Ngàn xưa hương bối
Tỳ kheo Giới Ðức
(Minh Ðức Triều Tâm Ảnh)
Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
---o0o---
[12]
NGƯỜI NGU
-ooOoo-
V
ào
thời kỳ mà Tăng chúng quá đông, thiện nam tín nữ dâng cúng quá nhiều thực
phẩm, trưởng giả Cấp cô độc phải cho xây dựng thêm nhiều kho lẫm ở Tịnh xá
Kỳ Viên để chứa đựng và phân phối.
Tỷ kheo Dabhamalla được
Tăng chúng chỉ định công việc này. Ngài cầm cán cân phân phối thực phẩm
rất phân minh và chu đáo. Với số hạ lạp như vậy thì được gạo hoặc thực
phẩm tương đương. Và thường thường số gạo xấu, phẩm chất thô là phần cho
các vị còn trẻ hoặc sơ tu. Ðấy là thứ tự hình thức, là lễ giới cần thiết
trong giáo pháp của Ðức Tôn sư.
Hôm kia, tỷ kheo Udàyi mặc
dầu hạ lạp khá cao nhưng nhận được gạo xấu liền làm rộn lên trong phòng
phát thẻ. Người ta biết vị đó còn nhiều phàm phu tính nên ai nấy đều giữ
im lặng.
Ngày hôm sau, ngày hôm sau
nữa, tỷ kheo Udàyi vẫn nhận được gạo xấu, vì thật ra gạo tốt không còn bao
nhiêu, phải để dành cho các vị Ðại trưởng lão niên cao, lạp lớn. Tỷ kheo
Udàyi mặc dầu biết vậy, vẫn nói nặng lời với tỷ kheo Dabhamalla, chỉ trích
và phỉ báng vị ấy.
Tỷ kheo Dabhamalla im lặng
như cái mõ bể, chỉ lo tròn bổn phận mình, không hề cãi lại. Nhưng có một
số tỷ kheo sơ tu, tập khí còn nhiều, nội tâm chưa ổn định, tham sân và uế
trược chưa lắng dịu,... cũng nhân cơ hội ấy mà la ó lên, làm cho căn phòng
phát thẻ ồn ào như vỡ chợ.
- Ngài Dabha không công
bằng, nghỉ việc đi!
- Ðề nghị ngài Udàyi làm
thay!
Giáo hội Ðức Tôn sư là tập
thể dân chủ; lại biết phân công các vai trò quản lý hay các chức vụ điều
hành sinh hoạt, nên cũng dễ hiểu thôi, sự đề nghị tỷ kheo Udàyi thay thế
chức vụ ấy được Tăng chúng chấp nhận ngay.
Cuộc phát gạo đã xong, tỷ
kheo Dabhamalla mang thẻ đến, trao vào tay tỷ kheo Udàyi:
- Bây giờ đến phiên hiền
giả gánh vác trách nhiệm này. Tôi có một lời khuyên đến hiền giả. Hiền giả
phải biết tôn kính bậc nên tôn kính. Hiền giả phải biết vị nào nhiều công
đức và vị nào ít công đức. Ðây là việc làm không thể chiếu lệ, đại khái,
mà cần sự sáng suốt, định tĩnh và nghiêm túc. Nó cần sự tinh tấn, cần mẫn,
chăm chuyên và chịu khó. Không thể cẩu thả, làm biếng, thiểu trí và vô
trách nhiệm được đâu. Hiền giả Udàyi thân mến! Hiền giả phải biết như vậy.
Udàyi bực mình hét toáng
lên:
- Sao tôn giả lại quá
nhiều lời? Tôn giả có phải là Ðạo sư của tôi đâu. Tôi biết việc mình phải
làm, đâu cần phải quá nhiều giáo giới của tôn giả!
Biết cái cứng đầu và ngu
si của vị ấy, tỷ kheo Dabhamalla bỏ đi với ý nghĩ: "Hy vọng ông ta học
được bài học và giác ngộ được vài điều trong khi làm công việc này.! Chắc
chắn Ðức Ðạo sư biết rõ là đến lúc nào đúng thời để thuyết giáo đến ông
ta."
Thế rồi đến phiên tỷ kheo
Udàyi phát thẻ phân phối gạo. Ông ta không cần biết đến số hạ lạp và tuổi
tác của một ai, không cần biết vị nào nhiều công đức, vị nào ít công đức.
