Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 4
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần
6
Vợ chồng đánh nhau
(^)
Ngày xưa, có một đôi vợ
chồng làm chủ một tiệm bán bánh. Họ sống với nhau trong một bầu không khí
thuận hòa, nhưng đôi khi họ cũng sanh chuyện xích mích và thường gây lộn
với nhau.
Một hôm, vì một sự bất
hòa chi đó họ bắt đầu cãi nhau, lúc đầu họ còn nói nho nhỏ nhưng sau dần
dần càng sinh to chuyện. Cuối cùng, người vợ thét lên lanh lảnh :
- Giết tôi hả? Tôi không
sợ anh đâu!
Người chồng nói:
- Ðược rồi! Nhất định
tao giết mày!
Hai người đánh nhau rất
kịch liệt.
Ông già bên hàng xóm vội
chạy sang khuyên can họ, ông nói:
- Này hai bác ơi! Làm gì
mà đánh nhau dữ vậy? Có việc gì không nên không phải hai bác hãy bình tĩnh
mà chỉ bảo nhau, chứ đừng nên làm thế người ngoài sẽ chê cười.
Nhưng họ không thèm nghe
lời ông già. Người vợ lại nói:
-Cứ giết tôi đi!
Người chồng trả lời:
-Hôm nay nhất
định tao không nhượng bộ đâu, không giết mày không được!
Ông già thấy lời khuyên
can của mình không có hiệu quả, ông liền đến trước cửa tiệm bánh của họ
thu tất cả những bánh trong tiệm rồi đem phân phát cho những người đang bu
lại xem họ đánh nhau. Hai vợ chồng thấy thế lập tức không đánh nhau nữa,
vội chạy ra hỏi:
-Ồ kìa! Ông làm
cái gì vậy? Nhà người ta buôn bán sao tự nhiên ông lại đem lấy của chúng
tôi cho không mọi người.
Họ trừng mắt nhìn ông
già và hấp tấp ngăn cản ông, không cho ông lấy bánh nữa.
Ông già thản nhiên nói:
-Vừa rồi bác nói
bác nhất định sẽ giết bác gái, mà giết bác gái rồi tôi tưởng sau này bác
cũng không thể nào sống được. Vậy cả hai người sẽ đều chết và tiệm bánh
này cũng sẽ vô dụng, vì thế cho nên tôi đem bố thí hết các thứ của hai bác
để gây chút công đức cầu siêu cho hai bác đó.
-Không được, nếu
đem hết các thứ trong tiệm tôi mà cho người ta rồi ngày mai chúng tôi lấy
gì mà ăn đây.
Thôi chúng tôi không
đánh nhau nữa đâu!
Q. Ð.
“Sự giận giữ là cơn gió lớn làm
tắt ngọn đèn thông minh”.
Người gieo mạ
(^)
Một buổi bình minh, ánh
nắng vàng trải trên những thảm cỏ xanh non bao trùm những vườn cây tươi
tốt, muôn chim líu lo trên cành, mọi ngườI sửa soạn ra đồng làm việc.
Ðức Từ Tôn mặc y nghiêm
trang, ôm bát khoan thai đi vào xóm để khất thực, lúc Ngài đi ngang qua
nhà của ông Bà La Môn giàu có và danh tiếng nhất trong xứ tên là Ba Ra Va
Da, Ngài bèn dừng chân lại trong lúc lão Bà La Môn mang lễ vật ra sân để
cúng thần Nông.
Trước dung mạo trang
nghiêm và đầy vẻ từ bi của Ðức Phật, mọi người đều tỏ vẻ kính trọng Ngài,
người thì chắp tay cúi đầu, kẻ thì nghiêng mình, người lại đảnh lễ sát
đất. Trước khung cảnh uy nghi ấy đã không phát tín tâm Ba Ra Va Da còn
phát sanh lòng sân hận, lão hét lên:
-Ồ,
này Sa Môn kia, tại sao còn khỏe mạnh, tay chân đầy đủ lại đi xin ăn, sao
lão không chịu làm lụng như bao nhiêu người khác. Ta phải chịu cực khổ dầm
sương giãi nắng cầy cấy, gieo mạ hôm nay mới có cơm ăn. Nếu lão chịu khó
làm lụng như ta, thì lão cũng có cơm ăn vậy.
