Ngàn xưa hương bối
Tỳ kheo Giới Ðức
(Minh Ðức Triều Tâm Ảnh)
Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
---o0o---
[04]
CON NGỖNG TRỜI VÀNG
-ooOoo-
T
huở
xưa, tại khu rừng Daliko bên bờ sông Ðại Hằng, có cây bồ đề đại thọ, ngàn
năm tuổi, vươn lên cao, xòe tán rộng, che phủ cả một vùng. Ðây là ngôi
làng, là cố hương, là tổ ấm cho muôn chim đủ loại, đủ sắc màu làm nơi tụ
hội, hát ca, reo vui, hoặc ái ân tình tự,...
Chủ nhân của cây đại thọ
là vị thần có râu trắng, hỷ xả, nhiều từ tâm. Ngài đón nhận muôn chim như
cháu ngoại, như con cưng hoặc như bằng hữu.
Lâu lâu, vị Thọ thần lại
xuất hiện, như tiên ông trong truyện cổ tích, cầm chiếc gậy mây và nở nụ
cười, nói chuyện vui với chúng hoặc vài lời dạy bảo khôn ngoan của bậc già
cả.
Lâu lâu, vị Thọ thần râu
trắng lại rướm nước mắt vì bùi ngùi thương tiếc: con chim hoàng oanh kia
bị sa lưới mất rồi; con sáo sậu nọ bị lú bùa mê nên chúng bắt. Chứng kiến
sự chết chóc do tai nạn, do bị ăn thịt, do bị nhốt trong chốn ngục tù vàng
son thường đau xót hơn là chết do bệnh tật hay già yếu. Sau mỗi lần như
thế, vị Thọ thần lại khuyên muôn chim nên sống đời yểm ly đô thị, làng
mạc, nơi có loài người. Ôi! Cái loài người kia tâm địa thật khó lường! Sự
độc ác, gian xảo và quỷ quyệt của chúng còn ngàn lần ghê gớm hơn cọp beo
hay chồn cáo.
Tuy thế, chỉ chừng mực nào
thôi. Ðã nhiều lần, vị Thọ thần đành phải xuôi tay bất lực, trơ mắt nhìn
định luật nhân quả nghiệp báo lạnh lùng!
Ðã ngàn năm rồi, vị Thọ
thần cùng cây đại thọ chứng kiến sự thịnh suy, còn mất, thời gian, sự tàn
lụi, tử vong, đến rồi đi, đi rồi đến,... Cảm thán, vị Thọ thần bước lên
đầu cây, thốt lên một bài ca chưa từng được nghe:
"Ôi! Vĩ đại thay là sự
vô thường của ngươi!
Ôi! Kinh khiếp thay là sự rỗng không của ngươi!
Ôi! Khó kham nhẫn thay là trò ảo hóa, ma mị, lá vàng, lá xanh cùng tử
vong bên trong mầm sự sống!
Ta đưa cao ngọn cờ munja! Ta sẽ chiến thắng ngươi với trò chơi yểm ly
trần thế.
Ðời sống của ta: không thỏa hiệp
Vinh quang của ta: trăng gió giữa bầu khuya!
Niềm vui của ta là sự tĩnh an, ngơi nghỉ của linh hồn!
Niềm yêu thương của ta là sự sống đang trôi chảy đến muôn cùng!
Ta không biết nhận về, chỉ biết cho đi!
Thịnh suy, còn mất ta chưa hề sợ hãi!
Chỉ xót xa sinh chúng nhỏ nhoi này!
Chỉ xót xa mật ngọt thấm đầy môi!"
Hôm kia, vào mùa xuân, một
con ngỗng trời vàng xuất hiện. Chưa bao giờ vị Thọ thần thấy được một con
chim đẹp đến thế! Những chiếc lông vàng óng ả như được dát bằng một loại
vàng ròng tinh chất, lại lóng lánh phản chiếu những giọt sương mai, túa ra
những tia tía hồng rực rỡ.
Vị Thọ thần chiêm ngưỡng
một hồi rồi bước ra với chiếc gậy mây, nụ cười hỷ xả làm rung rinh hàm râu
tuyết bạch:
- Chào bạn ngỗng trời thân
mến! Ta là Thọ thần tại vương quốc này. Bạn xuất hiện như phép lạ. Chiếc y
vàng nơi thân bạn thật là rực rỡ và tuyệt diệu xiết bao! Chẳng hay bạn từ
quê hương nào mà đến đây?
