Ngàn xưa hương bối
Tỳ kheo Giới Ðức
(Minh Ðức Triều Tâm Ảnh)
Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
---o0o---
[14]
QUẢ BÁO KHỦNG KHIẾP
-ooOoo-
T
huở
Phật Ca Diếp còn tại thế, có một vị tỷ kheo sống trong ngôi làng nhỏ dưới
sự hộ độ của người chủ ruộng. Vị ấy tính tình bộc trực, hồn nhiên, giữ
giới trong sạch và chuyên tu thiền quán. Ngài sống như vậy trong thời gian
dài không có phiền lao và nhiệt não.
Hôm kia, có một vị trưởng
lão lục căn thanh tịnh đi qua làng. Người chủ ruộng trông thấy, phát tâm
tịnh tín, thỉnh bát, mời vào nhà, cúng dường các món ăn, nghe pháp rồi
thưa:
- Thật ít khi mà ngôi làng
nhỏ bé của chúng con được phước để nghinh tiếp và cúng dường đến các bậc
sa môn phương xa. Thưa tôn giả kính mến! Nay tôn giả đã đến đây thì xin
ngài hoan hỷ dừng bước để cho chúng con thêm được phần cơ duyên tấn ích. Ở
đây, có một ngôi tịnh xá, ngài sẽ gặp đầu tiên ở con đường. Thỉnh tôn giả
ở lại đấy, buổi chiều chúng con sẽ đến.
Vị trưởng lão im lặng nhận
lời đi đến tịnh xá, đảnh lễ vị tỷ kheo trụ trì và xin chỗ tạm cư.
Vị tỷ kheo trụ trì ân cần
tiếp đón, mời ngồi rồi hỏi:
- Chẳng hay hiền giả ở xa
lại mà đã có gì độ thực chưa?
- Ðã có rồi, thưa hiền
giả.
- Ở đâu vậy, hiền giả quý mến?
- Gần đây thôi, thưa ngài,
nơi gia đình người chủ ruộng ở trong làng.
Vị trụ trì sửa soạn sàng
tọa, chỗ cất đặt y bát, nước rửa, khăn tắm, khăn lau mặt, chỉ chỗ vệ sinh,
quét dọn đâu đấy ngăn nắp rồi mời vị khách tăng vào nghỉ ngơi.
Vị trưởng lão vốn là bậc
A-la-hán, lậu hoặc đã tận, sống bình đẳng hài hòa với các vị đồng phạm
hạnh, hoan hỷ đến chỗ sàng tọa của mình, ngồi xuống và hưởng lạc thọ của
thiền, của quả.
Buổi chiều, với hương hoa,
dầu đèn, người chủ ruộng đến tịnh xá, đảnh lễ cúng dường vị trụ trì rồi
thưa hỏi vị khách tăng. Người chủ ruộng vấn an sức khỏe, đảnh lễ, ngồi
xuống một bên vị trưởng lão và nghe pháp. Ðến lúc mát trời, người chủ
ruộng xin được mời thỉnh cả hai vị về nhà mình.
Vị trụ trì tâm tư không
được thoải mái, tự nghĩ:
"- Kẻ hộ độ cho ta tâm đã
bị phân tán thành hai. Một lúc nào đó, y sẽ không còn ngó ngàng gì đến ta
nữa. Vậy hãy làm thế nào cho vị khách tăng bỏ tịnh xá và ra đi?"
Ðến giờ hầu thăm, khi vị
trưởng lão đến, vị trụ trì tỏ thái độ im lặng một cách khó chịu.
Quán tâm, biết rõ tâm của
vị trụ trì, bậc trưởng lão về chỗ sàng tọa của mình, suy nghĩ:
"- Ngài trụ trì này không
biết, chớ ta có bao giờ làm phiền lụy, trở ngại cho ai?"
Sáng ngày, vị trụ trì lấy
tay gõ nhẹ cái chuông, lấy móng tay cào nhẹ nơi cửa rồi ôm bát đến nhà thí
chủ hộ độ hàng ngày. Người chủ ruộng thỉnh bát, mời ngồi rồi hỏi vị khách
tăng sao không thấy đến.