Ðức Phật bèn từ tốn trả
lời rằng:
-Ta
đây cũng cầy cấy gieo mạ, ta cũng có lúa ăn như ngươi vậy.
Ba Ra Va Da cướp lời:
-Lão
dám mạo nhận là một người nông dân sao?
Ðức Thế Tôn yên lặng
không trả lời.
Người Bà La Môn cất
tiếng cười ngạo nghễ hỏi tiếp:
-Vậy
chớ trâu, bò, cầy, bừa và lá lúa giống của lão ở đâu?
Ðức Phật bình thản giảng
giải:
-Hột
giống của ta gieo là Ðức tin, những việc lành là mưa thuận gió hòa thấm
nhuần cho lúa càng ngày càng tốt tươi. Ý chí dõng mãnh và nhẫn nại là cái
cày, sự tinh tấn là con bò, trí tuệ là sợi dây đàn, còn Ta cầm cán cân
giới luật.
Ta cầy cấy đặng trừ
tuyệt cỏ xấu đang đâm chồi nẩy lộc trong tâm của chúng sanh.
Lúa của ta gặt là nơi an
vui tuyệt đối bất sanh, bất diệt đại niết bàn, nơi dứt tất cả sự thống
khổ. Vốn là một người thông minh và đã tạo nhiều thiện duyên từ nhiều kiếp
trước, Ba Ra Va Da nghe những lời giảng giải của Thế Tôn xong được thấm
nhuần như tấm vải trắng sạch nhuộm ăn màu, như người bị ngã được đỡ đứng
dậy, như ngọc qúy bị giấu kỹ bỗng nhiên được phát hiện trí tuệ, Ba Ra Va
Da cung kính bạch Ðức Phật rằng:
-Tiếng
đồn thật không sai, Ðức Từ Tôn quả là ngọn đuốc sáng để đưa chúng sanh từ
chỗ tối tăm đến chỗ sáng suốt.
Nói xong, Ba Ra Va Da
vội lấy dĩa bằng vàng, đựng cơm đề hồ (cơm nấu bằng sữa) đến thành kính
sớt vào bát của Ðức Phật và nói rằng:
-Kính
bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ nhận lấy lễ vật mọn này để con được
gieo duyên lành cho kiếp vị lai.
GIỚI ÐỨC
“Tam Bảo là ruộng phước phì
nhiêu cho chúng sanh gieo giống”.
Chuỗi Anh lạc
(^)
Ba Lợi là người con trai
rất chí hiếu, nội trong thôn xóm anh ở ai cũng mến thương. Mồ côi cha ngay
khi còn nhỏ, lớn lên anh lại theo nghiệp của phụ thân làm nghề hàng hải,
là một nghề nhiều nguy hiểm hơn an toàn. Nên mỗi lần ra đi, anh từ giã mẹ
già thì mẹ anh không lần nào quên dặn con phải luôn luôn chí tâm kêu cầu
Bồ Tát Quán Thế Âm. Lần này bà đeo vào cổ cho con một tượng Bồ Tát bằng
ngà và cũng dặn con lúc nào gặp nguy hiểm thì phải niệm Ngài cho chí
thiết.
Quả nhiên chuyến đi này
thuyền anh bị lạc hướng bởi một cơn gió dữ thình lình. Trong thuyền 8, 9
người chơi vơi giữa biển khơi đã hai ngày, nguy ngập nhất là khát nước.
Giữa biển mênh mông chỉ trời với nước, thế mà trong thuyền khát nước đến
gần nguy. Anh bình tĩnh bảo cả thuyền đều phải nhất tâm kêu cầu Bồ Tát
Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn cho, thì may đâu từ xa xa có một chiếc thuyền
đang hướng về thuyền anh chèo đến, khi hai thuyền xáp nhau anh hỏi xin
nước uống. Người thuyền chủ đưa cả hũ nước ngọt cho thuyền anh. Uống xong
anh hết sức cảm tạ. Người thuyền chủ hỏi anh, nước ở biển nhiều hay nước ở
hũ nhiều?