Ông ta ghi những cái dấu trên sàn hoặc trên tường để chỉ rõ hàng này bao
nhiêu người, hàng kia bao nhiêu người. Và ông ta y cứ vào đấy, y cứ vào
những cái dấu của mình mà phân phối gạo.
Ðến ngày sau, dĩ nhiên là
thường có một số tỷ kheo ra đi và có một số tỷ kheo khác mới đến. Do vậy
số người nhận gạo thường thường phải thay đổi luôn, cả số thẻ và hàng. Tỷ
kheo Udàyi lại không để ý đến điều đó, cứ theo cái dấu của mình mà phát.
Bởi thế, có người không nhận được gạo, và gạo tốt không vào được tay các
vị Ðại trưởng lão. Người ta phản ảnh với Udàyi điều đó. Tỷ kheo Udàyi nói:
- Sao các tôn giả không tự
động đứng theo những cái dấu của tôi? Tại sao tôi lại tin lời các tôn giả?
Tôi tin vào cái dấu của tôi hơn.
Thế rồi Udàyi gạt phăng
chư vị ra một bên bằng cánh tay lực lưỡng thô bạo của mình.
Có vị tỷ kheo có ý thức,
nắm tay Udàyi lại, rồi kéo qua một bên:
- Này bạn, liệu hồn đấy!
Có rất nhiều vị truởng lão không có phần, và các ngài đã không nói gì,
lặng lẽ ra đi như chiếc bóng.
Udàyi sừng sộ nói:
- Tôi không cần biết là
ai. Tôi đã có những cái dấu của tôi!
- Bạn vừa nói gì? Một
giọng quát lớn - Bạn xúc phạm đến chúng tôi thì được. Nhưng bạn vừa nói gì
đó? Bạn dám đụng đến các bậc trưởng lão đáng kính trong giáo pháp này? Tôi
với cái nắm tay, cái mũi của bạn sẽ như trái cà chua đỏ, và cái miệng của
bạn sẽ méo qua một bên như trái xoài dập!
Tỷ kheo to lớn kia nói
xong liền bước lại. Các vị khác can ra. Ồn ào, huyên náo thế là xảy ra
trong phòng phát thẻ.
Bậc Ðạo sư lúc ấy đang đi
kinh hành, quay lại hỏi ngài Ànanda:
- Như một cái chợ đang họp
trong phòng phát thẻ. Chuyện gì vậy?
Một lát sau, Ðại Ðức
Ànanda trình bày tự sự lại với Ðức Thế Tôn. Bậc Ðạo sư yên lặng giây lát
rồi nói:
- Này Ànanda! Hãy lấy đó
làm gương, lấy đó làm bài học, lấy đó làm điều để giác ngộ. Có một người
chỉ giết một sinh mạng mà phải lấy năm trăm mạng liên tiếp để trả quả. Có
những chúng sanh bị những tật, những nghiệp, những kiết sử dầu lớn, dầu
nhỏ mà trải qua vô lượng kiếp chúng vẫn không làm cho nó nguội tắt đi, tốt
đẹp hơn, thanh lương hơn! Nó chỉ nguội lạnh đi, tốt đẹp hơn, thanh lương
hơn khi chúng thấy rõ, giác ngộ được bài học ấy. Còn nếu không thì cứ mãi
mãi, liên tục bị trả quả; mãi mãi liên tục bị khổ đau và phiền não.
Như kẻ Udàyi ngu si kia!
Nó làm mất phần gạo của các vị trưởng lão, làm cho số đông tỷ kheo bị
thiệt thòi. Không phải chỉ ngày nay mới thế thôi đâu, mà một kiếp lâu xa
kia, nó cũng làm cho nhiều người khác bị thiệt thòi rồi. Từ đấy biết bao
nhiêu là quả đau khổ mà nó phải gánh chịu. Tuy nhiên, nó vẫn không giác
ngộ được bài học.
Thế rồi Ðức Ðạo sư kể
chuyện về quá khứ đã bị che lấp như sau.
--*--
Thuở xưa, ở nước Kàsì, Bồ
Tát là vị quan đại thần chuyên trách việc đánh giá của cải, tài sản, châu
báu cho quốc độ. Bồ Tát biết đúng giá trị của từng hiện vật, từng loại
hàng hóa nên sự định giá không bao giờ lầm lẫn để đem đến sự thiệt thòi
cho người này hay thiệt hại cho người kia.
