Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 4
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần 3
Quan Âm Thị Kính
(^)
Ngày xửa ngày xưa,
có một người trải qua nhiều kiếp, kiếp nào từ bé đến lớn cũng giữ mình đức
hạnh và thành bậc chân tu. Cứ luân hồi chuyển kiếp như vậy liên tiếp đến
chín lần, nhưng chưa kiếp nào đặng thành Phật.
Ðến kiếp thứ 10,
người này được thác sanh ở nước Cao Ly làm con gái một nhà họ Mãng, có tên
là Thị Kính. Nàng có vẻ người đầy đặn, mặt mũi dễ coi, tính tình điềm đạm.
Lớn lên, nàng thờ cha mẹ hết lòng, việc nhà việc cửa chăm lo rất đảm. Khi
đến tuổi lấy chồng, nàng được bố mẹ gả cho một anh chàng học trò họ Sùng
tên là Thiện Sỹ. Cũng giống như nhà vợ, bên nhà chồng cũng chẳng khá giả
gì. Thấy chồng chăm học, không chơi bời, Thị Kính không ao ước gì hơn,
nàng càng ra công tần tảo cho chồng dốc lòng nấu sử sôi kinh.
Một đêm, bên cạnh án
thư, Thiện Sỹ ngồi đọc sách, Thị Kính cũng ngồi may một bên, hai người
chung nhau một ngọn đèn dầu. Chồng học mãi thấy mệt mỏi, bèn ngả lưng
xuống giường, kê đầu lên đầu gối vợ chuyện trò một chốc rồi thiu thiu ngủ.
Thị Kính cố giữ yên lặng cho chồng yên giấc. Nàng có thì giờ ngắm kỹ khuôn
mặt tuấn tú của chồng. Bỗng nàng nhận ra ở cằm chồng có một sợi râu mọc
ngược. - “Ồ, sao lại có sợi râu xấu xí thế này, người ta bảo râu mọc ngược
là tướng bạc ác. Ta phải lén nhổ đi cho chàng mới được!” Nghĩ vậy, sẵn con
dao nhíp trong thúng khảo đựng đồ may, Thị Kính liền cầm lấy mở ra định
nhổ sợi râu, không ngờ lưỡi dao sáng loáng vừa đưa đến gần thì Thiện Sỹ
cũng vừa chợt tỉnh, trông thấy vợ tay cầm dao chĩa vào mặt trong lúc mình
chợt ngủ quên, Thiện Sỹ nghĩ ngay đến chuyện đen tối, liền vùng dậy nắm cổ
tay và la lên: “Chết thật! Nàng định cầm dao giết ta lúc đang ngủ ư?” Thị
Kính đáp: -“Không phải đâu. Thấy chàng có sợi râu mọc ngược, thiếp định
tâm lén nhổ nó đi kẻo trông xấu xí lắm!” Nhưng trong cơn nghi ngờ và hoảng
hốt, chồng nhất định không tin như vậy. –“Thôi thôi! Ðừng khéo chống chế.
Làm sao có chuyện nhổ râu khi ta đang ngủ. Muốn nhổ thì đợi ta tỉnh dậy,
hoặc ban ngày ban mặt có hay không?”.
Giữa lúc ấy, người
mẹ Thiện Sỹ nằm ở buồng bên cạnh nghe cãi nhau cũng xô cửa bước ra. Vừa
nghe con trai kể lại chuyện, bà đã mồm loa mép giải: -“Trời ơi! Con này to
gan thực! Dám đang tay làm những việc tày trời, may mà con ta trở dậy kịp,
không thì còn gì tánh mạng”. Thị Kính nước mắt giàn giụa cố gắng phân
trần: -“Mẹ nghĩ xem, con có thù vơ oán chạ gì mà phải làm như vậy. Chẳng
qua con muốn làm cho chồng đẹp mặt...” –“Rõ ràng mày định tâm giết chồng,
bị bắt hai năm rõ mười mà còn chối leo lẻo”. Người mẹ Thiện Sỹ chẳng ưa gì
nàng dâu nên một mực đổ riết. Thị Kính thấy giãi bày mãi không ăn thua,
nên ngồi xuống cúi đầu nức nở. Câu chuyện từ bé xé ra to. Cuối cùng gia
đình họ Sùng không muốn con cháu có nòi ác nghiệt, nên Thị Kính bị đuổi về
nhà bố mẹ đẻ.
Buồn chán cho số
phận éo le, một hôm nàng cải trang thành một chàng trai, nhân đêm tối bỏ
nhà, khăn gói ra đi. Nàng đi đi mãi, cố tìm trú ngụ một nơi cho thật xa
quê hương để xóa bỏ những ký ức đau xót. Sau cùng đến một tỉnh khác, ở đây
có chùa Vân, nàng tìm đến xin cạo đầu quy y. Sư cụ không biết là gái bèn
nhận cho làm tiểu, đặt là Kính Tâm. Sự đời đã tắt lửa lòng, từ đây nàng
yên tâm bạn cùng kinh kệ.
