Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 4
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần 5
Ði biển tìm vàng
Nan sư Nan đệ
Hẹn cùng sống chết
Nghệ thuật tuyệt vời
Giữ giới trong sạch được
nhiều phước báo
---o0o---
Ði biển tìm vàng
^
Thuở xưa, có một đoàn
lái buôn nghe đồn ở ven biển nọ có rất nhiều vàng. Ai cũng nô nức quyết
chí thả buồm đi tìm, ngặt nỗi đường lối xa gần, Bắc Nam phương hướng,
không một người am hiểu. Trong lúc băn khoăn lo nghĩ, một khách lạ đến, tự
xưng là biết nẻo, và xin làm người dẫn đạo. Cả đoàn đều hoan hỷ, hấp tấp
sắp đặt cuộc viễn hành, trong lòng mọi người đều chứa chan hy vọng.
Ngày ra đi đã đến, nét
vui sướng càng hiện trên mọi mặt. Nhưng lúc chia tay với gia đình, sự hăng
hái không khỏi bị giảm vài phân.
Thuyền nhổ neo, kẻ dưới
trông lên, người trên dòm xuống, lời chúc may, tiếng giã từ, tạo thành một
bức tranh trên đó những nét tươi sáng pha lộn với những điểm âm u. Nhưng
can gì ? Chỉ một phen xa cách để rồi đoàn tụ trong cảnh giàu sang! Vì vậy
mà tay chèo, tay lái, người người đều sung sướng reo hò.
Thuyền đã ra khỏi biên
thùy, đà công ra lệnh trương buồm, thả xuôi theo làn gió. Cảnh trời nước
mênh mông làm cho khách trên thuyền thấy tâm hồn thơ thới, như cất được
gánh nặng ngàn cân. Ðược rảnh tay, kẻ trầu người thuốc, quây quần bàn
chuyện tương lai. Anh định tậu ruộng, anh muốn cất nhà, mỗi người một ý,
nhưng không ngoài cái tham vọng tô điểm đời sống, để cho gia đình thêm
phần no ấm, vui tươi.
Thuyền sắp vào eo biển,
một bên là đất liền, bãi cát trắng phơi màu dưới ánh mặt trời đã xiên, còn
một bên là bãi đá chập chờn, sóng tung đổ bọt.
-
Quái! Ai
lại cặm bảng ngoài khơi, tiếng anh cầm lái thốt lên trong tiếng gió dịu
mềm. Ai biết chữ đọc thử xem nào?
Thật, lưng chừng một cái
đảo con, một tấm bảng to tướng được cắm chặt xuống đất, trên mặt có mấy
dòng chữ nét đậm ở xa rất dễ nom: “Phải nạp một mạng người lễ Thần mới
được đi ngang qua đây”.
Ban sơ, hình như không
ai lấy làm quan tâm, có người còn cho là lời hăm dọa của kẻ thích khôi
hài. Nhưng ngọn gió xem chừng lần lần thổi mạnh, trong khi xa xa vài đám
mây đen lơ lửng trên nền trời xám sậm. Ðà công lo lắng:
-
Có lẽ dông
đến anh em nên đề phòng.
-
Dông tố
gì, anh khéo lo! - một người trong thuyền nói.
-
Anh không
nghe tiếng gió càng phút càng rít lên, và kìa là những cụm mây đen đang
đùn cuốn?
Cả thuyền im lặng, nghe
ngóng và trông ra xa. Anh đà công có lý. Tình trạng biển cả có phần thay
đổi hiểm nghèo. Trước không ai để ý chỉ vì mắc bàn chuyện tương lai. Cái
vui xây đắp trong mộng bỗng tan như bọt nước, nhường chỗ cho một cái lo
âu.
-
Thế là
Thần linh thật.
Câu nói vừa thốt ra ở
cửa miệng, một người lớn tuổi nhứt trong đoàn, làm cho tất cả đâm chiêu
nghĩ ngợi. Ai là người chịu hy sinh cho toàn thể? Xem đi xét lại, tất cả
đều là quyến thuộc, tay chặt tay há lại không đau? Lại nữa, khi về đến quê
nhà, sẽ ăn làm sao, nói làm sao với vợ con người bạc phúc?
Một tiếng thì thào:
-
Thôi thì
đành vậy, chúng ta hãy nhờ ông dẫn đường cứu độ cho. Ông đã già mà tông
tích không ai biết, có tiến cho Thần thì cũng là một việc phúc đức, ông để
về sau cho con cháu... nếu ông có con cháu.
Một người cãi:
-
Rồi ai chỉ
đường dẫn nẻo cho ta?
