Những
chuyện luân hồi hiện đại
Tỳ kheo Thích Tâm
Quang
trích dịch
---o0o---
V.
TIẾN SĨ ROBERT ALMEDER
Tiến
Sĩ Robert Almeder, Giáo Sư Triết của Ðại Học Ðường Georgia, Giám Ðốc Trung
Tâm Kỹ Thuật của Ðại Học này là tác giả của tác phẩm khảo luận về luân hồi
"Evidence For Life After Death" "Bằng Chứng Về Ðời Sống Sau Khi Chết". Ông
cũng là thành viên của Viện Khoa Học Quốc Gia, đã được thưởng hai giải
thưởng xuất sắc về Giáo Dục (Outstanding Educator of America Award) năm
1984, từng viết trên 50 bài khảo luận về triết học đăng tải trên các báo
như Philosophy of Science, Synthese, The American Philosophical Quarterly,
Philosophia, Erkentnis và The History of Philisophy Quarterly. Ông đã xuất
bản 8 tác phẩm, trong đó có tác phẩm The Philosophy of Charles Pierce, và
A Critical Introduction.
Ông đã dùng những chuyện
có thật đã được phối kiểm để dẫn chứng trong cuốn "Evidence for Life After
Death".
Dưới đây là vài chuyện
trong tác phẩm trên do nhà Xuất Bản Thomas Springsfield, Illinois phát
hành năm 1987.
-ooOoo-
-23 -
CÔ
BÉ SWARNLATA
(Tái sanh sau khi chết được 9 năm)
Tác Giả: Robert Almeder
Năm 1951 trong một cuộc du
ngoạn, một người Ấn Ðộ tên Mishra, cư ngụ tại thành phố Panna, thuộc Quận
Madhya Pradesh mang theo đứa con gái 3 tuổi cùng vài người khác đến thành
phố Jabalpur cùng Quận, cách Panna 70 dậm về phía Nam. Trên đường trở về
khi đến địa phận thành phố Katni cách Jabalpur 57 dậm về phía Bắc,
Swarnlata bất ngờ đề nghị người tài xế rẽ vào một con đường mà em nói là
đường về nhà em nhưng người tài xế hoàn toàn không để ý đến lời yêu cầu
này. Sau đó khi mọi người ngừng lại ở Katni để dùng trò giải khát,
Swarnlata nói rằng mọi người sẽ được dùng trò ngon hơn nếu ghé vào nhà em
gần đấy.
Lời nói của em làm Mishra
nghĩ ngợi vì ông biết là gia đình ông, kể cả ông chưa có ai từng sống ở
thành phố Katni cả. Ông càng ngạc nhiên hơn khi nghe con gái thường kể với
bạn bè về tiền kiếp em thuộc gia đình Pathak tại Katni.
Hai năm sau khi được 5
tuổi em thường múa các vũ điệu và hát các bản nhạc cho người mẹ xem và
nghe (sau này cho nhiều người khác). Cha mẹ em đều xác nhận không có người
nào dạy em vũ và hát cả.
Năm 1958 khi lên 7, tình
cì em gặp một người phụ nữ từ Katni đến, em cho biết đó là người đàn bà em
quen ở kiếp trước. Ðến lúc này thì Mishra mới chịu nhận là con gái ông
biết nhiều dữ kiện của kiếp trước.
Tháng 3 năm 1959, Giáo Sư
Tâm Lý Học Banerjee của Ðại Học Rajasthan tại Jaipur bắt đầu điều tra. Sau
khi tiếp xúc với Swarnlata tại Chhatarpur, Ông đi Katni làm quen với gia
đình Pathak mà Swarnlata cho rằng em là một thân nhân của gia đình này.
Trước khi Giáo Sư Bernajee đi Katni, theo lời mô tả của Swarnlata ông đã
ghi 9 điểm đặc biệt về nơi của gia đình Pathak. Những chi tiết này hoàn
toàn đúng như Swarnlata nói trước khi tới gia đình Pathak. Chắc chắn là
trước khi Giáo Sư Banerjee tới Katni, gia đình Mishra không hề biết gì về
gia đình Pathak cả.
Nhận thấy những điều
Swarnlata cho biết về tiền kiếp trùng hợp với người con gái của gia đình
Pathak có tên là Biya, vợ của Pandley, cư ngụ tại Maihar. Biya đã chết năm
1939 - tám năm trước khi Swarnlata ra đời.
