Tám Sự Tích Phật Lực
Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)
Phật
lịch 2545 (TL 2001)
---o0o---
SỰ TÍCH PHẬT LỰC THỨ NHÌ
ÐỨC PHẬT CẢM THẮNG DẠ XOA ÀLAVAKA
-ooOoo-
Ðức Phật cảm thắng dạ xoa
Àlavaka rất hung ác, hơn cả Ác Ma Thiên, nhờ pháp nhẫn nại.
D
ạ
xoa Àlavaka thuộc bộ hạ của vua trời Kuvera (một trong Tứ
đại thiên vương cai trị chúng dạ xoa ở về phương Bắc). Dạ xoa Àlavaka rất
hung ác, tàn bạo, ăn thịt người, lại có nhiều phép mầu cực kỳ nguy hiểm
hơn cả Ác Ma Thiên.
Ðức Phật cảm thắng dạ xoa
Àlavaka trong trường hợp đặc biệt, dạ xoa Àlavaka chứng đắc Nhập Lưu Thánh
Ðạo, Thánh Quả trở thành bậc Thánh Nhập Lưu. Tóm lược bài Kinh
Àlavakasutta (Khuddakanikàya, Bộ Suttanipàta, kinh
Àlavakasutta) và Chú giải những sự kiện xảy ra trước khi Ðức Phật
thuyết bài kinh này:
-- Một hôm, Ðức vua
Àlavaka [*] trị vì tại xứ Àlavi dẫn quân vào rừng, để tiểu trừ bọn cướp
cùng những kẻ thù nguy hiểm đang ẩn náu ở đây. Trên đường trở về kinh, Ðức
vua cho đoàn quân nghỉ chân rồi truyền lệnh:
- Tất cả chúng ta đều phải
đi săn nai! Nhưng Trẫm ra lệnh hễ nai chạy về phía người nào thì người ấy
phải có trách nhiệm bắt cho kỳ được, cả Trẫm cũng vậy.
[*] Có ba nhân vật trùng
tên:
Àlavaka yakkha: Dạ xoa
Àlavaka
Àlavaka ràjà: Ðức vua Àlavaka trị vì xứ Àlavi.
Àlavaka kumàra: Thái tử Àlavaka con của Ðức vua Àlavaka.
Cả đoàn quân rất thích thú
mang cung tên, đao kiếm... kéo nhau vào rừng, chia ra mỗi người mỗi ngã.
Ðức vua cũng một mình mang kiếm đi một đường, chợt một con nai to lớn chạy
ngang, Ðức vua cố gắng hết sức rượt đuổi theo đến ba do tuần, nai kiệt sức
bị bắt, còn Ðức vua cũng mệt lả ghé lại gốc cây Ða rậm rạp có bóng mát
ngồi nghỉ.
Tại cây Ða ấy, có lâu đài
nguy nga lộng lẫy, là nơi thường trú ngụ của dạ xoa Àlavaka có nhiều oai
lực; được Ðức vua Kuvera cho phép: Buổi trưa, nửa ngày đúng giờ ngọ,
hễ có ai đi vào trong bóng mát dưới gốc cây Ða này, thì dạ xoa được phép
bắt để ăn thịt, còn ở ngoài ranh giới ấy thì dạ xoa không có quyền bắt ai
ăn thịt. Vì vậy, khi thấy Ðức vua ngồi nghỉ trưa dưới bóng mát cây
Ða trong phạm vi cho phép, dạ xoa Àlavaka từ lâu đài (lâu đài của dạ
xoa phát sanh là do phước báu của chư thiên. Do đó, các hàng chư thiên có
thiên nhãn mới nhìn thấy được. Ðối với loài người, chỉ có hạng người đắc
thiên nhãn thông mới có thể nhìn thấy, còn mắt thường không thể nhìn thấy)
hiện xuống định bắt Ðức vua để ăn thịt.
Ðức vua hoảng hốt khi thấy
một hạng phi nhân hình thù khác lạ từ đâu xuất hiện, đòi bắt mình để ăn
thịt.
- Ngươi là ai? Từ đâu đến
mà dám bắt ta để ăn thịt. - Ðức vua hỏi.
- Ta là dạ xoa Àlavaka,
nơi đây là lâu đài của ta, ngươi đã vào trong phạm vi và thời gian cho
phép, vậy bắt ngươi để ăn thịt là hợp lệ.
Ðức vua bừng tỉnh lại mới
biết đây là dạ xoa ăn thịt người, bèn cam kết với dạ xoa rằng:
- Ta là vua trị vì xứ
Àlavi này, ngươi hãy tha mạng sống cho ta, thì mỗi ngày ta sẽ nộp cho
ngươi một mạng người để ăn thịt.
Dạ xoa nói:
- Nếu ta tha cho nhà
ngươi, nhà ngươi không giữ lời cam kết thì ta có gì ăn để sống, bởi ta chỉ
được phép ăn thịt người nào, đi vào bóng mát cây Ða lúc buổi trưa mà thôi.
Vì vậy, ta không thể tha mạng cho nhà ngươi được.
Ðức vua khẩn khoản cam kết
chắc chắn một lần nữa:
- Nếu ngày nào ta không
nộp người cho ngươi để ăn thịt, thì ngày ấy ngươi hãy bắt ta mà ăn thịt.
Dạ xoa Àlavaka chấp thuận buông tha, Ðức vua mới hoàn hồn trở lại và quay
về chỗ quan quân đang chờ.
Các quan quân đón rước khi
nhìn thấy Ðức vua bèn tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, chúng thần
thấy bệ hạ có vẻ không vui, chẳng hay có việc gì xảy ra khiến cho bệ hạ
phải lo âu?
Ðức vua thuật lại sự việc
xảy ra với dạ xoa Àlavaka rồi cùng các quan quân trở lại kinh thành.
Ðức vua truyền lệnh gọi
viên quan cai ngục ở trong thành đến và cho biết rằng:
- Này khanh, trẫm đã cam
kết với dạ xoa Àlavaka rằng, mỗi ngày đem nộp cho y một mạng người để y ăn
thịt. Vậy khanh hãy bắt tử tù đem nộp cho y.
- Tâu bệ hạ, hạ thần xin vâng lệnh, hạ thần muốn biết
thời gian hạn định bao lâu.
- Không, lời cam kết của
trẫm không có hạn định thời gian. - Ðức vua trả lời.
- Tâu bệ hạ, không hạn
định thời gian, dân chúng sẽ bị khổ sở. Nhưng bệ hạ hãy an tâm, để hạ thần
lo liệu việc này.
