Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 3
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần mười
hai
Sự tích ông bình vôi
(^)
Ngày
xưa, có một người con gái con một nhà giàu có. Cô rất đẹp nhưng cũng rất
kiêu. Cô đã từng làm cho các bạn gái xa lánh mình. Cô làm cho các bạn trai
ghét cô vô hạn. Cũng vì thế đến khi tuổi lấy chồng, cô gái vẫn chưa có đám
nào vừa ý. Chàng trai nào cũng bị cô sổ toẹt, vì “cao chê ngõng, thấp chê
lùn, béo chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn bày ra”.
Nhưng
rồi cô cũng lấy được chồng. Chồng cô yêu vợ nhưng lại bực mình vì thói
ghen của vợ. Cô ghen chồng làm cho xóm giềng luôn luôn cau mặt vì những
lời qua tiếng lại của họ. Cuối cùng hai người không vừa ý nhau và ly dị.
Buồn bực vì duyên phận, cô bỏ đi tu.
Cô
xuất gia ở một ngôi chùa cổ trên núi suốt hai mươi năm. Những con chim,
con thú rừng hầu như quen thuộc bóng dáng của người sư nữ. Hai mươi năm
qua cô vẫn chưa đắc đạo. Cô thắc mắc, vì tự cho mình thông kinh kệ hơn
người và chịu đủ mọi khổ hạnh của nhà thiền. Một ngày kia cô quyết định
sang Tây Trúc một phen để tìm cho ra lẽ. Ðường sang Tây Trúc thiên nguy
vạn hiểm nhưng cô quyết định đi cho bằng được.
Một
hôm, sau khi vượt qua một trái núi, sư nữ tìm vào một ngôi nhà hẻo lánh
dọc đường để nghỉ chân. Hai mẹ con tuy người rừng núi quê mùa nhưng vốn là
kẻ ăn chay niệm Phật, nên thấy khách là nhà tu hành thì tiếp đãi rất hậu.
Khi họ được nghe kể công trình tu luyện của sư nữ thì họ càng cung kính,
coi như bậc thầy. Và khi họ biết ý định của sư nữ thì họ cũng xin phép bỏ
nhà bỏ cửa đi theo thầy để mong được đắc đạo. Nghe họ cầu khẩn, sư nữ
cười: “Hai mẹ con nhà này cũng muốn thành Phật ư? Ðược cứ theo ta!” Nhưng
bụng nàng bảo dạ:-“Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt
ngoài bờ tre”.
Từ hôm
đó nhà sư nữ có thêm hai người bạn đồng hành chân bớt mỏi, đường bớt dài,
họ đi chả mấy chốc mà đã tới đất thánh. Từ trước đến sau, hai mẹ con nhà
nọ vẫn cung kính, coi sư nữ như thầy. Còn sư nữ đối với họ không được như
trước:-“Không biết chừng họ thành Phật trước ta. Họ sẽ hơn ta… Bọn này mà
đắc đạo, thật là một điều nhục cho thiền môn”.
Nói
chuyện Ðức Phật khi vừa hay tin có người tìm đường đến Tây Trúc cầu đạo,
vội hóa thân đi theo dõi. Từ đầu đến cuối, đức Phật vẫn không bỏ sót một
lời nói, một cử chỉ nào của sư nữ. Khi họ sắp qua một con sông rộng, đức
Phật hóa phép hiện ra ở bên kia bờ một tòa cổ tự, trước cửa có một cây bồ
đề lớn để chờ họ.
Muốn
cho hai mẹ con khỏi lẽo đẽo theo mình đến đất Thánh, nên khi qua sông sư
nữ giả cách ngạc nhiên, chỉ ngôi chùa và cây bồ đề mà bảo rằng:
- Kìa,
chúng ta đã tới Tây Trúc. Chóng thật! Chính là cây bồ đề của đức Thế Tôn
tu luyện ngày xưa. Thôi! Hai mẹ con cứ việc trèo lên một cành cao niệm
kinh rồi buông tay rơi xuống tức khắc thành Phật!
Tin
tưởng ở lời nói của bậc thầy, hai mẹ con mừng rỡ làm theo không chút ngần
ngại. Nhưng khi họ buông tay cho người rơi xuống thì đức Phật đã đón họ
đưa lên trời. Có bốn vị A La Hán mang tòa sen đến rước đi. Tay hai mẹ con
vẫy vẫy như có ý gọi người bạn đồng hành.
-
“Ðúng họ thành Phật rồi! Sư nữ vừa kinh ngạc vừa mừng, vội trèo lên cây để
làm như họ. Nhưng đức Phật đã có ý trừng phạt người đàn bà kiêu ngạo và
độc ác ấy một cách đích đáng, nên đã để cho cái xác rơi thịch xuống đất,
tan xương vỡ sọ. Và sau đó đức Phật lại bắt người khốn nạn ấy hóa thành
bình vôi. Tại sao lại cho hóa thành bình vôi. Có người bảo chính là đức
Phật muốn bắt những kẻ trong lòng bất nhân, nhưng lại đeo bộ dạng từ bi
phải để cho người đời luôn luôn móc ruột.