Vị trụ trì tỏ vẻ ngần ngại
một lát rồi mới nói:
- Tôi không biết gì về vị
tỷ kheo đáng mến ấy! Sáng ngày, tôi đã đánh chuông, gõ cửa nhưng không thể
đánh thức vị ấy được. Bữa qua, sau khi dùng các món ăn thượng vị nơi nhà
của thí chủ, có thể chưa tiêu hóa được, nay đang còn ngủ chăng? Tôi không
rõ lắm, mà có thể vị ấy đang hoan hỷ với những việc như vậy!
Trong khi ấy, bậc trưởng
lão A-la-hán biết giờ khất thực đã đến, không muốn làm phiền vị trụ trì
nên đã dọn dẹp sàng tọa, cất đặt, quét tước đâu đó tươm tất, sạch sẽ, rồi
đắp y, quăng bát qua hư không đi đến một trú xứ khác.
Người chủ ruộng sau khi
cúng dường cơm, canh, bánh, sữa, sanh tô, mật và đường đến vị trụ trì, lại
gói sẵn thêm một phần nữa rồi thưa:
- Bạch tôn giả! Ngài
trưởng lão khách tăng chắc đi đường xa còn mệt, vậy nhờ tôn giả hoan hỷ
mang phần vật thực mà chúng con đã có nhã ý cúng dường cho vị ấy.
Chẳng thể từ chối, vị trụ
trì đi về với tâm tư phiền muộn, tự nghĩ:
"- Nếu y được ăn cơm với
sữa, mật và sanh tô này, ai nắm cổ đuổi đi, chắc y sẽ không đi. Vậy ta
phải làm sao? Ðem cho người khác, việc làm của ta sẽ bị bại lộ. Nếu đổ
xuống nước, sanh tô sẽ nổi lên và sẽ bị thấy. Quăng trên đất thì lũ quạ sẽ
tụ họp lại, kẻ qua đường sẽ biết, và rồi sẽ đến tai người chủ ruộng. Nay
ta sẽ thủ tiêu phần vật thực này ở đâu?"
Ðang phân vân như vậy, vị
trụ trì chợt thấy một đám cây và một đám ruộng bị đốt, lửa nghi ngút bốc
lên. Ý nghĩ đi liền theo, vị trụ trì khều một đống than đỏ lên, bỏ vật
thực xuống rồi phủ lên đó một lớp than nữa. Làm xong công việc ấy, vị trụ
trì mỉm cười hài lòng:
"- Sẽ không còn vật thực
thượng vị, rồi tứ đại sẽ hoàn cho tứ đại."
Về tịnh xá, thấy vắng vẻ,
mở cửa nhìn chỗ sàng tọa của vị khách tăng, thấy đâu đó đã được dọn dẹp
ngăn nắp sạch sẽ, vị trụ trì giật mình:
"- Vậy là y biết rõ tâm tư
của ta, không muốn phiền nhiễu ta, quấy rầy ta nên đã lặng lẽ bỏ đi nơi
khác. Ðây đúng là hành động của một bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc
rồi!"
Nghĩ vậy, một nỗi sợ hãi
to lớn khởi lên thiêu đốt tâm can, vị tỷ kheo trụ trì khốn khổ than dài:
"- Ôi! Vì một miếng ăn,
một chút ganh tỵ mà ta đã thiêu rụi vô vàn công đức và phước báu tu tập
được. Ta đã ngu si làm một tội lỗi tày trời!"
Từ đấy, vị tỷ kheo trụ trì
bị dằn vặt, đau khổ, phiền muộn, ưu sầu. Ngày và đêm, vị ấy như ở trong
một lò lửa lớn, đun bằng dầu sôi, đốt cháy ruột gan và óc não. Trạng thái
này kéo dài cho đến khi chấm dứt thọ mạng, vị tỷ kheo trụ trì rơi xuống
địa ngục, bị đốt, bị nấu nhiều trăm nghìn năm.
Do sức mạnh của ác nghiệp,
từ địa ngục, vị ấy bị sanh năm trăm kiếp liên tục làm Dạ Xoa đói, không
được ăn đầy bụng dầu chỉ một ngày. Chỉ có một bữa vị ấy được no bụng bởi
ăn đồ uế nhiễm của thai bào.