NỘP NGƯỜI CHO DẠ XOA
Kể từ sáng hôm sau, mỗi
ngày viên quan cai ngục bắt một tử tù trói chặt rồi truyền quân lính đem
đến nộp cho dạ xoa ăn thịt. Qua một thời gian, nhóm người tử tù đã hết,
đến lượt nhóm tù chung thân khổ sai, cho đến nhóm tù giam, cuối cùng trong
ngục không còn một tù nhân nào cả. Vì dân chúng trong nước nghe tin Ðức
vua truyền lệnh đem nộp tù nhân cho dạ xoa Àlavaka ăn thịt, cho nên không
ai dám phạm pháp. Bấy giờ, tù nhân cũ không còn, tù nhân mới không có,
viên quan cai ngục tâu việc này lên Ðức vua.
Ðức vua truyền triệu tập
bá quan văn võ hỏi xem ai có mưu kế nào hay để giải quyết.
Một vị quan hiến kế:
- Tâu bệ hạ, nên cho lính
rải vàng bạc ngoài đường phố rồi canh chừng, hễ ai tham lam nhặt lấy của
ấy, luật triều đình sẽ bắt tội.
Ðức vua chấp thuận. Cho
đến lúc vàng bạc rải khắp mọi nơi mà chẳng có ai dám đụng đến.
Một vị quan cho ý kiến:
- Tâu bệ hạ, trong quốc độ
ta có nhiều người già yếu, bệnh hoạn ốm đau, chẳng bao lâu họ cũng phải
chết. Vậy, bệ hạ truyền bắt lần lượt họ mà nộp cho dạ xoa ăn thịt, có nên
chăng?
Các vị quan khác phản đối,
vì cho rằng con cháu rất thương yêu kính mến ông bà, cha mẹ. Nếu chúng ta
bắt người già nộp cho dạ xoa ăn thịt, thì con cháu chắc chắn sẽ nổi loạn.
Chính Ðức vua cũng không chấp thuận ý kiến này.
Một vị quan khác tâu:
- Tâu bệ hạ, nên bắt những
đứa trẻ còn nằm trong nôi, chúng còn nhỏ chưa biết gì.
Ý kiến này được Ðức vua
chấp thuận.
Thế là kể từ ngày ấy, Ðức
vua truyền lệnh bắt trẻ con đem nộp cho dạ xoa Àlavaka ăn thịt. Dân chúng
biết tin này, những bà mẹ bồng con của mình đi lánh nạn sang nước láng
giềng và những bà mẹ mang thai cũng trốn ra khỏi nước để sanh con khôn lớn
mới dám trở về.
Tình trạng bắt trẻ con đem
nộp cho dạ xoa Àlavaka ăn thịt kéo dài suốt 12 năm, gây bao nhiêu cảnh đau
thương tang tóc cho những bậc cha, mẹ. Một ngày kia, quân lính đã tìm khắp
trong nước mà không còn thấy một đứa trẻ nào nữa, các quan tâu lên Ðức
vua:
- Tâu bệ hạ, trong nước
cũng như trong kinh thành không còn một đứa trẻ nào ngoài Thái tử Àlavaka,
con của bệ hạ.
Ðức vua bảo rằng:
"Thái tử là một đứa con yêu quý của
trẫm, nhưng trẫm lại là người yêu quý nhất trên đời. Ngoài trẫm ra, chẳng
còn ai đáng yêu quý hơn. Vậy các khanh hãy bắt Thái tử con của trẫm để đem
nộp cho dạ xoa Àlavaka ăn thịt ngày mai".
Các cô thị nữ vừa mới tắm
rửa cho Thái tử Àlavaka sạch sẽ, thoa bột thơm, xức hương hoa, thay y phục
trang điểm đẹp đẽ xong, bồng Thái tử đến trao cho Hoàng hậu. Hoàng hậu cảm
thấy vô cùng hạnh phúc, bồng hoàng nhi đặt lên bắp vế, nâng niu hôn đứa
con yêu quý. Ðúng lúc đó, nhóm quân lính theo lệnh của Ðức vua bắt Thái tử
để đem nộp cho dạ xoa ăn thịt ngày mai. Biết vậy, Hoàng hậu ngất xỉu, các
cô thị nữ thương tiếc Thái tử nên khóc than kêu gào. Nhưng lệnh vua là
lệnh trời, nào ai dám không tuân!
Ôi, ngày mai Thái tử
Àlavakakumara sẽ trở thành vật thực của dạ xoa Àlavaka!
ÐỨC PHẬT CẢM THẮNG DẠ XOA
ÀLAVAKA
Ngày hôm ấy vào canh ba,
lúc chưa hừng đông, Ðức Thế Tôn nhập đại bi định ở Gandhakuti chùa
Jetavana. Xả định, Ngài quán xét bằng Phật nhãn xem chúng sinh nào có
duyên lành nên tế độ. Ngài nhìn thấy Thái tử Àlavakakumàra có duyên lành,
kiếp hiện tại này chắc chắn sẽ chứng đắc thành bậc Thánh Bất Lai
(Anàgàmi) và dạ xoa Àlavakayakkha khi nghe giải đáp những câu hỏi xong
cũng sẽ chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu (Sotàpanna), cùng với
84.000 chúng sinh chư thiên, Phạm thiên chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả tuỳ
theo pháp hạnh ba la mật của mình.
Sáng hôm ấy, Ðức Phật đi
khất thực như mọi ngày. Sau khi độ ngọ xong, Ngài chỉ một mình từ xứ
Sàvatthi ngự đến xứ Àlavi cách xa ba do tuần, đến lâu đài của dạ xoa
Àlavaka rất nguy nga tráng lệ ở tại cây Ða vào lúc chiều tối.
Lâu đài của chư thiên ở
sáu cõi trời Dục giới được thành tựu do quả báu của phước thiện, lâu đài
của dạ xoa Àlavaka thuộc cõi trời Tứ đại thiên vương cũng như vậy; thường
chư thiên có sắc thân rất vi tế, mắt người không thể nhìn thấy được; chỉ
khi nào chư thiên, dạ xoa biến hoá ra sắc thân thô, thì mắt thường của con
người mới có thể nhìn thấy được.
Ðức Phật ngự đến trước lâu
đài của dạ xoa Àlavaka lúc hoàng hôn, dạ xoa Àlavaka chủ nhân của lâu đài
đi vắng, y đã đi dự đại hội dạ xoa ở núi Himavanta, dạ xoa gác cửa tên là
Gadrabha nhìn thấy Ðức Phật, cung kính đảnh lễ Ngài rồi bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
trời đã chiều tối rồi, Ðức Thế Tôn có việc gì mà đến đây vào lúc phi thời
như vậy. Bạch Ngài?
- Này Gadrabha, dĩ nhiên
là Như Lai có việc, nếu con cảm thấy không có gì làm phiền phức, thì con
có thể để cho Như Lai nghỉ nhờ một đêm ở lâu đài của dạ xoa Àlavaka này có
được chăng?