Mùa hè năm 1959 vài người
trong gia đình Pathak và gia đình Pandley cùng đến Chatarpur, nơi ông bà
Misshra và Swarnlata cư ngô. Trước sự chứng kiến của một số điều tra viên,
tuy không được giới thiệu nhưng Swarnlata đã nhận ra từng người trong hai
gia đình và gọi đúng tên họ. Em đã kể lại những sự việc xảy ra khi Biya
còn sống mà theo trong gia đình những sự việc này chỉ mình Biya biết được
mà thôi. Chẳng hạn như em cho biết em có một cái cái răng cửa bịt vàng.
Các người chị dâu của Biya xác nhận là đúng. Lẽ tự nhiên gia đình Pathak
coi Swarnlata là hiện thân của Biya mặc dầu trước đây gia đình này không
hề tin tưởng là có luân hồi.
Sau chuyến viếng thăm của
gia đình Pathak và Pandley, cũng trong mùa hè năm 1959, Swarnlata và gia
đình đến Katni và Maihar, nơi Biya đã lập gia đình và đã chết. Khi tới
Maihar em đã nhận thêm một số người và cho biết những nơi có sự thay đổi
so với lúc em còn sống. Những tiết lộ này đều được phối kiểm là đúng. Về
sau em còn tiếp tục đến thăm gia đình em trai của Biya và biểu lộ một sự
thương yêu nồng nàn.
Tuy nhiên có vấn đề là
trước đây Biya chỉ nói được tiếng Hindu trong khi những bài hát và những
điệu múa mà Swarnlata trình diễn lại bằng tiếng Bangali.
Trong cuộc điều tra này,
các điều tra viên nhiều lần đã có ý thử thách để làm cho em lầm lẫn nhưng
cuối cùng cũng phải công nhận những điều em nói về tiền kiếp rất chính
xác.
Trường hợp trên đây đã
được phối kiểm với những bằng chứng hiển nhiên, không ai có thể chối cãi
sự luân hồi của Biya.
-ooOoo-
-24-
BÀ LYDIA
JOHNSON
(Một Phụ Nữ Hoa Kỳ hiện đại, là một nông dân Thụy Ðiển ở Thế Kỷ Thứ 16)
Tác Giả: Robert Almeder
Năm 1973, Bà Lydia Johnson
bằng lòng giúp chồng trong cuộc thí nghiệm thôi miên. Bà rất đắc lực vì dễ
đi vào tình trạng hôn mê. Bác Sĩ Harold Johnson là một nhân vật nổi tiếng
và trọng vọng tại Philadelphia. Năm 1971 ông đã dùng thuật thôi miên để
chữa trị cho một số bệnh nhân.
Khi các cuộc thí nghiệm
với người vợ đã tiến hành tốt đẹp, ông quyết định thôi miên vợ để tìm hiểu
đời sống tiền kiếp của Bà, nhưng đang nửa chừng thì bỗng nhiên bà co giật
người như bị đánh và sợ hãi hét lên. Bà ôm chặt đầu. Ông phải chấm dứt
ngay cuộc thí nghiệm. Hai lần thử lại kết quả vẫn thế. Mỗi lần hồi tỉnh bà
đều cho biết đã mục kích thấy cảnh tượng nhiều người già cả hình như bị
bắt buộc nhảy xuống nước chết đuối. Chính Bà cũng cảm thấy như bị ai đẩy,
rồi cú đánh rồi tiếng thét và cơn nhức đầu. Sau mấy lần thí nghiệm đều như
trên, Bác Sĩ Harold Johnson đã mời Bác Sĩ John Brown đến thử lại cuộc thí
nghiệm. Trước khi cơn đau tái diễn, B.S. John Brown nói với Bà: "Bà còn
trẻ hơn họ đến 10 tuổi đấy." Và lần này không như lần trước Bà bắt đầu nói
nhưng không phải những câu hay những tiếng nói vẫn dùng hàng ngày mà phần
lớn là thứ ngôn ngữ lạ làm chẳng ai hiểu được. Giọng nói của Bà y hệt
giọng đàn ông. Rồi chính Bà, một phụ nữ 37 tuổi, thốt ra câu: "Tôi là đàn
ông". Ðược hỏi tên Bà cho biết "Jensen Jacoby".
Với ngôn ngữ ngoại quốc,
xen lẫn vài tiến Anh ngặp ngừng, Bà tả lại cuộc đời tiền kiếp của Bà.