Con ngỗng trời vàng vươn
cao chiếc cổ tua vàng vương giả, thò cái mỏ dát son lấm tấm những hạt ngọc
nâu tươi, cất giọng như pha lê reo giữa trời mưa:
- Kính chào vị tiên ông
Thọ thần khả kính! Tôi từ dãy tuyết sơn hùng vĩ giáng lâm, sau ngôi rừng
của những ẩn giả bện tóc hiền thiện. Chẳng hay ngài có điều gì cần dạy bảo
tôi chăng?
- Không dám! Ta chỉ hiếu
kỳ, ngạc nhiên và thích thú thôi. Thấy được bộ lông vàng óng trên thân
bạn, ta hoan hỷ vô cùng. Bộ lông vàng óng hy hữu kia, không phải không có
nhân duyên, chắc hẳn nó phải được sinh ra từ lòng phước báu nào trong quá
khứ? Bạn có nhớ là do nhân gì, duyên gì mà bạn được hưởng phước tướng mỹ
miều, sang cả như vậy không?
Ngỗng trời vàng hốt nhiên
như trầm tư, như nhập định, như cúi nhìn vào vùng mịt mù, dày sâu của ký
ức tiền kiếp:
- Thưa ngài, thưa tiên
sinh! Ngỗng trời vàng mở choàng mắt ra - May mắn làm sao là tôi còn nhớ,
còn biết! Ngỗng trời vàng sửa sang lại dáng đứng để bắt đầu cuộc nói
chuyện lâu - Trước đây, một kiếp tức thì thôi, như mới ngày hôm qua, như
vừa một cái chớp mắt, tôi sinh ra trong một gia đình tiện dân nghèo khổ.
Ðến tuổi trưởng thành, tôi lấy vợ rồi sinh được ba con. Chúng đều là gái.
Khi có vợ, có con, tôi tần tảo làm ăn, mong cho chúng có được manh áo
lành, bữa cơm no bụng. Nhưng mà khổ thay! Suốt đời chúng tôi cứ mãi ăn gạo
có trấu, ăn tấm có mùi chua. Và áo quần thì vá đùm, vá chụp, chẳng có cái
nào lành lặn. Vì sự đòi hỏi cấp thiết của đời sống nên đôi khi tôi phải
bán rẻ một chút linh hồn. Tôi sinh ra nhỏ mọn, giật giành. Bị chi phối bởi
sân nhuế và xan tham, tôi đã làm một vài việc bất thiện. Tuy vậy, tự sâu
xa tâm hồn, tôi vẫn là con người hiền lương, vô hại. Cái đó lên án tôi, và
bắt tôi quay về với lẽ phải, với đạo đức chung chung giữa người đời với
nhau...
Ngỗng trời vàng ngước nhìn
vị Thọ thần với tia mắt như thoáng có bóng tối:
- Thưa ngài, đời tôi như
vậy đó, chẳng có công đức nào, chẳng có phước sự gì. Tâm trí ù lì, đần độn
mãi bởi cái ăn, cái mặc, ít khi mà cõi lòng được nhẹ nhàng, khoảng khoát
như mây trắng, như không rộng trời cao! Tâm trí tôi cho đến lúc lâm chung
là cái trì trệ, nặng nề, tối đen, hôn ám,... ngỗng trời vàng lại lắc đầu -
có sáng sủa nào đâu, có an lạc nào đâu? Thế là si mê kéo tôi đi, sinh ra
cái thân súc vật chẳng tốt đẹp gì!
Ngỗng trời vàng nói xong,
thở ra, đôi mắt lờ mờ như sương ướt. Vị Thọ thần thông cảm hoàn cảnh của
ngỗng trời vàng, yên lặng, một lát sau mới gật đầu:
- Nhân quả là vậy, bạn ạ!
Ta không thể trách ai được. Phải thấy rõ nhân quả để sống được an lạc,
hạnh phúc hơn. Nhân quả là ngọn đèn soi sáng, là chỗ nương tựa cho đời
mình. Nhưng trong cái nghiệp chung vẫn có cái nghiệp riêng. Cũng là thân
chim, nhưng thân chim như bạn cũng thảnh thơi và an lạc như kiếp thọ thần,
như tôi, chẳng khác mấy. Cái quả ấy là do nhờ bạn đã chu toàn nghĩa vụ gia
đình, lo cho vợ, cho con, hy sinh bản thân mình vì ấm no của kẻ khác. Bạn
có thấy cái riêng đó không? Ngoài ra, bạn lại có cái riêng khác nữa, cái
riêng trỗi vượt. Cái riêng này chắc hẳn phải do một việc làm hy hữu, một
công đức hy hữu tạo thành. Chiếc y vàng vương giả, diễm lệ nơi thân bạn
không phải là không có nhân duyên vậy.