Nguyễn Ðổng Chi
Truyện cổ Việt Nam tập II
“Một kiếp không tu muôn kiếp khổ,
Một đời vô đạo vạn đời sầu”.
Oan nghiệt
(^)
Thuở
xưa, vào thời chánh pháp của đức Phật Thích Ca, tại một nơi nọ có một vị
trưởng giả giàu có. Vị này có hai người vợ, người vợ lớn không con, người
vợ nhỏ sinh được một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, cả gia đình nhờ thế mà
sinh vui vẻ.
Khi ấy
người vợ lớn sinh lòng đố kỵ, luôn tìm cách để hại đứa bé con người vợ
nhỏ, nhưng bên ngoài bà tỏ ra hết lòng thương yêu, chiều chuộng, không một
chút ganh tị nào.
Một
hôm người vợ nhỏ đi vắng, người vợ lớn lén lấy cái kim ghim vào đỉnh đầu
đứa bé. Ðứa bé từ ấy phát bịnh la khóc suốt ngày, bỏ ăn bỏ uống, thân hình
tiều tụy, qua bảy hôm thì chết. Trong nhà ai cũng sầu khổ. Người vợ lớn
cũng tỏ ra đau đớn, tiếc thương, Còn người vợ nhỏ thì vật mình xuống đất,
khóc than thảm thiết suốt cả ngày đêm. Nhưng cả nhà chẳng ai biết được vì
sao đứa bé ấy chết. Về sau bà vợ nhỏ biết được do lòng ganh tị của người
vợ lớn và chính bà ấy giết. Bà vợ nhỏ lập tâm báo thù. Bà đến chùa hỏi các
thầy Tỳ kheo.
- Bạch
Ðại đức muốn toại nguyện lòng mong cầu, phải làm công đức gì?
Các
Tỳ kheo đáp:
- Muốn
toại nguyện lòng mong cầu thì phải thọ trì bát quan trai giới, điều cầu
xin sẽ được như ý.
Nghe
xong, bà xin thọ bát quan trai giới. Sau đó bảy ngày bà chết đầu thai làm
con gái lớn bà vợ lớn, thân tướng đẹp đẽ. Bà vợ lớn thương yêu, quý trọng
hơn vàng, nhưng oan nghiệt thay, đứa bé gái ấy chỉ sống được một năm rồi
chết, khiến cho người mẹ khổ sở đau đớn khôn cùng, khóc lóc thảm thương bỏ
ăn, quên ngủ. Oan oan tương báo như thế đến bảy lần, bà vợ lớn đoán biết
đây là sự báo oán của người vợ nhỏ.
Cho
đến lần cuối cùng, bà vợ lớn sinh được một bé gái lại càng đẹp đẽ, thân
thể đoan trang hơn mấy lần trước, nhưng lần này đứa bé sống được 14 tuổi,
sắp có gia đình. Một hôm đang đêm nàng bước ra khỏi cửa, liền ngã ra chết.
Bà mẹ khóc lóc kêu gào la hét suốt ngày, lòng thương con cùng cực, khiến
bà phát cuồng, không còn biết chi nữa. Bà để xác con giữa nhà, chẳng chịu
tẩn liệm càng nhìn xác con càng thấy đẹp lạ thường. Ðể như thế hơn 20
ngày.
Một
buổi sáng nọ, các thầy Tỳ kheo thiền định, dùng từ tâm quán khắp tâm chúng
sinh, thấy người đàn bà ấy bị một chuỗi oan nghiệt nối dài và nay chính là
lúc nhờ sự đau khổ cùng tột có thể làm tâm bà bừng sáng. Sau khi dùng từ
tâm quán sát, thầy Tỳ kheo liền khoát y ôm bát, đến nhà bà vợ lớn khất
thực. Ðến nơi trước nhà vắng vẻ, bên trong nghe tiếng khóc than quằn quại.
Thầy rung tích trượng, hồi lâu có kẻ đầy tớ mang cơm ra cúng:
- Bạch
Ngài, bà chủ con bận việc không thể ra, xin Ngài từ bi nạp thọ.
Thầy
Sa môn im lặng, không mở bát ra mà nói:
- Ta
muốn gặp thí chủ.
Người
đầy tớ trở vào thưa cùng bà vợ lớn rằng:
- Thầy
Sa môn muốn gặp bà.
- Ta
có chuyện buồn khổ, chỉ muốn chết thôi, ta không muốn gặp ai cả. Mày hãy
mang cơm ra cúng dường Thầy Sa môn ấy và xin Ngài hãy đi đi.