Nhưng Ðức Vua vốn là kẻ
tham lam, bao giờ cũng muốn lợi về phần mình, nên tỏ vẻ không bằng lòng sự
công bình đúng mức của vị quan đại thần nọ. Do vậy, Ðức Vua luôn cố tìm
một kẻ tín cẩn, kẻ tri kỷ, kẻ cùng một tâm địa, kẻ cầm cán cân nghiêng về
một bên.
Hôm kia, giả dạng thường
dân để cùng đi du hành với Bồ Tát, Ðức Vua quan sát, theo dõi một người
đang đánh giá một món hàng trước cửa hiệu của y. Hàng là một bao sắn to
nặng của người nhà quê lam lũ, nghèo khổ.
Người chủ hiệu nói:
- Giá nó chỉ bằng bốn trái
cam! Vậy là giá đã hời! Cam ăn mát mẻ, thanh nhiệt, bổ dưỡng, còn sắn của
ngươi chỉ ăn nặng bụng, thường dành cho heo, chó mà thôi!
- Thưa chủ! Người nhà quê
khép nép nói - Không được đâu! Cam nhà cháu cũng có đấy nhưng không thể ăn
no. Ðây là cả một bao sắn to, ăn cả trăm người không hết.
Người chủ hiệu gắt:
- Mày mà biết gì nào? Sắn
kia chỉ để súc vật ăn. Cam là để người ăn. Thế ra mày bảo súc vật giá trị
hơn người sao? Quân này láo!
- Cháu không dám, cháu có nói thế đâu!
- Thế hãy để hàng lại. Và
đây là hai xu đồng tiền vàng - hai xu màsaka kia đấy! Nhiều lắm rồi, hãy
xéo đi!
Nói xong người chủ hiệu
sai người vác bao sắn vào nhà và quẳng xuống chân người nhà quê hai đồng
xu. Người nhà quê đứng chết lặng, miệng há hốc ra.
- Chê vàng à? Người chủ
hiệu quát - Thế ra mày chê vàng à? Mày chê vàng không có giá trị bằng sắn?
Chao ôi! Sắn thì sắn mốc, sắn meo, có xương không có thịt. Còn cam của ta
kìa! Tươi roi rói, mọng mọng vàng, ngọt lịm kìa! Chê ít à? Xem chừng hai
xu còn nhiều quá đấy. Một xu thôi! Nếu không lấy mà đi thì ông kêu lính
bắt!
Người nhà quê kinh hãi:
- Cháu có tội tình gì?
- Sao không tội? Người chủ
hiệu hăm dọa - Muốn tội là có tội ngay thôi. Mày chê vàng - thế là mày đã
chê giá trị mà Ðức Vua anh minh xứ Kàsì này đã định đặt. Thế không phạm
pháp luật quốc độ là gì?
Người nhà quê xanh mặt,
cúi xuống lượm hai xu rồi hốt hoảng đi như chạy không dám ngoái lại.
Bồ Tát đau lòng chảy nước
mắt nhìn cảnh bất công, nhưng Ngài biết rõ, can thiệp vào lúc này là không
có lợi, đành phải ẩn nhẫn thôi, chờ một dịp nào đấy, sẽ đem đến lợi ích
toàn diện cho mọi người bằng công pháp nghiêm minh hơn chứ không phải bằng
tình cảm nhất thời.
Bồ Tát biết rằng, người
bán hàng tội nghiệp kia, nếu không chịu lấy hai xu thì còn bị thiệt hại
nữa. Và nếu không bán cho người chủ hiệu này, thì dẫu cho y có đi cùng
thành phố Kàsì, hàng cũng không bán được. Ðấy là luật "đen", luật "bất
thành văn", luật "phi pháp" vốn đã được thỏa thuận ngầm với nhau của giới
con buôn, bọn thương gia bất hảo. Lại nữa, chuyện hăm dọa cho lính bắt,
không phải là không thể xảy ra. Khi lòng tham đã chế ngự lương tâm thì trí
óc của nó đã biến thành sự quỷ quyệt, lật lường của loài chồn cáo!
Trong lúc Bồ Tát thở dài,
chán ngán thay cho lòng người thì Ðức Vua mặt mày hớn hở, tươi như hoa,
miệng không ngớt tủm tỉm cười.
