Truyện Tích Phật Giáo
Nguyên bản chữ Hoa:
Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
Việt dịch:
Diệu Hạnh Giao Trinh
---o0o---
Vua A Dục hối lỗi
A Dục vương đích hối quá (524)
Một trăm năm sau khi đức Phật nhật Niết Bàn , vị vua trị vì nước Ấn Ðộ tên
là A Dục. Vua A Dục tính tình vô cùng tàn bạo, thích tự tay giết người, và
lấy chuyện giết người làm niềm vui.
Ngày nào vua A Dục cũng phải giết người mới vui, ban đầu ông chỉ giết
những tội phạm trong tù, về sau số tội nhân không còn bao nhiêu và cuối
cùng, không còn ai cho ông giết nữa. Nhưng ông lại quen thói giết người
rồi, nên phải quay sang bắt người vô tội đem ra giết. Vua quen giết người
nên thấy đó là chuyện thường, nhưng dân chúng thì sợ hãi đến cực độ. Có
một vị đại thần thấy thế không chịu đựng được nữa nên đã dâng kiến nghị
lên tâu rằng :
-
Ðại vương, mỗi ngày đại vương lấy việc tự tay giết người làm trò
vui, nhưng ảnh hưởng của việc này đối với nhân tâm hiện tại đã không tốt,
đối với hậu thế cũng không tốt. Nếu đại vương thích chuyện giếc chóc,
chúng thần có thể tìm một người hiếu sát làm chuyện ấy thế cho đại vương,
để đại vương khỏi bị mang tiếng sát nhân, chẳng hay đại vương thấy thế nào
?
A
Dục vương thấy giải pháp này rất hay nên chấp thuận, bảo họ đi tìm một
người như thế. Các vị đại thần đi tìm khắp nơi một kẻ khát máu về làm đao
phủ thủ, nhưng không ai bằng lòng nhận lãnh làm việc này. Về sau, tại một
địa phương hẻo lánh, họ tìm được một người tên là Kỳ Lệ, đây là một người
tính tình cực kỳ hung ác bạo ngược, tàn khốc không ai bì kịp.
Người này sinh sống bằng nghề săn thú, chuyên môn dùng tên độc bắn chết
thú vật, lại còn thích giết người, nên ai ai cũng xa lánh chẳng dám đến
gần. Kỳ Lệ đến thành Hoa Thị là thủ đô của vua A Dục, vua gặp người sắp
thay thế mình thì rất hài lòng. Kỳ Lệ xin vua A Dục xây cho mình một tòa
nhà thật lớn dùng làm pháp trường, trong đó bày biện đủ các thứ khí cụ để
giết người. Trong pháp trường, họ còn đặt ra các phương pháp khác nhau để
tra tấn giết chóc, và quyết định rằng hễ có người đặt chân vào toà nhà này
rồi thì không có ngày trở ra, vì thế tòa nhà này có tên là "địa ngục nhân
gian".
Tại một vùng duyên hải, có một cặp vợ chồng sinh được một đứa con trai, vì
họ sống ở ven biển nên đặt tên cho con là Vị Hải.
Về sau nhà này bị giặc cướp tấn công, hai vợ chồng chẳng may mất mạng, chỉ
còn lại Vị Hải tuổi còn nhỏ mà đã mất cả cha lẫn mẹ, không biết làm sao mà
sống. May quá có một vị tỳ kheo đi ngang chỗ ấy, thấy thế bèn đem Vị Hải
về cho xuất gia.
Vị Hải theo sư phụ xuất gia làm sa di, rất ngoan ngoãn tinh tiến tu hành.
Một hôm, chú đến thành Hoa Thị khất thực, thấy một tòa nhà cao lớn, muốn
vào trong đó khất thực hóa duyên, nên mới tiến vào bên trong. Chú không
thấy bóng dáng một người nào mà chỉ thấy hai bên bày biện những khí cụ
giết người rất ghê rợn, chú lấy làm quái dị, vội vàng tìm đường thối lui,
nhưng bỗng nhiên người giữ cửa tiến tới cản đường :
-
Ê ! Chú sa
môn kia ! Chú không biết quy luật ở đây sao ? Tòa nhà này có tên là Ðịa
ngục nhân gian, do Vô Ưu Ðại vương* sai chủ nhân của ta là ông Kỳ Lệ về
đây trấn thủ. Ai vào đây rồi là không được trở ra nữa !
