùa, vậy Thầy thưởng cho con một chiếc xe đạp!
- Hoan hô! Bất Ác vỗ tay.
Nhà Sư nhìn Bất ác:
- Con là người mê ngủ
nhất, không bao giờ dậy đúng giờ để hành Thiền, tụng kinh, vậy Thầy thưởng
cho con một đồng hồ báo thức!
Bất Ðạt thấy Bất Ác không
có phản ứng gì, bèn nói:
- Thầy thưởng cho chú sao
mà chú không vỗ tay? Hay làsợ từ rày về sau phải tỉnh "giấc mộng Nam Kha"?
Nhà Sư nói với Bất Ðạt:
- Bất Ðạt hay than phiền
rựa không bén, cúp cuốc mòn vẹt không sướng tay. Vậy thì Thầy sẽ tặng
thưởng một cái rựa mới, một cái cúp lưỡi dài ba gang, một cái cuốc dài ba
tấc ... cho vừa sức tay mà làm việc!
Bất Ác nhăn mày:
- Rứa là Thầy không công
bằng rồi! Con thì không nói làm gì, nhưng thưởng cho chú Bất Ðạt kiểu ấy
thì thật là ... tội nghiệp!
Nhà Sư nói:
- Phần thưởng bên ngoài là
"tướng bất hòa" cho nên bên trong "tâm" cũng "bất hòa" sao?
Liễu Minh thưa:
- Dạ, đại hòa là khác!
Bất Ðạt phát biểu:
- Thế là cúp, cuốc, rựa
dùng chung mà con phải chịu trách nhiệm. Xe đạp, dùng chung mà chú Liễu
Minh phải lo tu sửa, bảo quản. Còn Bất Ác thì lời không cái đồng hồ! Sướng
nhé, em út!
Bất Ác toét miệng cười:
- Ờ há! Thế mà em lại
không biết! Hoan hô cái kiểu "lợi hoà đồng quân" này!
Ðể cho các chú vui vẻ một
lát, nhà Sư tiếp tục câu chuyện:
- Ðức Phật chế pháp Lục
Hòa, trong đó có "lợi hòa đồng quân" để tạo sự bình đẳng vật dụng trong
cộng đồng tăng lữ. Mục đích là nâng đỡ kẻ sơ tu, nâng đỡ những tu sĩ ít
phước báu về tứ sự, cũng là tước bỏ bớt đời sống tích lũy, tư hữu có hại
cho hạnh khước từ .
Nhưng các pháp thế gian
vốn là tương đối, nó chỉ có khả năng đối trị tạm thời chứ không có giá trị
vĩnh cửu. Do vậy, áp dụng "lợi hoà đồng quân" mà không hiểu giá trị tương
đối của chúng thì dễ đưa đến xung đột, cố chấp, phỉ báng Phật. Các con
hiểu rõ điều này rồi chứ?
Cả ba chú trang nghiêm
đồng thanh đáp:
- Dạ hiểu!
- Ði xa hơn chút nữa,
"hoà" và "bất hoà" còn giúp chúng ta liên hệ đến những cặp phạm trù khác
như hơn-thua, phải-trái, được-mất, khen-chê, ... đều là thế gian tương
đối, cũng phải được hiểu như vậy cả.
Bất Ác im lặng. Bất Ðạt
ngần ngừ:
- Có phải những cặp phạm
trù ấy, triết học Tây phương họ gọi là "nhị nguyên" phải không hở Thầy?
- Chẳng những Tây Phương
mà Ðông Phương cũng thường đề cập các cặp ấy vì nó hằng đem đến đau khổ
cho chúng sanh .
- Bạnh Thầy! Liễu Minh nói
- họ gọi là song quan, song lực, lưỡng nguyên, nhị giá, ... gì gì dó!
Bất Ác nhăn mặt:
- Nói gì lung tung rối rắm
thế? Chữ nghĩa vừa thôi chứ, ai mà hiểu thấu!
Bất Ðạt nói:
- Vì chú em ... hơi dốt đó
thôi!
Bất Ác rất tức nhưng không
đáp được. Liễu minh bèn bênh vực:
- Không đâu! Bất Ác không
dốt đâu, chú Bất Ðạt và tôi dốt! Chúng tôi nuốt chưa trôi chữ nghĩa nên
vướng mắc từ triết học!
Bất Ác rạng rỡ mặt mày:
- Chỉ có chú Liễu Minh là
hiểu em! Rồi chú quay qua nhà Sư - Bạch Thầy! Nói cho dễ hiểu, cái "nhị
nguyên" đưa đến đau khổ là gì?
