Kho Báu Nhà Thiền
Thiền sư Văn Thủ
Dịch giả: Ðịnh Huệ
- - -o0o- - -
Chương 18
Học Ðạo Cần Phải Biết
Xác Thực Kiến Ðịa Cạn Sâu
Ðại sư
Vân Môn nói:
Dẫu cho
càn khôn đại địa không mảy may lầm lỗi vẫn còn là chuyển cú, chẳng thấy
một sắc mới chỉ là bán đề, lại cần phải biết có cái thời tiết toàn đề nữa.
Ngài Vân
Môn nói:
Pháp
thân cũng có hai thứ bệnh: Ðược đến pháp thân, mà vì pháp chấp chẳng quên,
kiến chấp của mình hãy còn, nên chỉ ngồi bên cạnh pháp thân, đây là một
bệnh. Dẫu cho thấu được pháp thân mà buông bỏ chẳng được, kiểm điểm kỹ
càng lại có hơi hám gì cũng là bệnh.
Ngài
Ðại Huệ nói: Ngày nay, người học Phật pháp lấy sự thấu qua pháp thân làm
cùng tột mà ngài Vân Môn trái lại cho đó là bệnh. Chẳng biết thấu qua pháp
thân rồi, phải làm gì? Ðến đây như người uống nước lạnh nóng tự biết,
chẳng cho hỏi người khác, hỏi người khác ắt là tai họa.
*
Thiền Sư Ðộng
Sơn Giới nói:
Thời đại
mạt pháp con người nhiều càn huệ, muốn phân biệt chân ngụy, có ba thứ sấm
lậu (rỉ chảy):
1/
Kiến sấm lậu: Nghĩa là căn cơ chẳng
rời địa vị, rơi vào biển độc. Ngài Minh An nói: Vì cái thấy bị kẹt nơi sở
trị, nếu chẳng chuyển vị thì ngồi tại một sắc. Nói là sấm lậu vì ở trong
ấy chưa tận thiện, cần phải phân biệt lại tung tích thì mới được tương tục
huyền cơ diệu dụng.
2/
Tình sấm lậu: Nghĩa là trí thường
hướng theo thuận hoặc nghịch, chỗ thấy thiên khô. Ngài Minh An nói: Vì
tình và cảnh viên dung, kẹt nơi thủ xả, trước sau thiên khô, cái giác
chiếu soi chẳng hoàn toàn, là sóng thức lưu chuyển, là việc giữa đường,
bên bờ. Cần phải mỗi câu phải lìa hai bên chẳng kẹt vào tình và cảnh.
3/
Ngữ sấm lậu: Nghĩa là thể diệu mất
tông, cơ muội sau trước. Người học trí ô trược lưu chuyển chẳng ra ngoài
cái loại thứ ba này. Ngài Minh An nói: Thể diệu mất tông là kẹt nơi đường
ngôi ngữ, câu mất tông chỉ, cơ muội sau trước là kẻ đương cơ tối tăm chỉ
nhận trên ngôn ngữ nên tông chỉ chẳng viên mãn. Mỗi câu phải là vô ngữ
trong hữu ngữ, hữu ngữ trong vô ngữ thì mới được cái diệu chỉ mật viên.
*
Quốc sư Vô
Nghiệp nói:
Giả
sử có người ngộ lý có một tri một giải mà chẳng biết phép tắc trong ngộ
này là cái cửa nhập lý, bèn cho rằng hằng ra khỏi danh lợi thế gian, rồi
vào trong núi ở bên khe, khinh thường bậc thượng lưu đến nỗi khiến tâm lậu
chẳng hết, lý địa chẳng sáng, luống đến già chết sự nghiệp không thành,
hao phí năm tháng. Dẫu cho có thông minh cũng chẳng địch nổi nghiệp, càn
huệ chưa thoát khỏi luân hồi. Giả sử tài ngang Mã Minh, hiểu bằng Long
Thọ, chỉ một đời hai đời chẳng mất thân người, do căn tánh sáng suốt đời
trước thanh tịnh nên nghe qua liền hiểu.