Hết năm trăm kiếp Dạ Xoa,
năm trăm đời vị ấy sanh làm chó đói. Liên tiếp năm trăm đời, không một
ngày no bụng, chỉ được một bữa đầy do ăn vật thực ói mửa của người khác.
Khi kiếp chó mạng chung,
vị ấy sinh ở nước Kàsì, tại một làng nghèo đói, trong một ngôi nhà nghèo
đói nhất. Từ khi vị ấy sinh ra, gia đình trở nên nghèo đói cùng cực. Nơi
cái bụng ọc ạch của vị ấy, chưa bao giờ chứa được một nửa bát nước cháo
chua! Cha mẹ vị ấy không thể chịu nổi cái đói, đánh đuổi vị ấy đi với lời
nguyền của con số đen bất hạnh! Không nơi nương tựa, vị ấy lang thang đến
Ba-la-nại.
Thuở ấy, tiền thân Phật
Thích Ca là một vị giáo sư có tiếng khắp các phương. Dân Ba-la-nại trả
tiền công cho ngài để ngài dạy tri thức và nghề nghiệp cho năm trăm thanh
niên con em của họ. Tình cờ, Bồ Tát gặp "con số đen bất hạnh". Thấy đói
khổ, tội nghiệp, ngài mang về cho cơm ăn áo mặc rồi dạy cho học. Nhưng vị
ấy cứng đầu, ngang ngạnh, hay đánh bậy, không chịu nghe lời khuyên bảo. Từ
khi có nó, tiền dạy của Bồ Tát bỗng dưng giảm sút, không rõ người ta cố ý
không trả tiền công hay người ta quên! Tuy nhiên, mặc dù biết rõ do nghiệp
của nó, Bồ Tát vẫn nhẫn nại, khoan dung, cố dạy dỗ cho nó nên người.
Cũng do nghiệp xui nên, vị
ấy không thể ở yên trong hoàn cảnh tốt. Nó gây lộn, ẩu đả với nhiều thanh
niên rồi trốn đi, lang thang đến một làng biên địa làm thuê sinh sống.
Tại đấy, nó chung sống với
một người đàn bà nghèo khổ và sinh được hai con. Từ khi có nó ở đây, ngôi
làng biên địa này bị vua xử phạt bảy lần vì săn thú trái phép, nhà cửa bị
cháy bảy lần và hạn hán cũng xảy ra bảy lần. Ðời sống của dân chúng vốn đã
chẳng no đủ gì, lại trở nên khó khăn, nghèo đói, cơ cực không thể tưởng.
Họ nghĩ: "Có lẽ tại con số đen bất hạnh kia chăng? Trước đây, chúng ta đâu
có khổ cùng khổ cực đến vậy?"
Dân làng họp nhau lại rồi
tẩn xuất nó đi. Với vợ và con, nó lang thang lếch thếch đến một khu rừng.
Một bữa đi kiếm trái cây trở về, vợ và hai con nó chỉ còn là một đống
xương và máu bầy nhầy. Một phi nhân đã ăn thịt những kẻ thân yêu của nó!
Sợ hãi, đau đớn, đói khát, nó ra khỏi rừng, vất vưởng từ núi này sang núi
nọ, làng này sang làng khác. Ðến một vùng biển, gặp lúc một chiếc tàu vừa
nhổ neo, nó xin được một chân làm thuê. Tàu đi được bảy ngày thì đột nhiên
đứng yên như bị mắc cạn. Chúng rút thăm xem ai là "con số đen bất hạnh".
Cả bảy lần, thăm con số đen đều rơi vào tay nó. Thế là người ta hè nhau,
quăng nó xuống trên một chiếc bè. Không có nó, tàu bình yên vô sự ra đi!