Nhà Sư mỉm cười đáp:
- Con vừa thể hiện cái
"nhị nguyên" ấy, con không thấy sao?
Bất Ác chưng hửng! Nhà Sư
tiếp:
- Khi con bị chú Bất Ðạt
chê, con bèn tức tối "xụ" mặt xuống. Khi con được Liễu Minh khen, sướng
quá, con liền phổng mũi lên. Vậy là tâm con bị cái khen, cái chê nó
chuyển, con đã phiền não bởi lời khen tiếng chê ấy, con đã phiền não bởi
lời khen tiếng chê ấy, con chưa thấy sao?
Cả ba chú đều lạnh mình.
Quả không có gì dễ hiểu, dễ lãnh hội như cái "thiết thực hiện tại" vừa
rồi!
Nhà Sư nhìn Bất Ác:
- Khi con không còn bị lời
khen tiếng chê kia chi phối nữa, con không còn bị hai sức mạnh (song lực)
kia lay động nữa - như vậy, tạm gọi là đã vượt tương đối, vượt thế gian để
sang được "bờ kia"!
Bất Ác vỗ tay la lên:
- A! Dễ hiểu làm sao! Thế
là con lên bến, con đến bờ kia, con "đáo bỉ ngạn" tức khắc"!
Nhà Sư nghiêm mặt:
- Ðừng có đại ngôn!
Bất Ác cúi đầu xuống. Bất
Ðạt nháy mắt nhìn Bất Ác, cười hề hề:
- Thấy không? Mới lót tót
"đáo bỉ ngạn" ngay bon! Xuội lơ chưa em?
Thấy ba chú đều im lặng.
Nhà Sư lại tiếp tục:
- Các con ạ! Thế gian
tương quan đối đãi này còn một nghĩa rất vi diệu nữa, Thầy chưa rõ là các
con có đủ trình độ để lãnh hội không?
Cả ba chú đồng thanh đáp:
- Chúng con sẽ cố gắng .
- Ừ! Này nhé! Nhà Sư nói -
Vì thế gian "bất hoà" nên lấy cái "hoà" ấy mà phải để tâm tự tại, giải
thoát .
Giọng Bất Ác:
- Bạch Thầy, cái này thì
con rối mù!
- À! để Thầy cho ví dụ.
Khi con bị cái gai đâm vào chân, thì con lấy cái gai khác gỡ cái gai ấy
ra, có phải thế không?
- Dạ phải!
- Vậy thì khi gỡ cái gai
ấy rồi, con sẽ giữ lại cái gai nào?
- Bạch Thầy, con vứt hết
con sẽ vứt cả hai .
Nhà Sư lại hỏi:
- Thế thì khi vứt cả hai,
nếu con lỡ bị cái gai khác đâm thì sao?
- Thì con sẽ kiếm cái gai
khác nữa mà gỡ nó ra .
- Phải rồi! Nhà Sư gật đầu
- gặp gai ác thì lấy gai thiện mà gỡ. Gặp gai tham lam thì lấy gai bố thí
mà gỡ. Gặp gai sân hận thì lấy gai từ bi mà gỡ ... Gỡ xong rồi thì quăng
hết .
Bất Ác giật mình:
- A! Có ghê không? Những
pháp tối thượng như thiện pháp, bố thí, từ bi, ... mà cũng phải bỏ luôn
sao Thầy?
- Nó là gai hay không phải
gai?
- Là gai .
- Là gai mà con muốn mang
theo thì tùy ý!
Bài pháp hôm nay đã dẫn ba
chú đến đỉnh cao chênh vênh, ngợp gió. Thiện pháp, bố thí, từ bi ... mà
cũng phải quăng đi, phải viễn ly thì thật là kinh khiếp. Bất Ðạt toát mồ
hôi. Liễu Minh thấy lạnh xương sống .
Nhà Sư thấy điều đó nên
nói tiếp:
- Các con ạ! Ðức Phật ví
Pháp như chiếc bè dùng để qua sông, chánh pháp cũng phải bỏ huống hồ chi
pháp! Vậy thì qua sông mà còn mang vác thiện pháp, bố thí, từ bi ... đi
theo thì sẽ nặng biết chừng nào? Cái bản ngã thiện pháp, bản ngã bố thí,
bản ngã từ bi ... kia nó mới to lớn dường bao?
Bất Ác chợt vỗ tay:
- Vậy là con đã hiểu!