Nhưng tu hành ở chùa
Vân chưa được bao lâu thì một việc mới lại xảy đến với nàng. Tuy ăn mặc
nâu sòng, nhưng vẻ mặt của chú tiểu mới đã làm cho nhiều trái tim của các
cô gái làng thổn thức. Trong làng có Thị Mầu, con gái của một phú ông,
những ngày lễ chùa thấy tiểu Kính Tâm thì đem lòng yêu trộm nhớ thầm. Hai
ba phen bị khước từ, Thị Mầu càng si mê càng cố tìm cách quyến rũ. Sau đó,
tuy cá chẳng cắn câu, nàng vẫn không sao quên được chú tiểu. Quen thói
trăng hoa, Thị Mầu bèn tư thông với một người đầy tớ trai trong nhà. Qua
nhiều phen đi lại, không ngờ bụng ngày một lớn. Bị làng phạt vạ, cô gái
nghĩ rằng nếu thú thật thì chẳng hay ho gì bèn đổ riết cho tiểu Kính Tâm.
Vì thế tiểu Kính Tâm cũng bị làng đòi đến khảo tra. Nhưng dù bị đánh tơi
tả, nàng cũng không dám nhận liều cũng như không để lộ mình là gái. Sư cụ
chùa Vân thấy tiểu bị đòn đau thì thương tình kêu xin với làng nộp vạ, bảo
lãnh cho tiểu được tha về. Nhưng sợ miệng thế gian mai mỉa ô danh chốn
thiền môn, nên sư bắt tiểu phải chụm môt cái lều cư ngụ ở phía ngoài cổng
chùa. Nàng cam tâm nhận sự hành hạ này, cắn răng không hề van xin hay than
thở.
Thị Mầu sau đó sinh
được một trai. Ðã trót đổ vấy cho tiểu Kính Tâm, nên nàng lại đem đứa con
bỏ ở cửa tam quan. Kính Tâm lại thêm một phen bối rối. Nhận lấy đứa bé thì
không khác gì một hành động thú tội, mà không nhận thì làm ngơ sao đành
trước một đứa bé vô tội thế kia. Nhưng những tràng khóa oa oa của đứa trẻ
sơ sinh đã khiến nàng mất hết ngại ngần. Lập tức nàng bế đứa bé vào lều
chăm sóc, và từ đó ngày ngày một công việc mới choán hết thì giờ và tâm
trí của nàng, nàng phải bế nó đi xin sữa ở đầu làng cuối xóm. Mặc cho dân
làng kẻ cười người chê đến rát cả mặt, nàng vẫn âm thầm chịu đựng, tuyệt
không có lấy một lời oán thán.
Cứ như thế sau sáu
năm, nàng trông nom con người như con đẻ. Trong khi đứa bé ngày một sởn sơ
khôn lớn, thì sức nàng trái lại ngày một mỏi mòn kiệt quệ. Một hôm biết
mình không thể sống được nữa, tiểu Kính Tâm bèn viết một phong thư để lại
cho bố mẹ đẻ, trong đó nàng thuật lại đầu đuôi nỗi mình nhẫn nhục bấy
chầy. Lại dặn dò đứa bé sau khi mình chết đi thì trao thư lại cho Sư cụ
trên chùa.
Khi khâm liệm, mọi
người mới hay tiểu Kính Tâm là đàn bà, và ai nấy đều nhận thấy rằng sự
chịu đựng của nàng từ bấy đến nay quả là cùng cực. Ðể tỏ lòng hối hận, sư
cụ chùa Vân bèn cho lập một đàn chay cầu cho nàng được siêu sanh tịnh độ.
Dân làng còn bắt Thị Mầu phải để tang và bắt phải trả mọi chi phí ma chay.
Hôm cử hành đàn chay, thì trên trời, giữa một đám mây năm sắc, Ðức Phật
Thiên Tôn hiện ra phán truyền cho Kính Tâm thành Phật Quan Âm.
Ngày nay, để chỉ cho
mối oan to lớn, người ta thường bảo : “Oan
Thị Kính” là từ truyện này mà ra.
Nguyễn Ðỗng Chi
(Truyện cổ Việt Nam tập VI)
“Ai nhẫn được
những điều khó nhẫn,
Làm được những
giới hạnh khó làm,
Người đó chắc
chắn được thành Ðạo quả”.
Nhân quả của sự bố thí
(^)
Thuở Ðức Phật còn ở
đời, giáo hóa chúng sanh, có một vị Trưởng giả rất giàu, kho tàng dẫy đầy,
tôi tớ đông đảo, Trưởng giả ấy là em của Ngài Ðại Mục Kiền Liên.