Do quả giữ giới, sống đời
phạm hạnh một thời gian thuở Phật Ca Diếp, bè tre của nó trôi đến một hòn
đảo xinh đẹp. Tại đây, nó sống hưởng lạc bảy ngày trong tòa lâu đài pha lê
với bốn tiên nữ (Dạ Xoa thiên). Hết bảy ngày, nó lại lên bè tre trôi đến
một hòn đảo khác, gặp tám tiên nữ và sống hưởng lạc thú với họ trong một
tòa lâu đài bằng ngọc. Phước báu này đẩy nó đi rồi gặp mười sáu tiên nữ,
ba mươi hai tiên nữ. Hết phước, nó lạc đến một hòn đảo hoang vu. Có một
con quỷ Dạ Xoa trong hình dáng một con dê đang ăn cỏ ở đấy. Vì đói, nó
nhảy đến định bắt dê để ăn thịt. Với thần lực của loài quỷ, Dạ Xoa nhấc
bổng nó và quăng qua hư không. Nó băng băng bay qua biển, không biết với
thời gian bao lâu, nó rơi xuống trên đầu một bụi gai, lăn tròn qua một cái
hào khô nước rồi đứng dậy.
Lúc bấy giờ, tại cái hào
ấy, ăn trộm thường đến bắt dê của vua, và những người rình bắt trộm đang
núp sẵn ở đấy. "Con số đen bất hạnh" thấy dê nhiều quá, ngu si tự nghĩ:
"Khi ta chụp bắt dê ngoài hoang đảo, nó quăng ta qua biển rồi rơi xuống
đây. Bây giờ, ta lại chụp bắt một con dê, như thế, nó lại quăng ta qua
biển, rơi xuống nơi hòn đảo có các vì tiên nữ!"
Với tác ý bất chánh như
vậy, nó nhảy tới chụp chân dê, dê kêu lên, thế là người ta đổ ra bắt nó:
"Ðây đúng là đứa ăn trộm dê của vua từ trước tới nay!" Người ta đánh nó,
trói lại rồi dẫn về cho Ðức Vua trị tội.
Hôm ấy, ở Ba-la-nại, Bồ
Tát đang dẫn năm trăm người học trò của mình xuống sông tắm thì gặp nó
đang bị lính trói dẫn đi. Hỏi tự sự đầu đuôi câu chuyện, Bồ Tát biết nó
không phải là đứa ăn trộm dê, chỉ do một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó
thôi. Nó cũng tình thật kể lại tác ý của nó khi được hưởng lạc thú ở đảo
với những tiên nữ. Bồ Tát chi trả một ít tiền thù lao công khó đêm hôm
rình trộm rồi xin người ta ân xá cho sự ngu si của nó. Nể tình Bồ Tát, nó
được tha mạng. Bồ Tát lại mang nó về nhà nuôi dưỡng rồi tiếp tục khuyên
lơn, dạy bảo. Chấm dứt thọ mạng, Bồ Tát và "con số đen bất hạnh", mỗi
người đi theo nghiệp của mình.
--*--
Cái quả báo khủng khiếp
của vị tỷ kheo trụ trì thuở xưa, vì nguyên nhân một miếng ăn, một chút
ganh tỵ mà đốt cháy vật thực, không phải ngang đây là chấm dứt. Cái kiếp
ngu si, bần cùng, khốn khổ bất hạnh tương tự như trên còn kéo dài đến năm
trăm đời sau nữa.
Kiếp cuối cùng, nó sanh
thú tại Kosala, trong một làng đánh cá, tại một gia đình nghèo khổ. Từ khi
nó tượng hình trong thai bào người vợ thì cả ngôi làng, gồm một ngàn gia
đình rơi vào thảm họa, tổn hại. Cá trong biển dường như trốn đi đâu mất
hết, dân làng thường phải trở về tay không mỗi ngày, mỗi tuần. Họ phải đi
xa hơn, ngoài ranh giới của mình, thế là bị Ðức Vua xử phạt bảy lần! Rồi
tiếp theo là ngôi làng bị cháy bảy lần! Thế rồi, cả làng chỉ còn tay
trắng, nghèo đói cùng cực.
Họ bàn với nhau:
"- Trước kia, chúng ta
không có như vậy. Làng của chúng ta chắc chắn phải có một "con số đen" nào
đây, phải tìm cho ra!"
Rồi họ phân thành hai
nhóm, mỗi nhóm năm trăm gia đình. Chuyện lạ xảy ra. Nhóm nào có cha mẹ nó
thì vẫn đen đủi, xui xẻo. Nhóm kia dần dần được tăng thịnh, hết đói nghèo.