Truyền
Ðăng Lục
*
Thiền sư
Viên Ngộ nói:
Người
đại tử
đều
không có Phật pháp, đạo lý huyền diệu, đắc thất, thị phi, trường đoản. Ðến
chỗ này mà thôi nghỉ thì Cổ nhân gọi đó là trên đất bằng người chết vô số,
qua được rừng gai góc mới là tay tài giỏi, cần phải thấu qua bờ bên kia
mới được. Tuy nhiên như thế, nhưng người đời nay đến được chỗ đất này cũng
thật là hiếm có. Hoặc như có người do nương tựa mà được giải hội thì không
dính dáng gì. Hòa thượng Mai gọi đó là cái thấy chẳng tinh khiết, Tiên sư
Ngũ Tổ gọi đó là mạng căn chẳng cắt đứt, phải một phen đại tử rồi sống lại
mới được. Hòa thượng Chiết Trung Vĩnh Quang nói: Ngôn phong nếu sai, quê
hương xa vạn dặm, phải trên vực thẳm buông tay, tự chịu đảm đương, chết đi
sống lại, dối ông chẳng được, ý chỉ phi thường, người đâu giấu được.
Bích Nham
*
Cổ nhân
nói:
“Nương
theo lời cần phải hội được tông, chớ tự thiết lập quy củ”. Như người đời
nay cho rằng cứ đuổi đi là xong, được thì được đó, nhưng vẫn còn ở trong
mịt mờ lầm lạc. Nếu họ đến trước mặt bậc tác giả, các Ngài đem ba yếu ngữ
ấn không, ấn bùn, ấn nước để nghiệm họ thì sẽ thấy như cây vuông tra vào
lỗ tròn, không thể nào được!
Bích Nham
*
Thiền sư
Viên Ngộ nói:
Người
học đạo bắt đầu có niềm tin, chán thế gian phiền rộn, rất sợ chẳng được
lối vào. Ðã gặp thầy chỉ thị hoặc nhân tự mình phát minh được cái chân tâm
mầu nhiệm viên mãn, vốn tự đầy đủ từ xưa đến nay. Chạm cảnh gặp duyên tự
biết mình không dính mắc, liền bảo thủ chỗ đó. Sợ chẳng thể ra được nên
bèn làm khuôn sáo, ở trên cơ cảnh lập chiếu lập dụng, buông một tiếng hét,
một cái đánh, nhướng mày trợn mắt một cách kỳ đặc, lại gặp bậc thầy đắc
đạo tước đoạt cho hết những cái tri giải như thế, liền đó khế chứng cảnh
giới bổn lai vô vi, vô sự, vô tâm, rồi sau đó mới hổ thẹn vì biết rằng chỗ
cứu cánh hãy còn mờ mịt. Chư Thánh còn tìm chỗ khởi của nó chẳng được,
huống là người khác! Sở dĩ ngài Nham Ðầu nói: “Người được nó chỉ giữ chỗ
nhàn nhàn, trong suốt 24 giờ đồng hồ vô dục, vô y, đâu chẳng phải là pháp
môn an lạc!”.
Tâm Yếu
*
Hòa
thượng Lạc Phổ thượng đường nói:
Một
câu rốt sau mới đến lao quan (cổng kiên cố), bẻ khóa yếu tân (cửa trọng
yếu) chẳng chung phàm thánh.
Ta
thường nói với các ông: Mặc cho thiên hạ vui hớn hở, ta riêng chẳng chấp
nhận. Muốn biết, bậc thượng lưu chẳng nên đem ngôn giáo của Phật Tổ dán
trên trán, nếu giống như con quy
mang cái hà đồ thì tự chuốc lấy cái điềm táng thân. Con chim phượng hoàng
ở trong lưới vàng đến khi nào mới tung cánh được trên bầu trời cao lồng
lộng, Phải nên ngoài ý chỉ mà rõ tông thú; chớ hướng vào ngữ ngôn mà nắm
lấy cực tắc. Thế nên, người máy bằng đá in tuồng như ông biết xướng khúc
Ba Ca thì ông cũng như người đá phải họa lại bản Tuyết Khúc.
Hội Nguyên
Hòa
thượng BạchVân Ðoan nói:
Cần phải
ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói:
Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri
thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng
làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những
làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi
nhọn bị thương tay.
Hội Nguyên
*
Hòa
thượng Ngũ Diện nói:
Có một
bọn tham thiền như giã bột lọc trong bình lưu ly, lại động chuyển chẳng
được, xông xáo chẳng được, chạm nhằm liền vỡ. Nếu muốn đến chỗ sống linh
hoạt thì chỉ cần tham thẳng nơi cái đảy da rách này.