-
Khó gì,
tiếng kia đáp lại. – Ông đã chỉ cho chúng ta đi hướng này, thì cứ theo đó
mà tiến, ắt phải gặp nơi bòn vàng.
Vụt một cái, gió thổi
mạnh vào mảnh buồm làm thuyền nghiêng hẳn một bên, be gần chấm nước. Mọi
người xanh mặt. Tiếng thì thào lúc nãy, trở nên to lớn, và quyết liệt:
-
Sống chết
trong lúc này, không còn bần dùng nữa. Các anh hãy nghe tôi. Kíp đi.
Nghe động, cụ lão dẫn
đạo trong mui chui ra, chưa kịp hỏi gì thì cả bọn bu quanh cụ, miệng la:
“Cụ cứu cho”. Rồi những bắp tay lực lưỡng túm lấy cụ và liệng quách xuống
nước đang nổi sóng.
Thuyền lắc lư lướt tới,
để lại sau một đống bọt trắng dịu lần rồi tan mất, như khói đốt đồng. Ðoàn
lái buôn quì xuống chấp tay khấn niệm, xin Thần bỏ cơn lôi đình mà nạp lễ
cho. Tất cả đều tin tưởng Thần sẽ làm cho gió lặng sóng êm, nhưng lạ thay
và cũng kinh hãi thay, phong ba càng lúc lại càng mạnh, thuyền hụp xuống
trôi lên, bị vỡ ở mũi, bị đánh ở hông, làm cho khách trong thuyền đầu mình
ướt đầm, lật qua ngã lại, phải bám vào cột chèo vào then hầm mới giữ được
thế quân bình. Tiếng van vái to hơn lúc trước dầu rằng mọi người đều cổ
khô, giọng lạc. Bỗng, ầm một cái, một ngọn sóng to chụp lấy thuyền như
mãnh hổ vồ lấy hươu con, giữa tiếng kêu cứu thất thanh.
Rồi sóng cứ gào, gió cứ
thét...
TRÍ TÁNH
“Hỡi người muốn vượt biển khổ thế gian để tìm vàng hạnh
phúc! Chớ bắt chước đoàn lái buôn kia tiếc thân giả tạm mà hy sinh người
dẫn đường cho ma quỷ dục lạc. Người dẫn đường bây giờ là Giới luật vậy.
Giới luật mất rồi, nên tin chắc rằng trầm luân không bao giờ ra khỏi”.
Nan sư Nan đệ
^
Ngày xưa có một vị thầy
tu hành ngồi mãi mà không nằm. Thầy trụ trì một ngôi chùa lớn. Nhiều đệ tử
theo học rất đông, nhưng không ai học được cái khổ hạnh của thầy là chỉ
giữ ba oai nghi: Ði, đứng, ngồi – không nằm. Mặc dù vậy, khổ hạnh của thầy
cũng ảnh hưởng sâu rộng trong hàng tứ chúng khiến cho không một ai còn
lòng dạ nào buông lung, biếng nhác.
Một hôm có một Sa di tới
xin nhập chúng. Thầy bằng lòng. Chú xin hầu cận bên thầy để học cái hạnh
tinh tấn. Thầy chấp nhận, nhưng hằng đêm, khi thầy ngồi suốt tới sáng thì
chú cũng nằm suốt tới sáng. Thầy để ý nhiều lần như vậy, nhưng xét ra vị
Sa di này không phải hạng tầm thường: chú ngủ rất tỉnh, một cái động nhẹ
của thầy cũng làm cho chú thức dậy để đáp ứng những sai bảo. Cho nên thầy
không có lý do gì rầy chú. Chỉ có một điều thầy lấy làm tiếc, là một chú
đệ tử thông minh tận tụy như thế, mà cứ nằm dài suốt đêm một cách... “tinh
tấn”. Cuối cùng, thầy phải nói cho chú biết không nên tu cái hạnh “nằm”
như vậy.
-
Này Sa di,
chú nằm mãi coi chừng thành rắn đó.
Chú thưa:
-
Bạch Thầy,
Thầy ngồi mãi con cũng sợ Thầy thành cóc thôi!
Vị thầy nhân đó mà ngộ
đạo.
THÍCH NỮ TRÍ
HẢI
“Đang sống ngồi không nằm
Chết rồi nằm không ngồi
Chỉ là cái xác thôi
Có gì công với tội?”