Trong lần thí nghiệm này (và trong các lần sau đó), cũng với giọng đàn
ông, Bà Lydia Johnson cho biết 3 thế kỷ trước Bà sống tại một làng nhỏ ở
Thụy Ðiển. Những điều Bà nói trong lúc thôi miên đều được ghi âm và ghi
chép kỹ lưỡng. Nhiều nhà ngôn ngữ học Thụy Ðiển được mời lại để phiên dịch
lời nói của Jensen Jacoby. Trong các cuộc thí nghiệm sau, Bà Lydia Johnson
hoàn toàn chỉ nói tiếng Thụy Ðiển, một ngôn ngữ mà từ trước đến nay Bà
chưa từng biết tới. Khi được hỏi: "Ông làm gì để sống?". Jensen Jacoby cho
biết ông là một người làm nghề nông ở thế kỷ thứ 16 tại Thụy Ðiển. Ðược
hỏi: "Ông sống ở đâu?", Jacoby trả lời "Sống ở trong nhà" và khi được hỏi
nhà ở đâu, Jacoby trả lời: "Ở Hansen". Tất cả đều được hỏi bằng tiếng Thụy
Ðiển. Jacoby đã tả lại anh ta có cá tính đơn giản phù hợp với một người
làm nghề nông . Tầm hiểu của anh chỉ hạn hẹp trong đời sống ở trong làng
và một trung tâm thương mại mà anh được đến xem. Jensen Jacoby cho biết
anh nuôi bà, ngựa, dở và gà. Anh thường ngày dùng bánh mờ, sóa, phó mát,
cá hồi và bánh ngọt làm bằng hột cây anh túc do Latvia, vợ anh ta nấu
nướng. Jacoby đã tự tay cất một căn nhà bằng đá để ở và vợ chồng anh không
có con. Mẹ của Jacoby là người Na Uy và Jacoby là một trong ba người con
trai của gia đình. Jacoby đã sống tự lập.
Một vài vật dụng được mang
đến trong khi Bà Lydya Johnson còn đang bị thôi miên. Bà được yêu cầu mở
mắt ra để lựa chọn các vật dụng này. Là hiện thân của Jensen Jacoby, Bà đã
chọn một chiếc thuyền mẫu của Thụy Ðiển ở Thế Kỷ Thứ 17, một cái đấu bằng
gỗ để dùng trong việc mua bán lựa mờ thời cổ, 1 cây cung và tên và những
hột cây anh túc. Các dụng cụ tối tân chẳng hạn như cái kìm thì Bà từ chối
vì không biết cách xử dụng.
Kết quả thí nghiệm về thôi
miên trên đây đã chứng minh được Bà Lydia Johnson đã là hiện thân của
Jensen Jacoby, một nông dân ở Hansen, Thụy Ðiển chết cách đây ba Thế Kỷ.
-ooOoo-
-25-
CẬU BÉ
BISHEN CHAND
Tác Giả: Robert Almeder
Bishen Chand sanh năm 1921
trong một gia đình có tên là Ghulam ở Thị xã Bareilly, Ấn Ðộ. Khi được 1
tuổi rưỡi, Bishen Chand thường hay hỏi về Thị Xã Philbhit, một thành phố
cách Bareilly 50 dậm. Không một ai trong gia đình Ghulam (Bishen Chand)
quen biết người nào tại thành phố này cả. Bishen Chand đòi gia đình chở em
đến thành phố này vì em tin chắc rằng kiếp trước em đã sống ở đó.
Thời gian trôi qua, Bishen
Chand vẫn không ngưng nói chuyện về tiền kiếp của mình tại Thành Phố
Philbhit. Gia đình em rất khó chịu phải nghe câu chuyện lập đi lập lại
nhiều lần. Vào mùa hạ năm 1926, Bishen Chand được 5 tuổi, em nói là em nhớ
lại rất rõ ràng tiền kiếp của mình: em là con một vị điền chủ giàu có tên
là Laxmi Narain. Em bảo rằng em còn nhớ có một người chú tên là Har Narain
sau này trở thành Cha của Laxmi Narain. Em tả lại ngôi nhà mà em đã sống,
có 1 phòng dùng làm nhà thì và nhiều phòng khác dành cho phụ nữ. Hòng ngày
em thường hay ca hát và nhảy múa với các cô Nautch, những vũ nữ chuyên
nghiệp và cũng là những gái mại dâm. Em nhớ lại em thường đến dự tiệc tùng
ở nhà người láng giềng có tên Sander Lal, căn nhà có "cái cổng màu xanh lá
cây". Một hôm em khuyên cha nên lấy thêm một nàng hầu.