- Tuyệt! Tri kỷ! Thật là
tri kỷ! Với người đánh giá này, xoài chín sẽ thành xoài thối, cam tươi sẽ
thành cam sống, vàng mười sẽ thành vàng non, chuối mật mốc sẽ thành chuối
hư! Ta mà có y thì chẳng mấy chốc, vương quốc ta sẽ giàu có nhất Diêm Phù
Ðề. Lại nữa, y còn biết bảo vệ luật pháp của quốc độ. Một công dân toàn
hảo như thế mà sao từ lâu ta không biết kìa?
Ngày hôm sau, đột ngột, Bồ
Tát nhận được giấy ban khen của nhà vua cùng với một số tiền phụ cấp hưu
dưỡng. Và người chủ hiệu tri kỷ của Ðức Vua được phong quan to, thế chân
Bồ Tát.
--*--
Vị quan đánh giá là người
có bổn phận đánh giá hàng, là người cầm cán cân thương mại cho cả nước.
Quan đánh giá như thế nào thì hàng đó trị giá như vậy. Ðấy là luật pháp
của quốc độ mà mọi người phải tuân theo.
Vị tân quan từ khi nhậm
chức đã tỏ ra khả năng "siêu quần bạt tụy" của mình trong lĩnh vực này. Y
đánh giá tùy sở thích, tùy cảm hứng vui buồn của mình, không đếm xỉa gì
đến sự thua lỗ của người khác hoặc giá trị đích thực của món hàng như thế
nào. Tất cả, miễn là có lợi cho Ðức Vua là được. Ðôi khi vì tức giận vô
cớ, y như cướp không của người ta bằng giá cám bèo rẻ mạt. Cho nên, chẳng
bao lâu, tài sản của Ðức Vua cứ tăng lên vùn vụt như nước của trăm con
sông chảy tràn vào. Người ta bắt đầu sợ hãi không đem đến bán thì đích
thân vị quan đánh giá "mẫu mực" này cho xe đi thu mua chỗ này, chỗ khác
với lính tráng tiền hô hậu ủng. Mỗi ngày tài sản đổ về cho công khố mà Ðức
Vua không phải tốn kém bao nhiêu giá trị hàng trao đổi cả.
Hôm kia, từ một nước ở
phương bắc, một lão lái buôn "vô phước" dẫn đến Ðức Vua năm trăm con ngựa.
Ðấy là ngựa thuộc nòi giống tốt. Vua rất thích bèn kêu vị quan đánh giá
tri kỷ của mình đến.
Vị quan đánh giá nhìn biết
ngay là giống ngựa tuyệt hảo, một số được lai với ngựa rừng, lai với nòi
giống Sindhu tối thượng. Tuy nhiên, y bắt đầu chê. Y chê con này mập quá,
con này gầy quá, con kia quá cao cẳng, con này quá thấp cẳng; sắc lông con
này quá hung, quá nhạt, quá bù xù; lông đuôi quá ít, bụng quá tóp, ngực
quá gồ v.v... rồi y đánh giá như sau:
- Trị giá năm trăm con
ngựa tồi tệ này chỉ bằng một đấu gạo, tâu Ðại Vương. Mặc dầu ngựa xấu,
nhưng dẫn ngựa đi quá xa xôi mệt nhọc, ta nên đánh giá nới tay một chút
kẻo tội nghiệp!
Nói xong, vị quan đánh giá
sai người đem cho lão lái buôn một đấu gạo rồi dẫn ngựa vào chuồng, trao
người chăn giữ.
Lão lái buôn chết sững,
đứng im như hóa đá, không biết nói năng gì, chẳng biết khiếu nại cùng ai.
Sau đó, y tức giận, đau khổ đi thất tha thất thểu như người điên. Biết
chuyện ấy, người trong thành phố Kàsì ai cũng thương tình, khuyên lão lái
buôn nên đến gặp Bồ Tát xin ngài bày cho phương kế lấy lại ngựa.
Sau khi nghe chuyện, Bồ
Tát trầm ngâm giây lâu rồi nói:
- Vị quan đánh giá kia chỉ
là một gã tiện dân tham lam, không có trí. Ðối với y, có tiền là tối mắt,
có tiền thì bảo sao nó nghe vậy.
- Trăm sự nhờ Ngài - lão
lái buôn van vỉ - Nhờ Ngài tìm phương kế cho chứ con e không sống nổi khi
sự nghiệp tiêu tan. Và hiện giờ con chẳng còn một trinh, một hào dính túi!