- Chưa đâu! Bây giờ bỏ cái
chuyện "gai lễ gai" quay sang ví dụ bệnh và thuốc. Ðức Phật thường nói
"tùy bệnh cho thuốc". Vậy, gì là bệnh, gì là thuốc?
Bất Ðạt đáp:
- Dạ, phiền não là bệnh,
giáo pháp là thuốc.
- Chúng sanh có bao nhiêu
"bệnh", giáo pháp có bao nhiêu "diệu dược"?
- Bạch Thầy! Chúng sanh có
tám vạn bốn ngàn phiền não, Pháp của Phật có tạm vạn bốn ngàn pháp môn.
- Con kể sơ cho Thầy nghe,
đó là những phiền não gì?
Bất Ðạt đáp:
- Con có nhớ một số phiền
não như: Ái, sân, si, hung dữ, thù oán, bạc ơn, kiêu căng, ganh tị, bỏn
xẻn, giả dối, phản phúc, ngang ngạnh, ngã mạn, giải đãi, hôn trầm, phóng
tâm v.v... Ngoài ra còn có những phiền não thuộc pháp tà vạy, lầm lạc,
trầm luân, chìm đắm, che lấp, chấp thủ, v.v...
- Vậy là tạm đủ - Nhà Sư
gật đầu - còn gì là thuốc?
Liễu Minh đáp:
- Bạch Thầy! Nói tóm là Ba
Mươi Bảy Phẩm Trợ Ðạo, các Thiện Pháp, Mười Pháp Ba-La-Mật, Tứ Vô Lượng
Tâm v.v...
- Ðúng rồi, nhưng các con
hãy cho ví dụ bệnh và thuốc như thế nào?
Bất Ðạt đáp:
- Tương tự ví dụ "gai lễ
gai"! Như: tham là bệnh, bố thí là thuốc; sân là bệnh, từ bi là thuốc; si
là bệnh, trí tuệ là thuốc; chấp thủ là bệnh, xả là thuốc; loạn tâm là
bệnh, định là thuốc; ganh tị là bệnh, hỷ là thuốc v.v...
- Ðúng thế! Nhà Sư gật đầu
- Tuỳ bệnh cho thuốc. Nhưng phải đúng bệnh, đúng thuốc. Thuốc cũng phải
uống đúng liều lượng. Thuốc bổ mà quá liều thì trở thành độc dược. Ðộc
dược mà biết sử dụng cũng cứu chữa được bệnh. Cho nên, bất hòa là bệnh,
hòa là thuốc. Nhưng hòa cũng biết hòa đúng lúc, đúng khi, đúng người, đúng
chỗ; nếu không, cái hòa ấy sẽ đưa đến những tệ hại mà chúng ta đã thấy ở
trên.
- Cho nên, Pháp có hay thì
Pháp có dở. Hay đối với người có trí, biết sử dụng. dở đối với người ngu,
không biết sử dụng. Người giải thoát, giác ngộ ở trên đời họ thường tùy
nghi, biết sống thuận pháp, tùy pháp. Ðã giải thoát giác ngộ rồi thì họ
sống hợp với Ðạo vậy. Người chưa giác ngộ, giải thoát, dù có làm hữu ích
cho đời thế nào, cũng chỉ hưởng được phước báu nhân thiên mà thôi! Các con
đã hiểu chưa?
Cả ba cùng cúi đầu đáp:
- Dạ, thật là hay, thật là
thấm thía!
Nhà Sư mỉm cười hài lòng:
- Khi các con cắt trái đu
đủ làm bốn phần, nghĩa là từ "tướng hòa"; nhưng vì kính trọng thương yêu
Thầy mà các con đem dâng hết cho Thầy, là các con đã bỏ "tướng hòa" để đạt
"tâm hòa". Thầy lại từ "tâm hòa" mà xuống "tướng hòa", khi trả lại ba phần
đu đủ cho các con. Các con lại từ "tướng hòa" đem trao hết cho Bất Ác để
đạt cái "tâm hòa". Tướng trở lại tâm, tâm trở lại tướng. Thì ra tướng và
tâm cũng chỉ là tương quan đối đãi để cho chúng ta học được bài học giác
ngộ giữa cuộc đời này.
Cho nên, kẻ biết pháp
tương đối thì cứ tùy nghi mà sử dụng, không còn chấp trước bên này, không
còn chấp trước bên kia. Ấy gọi là bỏ "bè", bỏ tương đối. Ấy là người đã
qua sông, đã "đáo bỉ ngạn" vậy!
---o0o---
Mục
Lục | 01
|
02
|
03
|
04
|
05
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-02-2003