Cha Bishen là một thư kỷ
của chính phủ nên rất nghèo. Trong khi nhớ về tiền kiếp với đời sống sung
túc, giàu có, Bishen càng bực bội với cuộc sống hiện tại túng bấn nghèo
nàn. Thỉnh thoảng em khước từ không dùng những món ăn mà theo em các người
hầu hạ (trong tiền kiếp của em) cũng chẳng dùng. Bishen đòi ăn thịt cá
trong khi nhà nghèo không có nên em thường sang hàng xóm để ăn. Những quần
áo vải em bỏ một bên mà đòi quần áo lụa (em cho rằng quần áo vải cũng
chẳng đáng cho các người hầu hạ của em mặc). Xin tiền cha, cha không cho,
em khóc lóc.
Một hôm cha của Bishen nói
rằng ông có ý định mua một chiếc đồng hồ và em bảo: "Cha à, đừng mua, khi
nào về Philbhit con sẽ lấy cho cha 3 cái đồng hồ tốt của Hiệu Muslim mà
con đã thành lập." Bishen còn cho biết thêm tên người chủ tiệm đồng hồ.
Chị Bishen lớn hơn em 3
tuổi, một lần đã bắt gặp em lấy rượu mạnh uống (mặc dù rượu này cất trong
tủ chỉ dùng để làm thuốc). Em nói với người chị là em có thói quen uống
rượu mạnh, ở tiền kiếp em thường uống rượu mạnh. Về sau em còn cho biết là
ở tiền kiếp em có một nàng hầu (em hiểu sự khác biệt nàng hầu và vợ) tên
là Padma. Mặc dầu Padma là gái mại dâm nhưng em rất mực thương yêu. Em còn
hãnh diện khoe là em đã giết một người đàn ông từ nhà Padma đi ra.
Trí nhớ về tiền kiếp của
Bishen đã lọt đến tai Ông K.K.N. Sahay, một luật sư ở Bareilly. Ông đã đến
nhà Bishen Chand và ghi chép tất cả những điều em nói. Sau đó ông đưa
Bishen, người cha và người anh của em đi Philbhit.
Luật Sư Sahay và gia đình
Bishen đã tìm được đúng ngôi nhà của Laxmi Narain. Laxmi Narain, người mà
Bishen nhận là tiền kiếp của mình đã chết được gần 8 năm. Một số đông đồng
bào đã tụ tập tại đây khi nghe tin Luật Sư Sahay và gia đình Bishen tới
Philbhit. Hầu hết mọi người trong vùng đều nghe tiếng giàu có của gia đình
Narain và tính tình phóng đãng của người con trai tên Laxmi. Laxmi Narain
đã gian díu với Padma, cô gái mại dâm (hiện còn sống tại đó) và vì ghen
tuông Laxmi đã bắn chết tình địch. Gia đình Narain giàu có thế lực, nên
Laxmi Narain được trắng án. Tuy nhiên vài tháng sau Laxmi Narain đã chết
vì bệnh lúc 32 tuổi.
Khi đem em đến trường,
Bishen đã chạy ngay vào phòng mà trước đây Laxmi Narain đã từng học. Một
người đưa cho em tấm hình có chụp học sinh trong trường, Bishen đã nhận ra
1 người bạn có hiện diện giữa đám đông. - và khi người này hỏi về thầy
giáo thì Bishen đã tả đúng là thầy giáo thì mập và có râu quai nón.
Tại đây Bishen đã nhận ra
nhà của ông Sander Lal mà em đã tả lúc trước (trước khi đi Philbhit) có
cổng xanh lá cây. Luật Sư Sahay khi đăng tải vụ này trên tờ báo quốc gia
"The Leader" vào tháng 8 Năm 1926 là chính ông đã đến tận nơi và tận mắt
thấy cái cổng của gia đình Sander Lal mầu xanh lá cây.
Em cũng chỉ cho mọi người
biết cái sàn mà Laxmi Narain đã cùng ca hát và nhảy múa với các cô gái
Nautch. Các người bán hàng nơi đây cũng đều xác nhận.
Cũng trên tờ báo "The
Leader" Luật Sư Sahay viết rằng tên cô gái điếm Padma mà Bishen đã nói là
người tình mà em rất đỗi yêu thương cũng đã được đám đông hiện diện hôm ấy
công nhận là đúng.