Ngỗng trời vàng sực nhớ
lại:
- Cái đó thì có, tôi nhớ
rồi. Ngày kia, tôi lên rừng kiếm củi độ nhật. Trên đường về, qua suối, tôi
gặp một người. Ôi, sao trên đời lại có kẻ khổ sở đến thế? Tôi đã khổ, đã
ốm o gầy mòn, da trơ xương mà kẻ kia còn khổ hơn! Tôi còn được chiếc áo
rách, vị kia lại mặc bằng lá, bằng vỏ cây. Tôi bèn dừng lại và hỏi: "Này
người ơi! Sao người khổ đến thế? Ðừng nói đến cơm trấu và tấm chua, ngay
đến nước vo gạo để uống cầm hơi, có lẽ người cũng chẳng có? Ðừng nói đến
chuyện áo rách, áo lành, cái lá cây, vỏ cây kia cũng đã tơi tả! Người
chẳng có họ hàng, bà con quyến thuộc gì cả hay sao?" Khi nghe tôi nói thế,
vị kia ngước lên nhìn tôi với đôi mắt hiền từ và đ?y thương hại. Vị ấy
nói: "Này người tiều phu tốt bụng! Nghèo đói cơ hàn là bạn của bậc ẩn sĩ.
Chiếc áo vỏ cây là áo giáp thiện hạnh ngăn che sự xâm phạm độc hại của ác
uế ngũ trần. Bà con quyến thuộc của ta là vô tham, vô sân, tàm, quý và từ
bi hỷ xả. Như vậy, đời sống của ta đã quá đủ đầy, đã quá an lạc. Sao ngươi
với gánh củi trên vai, với gánh vợ con trên lưng, lại thương xót ta là
người đã buông hết mọi gánh nặng, là người đang sống đời hạnh phúc của các
bậc đại tiên?
Ngỗng trời vàng nghỉ lấy
hơi rồi tiếp:
- Lời nói của vị kia chắc
hẳn là hay lắm, nhưng tôi không hiểu hết ý nghĩa. Trên đường về nhà, nghe
có gió lạnh, biết rằng mùa đông đã đến, nếu không có tấm vải nào, vị kia
làm sao chống nổi với rét buốt giữa rừng già? Nghĩ vậy, động mối từ tâm,
dấu vợ, dấu con, tôi mở rương lấy một tấm vải vàng. Ðây là tấm vải bó tử
thi mà tôi lượm được nơi nghĩa địa, đã giặt giũ sạch sẽ. Tấm vải không quý
với ai, nhưng quý với tôi. Thế là tôi chạy lên rừng, tìm kiếm người đói
rách, thân tặng tấm vải đến con người đó với tất cả lòng thương xót của
mình. Sau này, nghe người ta nói, vị ấy là một nhà tu khổ hạnh, một sa môn
hay một vị Ðộc giác Phật gì đó!
Vị Thọ thần gật đầu:
- Ðúng vậy, chính đó là
nhân, là duyên cho bộ lông hoàng kim nơi thân bạn. Cái quả trổ sanh của nó
còn vạn lần vi diệu hơn nữa kia. Rồi bạn sẽ được nương tựa dài lâu. Ta
thành thật chúc mừng cho bạn vậy.
Vị Thọ thần chợt nhìn
ngỗng trời vàng rồi với giọng thiết tha:
- Như là bổn phận của một
lão niên, như là kinh nghiệm của người đã sống quá nhiều, quá lâu, đã
chứng kiến không biết cơ man nào là chuyện trong đời sống bất trắc và bấp
bênh này, ta có một vài lời khuyên, hỡi bạn ngỗng trời vàng thân mến!
- Ngài cứ nói - ngỗng trời
vàng cúi đầu tỏ vẻ trân trọng, tín nhận - chắc hẳn đấy là những lời dạy
bảo đầy khôn ngoan và sáng suốt.
- Không dám đâu! Ta chỉ
muốn nói lên sự thực thôi. Là bộ lông hoàng kim của bạn, nó đẹp quá, nó
quý quá nên dễ đưa đến tai họa. Vậy thì bắt đầu từ ngày hôm nay, bạn chớ
có khinh suất mà đi đến đô thị, làng mạc, ruộng đồng, nghia là nơi có loài
người. Thấy được bộ lông hoàng kim của bạn, họ sẽ phát tâm tham muốn. Họ
sẽ bắt, sẽ bắn, sẽ đặt bẫy. Dẫu bạn có biết trước, có khôn ngoan cách mấy
cũng không qua được sự ma mãnh, quỷ quyệt của loài người. Và như thế, tính
mạng của bạn sẽ bị đe dọa thường xuyên, nguy cơ bị rình rập ở mọi nơi, mọi
chỗ. Bạn hãy suy nghiệm kỹ về điều đó.