Dạ xoa Gadrabha thành kính
bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
đối với con là người có đức tin trong sạch nơi Ngài, do đó, không có gì
gọi là phiền phức cả. Nhưng Àlavaka, chủ của con không có đức tin nơi Tam
bảo, y có tánh hung ác tàn bạo, cứng đầu, khó dạy, có tánh kiêu căng, ngã
mạn, không biết cung kính những bậc đáng cung kính, thậm chí ngay chính
cha mẹ của y, y cũng không kính trọng thì nói gì đến Sa môn và Bà la môn
khác. Vì vậy, con kính xin Ðức Thế Tôn không nên nghỉ lại ở lâu đài này.
Lần thứ nhì, Ðức Phật dạy:
- Này Gadrabha, Như Lai đã
biết rõ dạ xoa Àlavaka có tánh hung ác, tàn bạo... nhưng chắc chắn sẽ
không hại đến Như Lai đâu. Nếu con cảm thấy không có gì làm phiền phức,
thì con có thể để cho Như Lai nghỉ nhờ một đêm ở đây để cảm hoá dạ xoa
Àlavaka có được không?
Dạ xoa Gadrabha còn có
chút lo ngại, nên cung kính bạch Ðức Thế Tôn:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
Àlavaka rất hung ác, tàn nhẫn, thường nóng giận kinh khủng, đã có các Sa
môn, Bà la môn đến nơi này làm cho y không hài lòng, y đều móc trái tim
của họ, cầm đôi chân ném xuống đại dương. Vì vậy, con kính xin Ðức Thế Tôn
không nên nghỉ lại ở lâu đài này.
Lần thứ ba, Ðức Thế Tôn
dạy:
- Này Gadrabha, Như Lai
cũng đã biết rõ dạ xoa Àlavaka là như vậy, nhưng Dạ xoa Àlavaka chắc chắn
chẳng bao giờ làm hại được Như Lai đâu! Nếu con cảm thấy không có gì làm
phiền phức, thì con có thể để cho Như Lai nghỉ nhờ một đêm ở lâu đài dạ
xoa Àlavaka này có được không?
Dạ xoa Gadrabha an tâm,
chắc chắn dạ xoa Àlavaka không thể nào làm hại Ðức Thế Tôn, còn về phần
mình thì lo không toàn sanh mạng nên bạch Ðức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
như vậy, để con đi trình báo ngay cho Àlavaka hay tin có Ðức Thế Tôn đến
nghỉ ở lâu đài, nếu con không trình báo cho y biết, y sẽ giết chết con
ngay.
Ðức Phật dạy:
- Này Gadrabha, vậy con
hãy nên đi trình báo cho Àlavaka biết ngay !
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
con kính thỉnh Ðức Thế Tôn ngự vào lâu đài.
Dạ xoa Gadrabha đảnh lễ
Ðức Thế Tôn xong, xin phép lên đường bay thẳng đến núi Himavanta, để trình
báo với dạ xoa Àlavaka về việc Ðức Thế Tôn đang ngự ở lâu đài của y.
Ðức Thế Tôn đi vào lâu
đài, ngự trên bảo toà cao quý bằng thiên báu của dạ xoa Àlavaka, Ngài phát
ra hào quang sáng ngời hơn hẳn các hào quang của chư thiên, Phạm thiên có
oai lực bậc nhất cũng không sánh được. Các nữ dạ xoa tỳ thiếp của dạ xoa
Àlavaka nhìn thấy Ðức Phật, bảo nhau đến đảnh lễ Ngài xong, họ ngồi một
bên lắng nghe Ðức Phật thuyết pháp.
Ðức Thế Tôn khuyên dạy các
hàng nữ dạ xoa:
- Này các con, các con
đang hưởng sự an lạc như thế này là do nhờ kiếp trước đã từng làm phước bố
thí, giữ giới, biết cung kính lễ bái cúng dường những bậc đáng tôn kính.
Nay kiếp hiện tại này cũng nên tạo mọi phước thiện, các con chớ nên có tâm
ganh tỵ, bỏn sẻn với mình và người khác, các con phải nên có sự hổ thẹn
tội lỗi và ghê sợ tội lỗi....
Các nữ dạ xoa lắng nghe
lời dạy của Ðức Phật xong vô cùng hoan hỷ. Lúc ấy có hai dạ xoa Sàtàgira
và Hemavata, là những dạ xoa có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, chúng rủ
nhau cùng đến hầu Ðức Thế Tôn tại chùa Jetavana, rồi mới đi dự đại hội tại
núi Himavanta. Lúc đang vân hành trên không, khi gần đến lâu đài của dạ
xoa Àlavaka, cả hai đều bị rơi xuống đất. Ngạc nhiên, chúng tìm hiểu
nguyên nhân, liền biết ngay có Ðức Thế Tôn đang ngự tại lâu đài của dạ xoa
Àlavaka. Bởi vì, nơi nào có Ðức Phật đang ngự, nơi ấy không có một chư
thiên, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn... nào có thể bay ngang qua được.
Hai dạ xoa hoan hỷ đến hầu
đảnh lễ Ðức Thế Tôn, lắng nghe lời khuyên dạy xong, chúng xin phép Ngài đi
dự đại hội dạ xoa tại núi Himavanta.
Ðến Himavanta, giữa hàng
ngàn dạ xoa từ mọi nơi tụ hội, cả hai thấy dạ xoa Àlavaka đang giận dữ la
mắng dạ xoa Gadrabha là đã tự ý cho khách lạ đến lâu đài của y, dạ xoa
Gadrabha sợ run không nói một lời nào.
Hai Dạ xoa Sàtàgina và
Hemavata đến gặp dạ xoa Àlavaka nói rằng:
- Này Àlavaka, thật là đại
phước cho ngươi có Ðức Thế Tôn đang ngự tại lâu đài của ngươi, ngươi nên
mau về hầu Ngài.
Dạ xoa Àlavaka đã tức giận
lại càng thêm giận hơn, quát lớn lên.
- Ðức Thế Tôn ấy là ai,
lại cả gan dám đến lâu đài, ngự trên bảo tọa của ta chứ.
- Này Àlavaka, Ðức Thế Tôn
là vị Tôn Sư của chúng ta, ngươi không biết thật hay sao?
Dạ xoa Àlavaka biết rõ về
Ðức Thế Tôn nhưng vì quá giận dữ nên trả lời:
- Ta không biết, ta không
thấy.