Trong ngày hôm đó vì muốn
thử Bishen, người ta đã đem đến truớc mặt em một căp trống Tabbas. Cha của
Bishen cho biết là từ khi sanh ra cho đến bây giờ Bishen chưa bao giờ được
nhìn thấy loại trống Tabbas này cả. Trước sự kinh ngạc của gia đình và của
mọi người Bishen Chand đã chơi trống một cách thành thạo chẳng khác gì
Laxmi Narain khi còn tại thế. Khi mẹ của Laxmi Narain gặp Bishen thì quả
là một cảm tình sâu đậm đã phát sanh gióa hai người. Bishen đã trả lời tất
cả các câu hỏi của Bà Mẹ Laxmi Narain (chẳng hạn như có lần em đã ném các
quả dưa muối). Bishen đã nói tên và tả người đầy tớ hầu mình thuở trước và
còn cho biết giai cấp của người này. Sau này em cho biết em thương yêu Bà
Mẹ Laxmi Narain hơn là người mẹ đã sanh ra em hiện nay.
Cha của Laxmi Narain,
trước khi chết, có chôn một số của cải nhưng mọi người trong gia đình
không biết ở đâu. Khi được hỏi tới vụ này, em đã dẫn mọi người đến một căn
phòng của gia đình. Tại đây người ta đã tìm được 1 kho toàn những đồng
tiền vàng chứng tỏ quả là em đã sống tại nhà này ở tiến kiếp.
Khi nghiên cứu vụ này
Stevenson (Tiến Sĩ Ian Stevenson, Chuyên Gia Khảo Cứu Luân Hồi) đã khẳng
định đây là một trường hợp rất có ý nghĩa bởi vì hồ sơ còn được lưu giữ
tại Văn Phòng một Luật Sư đáng tin cậy và nhiều nhân vật chính hiện còn
sống và sự phối kiểm tin tức của Bishen có thể thực hiện được. Rất nhiều
người biết Laxmi Narain hiện còn sống và biết rõ ràng khi Bishen nói về
những ký ức của em.
Hơn thế nữa theo Stevenson
đây không phải là một vụ giả tạo vì gia đình Bishen Chand không có lợi lộc
gì trong vô liên hệ với gia đình Laxmi Narain đã bị sa sút từ khi Laxmi
Narain từ trần.
Bishen Chand quả là tiền
thân của Laxmi Narain.
-ooOoo-
-26-
SHANTA
DEVI
Tác Giả: Robert Almeder
Shanti Devi sanh năm 1926
tại thành phố có Dehli. Năm lên 3 tuổi em thường kể lại cho gia đình nghe
về tiền kiếp của em. Shanti nói kiếp trước em lấy một người chồng tên là
Kendarnarth sống ở gần Muttra. Em có hai con và em chết khi sanh đứa con
thứ ba vào năm 1925. Shanti đã mô tả căn nhà trước đây em từng sống cùng
chồng và các con tại Muttra. Shanti nói tên của em ở tiền kiếp là Ludgi.
Em mô tả các người thân bên em cũng như bên chồng em ở tiền kiếp, cách
sinh sống của họ như thế nào và bị chết ra sao. Việc Shanti Devi tái sanh
xảy ra rất mau, một năm sau khi chết nên ký ức của em ở tiền kiếp còn rất
rõ ràng, mới mẻ.
Vì thấy Shanti Devi cứ lập
đi lập lại nhiều lần về tiền kiếp của mình nên Kishen Chand, người cậu của
em đã gửi thư đi Muttra theo địa chỉ Shanti Devi cho biết để xem thực hư
ra sao. Thư đến tay ông Kendarnarth, một người góa vợ và con đang sầu muộn
vì người vợ tên Ludgi vừa chết trong khi sanh đứa con thứ ba năm 1925. Vốn
là người theo Ấn Ðộ Giáo chính thống nên ông không chấp nhận vợ ông Ludgi
đã luân hồi và trở thành Shanti Devi ở Dehli nhưng ông không khỏi hoài
nghi vì có sự trùng hợp này.