Ngỗng trời vàng thở dài:
- Chí lý và chân tình thay
là những lời khuyên tốt. Nhưng biết làm thế nào bây giờ? Ở chốn loài
người, tôi còn vợ và ba con. Có tôi, chúng sẽ đỡ khổ một phần. Không có
tôi, từ lâu chắc chúng phải đi ở thuê, ở mướn, làm việc cực nhọc với nước
mắt và đòn vọt. Biết là hiểm họa sẽ đến, nhưng tôi không thể từ bỏ ý định
về thăm chúng được.
Vị Thọ thần thương hại
nói:
- Thương vợ, thương con là
những tình cảm tốt đẹp. Nhưng ái niệm thái quá lại sinh thêm phiền não,
đau khổ cho mình. Bạn đã trút bỏ hết bổn phận nơi cõi người cùng với thân
xác và hơi thở của bạn rồi. Bây giờ là nghiệp khác, đời sống khác, bổn
phận khác. Hãy nghe lời khuyên của ta mà ở đây hoặc trở lại rừng sâu, nơi
chỗ của những ẩn sĩ bện tóc hiền thiện tại tuyết sơn. Như thế, bạn sẽ được
an lành như trong ngôi nhà của mẹ.
Ngỗng trời vàng vẫn lắc
đầu:
- Biết là lời khuyên chí
tình, chí thiết nhưng tôi vẫn không thể nghe theo. Tôi an tâm mà sống đời
ẩn sĩ sao được, khi vợ con tôi đang nai lưng làm trâu ngựa cho người, sống
đời tối tăm, cơ cực. Tôi phải về làng để tìm cách giúp đỡ họ thôi.
Vị Thọ thần với tâm của
mình biết tâm của chúng sanh, biết nghiệp sẽ đến như thế nào cho con ngỗng
trời vàng này. Nhưng mọi lời khuyên đã như sương trượt đầu lông. Ngài chợt
đứng cao mười tầm thốt nốt giữa hư không, cất lời ca hòa lẫn với mây ngàn
cùng với gió núi:
"- Hỡi đàn chim bay về
phương nam! Ngươi đã biết phương kia trời nắng ấm!
Hỡi đàn chim bay về phương bắc! Ngươi biết rằng nơi ấy tuyết lạnh đã tan
đi!
Thế nhưng vẫn có kẻ ra đi trong tăm tối, chẳng biết hướng đến là đâu,
chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra!
Trái chín phải đợi tiết, hoa nở phải đợi thời.
Vậy này bạn vàng yêu quý! Hãy thôi đi sự cứu độ vô vọng! Cát bụi quá
nhiều làm sao thấy được tấm lòng tốt đẹp của nhau? Ðêm đen quá sâu, làm
sao chỉ lối dò đường bằng ngọn đèn quá mọn? Ðôi tay của chút ít phước
báu chẳng thể ngăn nổi dòng sông nghiệp lực? Cõi loài người gian ác và
phản trắc kia sẽ vặt trụi lông cánh của bạn mất thôi!"
Ngỗng trời vàng cúi đầu
lắng tai nghe với nước mắt, nhưng tâm ái luyến vợ con quá nặng, đành phải
lắc đầu từ chối.
Vị Thọ thần bùi ngùi nói
lời cuối cùng:
- Nơi khu rừng Daliko bên
bờ sông Ðại Hằng yên tĩnh, nơi vương quốc hòa bình này, có ta, luôn mong
ngóng sự trở về của bạn. Không những bạn trở về với lông cánh trần trụi,
cho chí những vết thương đau cả thể xác lẫn tâm hồn, gốc đại thọ bồ đề này
muôn đời vẫn là tổ ấm của chúng ta.
Ngỗng trời vàng cúi đầu
như tri ân vị Thọ thần rồi từ giã. Vị Thọ thần nhìn theo bóng chim mất hút
cuối phương trời xa, nhòa lệ...
Ngỗng trời vàng sau khi
chia tay với vị Thọ thần, đêm đi, ngày nghỉ. Với đôi cánh vàng rực rỡ lướt
qua hư không, sợ sự dòm ngó của loài người, nên chim bay rất chậm vào ban
đêm, ngày thì ẩn trong những lùm cây rậm rạp. Lâu ngày chầy tháng cũng về
đến ngoại ô thành Ba-la-nại.