- Này Àlavaka, dầu ngươi
giả bộ không biết, không thấy, Ðức Thế Tôn vẫn là bậc Tối thượng trong tam
giới, là bậc Thầy của chư thiên, Phạm thiên và nhân loại. Còn ngươi chỉ là
dạ xoa kiêu căng, ngã mạn, cứng đầu khó dạy, thần lực của ngươi so với Ðức
Thế Tôn cũng như con bê mới sanh, so với bò chúa; cũng như voi con mới
sanh, đọ sức với voi chúa; cũng như con chó rừng dơ dáy, dám tranh tài với
sư tử chúa; cũng như con quạ gãy cánh, muốn đối đầu với điểu vương
Garuda....
Nghe lời mạt sát của hai
dạ xoa kia, dạ xoa Àlavaka vô cùng tức giận đến điên cuồng, liền đứng phắt
dậy, chân trái đạp tảng đá manosila, chân phải đạp đỉnh núi cao 60 do
tuần, ngẩng mặt lên hét lớn:
-
Ta là Àlavaka! Các ngươi hãy coi, vị Tôn Sư
của các ngươi có nhiều oai lực hay ta có nhiều oai lực hơn?
Tiếng hét vang rền khắp
Nam thiện bộ châu.
DẠ XOA ÀLAVAKA DÙNG PHÉP
MẦU
Dạ xoa Àlavaka lập tức bay
về lâu đài của mình, nhìn thấy Ðức Thế Tôn đang ngự trên bảo toạ quý báu
của y, tức giận quá đỗi, y hoá một trận cuồng phong dữ dội
từ bốn phương thổi tới, trận cuồng phong này còn mạnh hơn gấp bội lần trận
cuồng phong của Ác Ma Thiên, có thể phá hủy dãy núi dài và cao hàng do
tuần.
Ðức Phật nguyện rằng:
"Trận cuồng phong này không làm
thiệt hại đến sanh mạng và vật nào cả".
Quả thật, trận cuồng phong
dữ dội kia bị vô hiệu hoá ngay tức khắc, không còn một làn gió nhẹ nào có
thể làm lay động chéo y của Ðức Phật.
Dạ xoa Àlavaka xiết bao
kinh ngạc, sao mà Sa môn Gotama vẫn bình an vô sự như không có chuyện gì
xảy đến. Y giận dữ hơn liền hoá trận mưa lớn trở thành bão
lũ làm cho núi lở, đất trôi; nhưng đối với Ðức Phật cũng đều vô hiệu ngay
tức khắc, trận mưa lớn kia không còn một hạt sương đủ làm thấm chéo y của
Ngài.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa đá, từng tảng đá nóng như than hồng cháy đỏ từ hư
không rơi xuống; nhưng những tảng đá kia đến gần Ðức Phật đã biến thành
những đoá hoa trời xinh đẹp vô cùng.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa các loại vũ khí sắc bén từ hư không rơi xuống;
nhưng các loại vũ khí kia đến gần Ðức Phật biến thành các loại hoa trời
muôn màu, muôn sắc.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa lửa, những cục than cháy đỏ từ hư không ào ào rơi
xuống; nhưng những cục than cháy đỏ kia đến gần Ðức Phật liền biến thành
những đoá hoa trời sắc màu xinh đẹp rơi xuống.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa tro cực nóng rơi xuống; nhưng mưa tro nóng kia rơi
đến gần Ðức Phật đã biến thành bột trầm thơm ngát.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa cát mịn cực nóng rơi xuống; nhưng mưa cát mịn kia
đến gần Ðức Phật đã trở thành bột thơm toả khắp chung quanh Ngài.
Dạ xoa Àlavaka liền hoá ra
trận mưa bùn nóng cực độ, nhưng mưa bùn nóng kia đến gần Ðức
Phật đã trở thành vật thoa mát dịu rơi xuống.
Dạ xoa Àlavaka đã hoá ra
tám loại vũ khí cực kỳ nguy hại đến sanh mạng, nhưng tất cả đều vô hiệu
hoá, không sát hại được Ðức Phật mà cũng không xua đuổi được Ðức Phật ra
khỏi lâu đài của y.
Cuối cùng, dạ xoa Àlavaka
làm cho không gian tối đen như mực với hy vọng Ðức Thế Tôn
sẽ kinh sợ mà rời đi ra khỏi lâu đài; nhưng màn tối tăm mù mịt kia chợt
tan biến ngay, khi chạm phải ánh sáng hào quang của Ðức Phật.
Thế là các loại phép mầu
của dạ xoa Àlavaka hoàn toàn bất lực, không thể nào làm cho Ðức Thế Tôn
rời khỏi lâu đài. Vậy mà dạ xoa Àlavakà vẫn cứng đầu ngoan cố, chưa chịu
khuất phục, y còn điên cuồng huy động quân lính thuộc hạ, mỗi tên một loại
vũ khí, y hét lớn.
- Các ngươi hãy bắt Sa môn
Gotama! Hãy giết Sa môn Gotama!
Mặc dù dạ xoa Àlavaka hét
lớn đến đâu đi nữa, toàn bộ quân lính của y cũng không thể nào tiến lại
gần Ðức Phật được, nhưng lùi ra ngoài thì chúng lại sợ oai lực của y. Tình
trạng này kéo dài đến quá nửa đêm, mà vẫn không làm sao lay chuyển được
Ðức Phật, Ngài vẫn an nhiên tự tại ngự trên bảo toà cao quý ấy.
VŨ KHÍ DUSSÀVUDHA
Cuối cùng, không còn cách
nào khác, dạ xoa Àlavaka bèn lấy ra một vũ khí cực kỳ lợi hại, có tên là
"Dussàvudha". Vũ khí này, nếu ném lên hư không thì suốt 17
năm liền chẳng hề có một giọt mưa nào rơi xuống. Nếu ném xuống mặt đất,
các loại cỏ cây sẽ chết khô và suốt 12 năm liền chẳng có giống thảo mộc
nào mọc lên nổi. Nếu ném xuống đại dương, biển sẽ khô không còn một giọt
nước. Nếu ném vào núi Sineru núi sẽ bể ra từng mảnh vụn.
Khi ấy, toàn thể chư
thiên, chư Phạm thiên mười ngàn thế giới hội lại đều nghĩ rằng:
"Hôm nay, Ðức Thế Tôn sẽ cảm thắng dạ xoa
Àlavaka. Chúng ta sẽ được chứng kiến sự thất bại thảm hại của y, rồi chúng
ta sẽ được nghe Ðức Thế Tôn thuyết pháp".
Lúc ấy, dạ xoa Àlavaka
bừng bừng tức giận, ném vũ khí Dussàvudha về phía Ðức Thế Tôn, phát ra
tiếng nổ gầm vang rền, làm rung chuyển cả không gian, nhưng khi đến gần
Ðức Phật, vũ khí Dussàvudha biến thành mảnh vải lau chân vuông vắn rơi
xuống phía dưới bàn chân của Ngài.