Một hôm, Tôn giả Mục
Liên đến nhà em, bảo rằng: “Tôi nghe chú không ưa bố thí, điều ấy rất
không tốt.” Ðức Thế Tôn thường dạy: “Người nào hay bố thí, sẽ được hưởng
phước báo không lường”. Nay chú được giàu sang như thế này, là do công đức
huệ thí từ kiếp trước. Nếu chú cứ ôm lòng lẩn tiếc chẳng những hưởng phước
không được bao lâu, mà đời sau do nghiệp bỏn xẻn sẽ mang thân ngạ quỷ,
khốn khổ vô cùng.
Nghe lời anh dạy,
Trưởng giả mở rộng kho tàng, cúng dường Tam bảo châu cấp cho kẻ nghèo
thiếu. Trong khi ấy, ông lại cất thêm kho vựa mới, ý muốn thâu chứa, những
của cải, mình sẽ được do phước bố thí, nhưng chưa được bao lâu thì tiền
của tiêu mòn, kho cũ đã hết, mà kho mới cũng trống trơn, trưởng giả sanh
lòng ảo não, đến thưa với Ngài Mục Liên rằng: Khi trước anh bảo: “Bố thí
sẽ được nhiều phước báo” tôi không dám trái lời dạy, đem tất cả ra làm
việc phước đức, nay kho tàng đã hết sạch, nhưng phước báo đâu không thấy,
hay là tôi đã bị lầm lạc vì anh chăng?”
Tôn giả Mục Liên
bảo: “Chú chớ nên nói lời ấy! Chớ nên gây tà kiến cho những kẻ ngu mê! Nếu
phước đức đều có hình tướng, thì cảnh giới hư không, dung chứa vào đâu cho
hết. Tuy nhiên, nếu chú muốn, tôi có thể chỉ cho thấy một phần ít quả báo
của sự bố thí. Nói đoạn, ngài Mục Liên dùng sức thần thông đem em lên đến
một phương vức ở cõi trời. Nơi đây, một bầu trời thế giới trân kỳ hiển
hiện: Lầu các rộng rãi bao la, cảnh trí vui tươi sáng suốt, ao thất bảo
gió thơm thanh khiết, hoa Mạn Ðà vẻ đẹp thần tiên! Trưởng giả mục kích
sững sờ, ngơ ngẩn, nhìn đông quên tây, lại thấy từ trong cung điện lộng
lẫy, chậm rãi đi ra một đoàn ngọc nữ. Trưởng giả liền hỏi anh rằng: “Ðây
là cảnh nào mà phong cảnh xinh tươi như thế? Sao tôi chỉ thấy toàn là
người nữ, không có nam nhơn? “Tôn giả Mục Liên bảo: “Chú hãy đến hỏi ngay
mấy nàng kia, sẽ được biết rõ”. Trưởng giả đem những lời ấy hỏi, thiên nữ
đáp: “Ðây là cung trời Ðao Lợi, chúng tôi ở chốn này đã lâu hưởng phước tự
nhiên, những thức ăn mặc tùy niệm hiện ra, không cần phải nhọc sức tạo
tác. Bao nhiêu cung điện và tất cả sự trang nghiêm tốt đẹp nơi đây, cho
đến sắc thân thanh khiết xinh tươi của chúng tôi, đều là kết quả của sự bố
thí. Ngài muốn biết ngài trượng phu của chúng tôi ư? Người ấy không ai xa
lạ, chính là những vị nào siêng tu phước đức. Hiện nay, ở cõi nhân gian,
về xứ Ca Tỳ La Vệ, Tôn giả Mục Liên vị đệ tử thần lực của Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni có một người em ưa bố thí, người ấy không bao lâu mạng chung, sẽ
thác sanh lên đây và sẽ là người chủ quản của chúng tôi sau này”.
Nghe thiên nữ nói,
trưởng giả bỗng nhiên vui mừng khấp khởi, cảm phát lòng lành, liền trở về
chỗ Ngài Mục Liên thuật lại mấy lời ấy. Tôn giả mỉm cười, hỏi gạn lại:
“Thế nào? Sự bố thí có phước báo hay không? “Trưởng giả hổ thẹn, sám hối.
Sau khi trở về nhân gian, ông lại càng bố thí nhiều hơn và khuyến khích
người khác làm theo, không lúc nào biết chán nản.
*
Thuở xưa, ở thành Xá
Vệ có Vị trưởng giả, một ông tên là Tối Thắng, một ông tên là Nan Hàng. Cả
hai đều rất giàu có, bảy báu đầy đủ, voi, ngựa, xe cộ, tôi trai, tớ gái
đông đúc, ruộng vườn sự sản vô cùng to tát. Nhưng, về tánh tham lam, bỏn
xẻn của hai ông này, ở trong nước thật không ai hơn. Trưởng giả Tối Thắng
cũng như Nan Hàng, mỗi ông đều xây tường thành cao, làm bảy lớp cửa, dặn
gia nhân đừng cho kẻ ăn xin vào nhà. Chưa lấy thế làm đủ, hai ông còn sắm
những tấm lưới sắt che giăng khắp trên sân, vì sợ loài chim bay xuống mổ
lúa thóc. Cho đến các kho vựa, cũng đều làm bằng sắt, quyết không để loài
chuột xoi khoét vào cắn phá đồ vật.