Người ta lại chia hai cái
nhóm năm trăm gia đình "con số đen", mỗi bên hai trăm rưỡi gia đình. Nhóm
có cha mẹ nó vẫn như cũ còn nhóm kia bắt đầu có may mắn. Tuần tự chia đôi
mãi như vậy, người ta tìm ra được gia đình có nó đầu thai, rồi tẩn xuất cả
gia đình nó ra khỏi làng.
Người chồng biết cái "quái
thai" kia nằm trong bụng vợ nên cũng sợ hãi, trốn vợ bỏ đi luôn. Thật khốn
khổ cho người đàn bà bụng mang dạ chửa, lê lết tấm thân gầy đi xin ăn qua
bữa. Cuối cùng, đứa bé cũng được sinh ra.
Vì là đời sống cuối cùng
nên dầu có bị khốn khổ, đói rét, đứa bé vẫn không thể chết. Như ngọn đèn
nằm trong chiếc ghè, điều kiện để thành A-la-hán cháy đỏ trong tim của nó.
Khi đã biết đi, biết chạy,
người mẹ giao cho đứa bé một cái bát và bảo nó đi ăn xin, rồi bỏ trốn. Bà
nghĩ rằng, cưu mang nó cho đến bây giờ quả là tận tình, tận nghĩa đối với
nó rồi.
Từ đó, nó sống một mình,
tìm đồ ăn tại chỗ này, chỗ kia, không một mảnh vải che thân, nằm ngủ đầu
đình, xó chợ. Nó tìm sống một cách cực khổ như một con quỷ ăn bùn, bới
trong những đống rác, lượm những hạt cơm đổ tại các cửa nhà, moi móc những
đồ ăn thừa người ta rửa, thải từ các mương cống...
--*--
Hôm nọ, bậc tướng quân
Chánh Pháp đang đi khất thực ở Xá Vệ, thấy đứa bé, động tâm suy nghĩ:
"Chẳng biết nó là con của ai, ở đâu mà sống một đời đáng thương hại như
vậy?" Rồi khởi lòng bi mẫn, ngài gọi:
- Này con, hãy đến đây!
Ðứa bé đến, thấy dung nghi
của trưởng lão, một niềm kính trọng sâu xa khởi lên, nó liền chắp tay đảnh
lễ rồi đứng khép nép ở một bên.
- Con ở làng nào? Cha mẹ
con ở đâu?
- Thưa tôn giả, con không
có nơi nương tựa. Cha mẹ con, vì con mà đời sống quá khốn khổ, quá mệt mỏi
nên họ đã bỏ rơi con và trốn đi.
Ngài Xá Lợi Phất ân cần:
- Này con, con có muốn
sống đời xuất gia như ta không?
- Con muốn lắm. Ðứa bé nói
- Nhưng ai sẽ cho kẻ khốn nạn như con xuất gia?
- Ta, ta sẽ cho con xuất
gia.
Tôn giả Xá Lợi Phất sau
khi cho đứa bé ăn các món ăn loại cứng và mềm, dắt về tịnh xá Kỳ Viên, tự
tay tắm rửa cho y, rồi cho đứa bé xuất gia làm sa di đuổi quạ. Ðến tuổi
trưởng thành, trao cho đại giới, từ đấy được gọi là tỷ kheo Losaka.
Losaka do nghiệp quá khứ
còn dư sót nên ít được phước báu, ít nhận được các món ăn cúng dường. Dầu
cho có được bố thí lớn cách mấy, không gì sánh nổi, bụng của vị tỷ kheo
này cũng không được no, chỉ vừa đủ để duy trì mạng sống cầm chừng mà thôi!
Một muỗng cháo là hình như đã tràn đầy bình bát của vị ấy. Người ta luôn
luôn cảm thấy bát của vị tỷ kheo này đã đầy - dầu bên trong không có gì -
nên họ lại đem dâng cúng cho vị đi sau.
Tỷ kheo Losaka, tuy vậy,
tu hành rất tinh tấn, thiền quán tăng trưởng, sau một thời gian, chứng quả
A-la-hán. Tuy vậy, ngài cũng chỉ được món ăn cúng dường ít ỏi. Vì thiếu
thốn vật thực nên thọ hành giảm thiểu và ngày Niết bàn Vô dư đã đến.