Thấy sự việc lạ thường
chưa từng có, dạ xoa Àlavaka đứng ngây như pho tượng, ngơ ngác như kẻ mất
hồn, bao nhiêu tánh tự cao ngã mạn hống hách bấy lâu nay của y chợt tiêu
tan trong khoảnh khắc.
Dạ xoa Àlavaka cảm thấy
mình không còn một chút oai lực nào nữa, ví như bò chúa bị gãy đôi sừng,
rắn độc bị nhổ hết răng. Y thấy mình hoàn toàn bất lực, hoàn toàn thất
bại. Lúc ấy, dạ xoa Àlavaka suy nghĩ rằng:
"Vũ khí Dussàvudha cực kỳ lợi hại kia tại sao
có thể biến thành mảnh vải lau chân được? Ôi! có lẽ Sa môn Gotama này có
từ bi và đức nhẫn nại là vũ khí bảo vệ, chống đỡ mọi thứ vũ khí cực kỳ
nguy hiểm khác. Vậy thì ta nên chọc tức cho Sa môn Gotama phát sân, không
còn tâm từ và nhẫn nại nữa".
Nghĩ thế xong, dạ xoa
Àlavaka đổi chiến thuật mới, cất giọng nhã nhặn mà thưa rằng:
- Thưa Sa môn Gotama, tôi
chưa thỉnh Sa môn đến lâu đài của tôi. Tôi cũng chưa mời Sa môn ngự trên
bảo toạ của tôi. Thế mà, Sa môn đã ngự trên bảo toạ này một cách an nhiên
tự tại, lại còn có các tỳ thiếp của tôi ngồi xung quanh, mà Sa môn là bậc
phạm hạnh cao thượng, như vậy có nên hay không? Thưa Sa môn. Tôi là chủ
nhân, xin mời Sa môn rời khỏi lâu đài.
Ðức Phật nhẹ nhàng đứng
dậy đi ra khỏi lâu đài theo lời của dạ xoa Àlavaka, vì Ngài biết rằng dạ
xoa này rất hung dữ, cứng đầu khó dạy, không thể dùng thần thông hoặc trí
tuệ mà tế độ, khi y đang còn sân hận. Vậy chỉ có thể dùng đến phương tiện
pháp rải tâm từ và pháp nhẫn nại để xoa dịu
bớt tâm sân hận của y, sau đó mới có thể tế độ y được.
Thật vậy, dạ xoa Àlavaka
tâm bớt sân hận và thoáng nghĩ: "Sa
môn Gotama dễ bảo thật vậy hay sao? Sao mà ta đã mất biết bao công sức,
bao nhiêu phép mầu kể cả vũ khí Dussàvudha nữa, ta đã khổ công vất vả hơn
nửa đêm nay đều không hiệu quả, không bằng dùng lời lẽ ôn hoà. Có phải chỉ
dùng lời lẽ ôn hoà mà chiến thắng dễ dàng như vậy sao? Hay vị Sa môn
Gotama này tức giận ta mà bỏ đi chăng? Vậy thì ta hãy chọc giận Sa môn
này, phải thử lại một lần nữa".
Dạ xoa Àlavaka bèn gọi
lại:
- Này Sa môn Gotama, xin
mời đi vào!
Ðức Thế Tôn dùng phạm âm
đáp lại giọng ngọt ngào "Sàdhu! Lành thay!" rồi ngự vào chỗ
bảo toạ.
Dạ xoa muốn chọc tức, nên
khi Ðức Phật vừa ngồi trên bảo toạ liền mời Ngài.
- Này Sa môn Gotama, xin
mời đi ra!
Ðức Thế Tôn nhẹ nhàng bước
ra khỏi cửa, y liền mời Ðức Thế Tôn đi vào.
Ðức Thế Tôn đi ra rồi đi
vào cả ba lần theo ý muốn của y. Lúc này, tâm trạng của dạ xoa Àlavaka
không còn hung ác, cang cường như ban đầu nữa, nhưng y vẫn còn tánh tự
phụ, tự đề cao "ta là kẻ vô địch", nên y nghĩ: "Ta sẽ ra
lệnh cho Sa môn Gotama này đi ra đi vào cho đến mệt, lúc ấy ta sẽ nắm đôi
chân của Sa môn Gotama ném xuống dòng sông Gangà", rồi y liền ra lệnh
cho Ðức Phật.
- Này Sa môn Gotama, xin
mời đi ra!
Ðức Thế Tôn biết được ác
tâm của dạ xoa Àlavaka và cũng thấy đã đến lúc, hợp thời có thể cảm hoá y,
nên Ngài vẫn an nhiên tự tại ngự trên bảo tọa của y và truyền dạy rằng:
- Này Àlavaka, Như Lai đã
đi ra, đi vào đến ba lần theo ý muốn của ngươi rồi. Bây giờ, Như Lai không
đi ra nữa, ngươi muốn hỏi điều gì thì cứ hỏi?
Sở dĩ Ðức Phật nói như
vậy, là vì Ngài biết rõ dạ xoa Àlavaka sẽ hỏi 8 câu hỏi mà y đã ghi lại
trên tấm biển bằng vàng cất kỹ trong lâu đài. Tám câu hỏi này, Dạ xoa
Àlavaka đã từng đem ra hỏi các vị đạo sĩ có thần thông bay đến lâu đài của
y, nhưng không một vị nào có thể giải đáp được.
Nguồn gốc của 8 câu hỏi
này, vào thời kỳ Ðức Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian, cha mẹ của dạ
xoa Àlavaka có duyên lành đến hầu Ngài và được nghe 8 câu hỏi cùng 8 câu
trả lời. Àlavaka được cha mẹ dạy lại, về sau, cha mẹ của Àlavaka qua đời,
trải qua thời gian quá lâu, Àlavaka chỉ còn nhớ 8 câu hỏi, mà quên mất 8
câu trả lời. Bởi vì 8 câu trả lời thuộc về trí tuệ của Ðức Phật, cho nên
không một ai có thể trả lời cho đúng được.
Dạ xoa Àlavaka nghe Phật
dạy: "... ngươi muốn hỏi điều gì thì cứ hỏi". Y nghĩ đây là một cơ
hội tốt cho mình, y bèn đặt điều kiện với Ðức Phật:
- Này Sa môn Gotama, tôi
sẽ hỏi những câu hỏi. Nếu Sa môn không trả lời cho đúng được, thì tôi sẽ
móc trái tim của Sa môn ném nơi khác, hoặc nắm đôi chân của Sa môn ném
xuống dòng sông Gangà.