Nghe tiếng hai ông
trưởng giả keo bẩn, năm vị đệ tử lớn của Ðức Phật tuần tự nhau dùng phép
thần thông, phân thân đi đến mỗi nhà, từ dưới đất bay lên, thuyết pháp
giáo hóa. Nhưng kết cuộc, hai ông trưởng giả chẳng nghe lời giảng dạy. Sau
rốt, Ðức Phật cũng dùng phép phân thân đi đến, hiện thần lực, ngồi nằm
giữa hư không, phóng ánh sáng rực rỡ soi khắp mọi nơi, nói ra pháp màu
nhiệm, hai vị trưởng giả tai nghe, nhưng còn chưa hiểu thấu đều tự nghĩ
rằng: “Nay Ðức Thế Tôn đã đến nhà, ta không nên để cho Ngài về không” nghĩ
như thế, mỗi ông tự vào kho lấy vải để đem ra cúng Phật. Vì còn nặng lòng
tham tiếc, hai ông định lựa vải xấu, nhưng lấy lầm phải thứ tốt, khi trở
vào đổi, lại lấy thứ khác tốt hơn. Bây giờ, cả hai tâm ý phân vân, nửa
muốn đem ra, nửa muốn cất vào, băn khoăn không nhất định.
Lúc ấy, Ðức Phật
dùng thiên nhãn xem thấy chư thiên đang đánh với A Tu La, khi được hơn khi
bị thua, kia là quả báo của tâm trạng hơn kém trong khi bố thí. Ðức Thế
Tôn lại quán sát, đến tâm của hai vị trưởng giả, thì thấy lúc có tâm bố
thí hơn, tâm bỏn xẻn thua, có lúc tâm bỏn xẻn hơn, tâm bố thí thua, Ngài
liền nói bài kệ rằng:
“Bố thí như chiến
tranh
Ðiều ấy Phật không
khen
Khi thí là khi đánh
Hai việc ấy đồng
nhau”.
Hai vị trưởng giả
nghe xong, trong lòng hổ thẹn, cho rằng Ðức Phật đã nói ngay tâm trạng của
mình, mỗi vị đều đem vải tốt ra dâng cúng Phật. Cúng dường xong, cả hai
tâm trí sáng suốt, đều chứng được đạo quả.
Trí Hiền
“Làm gì có sự
lũng đoạn về kinh tế, người bóc lột người, một khi nhân loại đã thật hành
tài thí”.
Túi tham không đáy
(^)
Vào thời quá khứ xa xưa, ở Diêm Phù Ðề có vị Chuyển Luân
Thánh Vương tên Ma Ða Tu ngự trị. Ngài oai quyền tột bực, thống lĩnh cả
bốn châu thiên hạ, gồm có tám muôn bốn ngàn vị tiểu vương chư hầu.
Tuổi thọ của chúng
sanh thời ấy đến vô số năm. Ðức vua lại có quyền phép thần thông biến hóa
không lường, ngài chỉ cần vỗ tay nhẹ thì mưa bảy báu rơi xuống ngay.
Thuở ấu niên hoa
mộng, Ðức vua nô đùa thỏa thích trong vòng tám muôn năm, đến khi trưởng
thành vào khoảng tám muôn bốn ngàn tuổi được vua cha giao quyền nhiếp
chính. Giữ chức nhiếp chính hết tám muôn bốn ngàn tuổi thì được chính thức
đăng quang lên ngôi Chuyển Luân Thánh Vương thật thụ.
Trải qua một thời
gian dài, tám muôn bốn ngàn năm đằng đẵng ngự trị trên ngai vàng, nhưng
đức vua Man Ða Tu luôn luôn cảm thấy không hài lòng với hiện tại, một hôm
ngài phán hỏi các cận thần:
- Này chư hiền
khanh, có nơi nào nhiều lạc thú đặc biệt hơn những gì trẫm đang tận hưởng
không?
Các quan đồng tâu
rằng:
-
Muôn tâu Hoàng Thượng, những thú vui ở trần gian quả thật không có
bao nhiêu để bệ hạ tận hưởng xứng đáng với ngôi vị Chuyển Luân Thánh
Vương. Duy chỉ có cung trời Tứ Ðại Thiên Vương đặc biệt hơn cả có đủ mọi
lạc thú thần tiên thật xứng đáng để bệ hạ tận hưởng.