Lúc ấy Kỳ
Lệ nghe có tiếng người cũng bước ra, ngăn không cho Vị Hải tìm đường trốn
thoát :
-
Số của mi
xui xẻo, thôi thì hãy ngoan ngoãn chờ chết đi !
Vị Hải
biết rằng lý luận với những kẻ không còn nhân tính này không ích lợi gì,
nên nói :
-
Tôi không
hề sợ chết, nhưng nghĩ mình tu hành chưa chứng được quả, thật là đáng
tiếc. Bây giờ tôi chỉ xin các ông kỳ hạn cho tôi một tháng nữa thôi, cho
phép tôi gia công tu hành, sau đó tôi sẽ để cho các ông tùy ý xử tử.
-
Xin gia
hạn ngày chết, mi thật là vọng tưởng ! Nhưng thôi được, ta niệm tình mi
nhỏ tuổi, nhưng một tháng lâu quá.
Ta chỉ gia hạn cho
mi bảy ngày nữa thôi !
Vị Hải chỉ còn có bảy ngày nữa để sống, chú bèn lui vào một góc nhà gia
công tu hành, hy vọng trong thời hạn bảy ngày ngắn ngủi đó có thể giác ngộ
và chứng quả.
Nhưng giác ngộ chứng quả không phải là chuyện dễ dàng, mà thời gian thì cứ
thế mà từng ngày từng ngày trôi qua. Hôm nay đã qua tới ngày thứ bảy rồi,
Vị Hải chỉ còn có ngày hôm nay để sống nữa thôi, ngày mai sẽ phải chịu xử
tử hình. Thế mà hiện bây giờ vọng niệm còn rối bời trong tâm của chú, còn
giác ngộ và chứng quả thì chẳng thấy tăm hơi đâu cả !
Chiều tối đến "địa ngục nhân gian" có thêm một người khách, đó là một
thiếu nữ bị kết tội không trinh tiết.
Vị Hải nhìn thấy tên Kỳ Lệ lòng lang dạ thú dùng chùy sắt đập vào đầu, vào
mặt cô gái, cô gái bị đánh đến lòi cả mắt ra ngoài. Bỗng nhiên chú khởi
tâm thương xót, và đối với thế gian thì lại khởi tâm yếm ly muốn xả bỏ.
Chú chợt nhớ lại lời dạy của đức Phật "sắc thân con người do ngũ ấm hợp
thành, rất mong manh và không có thật". Chú nhìn lại cô thiếu nữ nọ, bị
đánh thêm một cái nữa là trong khoảnh khắc hồn lìa khỏi xác.
Thân người thì không có gì chắc chắn, thế gian thì đầy khổ não, nếu không
phải là một thánh nhân giải thoát thì không có cách nào tránh khỏi khổ đau.
Vị Hải lại nỗ lực quan sát thêm nữa, đêm càng lúc càng đen và tâm của chú
thì càng lúc càng sáng lạn. Chú chứng được sơ quả Tu Ðà Hoàn, gia công
tinh tiến thêm, đắc nhị quả, tam quả và cuối cùng thành tựu được đại quả A
La Hán. Lúc đó, bình mình của ngày thứ tám đã bắt đầu ló dạng.
Kỳ
Lệ bước tới trước mặt Vị Hải nói :
-
Bảy ngày đã qua rồi, hôm nay đã qua ngày thứ tám, mi hãy chuẩn bị
chờ chết.
Vị
Hải trả lời rất điềm nhiên :
-
Tốt lắm ! Tốt lắm ! Ðêm đen của ta đã qua, ánh sáng của ta đã đến.
Ngày tốt đến rồi thì ông cứ việc tùy ý mà xử tử !