Phải hướng thẳng lên núi cao chót vót buông tay xuống mà cũng chẳng bị vỡ,
cũng chẳng bị hư.
Bích Nham
*
Hòa
thượng Hối Ðường dạy chúng:
Nếu
người chỉ thấu rõ tự kỷ mà chưa ngộ cái trước mắt, người này như có mắt mà
không có chân. Nếu ngộ được cái trước mắt mà chẳng thấu rõ tự kỷ, người
này như có chân mà không có mắt. Hai người này, trong hai mươi bốn giờ
thường có một vật ngăn trong lồng ngực. Vật đã ở trong ngực thì cái tướng
bất an thường ở trước mắt. Ðã ở trước mắt thì gặp việc, thành ra bị kẹt,
làm sao mà được an ổn? Tổ chẳng nói:
Chấp đó
mất chừng (chánh đạo)
Ắt vào đường tà
Buông đó tự nhiên
Thể không đi, trụ
Đó sao!
Chánh Pháp Nhãn Tạng
*
Hòa
thượng Diệp Huyện Tỉnh nói:
Tham
học cần phải đủ mắt tham học. Kiến địa cần phải được câu kiến địa. Có lúc
câu đến mà ý chẳng đến, chỉ là vọng duyên bóng dáng phân biệt của tiền
trần. Có lúc ý đến mà câu chẳng đến thì như người mù sờ voi, mỗi người đều
nói mỗi khác. Có lúc ý và câu đều đến thì đập vỡ cõi hư không, ánh sáng
soi khắp mười phương. Có lúc ý và câu đều chẳng đến, như người không có
mắt chạy ngang chạy dọc, hốt nhiên bất giác sa xuống hầm sâu.
Hội Nguyên
Thiền
sư Huyền Sa Bị buồn vì đạo pháp khó nói, ít gặp người thượng căn, người
học thường dựa theo ngữ ngôn mà sanh tri giải, theo chiếu mất tông, nên
Ngài bèn dạy ba câu cương tông:
Câu
thứ nhất: Hãy tự đảm đương sẵn sàng đầy đủ, vì cả mười phương thế giới
không có người nào khác mà chỉ là ông, lại bảo cái gì là thấy? Cái gì là
nghe? Toàn là tại tâm vương ông làm ra, trọn thành bất động trí. Chỉ vì
thiệu sự tự đảm đương nên nói là mở cửa phương tiện để khiến ông tin có
một phần chân thường lưu chú, cùng xưa tột nay chưa có chẳng thị, chưa có
chẳng phi. Nhưng câu này, chỉ thành pháp bình đẳng. Vì sao? Chỉ vì dùng
lời để dẹp lời, lấy lý để đuổi lý, bình thường tánh tướng nhiếp vật lợi
sanh mà thôi. Vả lại, đối với tông chỉ còn là chỉ biết rõ phía trước mà
chẳng biết rõ phía sau, gọi là một vị bình thật, là chứng từng phần pháp
thân, chưa có câu xuất cách, chết ở dưới câu, chưa có phần tự do. Nếu biết
cái lượng xuất cách thì chẳng bị tâm ma sai khiến và đến trong tay bèn
chuyển một cách lỗi lạc, nói là thông đại đạo chẳng rơi vào kiến giải bình
thường trong lòng.
Câu
thứ hai: Xoay nhân về quả, chẳng mắc vào lý bình thường nhất như, phương
tiện gọi là chuyển vị hợp cơ. Sanh sát tự tại, buông bắt tùy nghi, ra sanh
vào tử làm lợi ích rộng lớn cho hết thảy chúng sanh, thoát khỏi cảnh sắc
dục, ái kiến, phương tiện gọi là Phật tánh đốn siêu tam giới. Ðây gọi là
hai lý cùng sáng, hai nghĩa đồng chiếu, chẳng bị hai bên làm động, diệu
dụng hiện tiền.
Châu thứ
ba: Biết rõ cái gốc tánh tướng đại trí, kiến giải vượt bực, tối sáng rỗng
suốt, trùm khắp pháp giới một thể tánh chân thật, đại dụng hiện tiền, ứng
hóa cùng khắp mọi nơi, toàn dụng toàn bất dụng, toàn sanh toàn bất sanh,
phương tiện gọi là cái cửa từ định.
---o0o---
Mục Lục |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |10 |
11
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20|
21 |
22
---o0o---
|
Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính : Lan Thanh, Thanh Nhàn
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-08-2002