Ngài hãy cứu con!
Bồ Tát đưa mắt ra xa, nói
như nói một mình:
- Sự bất công, ngu muội,
đảo điên xảy ra khắp nơi. Tất cả đều do tham lam, sân hận và si mê mà ra
cả. Dẫu ta có tìm ra phương cách đối trị mọi bất công trên xã hội thì nó
cũng chỉ có giá trị tạm thời. Phải có một phương thuốc nhiệm mầu hơn, vĩnh
cửu hơn có thể chẩn trị tận căn gốc, tận nguyên nhân, lúc ấy mới chấm dứt
được tất cả mọi đau khổ trầm thống của chúng sanh. Vì lòng từ với sanh
loại, ta phải tìm ra con đường bất tử.
Rồi Bồ Tát nói với lão lái
buôn:
- Trường hợp mất ngựa của
ngươi không khó lắm đâu. Hãy bình tĩnh, hãy an tâm.Ta sẽ cứu ngươi. Tuy là
ta cứu ngươi nhưng đồng thời, ta cũng cứu luôn cho cả quốc độ. Từ lâu ta
vẫn chờ cơ hội. Nay cơ hội đã đến. Ðức Vua sẽ tự thấy xấu hổ mà ngưng đi
sự tham lam ngu si của mình.
Bồ Tát đứng dậy, trao cho
lão lái buôn một bọc tiền vàng, ngài nói:
- Ngươi hãy đến trao tận
tay vị quan đánh giá kia bọc tiền vàng này và nói với y rằng: "Cúi xin
quan đánh giá cho thật tốt, cho thật lớn vào giá trị của đấu gạo trước mặt
Ðức Vua. Chỉ có thế thôi. Làm như vậy, quan chẳng mất gì mà lại còn được
vàng nữa." Ngươi hãy nói với y như thế, là ngươi sẽ lấy lại được ngựa. Ta
sẽ gặp nhau vào ngày mai, tại triều đình.
Lão lái buôn ngần ngừ
không dám nhận bọc tiền vàng. Bồ Tát mỉm cười nói:
- Ðấy chỉ là cái mồi, nhử
con rắn tham lam đi ra khỏi cái hang của nó. Bắt được rắn, ta lấy mồi lại
chứ không mất đâu!
Lão lái buôn tin tưởng vào
Bồ Tát nên vui mừng đến sa nước mắt. Y quỳ xuống ôm chân Bồ Tát với lòng
tri ân vô hạn.
Quả nhiên, với bọc tiền
vàng, vị quan đánh giá vâng dạ đủ điều.
Hôm sau, trước đầy đủ tai
mắt của bá quan văn võ, có cả Bồ Tát, lão lái buôn quỳ lạy Ðức Vua xong
rồi nói:
- Tâu Ðại Vương chí tôn!
Con đã biết giá trị năm trăm con ngựa bằng một đấu gạo, nhưng trị giá một
đấu gạo là bao nhiêu con cũng chưa rõ. Vậy xin Ðại Vương hãy cho quan đánh
giá xác định trị giá của đấu gạo để con dễ bề tính toán lúc trở về.
Ðức Vua cũng không phải là
người có trí, nên không thấy cái mồi câu, cái lưỡi câu con rắn tham lam
nằm ở đâu, bèn chuẩn tấu.
- Này ái khanh! Ái khanh
hãy lập lại trị giá năm trăm con ngựa cho trẫm nghe nào!
- Là một đấu gạo, tâu Ðại
Vương.
Ðức Vua gục gặc đầu rồi
tiếp:
- Vậy trị giá một đấu gạo
là bao nhiêu, hãy cho lão lái buôn này rõ, hỡi quan đánh giá hiền thiện!
Chỉ thấy túi vàng, không
thấy Ðức Vua mà cũng chẳng thấy ai nữa cả, vị quan đánh giá đáp:
- Trị giá một đấu gạo thì
quá lớn, quá nhiều, tâu Ðại Vương! Nó phải bằng cả kinh đô Ba-la-nại và cả
vùng ngoại ô cộng lại!