Kỳ
Lệ ném Vị Hải vào trong một cái nồi bằng đồng, trong lòng nồi đựng đầy
nước phân, nước tiểu dơ bẩn, phía dưới thì đốt củi khô. Lửa cháy đỏ hừng
hực, ánh lửa rực lên một góc trời. Lửa đốt thật lâu nhưng nước cứ tiếp tục
lạnh ngắt, cả cái nồi đồng cũng chẳng nóng lên chút nào. Kỳ Lệ cho châm
thêm lửa mà vẫn chẳng thấy nhiệt độ tăng lên, hắn nổi cáu quát tháo người
châm lửa là đồ vô dụng, rồi tự tay ném thêm vào lò rất nhiều củi gỗ, và
còn thêm than và dầu. Lửa bùng to hơn, nhưng nước trong nồi vẫn không chịu
nóng. Hắn đưa mắt nhìn xem Vị Hải đã chết chưa, thì thật là không thể
tưởng tượng được ! Nước dơ bẩn ô uế kia đã biến thành thanh tịnh từ bao
giờ, trên mặt nước còn nổi lên những đóa hoa sen, còn Vị Hải thì ngồi kết
già phu trên một đóa sen ngàn cánh.
Bốn
phía rực lên ánh sáng rực rỡ, nhưng không phải là một thứ ánh sáng tầm
thường, mà là ánh sáng màu hoàng kim làm chói mắt người nhìn. Tên Kỳ Lệ
hung ác ấy không biết phải làm gì hơn là đem chuyện này lên tâu với vua A
Dục.
Vua
A Dục nghe chuyện, thấy đây là một sự kiện kỳ quái nên đem thật nhiều đại
thần tùy tùng đến xem thực hư ra sao. Thấy sự thật rồi, vua A Dục bỗng
khởi lên một lòng tôn kính hy hữu, quỳ xuống đất xấu hổ mà nói :
-
Ðại Ðức ! Xin hãy tha thứ cho bọn chúng con dốt nát, bây giờ được
thấy ngài như thế này con rất là xấu hổ ! Tất cả những thứ này đều do con
gây tội, xin ngài từ bi tha thứ cho chúng con, cứu độ cho tất cả chúng con
!
-
Tốt lắm ! Tốt lắm ! Lúc đức Phật còn tại thế đã thọ ký cho ông rồi
! Ðức Phật có nói, một trăm năm sau khi Ngài nhập diệt, có một vị vua tên
là A Dục sẽ là hộ pháp của Phật giáo, sẽ truyền bá pháp âm và dựng tháp,
tạo phúc.
Vua
A Dục nghe nói cách đây một trăm năm mà đức Phật đã biết sẽ có mình rồi,
lại càng tăng thêm lòng tin, và xin quy y Phật Pháp Tăng với Vị Hải. Bao
nhiêu tâm ý ác độc đã tan biến hết, vua A Dục biết sám hối một cách chân
thành nên được cứu độ.
Vị
Hải rất vui mừng vì đã làm được một việc công đức cho chúng sinh, vua A
Dục cũng rất vui mừng vì đã tìm được chỗ quy y chân chính. Lúc vua A Dục
lên tiếng thỉnh Vị Hải về cung với mình thì tên Kỳ Lệ bạo tàn, thấy vua A
Dục sửa soạn lui về thành thì vội vàng tiến lên cản đường :
-
Ðại vương ! Chính ngài là người đưa ra quy luật là chỗ này chỉ có
thể vào chứ không có thể ra. Bây giờ ngài cũng không được phép đi ra, xin
ngài ở lại chịu tội.
Vua
A Dục nghe thế giật mình kinh hoàng, nhưng ông tự trấn tĩnh lại ngay, hỏi
rằng :
-
Mi là
người vào đây trước, hay ta là người tới trước ?
-
Thần là
người vào đây trước !
-
Nếu mi là
người vào đây trước thì mi sẽ bị trị tội trước !
Ðám đại
thần tùy tùng của vua bèn tóm ngay Kỳ Lệ ném vào lửa cho chết cháy, và dở
tháo, hủy diệt luôn căn nhà "địa ngục nhân gian" ấy.
Từ đó trở
đi, vua A Dục dùng chính sách nhân từ trị dân, dựng tháp cúng dường, đưa
Phật pháp gieo rắc ở nước ngoài, dân chúng do đó được sống những chuỗi
ngày an lạc.
Sám hối là
con đường đưa đến sự được cứu độ. Người bằng lòng sám hối là người được
sống một cuộc đời mới. Như vua A Dục vốn là một người hung ác, thế mà chịu
sám hối sửa lỗi, trong một niệm đã trở thành một người thiện lành.
Sửa lỗi và
sám hối thật là một pháp môn đại công đức, đáng tôn quý lắm vậy !
_________
* một tên
khác của vua A Dục.
---o0o---
| Mục lục |
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-06-2002