Hẹn cùng sống chết
^
Thiếu Sanh mải miết xem
sách, chàng cố xua đuổi tất cả ý niệm tạp nhạp, để chăm chú vào những điểm
cốt yếu của bài vở, vì chàng nghe người ta bảo kỳ thi này khó lắm, ông
chánh chủ khảo quá nghiêm khắc, nếu tự lực không vững khó lòng đậu. Thế
rồi chàng miên man nghĩ: “Chao ôi! Nếu mình đậu, đậu Trạng nguyên thì oai
biết mấy, nào là bộ áo mão thêu rồng, buổi yến linh đình tại đại nội, vua
sẽ trao tận tay chàng chén ruợu vàng để thưởng tân khoa, và nhất là một
nàng công chúa, ồ con vua thì phải biết rồi cứ thế, cả cuốn phim sang quí
tuần tự diễn trong tâm tư người hàn sĩ. Thành thử chàng định xua đuổi bao
ý nghĩ vẩn vơ, mà trái lại ý nghĩ vẫn kéo đến ồn ào làm chàng chẳng đọc
được trang sách nào cả. Chợt nhớ lại thật tế, Thiếu Sanh đứng dậy vươn vai
mỉm cười: Chà bậy quá!
Bỗng nghe xa xa có tiếng
trẻ con la lên: “ren, ren, ren, ren ngựa en (anh) đã về, cắt cỏ bồ đề cho
ngựa en ăn”. Chàng nhìn vọng ra xa, thì quả có tiếng nhạc ngựa thật, tiếng
nhạc ngựa gần lần, rồi dừng lại trước ngõ và rõ ràng một mỹ nhân trên bạch
mã nhẹ nhàng bước xuống. Chao ôi! Người đàn bà nào mà đẹp thế? Sang thế?
Nét đẹp như Hằng Nga, phục sức như tiên nữ. Mỹ nhân khoan thai tiến vào
trước sân, chàng vội vàng sửa áo ra tiếp người khách lạ.
Nhìn mỹ nhân bỡ ngỡ, vì
thật chàng không quen, cũng chưa hề gặp mặt.
Mỹ nhân biết ý chào
trước: Thưa tiên sinh nếu thiếp không lầm, thì chàng là Lý công tử người
thiếp muốn gặp?
-
Vâng, tôi
là Lý Trọng Hiền, xin mời tiểu thư quá bước vào nhà.
Song chàng không khỏi
ngỡ ngàng khi thấy nhà mình không có một chỗ xứng đáng để người ngọc ngồi.
Chỉ một bộ trường kỷ kê giữa nhà là vật gia bảo còn lưu lại, nhưng lâu nay
mải lo đèn sách để bụi bám đầy. Thiếu Sanh lấy vội khăn lau qua, rồi mời
mỹ nhân ngồi.
Nàng khép nép ngồi vào
một góc trường kỷ, sau khi chủ nhân đã an tọa.
-
Thưa,
chẳng hay tiểu thư tìm Trọng Hiền tôi có việc gì ạ?
Mỹ nhân tỏ vẻ e lệ, nàng
cúi đầu mân mê chiếc quạt trên tay, rồi lại ngẩng nhìn chàng: Thưa công
tử! Thiếp được nghe danh công tử là bậc hiền tài nên mới tìm đến...
Chàng nghĩ thầm: tài thì
thật ta chưa có, còn hiền thì cũng không hiền chi, nhưng được nghe lời
xưng tụng từ miệng mỹ nhân thốt ra, chàng cũng cảm thấy khoan khoái.
Chàng khiêm tốn: Dạ Tiểu
thư quá khen, tôi không dám, mong tiểu thư cho biết nhã ý của người muốn
tìm tôi?
Nàng nhỏ nhẹ lập lại câu
nói trên: Thiếp vì trọng mến hiền tài đã lâu, hôm nay thiếp đánh bạo đến
đây định thưa với công tử một...
Thiếu Sanh hồi hộp,
chàng lặng lòng chờ nghe, song khi mỹ nhân nói nửa chừng, thì bỗng đâu một
tiếng ré lên, chàng hoảng hốt nhìn ra... ồ quái lạ, một đống lù lù ngồi
ngay trước sân, cách nhà chừng 4, 5 thước. Không biết trên trời rớt xuống,
hay dưới đất đục lên răng chừ, mà dễ sợ thế ? Một con người, một con người
ta thật sự. Nếu không có cái búi tóc rễ tre lớn bằng củ hành tây, bới
ngược lên xoáy thượng, vàng luốt như râu bắp, thì chàng cũng không biết là
đàn bà, áo xống rách như xơ mướp, người ta ngồi khoanh tay rế, mặt úp vào
bụng. Không biết người ta non hay tra, già hay trẻ? Nhưng toàn thân của
người ta cũng đủ cho chàng biết, đó là một người hủi, lác, vì sau lưng áo
rách lòi ra một màu da nổi vảy, và lầy lụa cả nước...
Người ta khóc ré lên
giữa khi mỹ nhân nói nửa chừng, nhưng lúc Thiếu Sinh bước ra thì người ta
lại làm thinh, cứ ngồi một đống y sì.