Anh đáp: nước trong hũ
nhiều, vì nước biển tuy nhiều song không thể uống được, nước ở hũ ít nhưng
cứu được sự khát ngặt cho người thì phước đức vô lượng.
Thuyền chủ tán thán câu
trả lời lý thú của anh, rồi tặng anh một chuỗi ngọc châu quí giá và bảo:
“Ta thưởng cho người con chí hiếu”. Nói xong thì không thấy thuyền và
người đâu cả. Những người cùng thuyền anh rất cảm động và tin tưởng mãnh
liệt vào sự linh ứng của Bố Tát Quán Thế Âm.
Về nhà, anh thuật chuyện
cho mẹ nghe, và dâng chuỗi ngọc châu cho mẹ.
Thân mẫu anh bảo: Chuỗi
ngọc châu này là của vô giá, con nên đem dâng vua, đừng bán.
Vâng lời mẹ, Ba Lợi đem
dâng vua.
Vua Ba Tư Nặc được chuỗi
ngọc châu quí giá rất mừng, tạ anh nhiều vàng ngọc khác.
Cách mấy hôm sau vua
liền triệu tập các cung phi đến, ý vua nghĩ để ta xem trong số cung nhân
người nào đẹp nhất hôm ấy ta sẽ thuởng.
Mấy nghìn cung phi nghe
vua đòi, ai nấy đều lo sửa soạn trang sức cực kỳ lộng lẫy.
Thoạt nhìn, không thấy
Mạc Lợi phu nhơn (*) Ba Tư Nặc liền hỏi: Sao không thấy đệ nhất phu nhân?
Các cung phi thưa:
- Hôm nay là ngày rằm,
ngày của phu nhân thọ giới “Bát Quan Trai” nên không đến được.
Vua có ý giận, hỏi:
- Thọ Bát quan trai mà
dám trái ý trẫm ư?
Vua cho đòi ba phen, Mạc
Lợi phu nhân sợ, phải đến yết kiến. Song vì ngày trai giới nên nàng không
trang điểm gì cả, và chỉ mặc một thứ hoại sắc.
Nhưng nhờ nghiêm trì
tịnh giới nên phu nhân có một nhan sắc thanh khiết tỏa ra sáng chói như
muôn ánh nhật nguyệt. Khi phu nhân vừa bước vào chánh điện thì có hào
quang tỏa khắp hoàng cung. Thoạt thấy, vua rất ngạc nhiên, và sanh tâm ái
kính bội phần.
Vua hỏi: Ái khanh nhờ
oai đức gì mà hôm nay sắc đẹp lộng lẫy bội phần?
Phu nhân thưa: Thiếp tự
tủi mình bạc phước lại sanh làm thân nữ nghèo hèn (*) may nhờ ơn trạch của
Ðại Vương nên thiếp được dự phần sang quý. Nhưng thiếp nghĩ: thân mạng vô
thường dầu cho hoàng hậu, vương phi châu ngọc đầy mình rồi cũng có ngày
già, xấu, lại thêm bịnh hoạn theo liền, khi chết lại bị nghiệp ác dắt dẫn
đi vào con đường đau khổ tội lỗi. Vì vậy, thiếp vâng theo lời Phật dạy mỗi
tháng thọ trì Bát quan trai giới trong các ngày trai tiết, thiếp nguyện
đem công đức ấy để hồi hướng cho nước nhà thịnh trị, muôn dân an lạc, và
khi xả báo thân thiếp khỏi bị cái nghiệp phú quý mà sa đọa.
Vua nghe, rất cảm kích
và khen ngợi liền đem chuỗi anh ngọc tặng phu nhân.
Mạc Lợi phu nhân từ chối
không nhận mà nhường lại cho các cung phi.
Vua đáp: Từ hôm được
ngọc, trẫm đã định hôm nay vân tập tất cả các cung phi xem ai đẹp nhất thì
trẫm thưởng. Nay thấy ái khanh nhan sắc thù thắng hơn các cung phi, thật
hiệp ý trẫm nên trẫm chỉ để tặng ái khanh.