Lúc bấy giờ toàn thành
Ba-la-nại dài đến mười hai do tuần. Còn nội ngoại thành Ba-la-nại rộng lớn
mỗi bề đến ba trăm do tuần. Cho nên khi vị quan đánh giá xong, tất cả bá
quan văn võ đồng "ồ" lên một tiếng. Có nhiều vị đã cất tiếng nói và tiếng
cười chế nhạo, châm biếm, xem vị quan đánh giá như một gã hề trên sân
khấu.
Có một quan đại thần thanh
liêm chính trực, là bạn thân của Bồ Tát, cảm thấy xấu hổ trước lão lái
buôn là người nước ngoài, nên nói to với giọng mỉa mai, cốt ý cho Ðức Vua
nghe:
- Trước đây tổ tiên chúng
ta nói quốc độ là vô giá. Nhưng nay chúng ta biết rằng nó có giá hẳn hòi.
Ai cũng có thể mua được Ðức Vua chí tôn và quốc độ một cách dễ dàng. Vì
chỉ cần một đấu gạo, ta có thể mua nội ngoại thành Ba-la-nại, dĩ nhiên là
có cả Ðức Vua, hoàng hậu, ba cung, sáu viện, điện ngọc lầu vàng, quốc khố,
quốc bảo cùng của cải tài sản của lương dân trăm họ! Ôi! Vị quan đánh giá
này thật là bậc đại siêu việt, thật là bậc đại trí tuệ!
Bá quan văn võ được dịp
cười thật hả dạ.
Ðức Vua hổ thẹn quá không
biết dấu mặt vào đâu, tức giận tên đánh giá ngu si nên nổi cơn thịnh nộ,
quát mắng liên hồi, rồi sau đó, tước bỏ chức vị, lấy hết gia sản của nó
rồi tẩn xuất ra khỏi quốc độ.
Tuy thế, khi quay lại, Ðức
Vua thấy rõ trăm quan vẫn nhìn mình với đôi mắt thiếu thiện cảm, khinh bỉ
thế nào, bèn hối lỗi:
- Trẫm có lỗi thật sự, hỡi
các khanh! Trẫm nguyện sẽ chừa bỏ. Vì lòng tham nên Trẫm đã u tối lương
tri. Từ rày về sau, Trẫm sẽ đốt lên một ngọn đèn. Ngọn đèn này sẽ thường
trực chiếu sáng để soi dẫn mọi hành động hợp với đạo đức, hợp với lẽ phải,
hợp với tình người.
Bá quan đồng phủ phục lạy
mừng, cảm kích thái độ cải hối sáng suốt của Ðức Vua. Rồi họ đồng thanh
tâu xin cho Bồ Tát phục hồi chức cũ để nắm cán cân công minh cho sơn hà xã
tắc.
Ðức Vua thân hành đến nắm
hai tay của Bồ Tát, cất giọng đầy xúc động:
- Chỉ có khanh, không
những là ngọn đèn cho Trẫm mà còn là ngọn đèn cho cả quốc độ. Khanh phải
được tạc tượng bỏ lên bệ thờ cho mọi người ngưỡng mộ và tôn thờ mới phải.
Từ đó, Bồ Tát phục hồi
chức cũ, dẫn dắt cả vương quốc theo lẽ công bằng, tự do và hạnh phúc.
Mệnh chung, Bồ Tát đi theo
nghiệp của mình.
--*--
Kể xong chuyện quá khứ,
Ðức Ðạo sư nói với Ànanda:
- Tên chủ hiệu đánh giá
ngày xưa chính là Udàyi ngày nay vậy. Thuở ấy nó đâu thèm để ý đến sự
thiệt thòi của người khác thì nay vẫn cứ vậy. Cái ngu si cứ chồng chất ngu
si, lặp lại sự ngu si mãi hoài như vậy mà nó vẫn không nhận chân được bài
học. Những kẻ như vậy thì vòng tử sinh thống khổ sẽ còn trầm luân, tiếp
diễn mãi mãi.
Còn Như Lai, tức vị quan
đánh giá công minh, từ vô lượng kiếp trước cho đến vô lượng kiếp sau, luôn
luôn đi tìm phương thuốc nhiệm mầu, bất tử để chữa trị tận căn gốc mọi đau
khổ trầm thống của chúng sanh. Và nay đã tìm ra.
---o0o---
Mục Lục
[ 01]
[ 02]
[ 03]
[04]
[ 05]
[06]
[07]
[08]
[09]
[10]
[11]
[12]
[13]
[14]
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-01-2003