Chàng có ý khó chịu, đến
bên: Này tiền đây đứng dậy mà đi kiếm nhà khác. Nhưng không biết điếc hay
câm, nghe hay không, mà cứ ngồi lỳ lỳ, không trả lời trả vốn chi cả. Thiếu
Sanh xích lại gần một chút, nói to hơn: này tiền đây đứng dậy, cầm lấy,
đứng dậy đi, tiền đây!
Người ta vẫn bất động và
cứ khóc ri rỉ. Chàng hơi bực mình, nhất là câu chuyện mỹ nhân đang nói dở
mà chàng cần nghe. Chàng cố nhẫn, nói đi nói lại hai ba lần: Này đứng dậy,
tiền đây nì, đứng dậy cầm lấy mà đi nhà khác chứ.
Nhưng người ta cứ làm
thinh, cũng không chịu ngẩng mặt lên. Bực mình, chàng để người ta ngồi đấy
rồi vào với khách.
Mỹ nhân không lấy làm
lạ, cũng không đá động chi đến vấn đề người ta cả, nên chàng cũng giả lơ,
rồi nhã nhặn đề khởi lại câu chuyện lúc nãy.
Người đẹp cầm quạt phe
phẩy nhẹ nhẹ, chiếc kim thoa cài trên mái tóc rung rinh những hạt kim
cương quí giá, lóng lánh, càng tăng vẻ yêu kiều diễm lệ bội phần.
Thiếu Sinh say sưa nhắc:
Xin Tiểu thư cho tôi cái hân hạnh được nghe tiếp câu chuyện Tiểu thư định
nói.
Mỹ nhân nhỏ nhẹ: Thiếp
đến đây với mục đích là xin tiên sinh cho thiếp được... Người ngọc nói
chưa dứt, thì người ngoài sân ré lên, lần này to hơn lần trước nhiều, làm
át cả tiếng mỹ nhân.
Thiếu Sinh tức quá. Thật
không biết quái vật ở đâu hiện ra lựng lựng, mà báo đời thế? Ðành bỏ dở
câu chuyện, chàng xin lỗi mỹ nhân rồi đứng dậy ra sân, nhìn trước nhìn sau
không có một bóng người để mượn họ kéo cục nợ ra khỏi cửa, tức quá, lại
khổ một nỗi nó lại ngồi ngay chính chắn trước mặt mỹ nhân mới khen mình
đó. Chàng giả đò đứng xây lưng vào nhà để bớt thái độ hung hăng của mình.
Rồi chàng trợn mắt, bặm môi cúi đầu vào tai người ta: Tiền hí, áo hí, cơm
hí? Ưng chi? Ưng chi??? Tiếng chàng tuy nhỏ nhưng bao nhiêu căm tức đều
dồn vào tiếng nói tuôn ra nên nghe rít lên dễ sợ.
Nhưng điếc không sợ
súng, người ta cũng không chịu trả lời ưng chi, và cũng không khóc ré lên
như lúc nãy, mà cứ khóc thút thít.
Song có thể gì gần người
ta được, vì hôi quá, lở lói khắp người thế kia, đụng đến thì gớm chết.
Chàng đứng thẳng rồi lại cúi xuống: Nì ưng chi? Tiền hí, áo hí, gạo hí? –
Người ta vẫn bất động, vẫn khóc thút thít.
Ðứng lâu với cục nợ này,
thì lại bỏ khách ngồi một mình và nhất là câu chuyện mỹ nhân, cứ bị con ma
le này làm đứt đoạn, nên chưa biết ngã ra ngã vào? Chàng sửa lại cử chỉ
cho điềm đạm rồi đi vào. Thấy mỹ nhân vẫn thản nhiên với vấn đề cục nợ
ngoài sân, chàng yên tâm và cầu cho người đẹp đừng để ý đến.
Thiếu Sinh xoa hai tay
lấy lại bình tĩnh: Xin Tiểu Thư cứ dạy tiếp ý định của Tiểu Thư. Lần này
thận trọng hơn, chàng cúi đầu lóng hết tâm tư để nghe tiếp câu chuyện của
mỹ nhân sắp nói.
Người đẹp càng đẹp hơn,
với dáng điệu dịu dàng e lệ. Nàng xếp chiếc quạt ngà lại, và lần này nàng
lại nói nhỏ hơn, có lẽ là một vấn đề quan trọng cho đời nàng, vì thế nàng
không thể có gan nói to được.
-
Thưa tiên
sinh, đã hai lần câu chuyện bị đứt ngang, nay thiếp xin thành thật nói
lại, nghĩa là thiếp đến đây với mục đích xin...