Ðể tìm hiểu sự thực, ông
Kendarnarth đã nhờ người em họ tên Lal (sống ở Dehli) đi điều tra và đã
hỏi về cô bé Shanti Devi này. Lấy cớ đi buôn bán, ông Lal đã tìm được đến
nhà Shanti Devi. Vừa trông thấy ông Lal, khi ra mở cửa, em đã òa khóc và
ôm choàng lấy ông. Bà mẹ Shanti Devi cũng chạy vội ra, ông Lal chưa kịp mở
miệng thì Shanti Devi (lúc này 9 tuổi) nói với mẹ: "Thưa mẹ đây là người
em họ của chồng con. Hồi còn ở Muttra, chú ấy và chúng con không ở xa nhau
lắm, nhưng nay chú ấy đã chuyển về Dehli. Con rất sung sướng gặp lại chú
ấy. Chú ấy phải vào nhà. Con muốn biết tin tức của gia đình con."
Sau khi được em kể lại
những chuyện thuộc tiền kiếp của em, Ông Lal xác nhận là đúng nên đã đề
nghị ông Kendarnarth đem người con cưng đến Dehli để thăm Shanti Devi.
Khi ông Kendarnarth cùng
người con trai tới nhà Shanti Devi thì Shanti Devi đã ôm hôn họ và đã gọi
họ bằng các tên thân yêu. Shanti Devi đã đối xử với ông Kendarnarth như
một bà vợ hiền. Em đã mời ông dùng bánh bích quy với phó mát. Bị xúc động
Ông Kendarnarth đã không ngăn được nước mắt. Shanti Devi đã đã dùng những
câu nói mà trước đây Ludgi vẫn sử dụng hằng ngày để an ủi ông, vè về ông.
Câu chuyện đã làm cho báo
chí và dư luận xôn xao. Các nhân viên điều tra đã đưa Shanti Devi đi
Muttra và yêu cầu em dẫn họ về cái nhà mà em đã từng ở và đã chết tại đó ở
tiền kiếp Khi xe lửa vừa tới Muttra, Shanti Devi sung sướng òa khóc và dở
tay vẫy một vài người đứng trong sân ga. Em cho các điều tra viên biết một
người là mẹ chồng và một người là anh chồng. Em đã nói đúng. Ðiều quan
trọng hơn nữa là, vừa từ trên xe lửa bước xuống, thay vì dùng tiếng Ấn Ðộ
Hindustrani như em đã được học tại Dehli thì Shanti Devi đã dùng tiếng địa
phương Muttra mà em chưa từng bao giờ được dạy dỗ để nói chuyện với mọi
người. Là hiện thân của Ludgi đã cư trú tại Muttra, nên em đã nói được
tiếng địa phương này.
Sau đó Shanti Devi đã dẫn
các điều tra viên về nhà Kendarnarth và còn cho biết thêm các chi tiết
khác mà chỉ có mình Ludgi biết chẳng hạn khi ông Kendarnarth hỏi Shanti
Devi trước khi chết Ludgi có dấu mấy cái nhẫn nơi nào. Shanti Devi cho
biết những chiếc nhẫn đó được bỏ trong một cái bình và chôn dưới đất của
căn nhà có. Các nhân viên điều tra đã tìm thấy những chiếc nhẫn đó.
Trường hợp luân hồi này đã
được trình bày trước dư luận báo chí thế giới và là một đề tài sôi nổi
trong việc khảo cứu tại nhiều trường học.
-ooOoo-
-27-
NHỮNG
HỒN MA CỦA CHUYẾN BAY 401
Tác giả: Robert Almeder
Trong đêm thảm khốc 28
Tháng 12 Năm 1972 chiếc phi cơ 401 của Hãng Eastern Airlines đã bị rớt
xuống vùng Everglades, Tiểu Bang Florida. Tất cả 101 người vừa phi hành
đoàn vừa hành khách đều tử nạn. Sau đó 2 tháng, Hồn Ma Bob Loft, viên phi
công chính và Don Repo, viên phi công phụ đã xuất hiện trên một phi cơ
khác cùng đường bay.
Theo ông John Fuller, nhân
viên phụ trách việc điều tra tai nạn nói trên thi hai hồn ma này đã xuất
hiện nhiều lần, nhất là trên chiếc phi cơ 318 mang động cơ L-1011 sử dụng
một số phụ tùng cũng như vật liệu còn lại của chiếc 401.