Ðức Phật từ bi dạy rằng:
- Này Àlavaka, ngươi nên
biết rằng Như Lai chưa từng thấy Sa môn, Bà la môn, chư thiên, Ma vương
hoặc Phạm thiên nào, hay bất cứ một ai có thể móc trái tim của Như Lai ném
đi nơi khác, hoặc nắm đôi chân của Như Lai ném xuống dòng sông Gangà; còn
ngươi muốn hỏi điều gì thì cứ hỏi, Như Lai sẽ trả lời rành rẽ cho ngươi
nghe.
TÁM CÂU HỎI
Dạ xoa Àlavaka vào lấy tấm
biển vàng có ghi 8 câu hỏi ra liền hỏi Ðức Phật rằng:
- Này Sa môn Gotama,
1- Pháp nào là của cải
hài lòng, cao quý nhất của chúng sinh trong đời?
2- Pháp nào khi chúng
sinh đã thực hành rồi, sẽ cho quả an lạc?
3- Vị nào là vị cao
thượng hơn các vị khác?
4- Chư bậc Thiện trí
nói: chúng sinh sống như thế nào mới được gọi là sống cao thượng nhất?
Bằng giọng phạm âm ngọt
ngào, với tâm từ vô lượng, tuần tự Ðức Phật trả lời:
-
Này Àlavaka,
1- Ðức tin là của
cải hài lòng, cao quý nhất của chúng sinh trong đời.
2- Thiện pháp khi
chúng sinh đã thực hành rồi, sẽ cho quả an lạc.
3- Pháp chân thật
là vị cao thượng hơn các vị khác.
4- Chư bậc Thiện trí nói
rằng: "chúng sinh sống bằng Trí tuệ mới được gọi là đời sống cao
thượng nhất".
Ðức Phật đã trả lời 4 câu
hỏi giống như Ðức Phật Kassapa ở quá khứ đã trả lời, mà cha mẹ của dạ xoa
Àlavaka đã từng dạy y như vậy. Dạ xoa Àlavaka lắng nghe Ðức Phật giải đáp
đúng như những câu hỏi, mà thời gian trải qua quá lâu đã chìm sâu vào
trong tâm thức, y không thể nào nhớ lại được. Nay y được nghe Ðức Phật trả
lời đúng theo câu hỏi, nhắc cho y hồi tưởng lại được, nên y vô cùng hoan
hỷ, phát sanh hỷ lạc lạ thường, phát sanh đức tin trong sạch, lòng tôn
kính nơi Ðức Phật, đồng thời diệt tâm sân hận ngay, bèn đổi cách xưng hô.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
kính xin Ngài mở lòng từ bi đối với con, giải đáp cho con 4 câu hỏi nữa.
5- Bằng pháp nào, chúng
sinh có thể vượt qua bốn vùng nước xoáy?
6- Bằng pháp nào, chúng
sinh có thể vượt qua biển khổ tử sanh luân hồi?
7- Bằng pháp nào, chúng
sinh có thể giải thoát khổ tử sanh luân hồi?
8- Bằng pháp nào, chúng
sinh mới trở nên hoàn toàn trong sạch?
Ðức Phật giải đáp:
-
Này Àlavaka, con hãy lắng nghe:
5- Nhờ Ðức tin
chúng sinh vượt qua bốn vùng nước xoáy.
6- Nhờ Tâm không dễ
duôi, có Chánh niệm chúng sinh vượt qua biển khổ tử sanh luân hồi.
7- Nhờ Tâm tinh tấn
chúng sinh giải thoát khổ tử sanh luân hồi.
8- Nhờ Trí tuệ
chúng sinh mới trở nên hoàn toàn trong sạch.
Ðức Phật trả lời 4 câu hỏi
giống như Ðức Phật Kassapa ở quá khứ.
Lắng nghe xong 4 câu giải
đáp của Ðức Phật, dạ xoa Àlavaka hiểu được ý nghĩa sâu xa, vi diệu trong
tám câu hỏi gia bảo của cha mẹ truyền lại.
Dạ xoa Àlavaka đã lắng
nghe hiểu rõ, mới thực hành theo liền chứng đắc Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập
Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu (Sotàpanna)
đã diệt đoạn tuyệt được tâm tà kiến và hoài nghi
không còn dư sót, còn tâm sân chưa diệt được, song
tâm sân không đến nỗi làm điều tội lỗi, phạm giới sát sanh.... Bởi bậc
Thánh Nhập Lưu có giới đức hoàn toàn trong sạch, luôn luôn có tâm hổ thẹn
tội lỗi và ghê sợ tội lỗi, có đức tin hoàn toàn trong sạch và vững chắc
nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng, tin nghiệp và quả của nghiệp.
Dạ xoa Àlavaka hết lòng
tôn kính Ðức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, vô cùng cảm kích trước tâm đại
bi của Ðức Phật mà bạch rằng:
-
"Kính bạch Ðức Thế Tôn, con kính xin Ðức Thế
Tôn tha thứ những lỗi lầm lớn lao của con. Ngài đến đây với tâm đại bi tế
độ con, nhờ tâm từ và đức nhẫn nại của Ngài đã cảm hoá con cải ác tùng
thiện, cải tà quy chánh. Con hết lòng thành kính xin quy y nơi Ðức Thế
Tôn, Ðức Pháp và Ðức Tăng. Kính xin Ðức Thế Tôn nhận biết cho con là cận
sự nam đã quy y Tam bảo kể từ hôm nay cho đến trọn đời".
Kính bạch Ðức Thế Tôn,
kính xin Ngài từ bi giải đáp những câu hỏi khác nữa để cho con học hành,
hầu mong đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc lâu dài cho con.
Ðức Thế Tôn dạy:
- Sàdhu! Lành thay! Con
hãy hỏi những điều con thắc mắc.
Kính bạch Ðức Thế Tôn:
1- Người có được trí
tuệ bằng pháp nào?
2- Người tìm có được
của cải bằng cách nào?
3- Người có được danh
thơm tiếng tốt nhờ pháp nào?
4- Người muốn được
kết bạn thân thiết với người khác bằng pháp nào?
5- Người từ bỏ kiếp này,
đi tái sanh kiếp sau được an lạc, phải thực hành pháp nào ?
Ðức Phật giải đáp:
-
Này Àlavaka, con hãy lắng nghe:
1- Người có đức tin
trong sạch nơi chánh pháp của bậc Thánh Arahán, nhờ biết lắng nghe
một cách cung kính, sẽ có được trí tuệ.
2- Người có nghề
nghiệp chân chánh, tinh tấn, cố gắng, chuyên cần làm việc sẽ có được
của cải.
3- Người có danh thơm
tiếng tốt nhờ đức tính chân thật.
4- Người muốn kết bạn
thân thiết với người khác nhờ
pháp bố thí.