Nhưng tức ôi! Vẫn như
hai lần trước, người đẹp vừa nói đến đấy, thì ngoài sân người ta lại ré
lên thất thanh.
Sự bất quá tam, không
thể nhẫn được nữa, thôi thì tam bành lục tặc tuôn ào như luồng gió lốc,
chàng bước mạnh ra sân, và lần này thì không dằng được, chàng đến xô mạnh
người ta: Ðồ yêu báo đời, ưng chi? Xin chi? Sao không nói? Khóc a? Khóc
nì?...
Té ra không câm, cũng
không điếc, người ta chờ đụng đến mới khóc lóc kể lể: Chị ơi! Sao chị để
cho người ta đánh em mà chị ngồi làm thinh?
-
Ai là chị
ngươi? Chị ngươi là ai? Nói mau! Gian xảo báo đời người ta hoài!... Người
ta chỉ ngay vào mỹ nhân: Chị tôi ngồi đó, chị tôi ngồi kia kìa...
Chàng ngơ ngác nhìn vào,
thì mỹ nhân khoan thai cầm quạt bước ra:
-
Thưa tiên
sinh, em thiếp thật đấy! Thiếp là Phước đức tiên nữ, em thiếp là Tai họa
nữ, hai chị em thiếp cùng một cha mẹ sinh ra và rất thương yêu nhau “Hẹn
cùng sống chết” theo nhau như bóng với hình, nên chỗ nào thiếp đến thì em
thiếp theo, và thiếp thề “Nếu thiếp lập gia đình thiếp cũng không rời xa
em thiếp được”.
Thiếu Sanh sững sờ, ngao
ngán khi nghe người đẹp kể niềm đầu đuôi.
Chàng nghĩ: Mỹ nhân đến
đây nói ba lần đều đứt đoạn. Chàng nhẩm lại lời nàng nói: Thiếp đến để
thưa với tiên sinh một... Tiên sinh cho thiếp được... và mục đích là
xin... thì chắc nàng muốn kết nghĩa trăm năm với ta. Mỹ nhân đẹp lạ, sang
quí tột bực nhưng sao cô em gái lại gớm ghiếc thế kia? Nội một cái biệt
hiệu “Tai họa nữ” cũng đủ chết người ta rồi, nếu ta nhận lời người đẹp,
khi nàng về với ta mà nàng na cả cục nợ ấy về cho ta nữa, thì ta cũng
chết.
-
Thôi thôi
ta cự tuyệt dứt khoát cho rồi. Bao nhiêu nhẫn lực lúc nãy là vì mỹ nhân,
nay đã không cần mỹ nhân nữa nên chàng cương quyết: Thôi thôi tôi xin Tiểu
thư, tôi xin tiểu thư, đừng chàng đừng thiếp đừng một... đừng được... đừng
xin... chi cả, mời đi mời đi !
Chủ đuổi ba cờ một quạt,
khách kéo nhau đi không kịp ngó lui.
Chàng hầm hầm ngồi phịch
xuống ghế: “Hừ, chàng chàng thiếp thiếp đồ yêu báo đời !...”.
THÍCH NỮ THỂ
QUÁN
“Thế gian chênh lệch này quả không tươi đẹp như cánh hoa
hồng. Nó cũng không tuyệt đối gai góc như cây hồng. Hoa hồng dịu dàng, đẹp
đẽ, và mùi thơm ngào ngạt, nhưng cái cây sanh ra nó thì mình đầy gai góc.
Hoa là hoa. Gai là gai. Cái gì thuộc về hoa là của hoa. Cái gì thuộc về
gai là của gai. Không vì hoa mà ta lao mình vào gai, cũng không vì gai mà
ta xa lánh hẳn hoa hồng”.
Nghệ thuật tuyệt vời
^
Một hôm Ðức Phật đi
ngang qua khu rừng vắng, Ngài ngồi nghỉ dưới một gốc cây, sắc thái ung
dung, nét mặt trầm tĩnh. Bỗng có hơn ba mươi người thanh niên tuấn tú đi
vào. Ngài để ý nhìn họ.
Một thanh niên nhìn
quanh quất như muốn tìm ai rồi thấy Ngài liền tiến đến hỏi:
-
Thầy có
thấy một người thiếu nữ đi qua đây không?
Ðức Phật trả lời: Không,
ta không thấy. Vậy các ngươi là ai và đi tìm người ấy để làm gì?
Chúng tôi là nhạc sĩ,
cùng đi vào thành với một người thiếu nữ. Người đó thừa lúc chúng tôi ngủ
bên đường, trốn đi và mang theo tất cả hành lý của chúng tôi.