Ðức Vua Man Ða Tu
khi đã nghe qua các quan đồng tâu như thế rất đẹp ý, liền lấy vòng Chuyển
Luân Thánh Vương đưa lên ba lần. Lạ thay, đức vua cùng bá quan trong nháy
mắt đã hiện trên cõi trời Tứ Ðại Thiên Vương. Chư thiên trong cõi Tứ Ðại
Thiên Vương thấy đức Man Ða Tu ngự đến bèn mang lễ vật hoa hương đến cúng
dường, đồng thời kính dâng lên đức vua tất cả cõi trời Tứ Ðại Thiên Vương.
Ðức vua Man Ða Tu
ngự trị và tận hưởng lạc thú thần tiên ở cõi Tứ Ðại Thiên Vương rất lâu
vào khoảng tám muôn bốn ngàn năm của thế gian.
Tuy vậy Ðức vua cũng
chưa cảm thấy đủ với những lạc thú ở cõi Tứ Ðại Thiên Vương. Một hôm, đức
vua gọi Tứ Ðại Thiên Vương vào hỏi:
-
Này Ðại Thiên Vương còn có nơi nào có nhiều lạc thú đặc biệt hơn
cõi mà ta đang hưởng đây không?
Tứ Ðại Thiên Vương
đồng tâu rằng:
-
Muôn tâu Ðại Vương của bốn châu thiên hạ, nơi đây những lạc thú
chẳng khác chi cõi người, chỉ có những thú vui nơi cung trời Ðao Lợi mới
tuyệt vời gấp trăm, gấp ngàn lần cõi này.
Ðức Vua Man Ða Tu
rất đẹp lòng liền cầm vòng Chuyển Luân Thánh Vương đưa lên ba lần trong
phút chốc đức vua Man Ða Tu và triều thần đều ngự lên cõi trời Ðao Lợi.
Ðức Ðế Thích thấy
vua Man Ða Tu đến, bèn mang hương hoa cúng dường, đồng thời xin cống hiến
phân nửa cõi trời Ðao Lợi cho vua.
Nơi đây, vua Man Ða
Tu trị vì tận hưởng mọi lạc thú thần tiên một thời gian gần như vô tận,
trải qua ba mươi sáu đời Ðức Ðế Thích, nhưng ngài vẫn tỏ ý chưa hài lòng.
Một hôm, đức vua nẩy
sinh tà tâm, ngài thầm nghĩ rằng: “Nếu ta giết Ðức Ðế Thích thì một mình
ta sẽ ngự trị trọn vẹn cảnh trời Ðao Lợi này mới xứng đáng địa vị Chuyển
Luân Thánh Vương thì ta tha hồ tận hưởng”.
Một ý nghĩ độc ác dù
chỉ thoáng qua bỗng nhiên Man Ða Tu cảm thấy những triệu chứng bất thường:
Suy yếu, mỏi mệt, sức lực kiệt quệ, như cây đèn sắp tắt, không thể chung
sống lẫn lộn cùng các chư tiên đưọc nữa. Thế là Ðức vua phải giáng trần
ngay vườn thượng uyển của mình khi xưa.
Người giữ vườn bỗng
nhiên thấy Ðức vua Man Ða Tu ngự trong vườn một mình, vô cùng ngạc nhiên,
vội vã vào triều phi báo tự sự.
Ðức vua trưởng dòng
họ khi hay tin vua Man Ða Tu trở về lấy làm hoan hỷ, lập tức thân hành đến
vườn thượng uyển cùng với tám muôn bốn ngàn tiểu vương chư hầu mang long
xa và long sàng đến đón rước đức vua về triều đình.
Ðức vua từ từ trỗi
dậy ngự trên long sàng, tuyên bố với mọi người rằng:
-
Ta không rời chiếc long sàng này được nữa. Vậy xin các ngài hãy lưu
ý rằng sự tham muốn của con người thật vô bờ bến, không bao giờ chấm dứt
được. Nếu sau này có ai hỏi khi đức vua sắp thăng hà có trối lại những gì
không thì các ngài hãy truyền lại lời ta rằng: “Ta đã được bảy báu, đã
được bốn châu thiên hạ, đã được ngồi chung với trời Ðao Lợi, cai quản một
nửa cung trời, nhưng khi chết lòng tham vẫn chưa thỏa”.
Ðức vua tuyên bố
xong liền thăng hà được thọ sanh nơi lạc cảnh.
Vào thời quá khứ xa
xăm, tiền kiếp của vua Man Ða Tu là một người may mướn vá thuê rất nghèo
túng. Thuở ấy, thời giáo pháp của Ðức Phật Tỳ Bà Thi, rất được quảng đại
quần chúng qui ngưỡng, chùa chiền bảo tháp vô cùng nguy nga tráng lệ được
xây dựng và hộ trì rất nghiêm cẩn.