Ðúng như dự đoán của ngỗng
trời vàng, sau khi nó mất, vợ và ba con phải đi ở thuê cho một hào phú cay
nghiệt, ăn cơm với gạo tấm chua, mặc áo quần thô ráp như da vỏ cây, lại
còn phải chịu sự chửi mắng, đánh đập thường xuyên. Dẫu có thương vợ,
thương con cũng chỉ còn biết sa nước mắt. Chim ẩn mình kín đáo trong lùm
cây đại thọ đầu làng, tìm cơ hội để giúp đỡ họ.
Trong sương mờ đầu xuân,
trên quan lộ dưới tầm mắt của chim chợt xuất hiện những chiếc xe ngựa sang
trọng. Con trai, con gái trang sức những chiếc lông ngỗng trên áo, trên
mũ, điểm xuyết là những đóa hoa thắm tươi.
Ngỗng trời vàng nghĩ thầm:
"- Ôi! Những vật trang sức
xấu xí kia thì có gì đáng để hãnh diện? Nếu như chúng mà có được những
chiếc lông hoàng kim của ta thì chúng sẽ còn đẹp hơn, trẻ trung hơn, sang
trọng hơn. Sao ta không giúp vợ con ta mỗi ngày một chiếc lông để chúng
bán cho người ta làm vật trang sức tối thượng?"
Trời cũng dễ chiều lòng
người , chỉ lát sau là vợ con nó xuất hiện với cày, với cuốc trên vai. Ðợi
họ đến gần, ngỗng trời vàng bèn nói vào tai họ bằng âm thanh của một vị
thần khuất mặt:
- Hỡi những kẻ cùng khổ
đáng thương! Ta không nỡ thấy các ngươi sống đời nô lệ bần hàn. Vậy mỗi
buổi sáng, hãy đến đây, đứng xa dưới cội cây, ta sẽ ban cho các ngươi bổng
lộc của cõi trời.
Người nữ tiện dân già cùng
ba con nghe tiếng chứ không thấy người, bỏ cuốc, bỏ cày, chấp tay hướng
đến gốc cây vái lia lịa:
- Vị Thọ thần, ngài ở đâu?
Ðây là lời hứa chắc thật cho những kẻ tội nghiệp chúng con?
Không có ai đáp lại. Bỗng
một vật vàng sáng vọt ra từ lùm cây, rơi xuống trước mặt họ. Cả bốn người
đồng sửng sốt. Ðấy là một chiếc lông to bằng vàng mười láng mịn đang lóng
lánh dưới mặt trời. Chẳng phải là giấc mơ, chẳng phải mắt họ quáng mờ, sự
thực đang nằm ở tầm tay họ đây!
Các cô con gái đồng xôn xao:
- Không biết nặng bao
nhiêu ma-sa-ka?
- Có lẽ hơn trăm ma-sa-ka?
Người nữ tiện dân già nói
với ba con rằng:
- Nếu bán làm vật trang
sức cho hạng dân dã thì nó chỉ là chiếc lông đẹp, không hơn không kém. Nếu
bán tại tiệm kim hoàn thì giá trị chỉ đo đếm bằng phân, bằng lạng. Muốn
được giá cao nhất, hãy bán cho các vị tiểu thư, các bà công nương, mệnh
phụ. Khi mà chiếc lông vàng đã tôn sắc đẹp của họ lên, và chắc hẳn như
vậy, họ sẽ quẳng cho ta cả nắm vàng không thương tiếc. Tiền bạc đối với kẻ
giàu sang, quý phái, ăn không ở rỗi ấy thì có nghĩa lý gì!
Thế là bỏ cày, bỏ cuốc,
với chiếc lông vàng, họ đi vào thành phố, quay lưng với Thọ thần không một
lời cảm ơn. Ngỗng trời vàng hân hoan nhìn theo họ, nghĩ tốt rằng: "Vì vui
mừng quá, khi đi, họ quên chào, cũng là sự thường!"
Ngày hôm sau, tiếng con
ngỗng trời vàng lại vẳng đến tai họ:
- Các ngươi đã khôn ngoan
nên bán được giá mà không bị các ông chủ tiệm vàng lường gạt, không bị bọn
trọc phú dè bỉu, ỉ ôi! Bây giờ hãy nhận thêm một chiếc lông nữa, bán cho
bà công chúa giàu sang với chiếc xe bốn ngựa lộng lẫy sắp đi qua đây. Cộng
với số tiền hôm qua, các ngươi hãy mua cho mình những bộ quần áo lành lặn,
và ăn những bữa cơm trắng có thịt, có rau.