5- Người nào thường thực
hành những pháp như: chân thật, trí tuệ, tinh tấn, bố thí, người
ấy sau khi từ bỏ kiếp này, đi tái sanh ở kiếp vị lai được an lạc.
Này Àlavaka:
-
Không có pháp nào để phát sanh trí tuệ bằng
sự lắng nghe chánh pháp của bậc Thiện trí.
-
Không có pháp nào phát sanh của cải ngoài
sự tinh tấn, cố gắng chuyên cần trong công việc làm ăn chân
chánh.
-
Không có pháp nào tạo nên danh thơm tiếng
tốt bằng pháp chân thật.
-
Không có pháp nào để kết bạn thân thiết với
người khác bằng pháp bố thí những vật đáng hài lòng.
-
Không có pháp nào để đem lại sự an lạc ở
kiếp vị lai bằng những pháp như:
pháp chân thật, trí tuệ, tinh tấn, bố thí.
Dạ xoa Àlavaka bạch với
Ðức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
hôm nay con đã hiểu biết rõ sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc trong kiếp
hiện tại lẫn kiếp vị lai. Ngài có tâm đại bi ngự đến xứ Àlavi ở trong lâu
đài của con, chính vì sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc lâu dài của con.
Người nào có duyên lành,
có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, lắng nghe chánh pháp của Ngài, người
ấy sẽ được thiện pháp trong tam giới và thiện pháp Siêu tam giới.
NỘP THÁI TỬ ÀLAVAKAKUMÀRA
Sáng hôm ấy, chư thiên ở
khu rừng vô cùng hoan hỷ nói lên lời Sàdhu! Lành thay! thì
một toán quan quân triều đình khiêng chiếc kiệu vàng mang Thái tử
Àlavakakumàra đến nộp cho dạ xoa Àlavaka ăn thịt theo lệ thường ngày. Khi
họ vừa đến gốc cây Da to, họ nghe tiếng Sàdhu! Lành thay!
vang dội cả không gian.
Khi quan quân đến gần,
nhìn thấy Ðức Thế Tôn đang ngồi trên bảo tọa, còn dạ xoa Àlavaka đang đứng
một bên hầu Ngài, từ kim thân của Phật toả ra hào quang sáng ngời, họ đến
hầu đảnh lễ Ðức Phật xong, rồi thưa với dạ xoa Àlavaka:
-
Này dạ xoa Àlavaka, Ðức vua của chúng tôi
truyền đem Thái tử Àlavakakumàra nộp cho ngươi.
Dạ xoa Àlavaka trước kia
là dạ xoa hung ác, lấy thịt người làm vật thực. Nhưng bây giờ, đã được Ðức
Phật cảm hóa rồi, dạ xoa Àlavaka đã trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, có giới
đức hoàn toàn trong sạch, luôn luôn có tâm hổ thẹn tội lỗi và ghê sợ tội
lỗi; nên khi nghe các quan thưa như vậy, tâm vô cùng hổ thẹn, Àlavaka cung
kính khom mình đưa hai tay đón nhận Thái tử, rồi quỳ xuống dưới chân Ðức
Phật mà bạch rằng:
-
Kính bạch Ðức Thế Tôn, Thái tử Àlavakakumàra
này, các quan đem đến hiến dâng cho con; con kính dâng Ngài Thái tử này.
Kính xin Ngài với tâm đại bi tế độ Thái tử.
Lúc ấy, dạ xoa Àlavaka cảm
kích đọc bài kệ:
"Con hoan hỷ với thiện
tâm trong sạch,
Dâng Ngài Thái tử À-LA-VA-KA,
Là đứa bé có phước thiện lớn lao,
Thân hình đầy đủ, tướng mạo tốt đẹp,
Xin Ngài từ bi tế độ Thái tử,
Vì lợi ích, an lạc cho muôn loài".
Ðức Phật thọ nhận Thái tử
từ tay của dạ xoa Àlavaka, rồi Ngài cho cả hai đều quy y Tam bảo. Ngài
phúc chúc:
Xin cho Thái tử
Àlavakakumàra được an lạc sống lâu!
Àlavaka, con cũng được an lạc, sống lâu!
Chúc các con được sự lợi ích, sự tiến hoá cho mình và cho tất cả chúng
sinh.
Ðức Phật trao Thái tử
Àlavakakumàra cho các quan và dạy rằng:
- Này các con, các con hãy
về tâu với Ðức vua Àlavaka hãy nuôi nấng tử tế Thái tử Hatthaka
Àlavakakumàra trưởng thành cho Như Lai.
Từ ấy, Thái tử
Àlavakakumàra có tên là Hatthaka Àlavakakumàra. Bởi vì Thái tử được vị
quan đỡ hai tay trao cho dạ xoa Àlavaka, Àlavaka lại đỡ hai tay kính dâng
lên Ðức Phật, rồi Ðức Phật đỡ hai tay trao lại cho các quan
(từ hai tay này sang hai tay khác, nên gọi là
hatthaka).
Các quan quân của triều
đình vô cùng cảm kích trước tâm đại bi tế độ của Ðức Phật, hết lòng thành
kính đảnh lễ dưới chân Ngài, tán dương ca tụng oai lực của Ngài. Họ vô
cùng hoan hỷ, đảnh lễ Ðức Thế Tôn, từ giã dạ xoa Àlavaka, rồi xin phép
khiêng kiệu Thái tử Hatthaka Àlavakakumàra trở lại hoàng cung.
Trên đường trở về, dân
chúng nhìn thấy khiêng kiệu Thái tử, trong lòng lo sợ bèn hỏi các quan:
- Có phải dạ xoa Àlavaka
chê Thái tử nhỏ quá không chịu ăn thịt, chỉ muốn ăn thịt người lớn chăng?
Các quan nói trấn an dân
chúng, rồi tường thuật lại rành rẽ những điều mắt thấy tai nghe cho mọi
người an tâm. Từ thôn làng này, tin lan truyền nhanh qua thôn làng khác,
ai ai cũng vui mừng đã thoát khỏi nạn tang tóc khổ đau. Toàn thể dân chúng
hướng về phía lâu đài của dạ xoa Àlavaka, nơi có Ðức Thế Tôn đang ngự cung
kính lễ bái Ngài và nói lên lời
Sàdhu! Sàdhu! Lành thay! Lành thay!
Ðã đến giờ đi khất thực,
Ðức Thế Tôn ngự đi trước, còn dạ xoa Àlavaka ôm bát tiễn chân Ngài ra đến
giữa đường, Ðức Thế Tôn dừng lại, biết ý, dạ xoa Àlavaka dâng bát lên cho
Ngài, đảnh lễ Ngài rồi trở về lâu đài của mình.