Bậc tướng quân Chánh Pháp,
hôm ấy hướng tâm đến, biết được thọ hành của người đệ tử, bèn nghĩ rằng:
"Losaka hôm nay sẽ nhập Niết bàn không có dư y. Ta làm thế nào cho vị ấy
được một bữa ăn no bụng lần cuối cùng?"
Thế rồi, tôn giả dẫn ngài
Losaka vào Xá Vệ để khất thực. Dẫu cả thành phố ai cũng biết tôn giả,
nhưng hôm ấy, không hiểu tại sao, cả hai, không nhận được một lời chào
hỏi, huống nữa là cúng dường! Tôn giả Xá Lợi Phất bảo ngài Losaka về tịnh
xá, ngồi tại giảng đường rồi tôn giả sẽ gởi vật thực về cho.
Khi không có tỷ kheo
Losaka đi bên cạnh, tôn giả liền đầy một bát, đầy hai bát. Tôn giả cẩn
thận sớt ra nhiều phần, gặp vị tỷ kheo nào, tôn giả cũng nhờ mang về cho
tỷ kheo Losaka đang đợi ở giảng đường. Rồi tôn giả lại đi bát tiếp cho
mình.
Kinh kể rằng, vì nghiệp ác
xui khiến nên tất cả những người tôn giả Xá Lợi Phất nhờ mang về, đều
quên, không đem vật thực cho tỷ kheo Losaka, họ ăn hết, hoặc họ sớt cho vị
khác.
Ðến trưa, khi về tịnh xá,
ngài Losaka tìm đến đảnh lễ, tướng quân Chánh Pháp ân cần hỏi:
- Này hiền giả! Hiền giả
có nhận được chút ít vật thực nào chăng?
Vì là bậc thánh, ngài
Losaka trả lời nhũn nhặn:
- Thưa tôn giả! Rồi con sẽ nhận được.
"Rồi con sẽ nhận được"!
Nghĩa là hiện giờ thì chưa nhận được! Tôn giả Xá Lợi Phất ngẩng đầu nhìn
trời. Ðã quá ngọ!
- Hãy ngồi xuống đây, hiền
giả! Tôn giả Xá Lợi Phất nói nhanh - Hãy ngồi xuống đây và chỉ đợi ta
trong giây lát thôi.
Xong, như cánh chim ưng
vàng, tôn giả quăng bát qua hư không, vận thần thông lực, bay đến trú xứ
của Vua Kosala. Ở đây, sau khi nhận đầy bát bốn loại bánh ngọt và những
thức ăn phi thời, tôn giả mau chóng trở về, đứng, cầm bình bát và nói:
- Này hiền giả Losaka, hãy
ăn đi. Ðây là những thức ăn phi thời được phép dùng. Ta cho phép hiền giả
cứ lấy ăn.
Nhưng ngài Losaka vì lòng
kính trọng thầy, không thể để thầy đứng cầm bát cho mình ăn, nên còn ngần
ngại.
Tôn giả lại nói:
- Này hiền giả! Ðáng quý
thay là đức hạnh cung kính, nhưng đây là do ta cho phép chứ không phải tự
ý của hiền giả. Ta cầm bát và đứng, còn hiền giả cứ lấy bánh mà ăn. Vì sao
vậy? Vì ta biết rõ rằng, khi tay ta vừa rời khỏi bình bát thì sẽ không còn
một vật thực nào ở đấy nữa!
Do thần thông lực của bậc
tối thượng thủ duy trì nên bánh đã không biến mất do nghiệp còn dư sót của
tỷ kheo Losaka, nên hôm ấy ngài được ăn một bữa ăn no bụng trong suốt một
kiếp làm người!
Sau đó, tỷ kheo Losaka
nhập Niết bàn. Ðức Chánh Ðẳng Chánh Giác đứng một bên chứng kiến thi hài
được hỏa táng. Các Xá Lợi được thâu nhận và điện tháp được xây dựng để tôn
trí lên trên.
-HẾT-
---o0o---
Mục Lục
[ 01]
[ 02]
[ 03]
[04]
[ 05]
[06]
[07]
[08]
[09]
[10]
[11]
[12]
[13]
[14]
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-01-2003