Một lần, khi chiếc phi cơ
318 chuẩn bị cất cánh từ Newark đi Miami, viên phi công phụ đã hoàn tất
việc kiểm soát lần chót cùng viên phi công chính bước vào phòng lái. Thực
phẩm đã được cung cấp đầy đủ. Mọi công tác chuẩn bị đã xong. Máy bay chỉ
còn chờ cất cánh. Như thường lệ cô chiêu đãi viên chính đếm lại số hành
khách của chuyến bay. Cô thấy dư một người. Nơi dẫy ghế hạng nhất, có một
người ăn mặc như phi đoàn trưởng của hãng đang ngồi. Cô nghĩ có lẽ vị này
dã làm xong nhiệm vụ và trở về Miami nên khỏi mua vé, vì lẽ đó số hành
khách đã dư ra một người. Cô thấy phải báo cáo cho vị khách này tên ông
không được liệt kê trên danh sách hành khách. Cô lại gần và hỏi xem có
phải Ông đã được phép ngồi trên loại ghế Jump Seat (loại ghế tự động có
thể nhảy dù ra ngoài khi máy bay gặp nạn) của dẫy ghế hạng nhất để trở về
Miami hay không? Nhưng Ông không trả lời và điềm nhiên nhìn thẳng về phía
trước. Cô hỏi thêm lần nữa. Ông vẫn không trả lời, vẫn nhìn thẳng phía
trước mặt.
Thấy lạ, cô liền báo cáo
ngay cho vị giám thị trưởng. Vị này và cô cùng tiến về phía phi đoàn
trưởng lạ lùng cũng hỏi lại như trên nhưng cũng như hai lần trước không
được trả lời. Viên phi đoàn trưởng này nhìn chung không có gì khác lạ, duy
có một điều là Ông có vẻ rụt rè ngơ ngác. Một trong hai người chạy vào
phòng lái tường trình sự việc cho viên phi công chính (tức phi đoàn trưởng
của chuyến bay). Ông John Fuller nhấn mạnh là có khoảng 6 hành khách ngồi
gần vị khách này đều hiếu kỳ muốn biết sự việc. Viên phi công chính biết
rất rõ là không hề còn một vị phi công nào khác ngoài phi hành đoàn của
chuyến này, có nghĩa là vị khách lạ này không có giấy tờ hợp lệ. Vừa đi
Ông vừa nghĩ như vậy và tiến về phía vị khách. Viên giám thị và cô chiêu
đãi viên đứng kế bên.
Ông cúi xuống nhìn mặt vị
khách. Ðột nhiên máu Ông như muốn đụng lại. Ông hét lên: "Trời Ơi!
Chính là Bob Loft đây mà!". Toàn thể dẫy ghế hạng nhất im phăng phắc.
Trước mắt mọi người, vị khách lạ lùng bỗng dưng biến mất. Viên phi công
chính trở về phòng điều hành, ngưng việc cất cánh, kiểm soát lại một lần
nữa, nhưng vô ích, vị khách lạ vẫn mất dạng. Sau đó chuyến bay vẫn tiếp
túc cuộc hành trình về Miami. Tất cả hành khách lẫn phi hành đoàn đều hết
sức kinh hãi. Khi về tới Miami, 3 nhân viên của chiếc 318 (cô chiêu đãi
viên, vị giám thị và viên phi công) có xem lại sổ ghi các biến cố xảy ra
trong chuyến bay thì lạ thay các trang giấy có ghi rõ ràng sự việc trên đã
hoàn toàn biến mất. (Theo luật lệ của FAA - Cơ Quan Giám Sát Luật Lệ Không
Vận, thì mỗi chi tiết xảy ra trong chuyến bay đều phải ghi hết vào sổ).
Bắt đầu từ vụ này, sau mỗi
chuyến bay, người ta đã lấy báo cáo ghi sổ xếp ngay vào hồ sơ (Luật Lệ này
trái với nguyên tắc của Hẫng Eastern từ trước tới giờ).
Một lần khác nữa, hồn ma
Bob Loft cũng xuất hiện trên phi cơ 318 đứng giữa chiêu đãi viên và phi
công chính, làm họ sợ hãi phải hủy bỏ chuyến bay.
Viên phi công phụ Don Repo
cũng xuất hiện trên Phi cơ 318 nhiều lần. Một thời gian sau, hồn ma phi
công chính Bob Loft không còn thấy nữa, nhưng người ta vẫn thấy Don Repo
cho đến 2 năm sau ngày chuyến phi cơ 401 lâm nạn.
Sau đây là vài sự việc xảy
ra do Ông John Fuller ghi nhận; những sự việc đáng kể nhất đã xảy ra trước
mắt một số người. Người ta tính có tới 12 lần hồn ma Don Repo xuất hiện
cho đến cuối năm 1973. Thường thường Don Repo xuất hiện ra để giúp đỡ các
cô chiêu đãi viên hay các nhân viên cơ khí sửa chữa các trục trặc kỹ
thuật. Don Repo xuất hiện như một người bạn tốt, thích giúp đỡ mọi người.