Hàng vạn Phật tử
cùng nhau đến chùa nghe pháp, trai tăng rất long trọng. Chàng thanh niên
may thuê thấy mọi người thi nhau đến chùa làm phước lòng rất nôn nao muốn
góp phần công đức, nhưng xét đi xét lại không thấy món chi xứng đáng nên
chỉ biết than thầm.
Một hôm, buổi trai
tăng được đến với chư Tỳ kheo tăng, dưới sự chứng minh tối cao của Ðức
Phật. Gã thanh niên cơ hàn, cầm lòng không đậu, cất tiếng than rằng:
-
Than ôi! Ta là người bạc phước nhất trên thế gian này, ta chẳng có
một vật mọn nào để cúng dường Ðức Phật và chư Tỳ kheo tăng để gieo duyên
lành. Nhưng đây cũng là dịp may hiếm có để thử thách ta, nếu ta không dõng
mãnh phát tâm thì biết bao giờ mới có đủ nhân duyên như thế này. Kiếp này
ta đã khốn khổ, nếu không chịu tích trữ phước đức dành cho kiếp sau thì
biết bao giờ ta mới thoát khỏi cảnh khốn cùng.
Ngày hôm ấy, anh cố
gắng nỗ lực may vá không ngừng, dành dụm được vài chục đồng, thì giờ trai
tăng đã đến. Gã không biết cách nào hơn chạy vội đi mua một nắm hạt đậu và
một nắm hạt mè, lòng tràn ngập hoan hỷ, trong ý định sẽ để vào từng bát để
cúng dường đến Ðức Phật và chư Tỳ kheo tăng.
Trên đường đi đến
nơi Ðức Phật và chư Tỳ kheo tăng đang ngự, bỗng gã cảm thấy tủi thân khi
nhìn thấy những bộ y phục sang trọng cùng những mâm lễ vật qu ý giá đến để
bát, ai ai cũng hớn hở tươi cười, chỉ riêng anh là buồn rười rượi. Anh cố
gắng đến gần nơi chư Tăng nhận vật thực với hy vọng sẽ dâng cúng đậu và mè
vào bát chư Tăng, nhưng chỉ hoài công, mọi người không cho chàng vào vì
nghĩ rằng chàng thanh niên này quá nghèo. Thật tấn thối lưỡng nan, dừng
lại một lát anh than thầm rằng:
- “Thế là hết, ta đã
mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, vậy ta cứ đứng đây ném vào từng hạt nếu
chỉ rơi vào bát của một vị thôi ta cũng hữu duyên lắm rồi”.
Suy tư xong, gã bắt
đầu ném từng hạt, kỳ diệu thay, phi thường thay cho tâm thành khẩn, do
nguyện lực vĩ đại, những hạt đậu, hạt mè đều rơi vào bát của chư Tỳ kheo
tăng và Ðức Phật.
Khi được nhìn thấy
hiện tượng kỳ diệu ấy, anh phát tâm trong sạch gấp trăm ngàn lần hơn nữa,
lập tức quỳ xuống phát nguyên rằng:
-
“Do oai đức của sự cúng dường này, trong kiếp vị lai, con nguyện sẻ
trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương để tận hưởng mọi lạc thú trên cõi
đời, nếu con vỗ nhẹ tay thì mưa bảy báu sẽ rơi xuống ngay, con xin đừng
sai nguyện bao giờ”.
Gã thanh niên ấy,
sau khi hết tuổi thọ được sanh về cõi trời rất lâu, cho đến khi vào sơ
nguyên kiếp này được thọ sanh làm hoàng tử con vua Ka Ba Ya Na Ra Ða, mang
tên là Man Ða Tu vậy.
Thật: Sự tham lam
của con người vô cùng tận.
Giới Ðức
“Người có tiền rừng bạc bể mà vẫn còn ham muốn, họ chính là người “Nghèo”.
Trái lại, người tuy có ít tiền bạc, nhiều khi túi rỗng không, nhưng cảm
thấy mình đầy đủ, người này chính là người “Giàu”.
Chiếc gương soi trong tráp báu
(^)
Thuở xa, ở một làng
cách xa đô thị, có anh chàng rất nghèo, tên là Ngốc. Danh từ “Ngốc” ấy,
xét ra cũng có phần phù hợp với tánh nết của anh nhưng có lẽ vì anh quá
nghèo, khi đi vay hỏi, người trong làng thường khinh mắng, xua đuổi, mà
anh vẫn lặng thinh như thằng ngốc, nên do đó thành danh chứ làm cha mẹ ai
nỡ đặt tên cho con cái tên xui xẻo như thế bao giớ! Tuy trong làng xóm cho
đến người thân thuộc đều chán sợ khi thấy dạng anh lù lù đến nhà, song vì
anh nài nỉ van xin lắm lời, cũng có kẻ động lòng thương cho mượn. Nhưng,
một khi mượn thì quyết không trả nổi, cho nên anh mắc công nợ khắp đó đây.