Thế rồi, một chiếc lông
vàng chóe nữa vọt ra. Chốc sau, quả nhiên có chiếc xe bốn ngựa với bà công
chúa sang trọng đi qua. Sau khi ngắm kỹ chiếc lông vàng trân quý, bà công
chúa sai thị nữ quẳng cho họ một nắm tiền vàng, lại còn ân cần dặn:
- Ðây là vật trang sức chỉ
để dành riêng cho người hoàng gia, chính bọn giai cấp quý tộc cũng không
xứng đáng dùng. Hỡi bọn tiện dân nghèo khổ kia! Ta là công chúa con vua
nước Ma-kiệt-đà, ta không tiếc tiền đâu. Có bao nhiêu chiếc lông vàng như
thế này, hãy mang đến cung điện bán hết cho ta!
Cả gia đình, vợ và con
ngỗng trời vàng thế là thoát kiếp bần cùng, cơ cực. Từ ăn no, mặc ấm, họ
đã ăn ngon, mặc đẹp. Từ màn trời chiếu đất, họ đã có một ngôi nhà, một
mảnh vườn. Tuy thế, người nữ tiện dân già vẫn chưa bằng lòng. Bà ước mơ
một đời sống sang trọng hơn, quý phái hơn, với tôi trai, tớ gái, với thóc
đụn đầy kho, với lên xe xuống ngựa, với lầu vàng cửa bạc,... Người nữ tiện
dân già đã mấy lần theo dõi, để ý, hôm kia phát hiện là chẳng có vị Thọ
thần nào cả, đấy chỉ là con ngỗng trời vàng đã tự ý nhổ từng chiếc lông
của mình mà cho họ. Bà tự nghĩ: "Giá mà có được cả bộ lông vàng ấy nhỉ?"
Sau khi cho chiếc lông thứ
mười tám, ngỗng trời vàng xuất hiện, nói chuyện với bốn người:
- Này vợ, này con! Ta là
chồng và cha của các người đây. Vì kiếp vừa rồi ta sống đần độn, tối tăm,
không tạo được chút công đức gì nên phải trả quả mang thân súc vật. May
nhờ ta có tặng một tấm vải vàng đến vị ẩn sĩ thanh tịnh, ta mới có được bộ
lông hoàng kim quý giá, đẹp đẽ hôm nay. Nhân quả thật rành rành. Vì tình
thương vợ, thương con nên ta phải trở lại chốn loài người để tìm cách giúp
đỡ các người. Nay các người đã no ấm, đã có đủ vốn liếng để tự mưu sinh,
ta từ giã các người, về rừng là đúng thời và phải lẽ. Vậy hãy sống đời
hiền lành, làm các công đức hầu được hạnh phúc trong mai hậu.
Nữ tiện dân già đã sớm bàn
với các con rằng: "Phàm sống ở đời là phải ơn đền oán trả. Ân nhân của ta
đã giúp chúng ta thoát kiếp tôi đòi, nô lệ; đã cho ta những tấm lụa kàsì
mịn màng, tươi đẹp; đã cho ta những bữa cơm ngon với thịt và cá. Vậy chúng
ta phải tìm cách mời thỉnh ân nhân về nhà để cung phụng, hầu hạ như đối
với một vị Phạm thiên." Nay nghe ngỗng trời vàng tiết lộ là chồng, là cha
của họ, một phần vì xúc động, một phần vì sợ ngỗng trời vàng bỏ đi, người
nữ tiện dân già khóc lóc nức nở mà rằng:
- Này ông ơi! Thế ra là
tình xưa nghĩa cũ. Ông đã có tâm nghĩ đến vợ con như thế thì trời đất này
cũng có lẽ thủy chung. Cái lòng của tôi đối với ông, há lại không được như
mảnh trăng tròn vành vạnh hay sao?
Rồi bà chỉ ba con mà kể
lể:
- Nay chúng đã nở da nở
thịt, lại được phấn son trang điểm, trắng da, dài tóc, nhàn hạ, thảnh
thơi. Thấy chúng được như vậy chắc ông cũng hởi lòng, hởi dạ. Cõi người,
cõi chim dẫu hai ngả, nhưng tấm lòng nào dễ rẽ phân? Vậy sao ông không trở
lại với gia đình, đoàn viên sum họp, cùng chung ấm lạnh ngọt bùi cho bõ
tháng ngày xa cách vì sinh ly, tử biệt?
Ngỗng trời vàng nhìn vợ,
nhìn con, tâm tình xúc động. Ðã bao tháng, bao ngày xa cõi người, Ngỗng
cũng thấy nhớ nhung ngôi nhà và bếp lửa.
- Cha ơi cha! Cha nỡ nào
lìa bỏ chúng con? Ba cô con gái đồng khóc lâm ly bi thiết - Khi cha còn
sống, chúng con còn thơ dại. Bây giờ dẫu đã thác rồi, thân chim vàng âý
lại chính là thân cha. Sao cha không cho chúng con được đáp trả một phần
nào chữ hiếu? Chúng con nào đã có tội tình gì?