Có nhiều lần người ta thấy Don Repo trò chuyện với một số người trên máy
bay.
Sau đây là một sự việc xảy
ra có sự chứng kiến của một nữ hành khách đi vé hạng nhất của chiếc phi cơ
318 từ Nữu Ước về Miami. Máy bay đang còn trên phi đạo. Nhân viên phụ
trách đếm số hành khách đang tiến về dẫy ghế hạng nhất. Nữ hành khách nói
trên ngồi cạnh một nhân viên phi hành trong bộ đồng phục kỹ sư cơ khí của
Hãng Eastern. Có điều gì đó làm cho bà ta lo ngại. Viên kỹ sư gương mặt
xanh sao, có vẻ như đang bệnh. Bà ta nói rằng nếu Ông cảm thấy không được
khoẻ, Bà sẽ gọi một chiêu đãi viên đến giúp đâ Ông, nhưng Ông làm ngơ
không trả lời. Bà liền gọi cô chiêu đãi viên đến. Cô xác nhận trông Ông
như một người đang bệnh. Cô hỏi Ông có cần gì không thì Ông đã biến mất
trước sự sửng sốt của nhiều hành khách. Riêng vị nữ hành khách ngồi cạnh
bị khích động vô cùng. Vị nữ hành khách và nhân viên phi hành đã khám phá
ra vị kỹ sư cơ khí ngồi dẫy ghế hạng nhất đó chính là Don Repo.
Năm 1974 một phi đoàn
trưởng đã xác nhận với ông John Fuller chính ông đã được một kỹ sư cơ khí
phi hành ngồi trên một ghế Jump Seat của chiếc L-1011 cho biết hệ thống
điện của máy bay đang trục trặc. Ông ra lệnh kiểm soát thêm một lần nữa
thì khám phá được một mạch điện bị hư. Sau đó ông nhìn lại thì thấy chính
là viên phi công phụ Don Repo.
Thêm một chuyện xảy ra
trong chuyến bay đi Mexico City vào tháng 2 năm 1974. Chiếc 318 đang sẵn
sàng cất cánh. Một nữ nhân viên phi hành chợt nhìn thấy gương mặt của Don
Repo nơi cánh cửa chính. Gương mặt nhìn thẳng mặt cô. Cô chạy lên cầu
thang mời một nhân viên phi hành xuống xem. Cả hai vẫn nhìn thấy gương mặt
trên cánh cửa. Họ liền báo với Ban Ðiều Hành. Viên kỹ sư cơ khí của Ban
Ðiều Hành lập tức xuống xem, vẫn còn thấy gương mặt của Don Rep đang đăm
đăm nhìn ông và nói với ông rằng: "Hãy cẩn thận! Máy bay có thể bị bốc
cháy!" Rồi gương mặt biến mất. Quả đúng như vậy, trong lúc cất cánh,
một máy bị cháy. Chiếc 318 chỉ còn chạy bằng một máy mà thôi.
Những cấp thẩm quyền của
Hãng Eastern cho rằng những hồn ma của chiếc 401 (Bob Loft và nhất là Don
Repo) chỉ là chuyện nhảm nhí (có lẽ vì sợ ảnh hưởng đến việc thương mại
của Hãng) và nói rằng không một ai trông thấy cả nhưng lại từ chối không
cho ai xem sổ ghi các biến chuyển của các chuyến bay liên hệ. Người ta chỉ
biết rằng, khi tất cả các đồ phụ tùng còn lại của chiếc máy bay bị rớt 401
đã được tháo gỡ khỏi chiếc 318, thì các hồn ma nói trên không còn thấy
xuất hiện nữa.
Sự việc trên cũng giống
như sự việc hồn ma Butler (Bà George Butler) ở một làng tại Machiasport,
Tiểu Bang Maine, chết rồi nhưng còn xuất hiện nhiều lần trước sự chứng
kiến của hàng trăm dân địa phương. Mục sư Cummings đã nhận được khoảng 30
bản tường trình.
Hồn ma của chuyến bay 401
cũng đã xuất hiện nhiều lần trong nhiều trường hợp trong một thời gian khá
dài trước một số người được mục kích.
---o0o---
Mục
Lục |
I
|
II
|
III
|
IV
|
V
|
VI
|
VII
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-01-2003