Phu nhân thưa: Thiếp nay
thọ trì giới cấm của Phật giữ mình thanh tịnh nên không ưa trang sức những
thứ xa hoa, đấy là các nhân gây ra tham lam tội lỗi. Vậy nay thiếp có ý
kiến là Ðại Vương nên đem chuỗi ngọc dâng lên Ðức Thế Tôn, nhân dịp được
lãnh lời giáo hóa của đức Từ Phụ để về bổ túc thêm cho việc an dân thì
phước đức vô lượng.
Vua rất hoan hỷ liền sắc
nghiêm sức xe giá, vua cùng Mạc Lợi phu nhân và cả cung phi đồng yết kiến
Như Lai. Hôm ấy là ngày rằm, ngày chúng tăng thuyết giới vừa xong, vua vào
bái yết Ðức Thế Tôn rồi đem dâng chuỗi ngọc anh lạc lên Ðức Phật và bạch
cùng Ðức Phật về việc trì giới không thọ chuỗi anh lạc của Mạc Lợi.
Ðức Thế Tôn hoan hỉ doãn
nạp (*) liền thuyết bài kệ rằng:
Người đời ưa trang
sức
Cho ngọc châu là quý
Người cầu đạo giải
thoát
Lấy giới luật làm hơn
Dù ngọc ngà châu báu
Cùng các thứ hoa thơm
Không sao bằng giới
luật
Có năng lực đưa người
Ðến tận bờ ly dục
Trường từ ba cõi khổ
Quyết định được an
lạc
Ðức Phật là đệ nhất phước điền (làm ruộng phước để cho chúng
sanh gieo công đức vào) nên ai cúng gì Ðức Phật cũng không từ chối, dù một
chuỗi ngọc quý giá của vua chúa cũng như một nắm đất của em bé nghèo hèn.
THÍCH NỮ THỂ QUÁN
“Giới luật là anh lạc vô giá,
trang nghiêm giáo lý vô thượng Phật đà”.
Giành làm lớn
(^)
Ngày xưa, sau khi Ðức
Phật nhập niết bàn không lâu, tại một khu rừng nọ có một con rắn thật to,
nhân dân trong xứ ấy ai cũng sợ. Một bữa nọ, đầu và đuôi rắn ta tranh luận
với nhau:
Ðầu bảo đuôi:- Ta đây
thật đáng làm lớn.
Ðuôi nói lại:- Chính ta
mới thật là lớn.
Ðầu nói:- Ta có tai để
nghe, có mắt để thấy, có miệng để ăn đầy đủ trí hiểu biết, lúc nào nên đi,
lúc nào không nên đi, chỗ nào nên tiến, chỗ nào nên thoái và khi nào ta
cũng đi trước. Còn mày, mày làm sao có những điều kiện đó mà đòi làm lớn
vậy ta làm lớn mới đúng.
Ðuôi không chịu nghe,
cãi lại:
-Như
mày nói tao không có những điều kiện ấy, thì thôi cũng đành được đi, nhưng
mày nên nhớ rằng khi nào tao khiến mày đi thì mày mới được đi, chứ đâu
phải mày muốn là được. Nếu không muốn đi, tao dùng thân tao quấn chặt vào
cây luôn 3 ngày, thì xem mày có bò đi và tìm thức ăn được không, hay bị
đói khát mà chết khô, rồi bị người ta xách đầu về ăn thịt.
Ðầu nghe đuôi ngụy biện
lớn lối như vậy, không biết phải nói như thế nào để đuôi hiểu cho phải,
nên buồn rầu bảo đuôi:
-Này
đuôi, thôi mày nói như thế tao xin chịu thua. Vậy tao cho mày làm lớn mày
hãy đi trước đi.
Ðuôi nghe đầu chịu thua,
lòng mừng phấn khởi, ngoắt đuôi phóng ngay nhưng vì chẳng thấy đường nên
cứ bò quàng, bò xiên bậy bạ không đường lối, cuối cùng bị rơi xuống hầm
lửa chết tươi.
Cũng vậy, như trong
chúng tăng, có hàng trưởng thượng đạo cao đức trọng, đủ trí tuệ để phán
quyết mọi việc, nhưng gặp phải hàng hậu học sơ cơ ngu muội lại tự thị cho
mình là trí tuệ hơn người, nên tỏ ra khinh khi bậc trưởng thượng tôn túc,
không chịu nghe lời dạy bảo. Ðến nỗi các ngài buồn phiền nói: “Thôi thôi
tôi xin lỗi, các vị tự ý muốn làm gì thì làm”.