Ðức Phật vẫy các chàng
thanh niên lại gần, Ngài nói dịu dàng: Này các em! các em nên đi tìm thiếu
nữ ấy hay là các em nên tự đi tìm các em.
Các thanh niên ngơ ngác
không hiểu. Và đồng cất tiếng cười. Ðức Phật chỉ vào một người cười to hơn
hết và bảo: Em hãy thổi sáo đi! Chàng đó liền lấy sáo ra thổi. Giọng sáo
réo rắt, lúc trầm lúc bổng, chứng tỏ một tài nghệ tuyệt vời. Khi chàng
thanh niên thổi xong một khúc, Ðức Phật bảo chàng đưa ống sáo cho Ngài.
Ngài thổi sáo lên. Các thanh niên nhạc sĩ ấy lấy làm lạ lùng, họ chưa bao
giờ nghe một giọng sáo hay như thế. Rừng xanh lặng tiếng, trời êm như ru,
muôn vật nín thở, im lặng. Tiếng sáo đi trong lá xanh, lướt trên ngọn cây,
rồi bay lên cao vút. Âm thanh tuyệt vời như đang quấn quanh sao Ngưu sao
Ðẩu và trong lúc ấy, gió bắt đầu rì rào trong cây tiếng gió như thì thào
như chúc tụng như ca ngợi... như để hỗ trợ, để nâng tiếng sáo huyền diệu
lên cao lên cao mãi...
Ngài đã bỏ ống sáo xuống
rồi mà hơn 30 chàng thanh niên còn đương ngơ ngẩn, tâm hồn chìm trong âm
thanh để vương vấn ở mấy từng mây.
Ðến khi họ trở về với
thực tại, thì họ nhận thấy đôi mắt dịu hiền của nhà tu đang trầm tĩnh nhìn
họ.
Tất cả đồng thanh: “Bạch
thầy! Chúng con còn non nớt lắm trên đường nghệ thuật. Xin thầy nhận cho
chúng con làm học trò và truyền dạy cho chúng con”.
-
“Các ngươi
chưa đạt đến chỗ tối cao của nghệ thuật là vì các ngươi chưa tìm thấy ngay
trong tâm hồn các ngươi nguồn gốc sâu xa của tất cả nghệ thuật. Các ngươi
cùng một bản thể với vũ trụ bao la, vũ trụ có thể có bao nhiêu âm thanh
tuyệt kỳ cũng như có thể có bao nhiêu hình sắc linh diệu, thì chính tâm
hồn các ngươi cũng có đủ như thế. Vậy cần tìm hiểu ngay tận gốc tâm hồn
các ngươi có thể đạt đến nghệ thuật tối cao. Vừa rồi ta bảo các ngươi nên
tự tìm lấy các ngươi là ta muốn nói như thế đó”. – Nói xong Ngài giảng cho
các thanh niên nhạc sĩ ấy về giáo lý vô thường vô ngã, trong bọn có một
người lớn tuổi tên là Ca Diếp đến sụp lạy trước mặt Ngài.
-
“Bạch Ðức
Thế Tôn, xin Ngài cho anh em chúng con được xuất gia theo đạo”.
Ðức Phật nhận lời.
HOÀNG HOA
“Làm việc với hai bàn tay trơn là người lao động, làm việc
bằng tay và bằng trí óc là người thợ khéo, vừa làm việc bằng tay, bằng trí
óc mà cũng vừa làm với tất cả tâm hồn đó là nhà nghệ sĩ.”
Giữ giới trong sạch
được nhiều phước báo
^
Ông trưởng giả họ Quách,
ở đất Phong Châu đời nhà Tấn, sanh được một người con trai đặt tên là Hữu
Chí, có tánh hiếu học lắm. Sau mười năm đèn sách, Hữu Chí luyện nghề văn
cũng được tiếng tăm, nhưng sở nguyện chưa thỏa mãn người bèn tìm thầy
chuyên thêm nghiệp võ.
Thấy con mình văn võ đã
kiêm toàn, ông trưởng giả mới lo đôi bạn cho con. Cưới vợ rồi, Hữu Chí
thường ở nhà lo đọc sách triết lý và tôn giáo. Nhận thấy chánh pháp của
Phật rất lợi ích cho đời sống của nhân loại, gã thanh niên hiếu học ấy đến
chùa cầu thầy cho thọ Tam quy và Ngũ giới. Nhà sư giảng dạy cho người mãn
phần Ưu Bà Tắc rõ tất cả sự lý Tam quy và chỉ rành rẽ thế nào là khai,
giá, trì, phạm của Ngũ giới. Hữu Chí từ đây quí trọng đạo Phật lắm, nhất
là giữ giới rất kỹ lưỡng, chuyên lo tu niệm đường tình ái có phần chừng
mực. Trái lại, người vợ chàng, nhan sắc thì quá lộng lẫy, tánh tình thì
cực kỳ phóng đãng, ưa sa hoa nay tiệc mai tùng... Lần hồi tình yêu chồng
phai lạt, tâm chán ghét bực bội hận thù tăng lên đến nỗi nàng dám tính mưu
này chước nọ hãm hại chồng để thỏa mãn lòng dạ của mình.