Vì thế, anh lại được thêm một tên nữa là ông “Tổ nợ”.
Một ngày nọ, các chủ
nợ đến đòi hỏi ráo riết quá, người thì thét mắng, kẻ thì nhẩy bổ lại xé
rách cả quần áo, song anh vẫn ngồi ỳ ra đó mà chịu, không nói năng được
nửa lời. Ðêm ấy, anh nằm gác tay lên trán, hết thương thân tủi phận, lại
chán cảnh, sợ đời! Thôi! “Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn?” Suy tới
nghĩ lui, liệu ở nán lại chắc không tiện, anh liền thu xếp áo quần và chút
ít lương thực rồi vội vã trốn đi, trong lúc trời chưa rạng sáng. Ngày đi
đêm nghỉ, lận đận vượt qua miền gió cát, ba hôm sau, anh đến một vùng nước
non thanh tú, và nhất định ở đấy suốt đời. Nơi đây, anh thấy an nhàn, vui
vẻ, đói ăn trái rừng, khát uống nước suối, riêng tiêu dao trong khoảng
trời mây, cây cỏ, cuộc đời kể cũng đã thần tiên lắm! Có những buổi chiều,
khói mù giăng ngang sườn núi, chim hôm xao xác về rừng, anh ngồi thẫn thờ
như ôn lại quãng đời dĩ vãng! Có những đêm trăng khuya bàng bạc, gió lá rì
rào, anh thức giấc lặng nhìn mấy dãy non xa in bóng qua nền trời mờ xám,
như những búp măng non, mà thấy mình như vượt khỏi trần ai tâm trí vô cùng
thanh thoát! Phong cảnh nơi đây thật là đẹp! Xa xa, dòng suối róc rách
trong khe, như tiếng cười chào hỏi. Và đây, trăm thứ hoa đua nở khoe tươi,
như ân cần đón rước, tất cả ngần ấy làm cho anh thỏa thích, xóa tan bao
nỗi nhục trong thời gian qua. Nhưng một buổi sáng, cảm thấy trong lòng
phiền muộn, chàng Ngốc thơ thẩn dạo chơi. Cảnh thiên nhiên tươi đẹp như
dẫn dắt người, anh vui chân bước mãi, bất ngờ đi đến một động đá, trông
vào đấy, Ngốc thấy một vật gì đen dài điểm sáng phản chiếu dưới ánh nắng
trời mai. Anh lại gần nhìn xem, thì là một cái tráp bằng gỗ, có khảm bạc.
Tánh tọc mạch, háo kỳ, xui cho Ngốc loay hoay tìm cách mở. Một hồi lâu,
sau khi mở được cái tráp ra, bỗng anh hoa mắt, sửng sốt, vì trong ấy chứa
đầy những vòng vàng, châu ngọc quí giá, anh mân mê, hết cầm viên ngọc này,
đến nắm xâu chuỗi khác, say sưa nhìn ngắm! Lần lượt xem hết từng món sau
cùng, Ngốc thấy dưới đáy tráp có cái gì tròn đẹp, chung quanh khảm vàng,
khoảng giữa long lanh chói sáng. Ðấy là một chiếc gương soi, nhưng vốn là
kẻ tối tăm quê dốt, Ngốc vẫn ngờ nghệch không hiểu biết. Cầm chiếc gương
lên xem, anh thấy trong ấy có người râu tóc rậm đen, gương mặt xấu xa ra
dáng hung dữ lắm! Không biết người trong gương chính là bóng của mình.
Ngốc bỗng sinh ra luống cuống sợ hãi, tưởng vị hung thần nào, vội chắp tay
lấp bấp nói: “Tôi tưởng chỉ riêng một mình tôi, không ngờ lại có ngài ở
đây coi giữ những của báu này, tôi “thật tình” không dám tham lấy, xin
ngài đừng nổi giận bắt tôi tội nghiệp!”.
Nói xong, tưởng như
mình đã phạm một lỗi nặng đối với thần, không kịp thu xếp đồ đạc, chàng ta
vụt đứng dậy chạy bán sống bán chết không dám quay đầu trở lại...
Trí Hiền
“Ðời là mộng sao
ta còn mê mải
Tấm thân này do
tứ đại hóa duyên
Ðưa ta trong
biển khổ triền mi
ên
Mà cứ tưởng sống
trên đường hạnh phúc!”