Vì vậy, những kẻ thiếu
trí ngu si tự do làm theo ý mình tạo các điều bất thiện, khi mạng chung
đều đọa vào địa ngục.
GIỚI ÐỨC
Chỉ có ngọn đèn dẫn
đường cho chúng ta tới chỗ thành tựu là ngọn đèn của kinh nghiệm.
Sự tích Cá He
(^)
(cá heo, cá nược)
Ngày xưa, có một nhà sư
trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện, sư thuộc
lòng tất cả kinh kệ nhà Phật, lại giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn
chưa thành chánh quả. Sư bụng bảo dạ:- “Phải đến đất Phật một phen mới có
hy vọng thành Phật”. Nghĩ vậy, sư ta mới quyết chí tìm đường sang Tây
Trúc.
Ðường đi từ nước nhà
sang Tây Trúc ngày đó chưa có cách nào cho thuận lợi. Việc giao thông hầu
hết là đường bộ, mà đi bộ thì thật là muôn vàn nguy hiểm. Nhưng nhà sư trẻ
tuổi quả quyết nhằm hướng tây tiến bước.
Cuộc hành trình đã được
năm mươi ngày. Nhà sư đã nhiều lần lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét,
nhưng nhờ được giúp đỡ nên đều qua khỏi, và chàng cứ tiếp tục cuộc hành
trình.
Một hôm, sư đến một khu
rừng thì trời đã chiều. Sư cố bước dồn, hòng tìm một nơi nghỉ vì trong
người đã thấy ớn rét. May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà.
Nghe tiếng gọi cửa một bà cụ già bước xuống sàn. Sư tỏ ngay ý định của
mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà cụ vừa thấy khách đã xua tay rối
rít.
-Ði
mau lên! Mau Lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng.
Sư đáp:
-Tôi
bây giờ thật là kiệt sức, không thể nào bước được bước nữa. Nếu không cho
nghỉ thì cũng đành nằm liều trước cửa đây thôi.
Bà cụ bảo:
-Chao
ôi! Con ta vốn là Ác Lai hay ăn thịt người. Có đi nhanh lên, bây giờ nó
sắp về rồi đó.
Nhưng sư đã vứt tay nải,
nằm vật xuống đất. Hai đầu gối va vào nhau chan chát. Bà cụ không biết nói
thế nào nữa, đành nắm tay y lôi đến một cái hầm đá lớn. Sau khi đẩy vào,
bà cụ bảo y phải cố giữ cho thật im lặng để tránh một cái chết thê thảm.
Ðoạn, bà cụ chất củi phủ lá rất kín đáo.
Trời tối hẳn thì Ác Lai
về đến nhà, tay xách một con mang, hắn dừng lại ở chân thang và khịt mũi
mãi. Hắn nói:
-Có
mùi thịt mẹ ạ!
Mẹ hắn đáp:
-Thì
chả là thịt mày đem về đây là gì?
-Không
phải. Thịt người. Con biết lắm. Có thịt người.
Bà cụ chưa kịp cản thì
hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi chạy đi tìm. Chả mấy chốc, hắn đã lôi
được nhà sư bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình.
Khi sư tỉnh dậy thì đã
thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm lăm ở tay. Hắn quát:
-Mày
đi đâu
Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng
không khác gì người thường, bèn tỉnh táo đáp :
-Tôi
đi tìm Phật.
-Tìm
để làm gì?
Sư bây giờ mới nói rõ
mục đích của mình. Rồi luôn miệng, sư giảng giải đạo từ bi cho hắn. Sư nói
mãi, kể lại bao nhiêu ngày gian khổ của mình dọc đường, và niềm mong muốn
cuối cùng là làm sao được nhìn mặt Ðức Phật để được thành đạo. Sư nói khéo
quá, đến nỗi mẹ con Ác Lai đều cảm động đến rơi nước mắt. Thấy họ thành
thật hối lỗi. Sư cho họ biết là họ cũng sẽ trở nên “vô sinh vô diệt”, sẽ
sống một đời sống vô cùng sung sướng trên niết bàn, nếu họ kiên quyết bỏ
ác làm thiện. Tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai rơi xuống sàn. Những đường
nhăn hung ác lúc nãy bây giờ dịu lại.