Một hôm, Hữu Chí được
tin bạn đồng học là Tuấn Anh, con của một quan tổng trấn ở biên thùy mời
chàng sang dinh chơi, nhân tiện người bạn ấy sẽ tiến dẫn với cha chàng
thâu dụng Hữu Chí vào giúp việc quân chính.
Hữu Chí thưa cho cha mẹ
hay và bàn tính với vợ sẽ vắng nhà một thời gian để đến dinh quan Tổng
trấn thăm bạn học cũ, vợ chàng thừa cơ hội ra tay: ác phụ làm năm cân mứt
chuối trong đó có chộn thuốc độc. Nàng vò viên để vào hộp kín đáo, ngoài
dán nhãn đề: “Thuốc giải lao thần hiệu” tặng cho chồng món quà hộ thân,
lúc đi đường xa vất vả.
Hôm sau, giã từ cha mẹ
và vợ, Hữu Chí mang hành lý cưỡi ngựa lên đường. Cứ ngày đi đêm nghỉ, trải
qua làng mạc, đồng nội, núi non... người kỵ mã thấy trong mình mỏi mệt
quá, nên khi trời vừa tối đến một cụm rừng già dẫy đầy cổ thụ, chàng bèn
xuống ngựa mở yên, để hành lý dựa gốc đa, rồi trèo lên cháng ba rộng lớn
nằm nghỉ.
Vì đi đường ròng rã mấy
ngày cực nhọc, Hữu Chí nằm ngủ một giấc ngon lành từ đầu hôm đến sáng,
không hay sự gì đã xảy ra dưới cội cây, trong đêm tối giữa rừng hoang. Sự
việc là như thế này: trong đêm ấy tại dinh quan Tổng trấn bị một mẻ trộm
lớn, mất nhiều rương quần áo, bạc vàng. Bọn cướp, sau khi ăn hàng trúng
mối xong, kéo nhau vào rừng, đến gốc đa chúng dừng lại nghỉ. Gặp hành lý
của Hữu Chí để dựa cội cây, chúng nó lục soát thấy hộp “Thuốc giải lao
thần hiệu” liền mở ra xem. Ðánh hơi thuốc có mùi thơm ngọt, chúng nó bắt
thèm, sẵn mỏi mệt và đói khát, chúng chia nhau ăn thuốc và uống nước không
chừa lại một viên nào. Một chặp sau, bọn cướp ấy, tất cả 50 đứa đều trúng
độc chết hết.
Vì thế, nên khi trời
sáng, lúc Hữu Chí từ trên cháng ba cây tuột xuống đất. Anh ta hết sức ngạc
nhiên thấy nhiều thây ma nằm ngổn ngang. Chung quanh đầy rẫy những rương,
xe, quần áo và vàng bạc. Dòm lại gói hành lý của mình, thấy bị mở ra và
hộp “Thuốc giải lao thần hiệu” đã sạch trơn, mà xác chết người nào cũng
bầm đen một màu, môi, miệng xưng vù, anh ta lấy làm băn khoăn, nghi ngại,
sợ hãi.
Ðứng trước một đám chết
khá to, không biết nguyên do vì đâu, với của cải từ rương này qua xe nọ,
một người Phật tử tại gia chân chánh như Hữu Chí bao giờ cũng thương xót
và kính nể. Thương vì chẳng rõ ai đành giết hại một lần cả 50 người không
sợ tội! Kính vì của cải rất nhiều nhưng không phải của mình nên không dám
nhận. Chàng mãn phần Ưu Bà Tắc liền bắt ngựa, gác yên lên lưng, buông
cương cho chạy nước lớn tìm nhà chức trách địa phương báo cáo. Ði gần được
hai mươi dặm đường, Hữu Chí trông thấy ở phía trước mặt mình có một toán
quân rầm rộ kéo đến. Chàng xuống ngựa, đứng nép một bên, chực chờ trình
báo.
Tuấn Anh người cầm đầu
toán quân, là con quan Tổng trấn, nhận ra bạn thân của mình liền hỏi: “Anh
Hữu Chí! Ði đường thế nào coi anh có vẻ kinh nghi quá vậy?.