Không cầm lòng được nữa,
ngỗng trời vàng bay theo họ về nhà. Người nữ tiện dân già dọn một chỗ cao
ráo, trang trọng nhất ở tầng thượng, có nhiều cửa sổ, có thảm nhung cho
ngỗng ở, và hàng ngày lo cái ăn, cái uống thật tươm tất, chu đáo. Ba cô
con gái lúc này có tiền, có bạc nên xênh xang xe ngựa, điểm trang diêm
dúa; rong chơi thị tứ, đô phường, hội hè, đình đám nên vắng nhà luôn. Dẫu
thế họ cũng chưa đến nỗi quên bẵng người cha tội nghiệp.
Ngỗng trời vàng cứ theo lệ
thường, mỗi buổi sáng khi mặt trời lên, niệm Ba-la-mật với tâm bố thí ,
bắn ra một chiếc lông vàng. Nhìn vợ, nhìn con có được cuộc sống sung
sướng, Ngỗng thấy lòng được an ủi rất nhiều. Tuy thế, đây không phải là
nơi ăn đời, ở kiếp. Ngỗng còn có đồng loại và bằng hữu ở rừng sâu, nên
trước sau gì cũng phải từ giã.
Nhưng người nữ tiện dân
già đã có manh tâm. Chẳng nghĩ đến ân nhân, chẳng nghĩ đến tình xưa nghĩa
cũ bởi lòng tham đã làm cho bà quáng mắt. Hôm nọ, vào lúc bất ngờ nhất, bà
rình chụp ngỗng bằng cả hai tay ham hố của mình, rồi vặt trụi cả bộ lông
vàng óng ả!
Khi Ngỗng biết ra thì đã
muộn mất rồi. Từng chiếc lông bị bứt lìa khỏi thân là những cơn đau xé
trời hòa lẫn với máu và nước mắt. Ngỗng không còn đủ sức để rên la nữa, mà
chỉ cảm nghe như bị tước, bị xé ra từng mảnh, rồi ngất lịm đi. Ngỗng chỉ
còn trần trụi cái thân đỏ hỏn, máu đọng thành vũng.
Ngỗng tỉnh lại trong thùng
rác tối đen và hôi hám. Nó thử xòe đôi cánh máu ra, nhưng chỉ còn sự run
rẩy lẫn với cơn đau ngất trời. Nó lại gục xuống trong đống máu bầy nhầy,
tanh tưởi. Kiến bắt đầu tìm tới, bò lên những vết thương lở lóet mà cắn,
mà rứt không thương tiếc. Ruồi nhặng nghe mùi, bám đầy như đám đỗ đen.
Ngỗng đau đớn và khó chịu thái qúa, nhưng ngàn lần đau đớn hơn là vết
thương ở bên trong tâm hồn. Vết thương nơi thân, dầu kinh khiếp, nhưng
thời gian sẽ hàn gắn lại, còn vết thương tinh thần thì không bao giờ lành
được. Vĩnh viễn, vĩnh viễn vết thương lòng này sẽ mưng độc và lở loét suốt
cả cuộc đ?i còn lại.
"- Ôi vợ, ôi con, ôi nhân
tình thế thái!"
Ngỗng rên than âm thầm,
nức nở nhưng ai nào có nghe cho!
Về phần người nữ tiện dân
già, sau khi vặt trụi lông ngỗng, chuyện gì xẩy ra? Người đàn bà độc ác,
tham lam và phản trắc ấy ngạc nhiên quá! Ôi! Còn đâu là những chiếc lông
hoàng kim óng ả bằng vàng ròng tinh chất túa ra ánh sáng? Chúng đã nhạt
màu và hiện nguyên hình là những chiếc lông ngỗng tầm thường. Người đàn bà
ngu si đâu biết rằng, những chiếc lông sở dĩ biến thành vàng mười láng mịn
là nhờ vào phước báu riêng, nguyện lực và sự tự nguyện "cho đi" của ngỗng
trời vàng. Nếu dùng sức mạnh ngoài ý muốn của ngỗng thì phép lạ kia sẽ
không bao giờ xảy ra. Than ôi! Ai có thể hiểu được tham sân chính là lửa,
độc ác, phản trắc chính là lửa. Chúng sẽ thiêu rụi, đốt cháy tức khắc
những đóa hoa diễm lệ, thanh tân vốn được sanh ra từ lòng phước báu, từ
khí hậu mát mẻ, thanh lương của tình thương và niềm hoan hỷ.