Ðức Thế Tôn chậm rãi đi
vào thành Àlavi khất thực, Ngài đến một gốc cây thanh vắng gần cửa thành
Àlavi để thọ thực và nghỉ trưa.
Chuyện Ðức Thế Tôn cảm hoá
dạ xoa Àlavaka hung dữ đã lan truyền từ các xóm làng, cho đến kinh thành.
Các quan kiệu Thái tử trở về hoàng cung tâu trình Ðức vua được rõ mọi
việc. Ðức vua, Hoàng hậu, các quan cùng toàn thể hoàng gia vô cùng vui
mừng khi được nhìn thấy lại mặt Thái tử. Lúc ấy, xa giá Ðức vua Àlavaka,
Hoàng hậu cùng đoàn tuỳ tùng ra khỏi hoàng cung, số đông dân chúng theo
sau, đến hầu Ðức Thế Tôn. Khi đến gần, Ðức vua xuống kiệu từ xa, đi chân
đến, thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, tất cả cũng đều đảnh lễ theo, rồi
ngồi một nơi hợp lẽ.
Ðức vua bạch Ðức Thế Tôn:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
Ngài đã cảm hoá dạ xoa Àlavaka như thế nào? Bạch Ngài.
Nhân dịp ấy, Ðức Phật
thuyết giảng bài kinh Àlavakasutta, thuật lại rõ từng chi
tiết cho hội chúng nghe về việc Ngài đã dùng pháp nhẫn nại để cảm hoá dạ
xoa Àlavaka.
Thời pháp chấm dứt, tất cả
hội chúng thảy đều hoan hỷ, có số chư thiên, chư Phạm thiên, nhân loại gồm
có 84.000 chúng sinh chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả tuỳ theo trình độ ba
la mật của họ.
Sau đó, Ðức vua Àlavaka và
dân chúng kinh thành Àlavi, hàng ngày đem lễ vật đến dâng cho dạ xoa
Àlavaka đầy đủ.
Thái tử Hatthaka Àlavaka
đến tuổi trưởng thành thường đến hầu Ðức Phật, nghe pháp, cúng dường bốn
món vật dụng đến chư Tăng. Nhờ có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, sự tinh
tấn tiến hành thiền tuệ, chẳng bao lâu sau, Thái tử Hatthaka Àlavaka đã
chứng đắc đến bậc Thánh Bất Lai, bậc Thánh thứ ba trong Phật giáo.
Thái tử Hatthaka Àlavaka
cùng nhóm cận sự nam tùy tùng thường tế độ những người khác bằng bốn pháp
tế độ:
1- Bố thí của cải đến
người khác.
2- Nói lời chân thật, ngọt ngào
dễ nghe.
3- Hành động lợi ích cho mọi chúng sinh.
4- Hoà đồng với mọi người.
Ðức Thế Tôn tán dương và
ca ngợi Thái tử Hatthaka Àlavaka như sau:
"Này chư Tỳ khưu, Hatthaka
Àlavaka là người có bốn pháp tế độ tối thắng nhất trong hàng cận sự nam
của Như Lai".
-ooOoo-
Giải thích từ ngữ:
- Pháp nước xoáy:
là bốn pháp làm cho chúng sinh chìm đắm trong biển khổ tử sanh
luân hồi trong ba giới bốn loài, không thể ngoi đầu nổi lên được.
Bốn pháp nước xoáy
(ogha):
1- Ngũ dục như nước xoáy
làm chúng sinh chìm đắm trong sắc, thanh, hương, vị và xúc.
2- Tà kiến như nước xoáy
làm chúng sinh chìm đắm trong tà kiến sai lầm.
3- Kiếp sanh như nước
xoáy làm chúng sinh chìm đắm trong kiếp sanh cõi Dục giới, cõi sắc giới
và cõi vô sắc giới.
4- Vô Minh như nước xoáy
làm chúng sinh chìm đắm trong si mê, không chứng ngộ chân lý Tứ Thánh
đế.
Saddhà:
Ðức tin, tin nơi Tam bảo, tin nghiệp và quả
của nghiệp; tin thiện nghiệp cho quả vui, ác nghiệp cho quả khổ. Ðức tin
là pháp dẫn đầu trong mọi thiện pháp, người có đức tin, có sự tinh tấn
tiến hành thiền tuệ, có thể chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết
Bàn, mới có thể vượt qua bốn pháp nước xoáy.
Ðức Phật dạy: nhờ đức tin
người ta vượt qua bốn pháp nước xoáy.
Chỉ có bậc Thánh Nhập Lưu
mới có đức tin trong sạch hoàn toàn.
Appamàda:
Không dễ duôi, nghĩa là luôn luôn có chánh
niệm là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, là con đường duy nhất
vượt qua biển khổ tử sanh luân hồi.
Annava:
Biển khổ luân hồi, mọi cảnh khổ của mỗi chúng
sinh, quanh quẩn trong vòng tử sanh luân hồi quá mênh mong bao la, sâu
thẳm như biển đại dương.
Do đó, Ðức Phật dạy: "Nhờ
tâm không dễ duôi, có chánh niệm, chúng sinh vượt qua biển khổ tử sanh
luân hồi".
Vìriya:
Tâm tinh tấn, sự kiên trì cố gắng không ngừng
để thiện tâm tăng trưởng.
- Tinh tấn không để cho
ác pháp phát sanh.
- Tinh tấn diệt ác pháp đã sanh.
- Tinh tấn làm cho thiện pháp chưa sanh được phát sanh.
- Tinh tấn làm cho thiện pháp đã phát sanh càng thêm tăng trưởng đến sự
chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, diệt đoạn tuyệt vô minh, tham ái và
mọi ác pháp không còn dư sót.
Dukkha:
Khổ: khổ sanh, khổ lão, khổ bệnh và khổ tử,
khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài.
Do đó Ðức Phật dạy: "nhờ
tinh tấn, chúng sinh thoát khỏi khổ tử sanh luân hồi".
Pannà:
Trí tuệ: ở đây đó là Arahán Thánh Ðạo Tuệ, có
khả năng diệt đoạn tuyệt tất cả mọi vô minh, tham ái, phiền não, ác pháp
không còn dư sót.
Parisujjhati:
hoàn toàn trong sạch: tâm hoàn toàn trong
sạch nghĩa là tâm không còn vô minh, tham ái, phiền não và mọi ác pháp, đó
là tâm của bậc Thánh Arahán.
Do đó Ðức Phật dạy: "Nhờ
trí tuệ chúng sinh trở nên hoàn toàn trong sạch".
---o0o---
Mục
Lục | 1
| 2
| 3 | 4
| 5
| 6
| 7
| 8 | 9
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-01-2003