Hữu Chí thuật lại việc
rùng rợn vừa thấy dưới gốc cây đa, chỗ chàng tạm làm nhà trọ một đêm và
mời bạn dẫn toán quân đến đó điều tra tường tận. Chàng nhảy lên ngựa, quày
lại dẫn đường Tuấn Anh và đoàn quân nối gót theo sau. Ðến rừng tại gốc đa
thì trời vừa đứng bóng, con quan Tổng trấn nhìn tất cả tài vật của mình đã
bị cướp đêm hôm qua, chỉ còn thiếu ít con ngựa nữa là đủ số. Tài gia một
mặt dạy quân lính đào một cái hầm to, chôn 50 tướng cướp, một mặt truyền
kẻ tùy tùng gom góp của mất lại. Công việc sắp xếp xong, Tuấn Anh mời bạn
hiệp cùng quân lính đi thẳng về dinh quan Tổng Trấn. Về đến nơi thì trời
đã hoàng hôn, Công tử phúc trình lại đầu đuôi, sự tìm được của và việc gặp
bạn hiền cho cha mẹ nghe. Tuấn Anh yêu cầu thân phụ trọng thưởng Hữu Chí
là người có công thứ nhất trong vụ tìm được của mất trộm. Quan Tổng trấn
liền bổ dụng Hữu Chí làm thiếu úy vệ binh. Phần đông các quan cũ đều bất
bình vì thấy Hữu Chí mới đầu hôm sớm mai mà làm được thiếu úy nên sanh
lòng ganh ghét.
Một thời gian sau, ở
làng kế cận ải biên thùy có nạn ác thú khuấy rối: một con sư tử khát máu
người đón đường nhiễu hại bộ hành làm cho dân chúng khủng khiếp. Nhân cơ
hội ấy, một nhóm quan liêu cũ có ý ngầm hại Hữu Chí, nên đồng có ý kiến
xin quan Tổng trấn cử tân Thiếu úy đi trừ ác thú, cứu nạn lương dân. Quan
Tổng trấn chấp thuận lời yêu cầu. Ngài hỏi quân lính có ai tình nguyện đi
theo giúp sức tân Thiếu úy hay không? Ai nấy đều nín thinh. Hữu Chí buộc
lòng phải can đảm một mình phụng mạng đi trừ ác thú.
Dọc đường chàng tự suy
nghĩ: mình đã phát tâm thọ Tam quy và ngũ giới, mà ngày nay vì phận sự bắt
buộc phải giết thú để cứu người. So bề lợi ích thì có phần hơn, nghĩ đến
chỗ phạm giới thì hổ thẹn, còn nhớ đến luật nhân quả lại càng sợ hãi. Chi
bằng nhân dịp này mình trở về quê vui với cảnh gia đình còn hơn. Mảng
đương suy tính, so lường, cân nhắc phân vân trong trí, tân Thiếu úy đã gần
ác thú ẩn núp mà chẳng ngờ. Sư tử đánh hơi người, phấn kích rống hộc vang
rền dường như sấm sét. Vì không muốn sát sanh, Thiếu úy thót lên cây, leo
tuốt lên ngọn, rút độc kiếm cầm tay tự vệ. Sư tử ở dưới đất nhảy dựng toan
vồ Hữu Chí, nó há miệng ngước đầu, hai chân trước chồm lên và gầm thét inh
ỏi. Ngồi trên cây lâu mỏi tay, Thiếu úy buông rơi lưỡi kiếm lọt ngay vào
miệng sư tử đứt họng dẫy dụa chết liền.
Một chặp, Hữu Chí leo
xuống mang xác sư tử về dâng cho quan Tổng trấn. Ngài rất hài lòng, hết
lòng thân mật khen ngợi Thiếu úy có tài và muốn cho dân chúng tán thán
công lao ấy, ngài truyền lịnh đặt bày một tiệc trước dinh khao thưởng
Thiếu úy.
Vài hôm sau, quan Tổng
trấn dâng sớ về trào vua xin ân tứ chức tước xứng đáng cho Hữu Chí. Chẳng
bao lâu, Thiếu úy được chiếu triệu về kinh, sung chức Trung úy, bổ vào
vương cung trọng dụng.
Vậy mới biết, phàm là đệ
tử Phật, bất cứ ở địa vị nào, hễ giữ giới trong sạch thì được nhiều phúc
báo.
TRƯỜNG LẠC
“Phật tử tuy ở xa ta nghìn dặm mà cố giữ giới luật của ta,
quyết sẽ đắc đạo; ở bên cạnh ta mà phạm giới, người ấy chẳng bao giờ thành
đạo cả”.
- o0o -
| Mục
lục tập 04 |
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi
Tính: Tâm Hòa, Hải Hòa
Cập
nhật : 01-10-2002