Ðức Phật vào xem một gánh hát
xiệc
(^)
Bên Ấn Ðộ, về thời
xưa cũng như hiện nay, thường có những buổi họp chợ, những cuộc lễ Tôn
giáo và những trò xiệc ngoài trời. Ðó là những dịp cho đàn ông, đàn bà và
con trẻ, chải chuốt trong những bộ cánh đẹp nhất, hội nhau để dự vào các
cuộc lễ tôn giáo, hoặc để mua vui và tiêu khiển với những trò biểu diễn vế
sức mạnh và sự lanh lẹ. Ðó cũng là những dịp để tô điểm đôi chút cuộc đời
phẳng lì của họ, vừa hiến cho họ cơ hội gặp gỡ bạn bè, trao đổi tư tưởng
và sống những giờ vui vẻ ngoài trời.
Thành Vương Xá
(Rajagaha) tưng bừng, nhộn nhịp. Một gánh “Xiệc” dạo đã đến đây, với một
đoàn người nhào đu danh tiếng. Dân chúng tụ họp cả ngàn để xem những trò
biểu diễn lạnh xương sống của các nghệ sĩ ấy. Trong đám khán giả, có một
thanh niên giàu có tên là Uggasena. Cũng như mọi người chàng đứng xem mê
các trò của gánh xiệc và nhìn mãi không chán những thân hình cân xứng. đẹp
đẽ của các nghệ sĩ. Nhưng điều làm cho chàng để ý nhứt là cuộc biểu diễn
của một thiếu nữ, mà vẻ thùy mị và dịu dàng đã làm cho chàng xiêu lòng.
Chàng tự bảo: “’Thôi rồi! Giờ phút này, phải chăng tôi đã trở thành một
con nai, luôn luôn bị những ước vọng theo đuổi như một đoàn chó săn hung
tợn?”.
Ước vọng đó không
những theo đuổi chàng mà còn bồng bột hơn trăm lần trong khi chàng uể oải
lần bước trên con đường về nhà. Thế rồi cái nhà êm ấm của chàng không còn
êm ấm nữa, cái giường mà bấy lâu chàng nằm xuống là ngủ thẳng một giấc,
không còn duyên dáng và êm thấm nữa. Trước cử chỉ thay đổi bất thình lình
của chàng, cha mẹ chàng đâm ra hoảng hốt. Lần lần nỗi lòng thầm kín của
chàng được tiết lộ. Cha mẹ chàng tìm đủ phương kế làm cho chàng đổi sầu ra
vui, nhưng vô hiệu quả. Rốt cuộc, chàng cưới cô đào hát và theo gánh xiệc
trôi nổi giang hồ.
Về sau, vợ chồng ăn
ở với nhau được một mụn con. Lần hồi sự khắng khít buổi đầu giảm bớt. Thấy
chồng không làm gì được cả, bà vợ không ngớt trách móc và ngạo báng. Không
thể chịu nổi nữa những tiếng bấc giọng chì và tình phai lạt của vợ. Về
sau, chàng tập nghề nhào đu và trở nên một nghệ sĩ trứ danh. Chàng bèn tự
tay lập một gánh xiệc dạo và đi từ thành này đến thành khác diễn trò.
Một hôm có tin đồn
chàng Uggasena và đoàn xiệc của chàng sẽ đến diễn một buổi tại thành Vương
Xá. Lúc ấy, Phật đang trú tại tịnh xá Vehivana, trong thành này, như
thường lệ, Ngài nhập định và phóng quang soi khắp tam thiên thế giới. Ngài
chiếu thấy căn cơ của Uggasena là bậc có thể lãnh thọ giáo pháp của Ngài
có hiệu quả. Thế rồi, sáng hôm ấy, Ðức Phật cùng các hàng đệ tử sắp hàng
vào thành khất thực. Dọc đường, thấy công chúng đang nhóm nhau xem gánh
xiệc của Uggasena biểu diễn, Ngài bèn dừng bước lại. Bao nhiêu con mắt đều
đổ dồn vào Ngài, quên xem hát. Uggasena rất ngạc nhiên và phẫn uất. Chàng
tưởng cho tài nghệ đã đến lúc xế chiều, vì chàng đang diễn cái trò hay
nhất của chàng, nhận thấy những ý niệm đang quay quần trong đấu óc chàng,
Ðức Phật bèn đọc một bài kệ:
“Hãy xả những việc
sẽ đến, hãy xả những việc đã qua.
Hãy xả những việc
trong hiện thời, hãy bước sang bờ bên kia.
Nếu lòng ngươi được
giải thoát mọi nỗi ràng buộc,
Ngươi không còn trôi
giạt trong dòng sanh tử nữa”.
Nghe kệ xong,
Uggasena ngộ đạo và được Phật cho nhận vào hàng đệ tử...
Ðại Ðức SHANTI BHADRA
(Tích Lan)
“Ðời ngũ trược con thề vào
trước
Dù gian nguy chí cả không sờn
Cứu chúng sanh
là báo Phật thâm ân
Lời vàng ngọc
con hằng ghi dạ”.
- o0o -
| Mục
lục tập 04 |
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi
Tính: Tâm Hòa, Hải Hòa
Cập
nhật : 01-10-2002