Người nữ tiện dân già với
tất cả tâm sân hận và bực bội, quẳng ngỗng trời vàng vào một thùng rác rồi
bỏ đi. Bà vô cùng sầu muộn và tiếc rẻ.
Những người con gái đi
chơi trở về, thấy cha chúng như vậy, không nỡ bỏ phế. Họ bồng ngỗng ra,
phủi kiến ruồi, săn sóc, băng bó vết thương rồi đóng một cái cũi riêng cho
ngỗng ở, cho ăn uống tử tế. Chúng biết nguyên nhân tại sao, nhưng không
hỏi, không nói gì cả, cũng không rơi một giọt nước mắt. Chút từ tâm cuối
cùng này, nếu có, cũng đã hóa đá mất rồi!
Ngỗng trời vàng nằm yên
lặng, chấp nhận hoàn cảnh bi đát, nước mắt rỉ máu. Cho đến lúc này, ngỗng
mới thấy thấm thía lời khuyên bảo khôn ngoan của vị Thọ thần nơi khu rừng
Daliko.
"- Này bạn vàng yêu quý!
Hãy thôi đi sự cứu độ vô vọng! Cát bụi quá nhiều làm sao thấy được tấm
lòng tốt đẹp của nhau? Ðêm đen quá sâu, làm sao chỉ lối dò đường bằng ngọn
đèn quá mọn? Ðôi tay của chút ít phước báu làm sao ngăn nổi dòng sông
nghiệp lực? Cõi loài người gian ác và phản trắc kia sẽ vặt trụi lông cánh
của bạn mất thôi!"
Và đây chính là nguồn an
ủi của ngỗng trời vàng:
"- Không những bạn trở về
với lông cánh trần trụi, cho chí những vết thương đau cả thể xác lẫn tâm
hồn; gốc đại thọ bồ đề này muôn đời vẫn là tổ ấm của chúng ta."
Thời gian sau, nhờ tâm xả,
các vết thương của ngỗng đều lành. Rồi lú nhú những lông khác bắt đầu mọc
ra. Người nữ tiện dân già lòng mừng khấp khởi, sai người đóng một cái
thùng khác đẹp hơn, rộng rãi, thoáng mát hơn để cho ngỗng có chỗ ở sạch
sẽ, thoải mái. Bà tính thầm:
"- Lần này ta không dại gì
ham hố nữa. Mỗi ngày mỗi chiếc lông, tích thiểu thành đa, nước rơi lâu
ngày cũng thành hồ, thành sông. Vả, các bậc khôn ngoan từ ngàn xưa cũng đã
từng dạy rằng: ăn ít dễ tiêu, ăn nhiều tức bụng. Cái lý nó vậy mà sao ta
không hiểu kìa?"
Thế là người nữ tiện dân
già dành nhiều thì giờ cho việc chăm sóc, tẩm bổ ngỗng. Bà không tiếc tiền
mua những thức ngon vật lạ, với hy vọng ngỗng nở da, nở thịt thì lông cũng
sẽ mau dài. Và quả đúng như thế thực, những chiếc lông dài rất nhanh. Bà
đếm tới đếm lui và theo dõi hằng ngày.
Nhưng than ôi! Hy vọng quá
nhiều thành ra thất vọng quá lớn! Lông của ngỗng không còn là màu hoàng
kim nữa, mà là màu trắng bạc: màu trắng bạc như vôi! Cái lông mà cũng muốn
chế giễu nhân tình thế thái đó chăng?
Khi lông cánh đã đủ đầy,
nghĩ rằng mình đã đủ sức bay đi, ngỗng bắt đầu tìm cách thoát thân. Lợi
dụng lúc mọi người vắng nhà, ngỗng sổ lồng, nhắm hướng Hy Mã Lạp Sơn trực
chỉ. Bây giờ thì ngỗng không còn sợ hiểm họa bởi bộ lông hoàng kim nữa nên
nó tung cánh suốt ngày đêm.
Không bao lâu, rừng cũ
hiện ra, lòng ngỗng bồi hồi, mừng mừng, tủi tủi. Ðến gốc bồ đề đại thọ,
ngỗng bay quanh ba vòng, nhớ lại câu nói hôm xưa của vị Thọ thần: "Nơi
đây, muôn đời vẫn là tổ ấm của chúng ta."
Ngỗng rơi nước mắt. Nó đã
trở về Cố Quận!
---o0o---
Mục Lục
[ 01]
[ 02]
[ 03]
[04]
[ 05]
[06]
[07]
[08]
[09]
[10]
[11]
[12]
[13]
[14]
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-01-2003