Sáng hôm sau, khi Sư sắp
lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp sẵn lương thực cho chàng. Họ lại
tiễn đưa Sư đi qua một ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt Ác Lai hỏi:
-Tôi
biết lấy gì mà dâng Phật đây?
Sư đáp:
-“Tâm
tức thị Phật. Phật tức thị tâm”. Chỉ dâng tấm lòng mình là đủ.
Sư không ngờ Ác Lai đã
rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch bụng mình lôi ra cả một mớ ruột gan đưa
cho sư và nói:
-Nhờ
Hòa thượng đưa hộ dâng lên Ðức Phật.
Sư lấy làm bối rối quá.
Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào
đây. Cuối cùng Sư ta đành nhìn vào cặp mắt của Ác Lai, gật đầu nhận lời
rồi gói bộ lòng của người đáng thương đó lại và quảy lên đường.
Sư vừa đi được mấy ngày
thì khu rừng rậm chấm dứt, hiển lộ ra trước mặt mênh mông bát ngát. Nước
trời một vẻ trông rất vui mắt, nhưng trong bụng Sư thì chẳng vui một tí
nào. Món lễ vật của Ðức Phật đè nặng trên vai. Nếu chỉ có thế thì không có
gì là ngại cho lắm. Khổ một nỗi là mùi thối trong bộ lòng kia xông ra khó
tả. Sư đã bọc nó ba tầng bốn lớp mà mùi thối vẫn nồng nặc. Sư lẩm bẩm:-
“Như thế này thì các nhà quán dọc đường còn ai dám chứa mình”. Qua ngày
hôm sau, không thể chịu được nữa, Sư bèn vứt bộ lòng Ác Lai xuống biển.
Nhà sư đi mãi rồi cũng
đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của
mình vì sao chưa được đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng
xuống bảo chàng: “Còn thiếu một vật nữa mới thành chánh quả”. Sư rất đỗi
ngạc nhiên, cố ngước mắt nhìn lên một tí. Trên cao vòi vọi, Sư thấy Ðức
Phật ngự giữa tòa sen sáng chói, sau lưng có bóng dáng hai người tựa hồ
như hai mẹ con Ác Lai. Sư bỗng hiểu hết: Ðức Phật đã rõ sự thiếu thành
thực, thiếu tận tâm của mình rồi, còn mẹ con Ác Lai nay đã thành chánh quả
chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột ngột và chân thành trong phút chốc. Sư nằm phục
vị hồi lâu, trong lòng thẹn thò vô kể.
Nhà sư ta sau đó trở về
chốn cũ để tìm lại bộ lòng. Tuy biển mênh mông và sâu kín, nhưng cũng cố
lặn hụp để mong thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai gửi cho mình. Sư nghĩ
chỉ có làm thế mới dám nhìn lại mẹ con Ác Lai và hy vọng gần gũi tòa sen
đức Phật. Sư bơi lên lặn xuống mãi. Sau đó sư hóa làm loài cá mà người ta
vẫn gọi là cá he, cũng gọi là cá nược hay có nơi gọi là cá ông sư. Vì cho
đến ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy có cái đầu trọc như đầu
ông sư, và vẫn làm cái việc của nhà sư, nghĩa là chúng đi hàng đàn, cứ lặn
xuống nổi lên luôn không chịu nghỉ.
Những người đánh cá còn
nói loài cá he rất ghét những ai trêu chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi
lại chuyện cũ của tổ tiên chúng nó, chúng nó sẽ làm cho đắm thuyền rách
lưới. Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng nó sẽ lặn xuống nổi lên
nhiều lần cho mà xem.
NGUYỄN ÐỔNG CHI
Truyện Cổ
Việt
Nam
tập II
“Những người không
giữ đức “Thành tín” thì chỉ lừa gạt mọi người được trong một thời gian nào
đó thôi, tai hại nhất là sau dù nói thật người ta cũng không tin”.
- o0o -
| Mục
lục tập 04 |
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi
Tính: Tâm Hòa, Hải Hòa
Cập
nhật : 01-10-2002