Nhưng
khi đứa đầy tớ mang cơm ra, Ngài cũng không nhận và nói như trước. Bà vợ
lớn tự nghĩ: “Ta đang lúc khổ sở mà vị Sa môn này chẳng hiểu được tâm ta,
sai người đem cúng dường mà chẳng nhận, quyết muốn gặp ta. Khổ quá! Thôi
ta cứ ra coi Ngài muốn gì?” Nghĩ xong bà bước ra. Thầy Sa môn vừa trông
thấy liền hỏi:
- Này
thí chủ, vì sao bà có vẻ sầu khổ, đầu tóc rối bù, mặt mày hốc hác tiều tụy
đến thế?
- Bạch
Ngài, từ ngày tôi có gia đình đến nay, sanh bảy đứa con gái đứa nào cũng
đẹp đẽ dễ thương, nhưng khi đến một hoặc ba tuổi thì chết, duy chỉ có đứa
con này đến 14 tuổi, đêm hôm vừa bước ra khỏi nhà liền té xuống đất chết
ngay. Thật tôi quá khổ sở, chỉ còn có muốn chết nữa mà thôi. Nói xong bà
khóc nức nở. Thầy Sa môn bảo:
- Hãy
rửa mặt, chải đầu rồi ta sẽ nói cho bà nghe.
Nhưng
bà ta vẫn khóc. Thầy Sa môn nói:
- Này
bà, người vợ nhỏ của ông chủ nhà này vì sao chết?
Bà vợ
lớn nghe nói trong lòng bối rối sợ hãi, tự nghĩ: “Vì sao vị Sa môn này lại
biết được việc của nhà ta?”.
- Hãy
quay đầu ra đây ta sẽ nói cho bà nghe.
Bà
liền quay đầu ra.
-
Người vợ nhỏ của nhà này sanh được một đứa con trai, vì sao đứa con ấy lại
chết đi? Bà vợ lớn nghe nói trong lòng càng sợ hãi, run rẩy chẳng nói lên
lời.
- Này
bà, do bà giết đứa bé ấy, nên người mẹ của nó đau khổ rồi chết theo, vì
oan oan tương báo, người mẹ của đứa bé quyết báo thù, nên bảy lần sanh làm
con của bà rồi lại chết, để bà phải đau khổ mà chết theo như bà đã gây ra
cho người vợ nhỏ. Giờ đây đứa con bà vừa mới chết, bà hãy xa ra thì sẽ
biết đứa con ấy thế nào? Nghe vị Sa môn nói, bà quay lại thì toàn thân đứa
con ấy tan rã, hôi thối vô cùng, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, khủng khiếp.
Bà cúi đầu đảnh lễ vị Sa môn cầu xin cứu độ.
- Ngày
mai bà hãy đến chùa ta sẽ làm lễ qui y cho. Ngay khi ấy, xác đứa con gái
liền biến thành rắn độc, biết được bà vợ lớn sẽ đi thọ giới, nên rắn nằm
ngang chận đường. Sáng ngày bà vợ lớn đi đến chùa, rắn đuổi theo. Bà sợi
hãi nói:
- Ta
đến chùa thọ giới qui y, tại sao mày lại chận đường không cho tao đi? Lúc
ấy, thầy Sa môn biết được, đến nơi, người vợ lớn trông thấy vô cùng mừng
rỡ. Thầy Sa môn nói với rắn:
- Oan
nghiệt, đã trãi qua mấy đời nhiễu hại, người vợ lớn chỉ giết có một người
con của nhà ngươi, thì tại sao nhà ngươi lại làm khổ người ta đến bảy lần.
Tội nhà ngươi rất lớn, hôm nay lại muốn cản đường không cho người ta đi
qui y Tam Bảo nữa, tội này đời đời sẽ đọa vào địa ngục, hiện tại nhà ngươi
chỉ là thân rắn đâu được thân người.
- Rắn
nghe nói, liền nhớ lại kiếp trước, đau đớn trong lòng, vặn mình uốn khúc,
đập đầu xuống đất, hướng về vị Sa môn mà sám hối.
- Hai
người đời trước đã tạo oan nghiệt gây khổ đau cho nhau. Vậy kể từ nay tội
lỗi mỗi người sẽ được chấm dứt, đời đời đừng có ý niệm giết hại nhau nữa.
Cả hai
đều ăn năn, khi ấy rắn độc nhờ sức chú nguyện của Thầy Sa môn, liền được
thác sanh làm thân người, tâm ý khai mở. Rồi cũng được qui y Tam Bảo, tinh
tấn tu hành.
Giới Ðức
“Luân hồi nhân quả không sai
Không tu ắt phải đọa đày khổ thân”.
Hoa vương
(^)
Ngày
xửa, ngày xưa có một Minh Quân cai trị một quốc gia thanh bình trù phú.
Mọi việc đều xuôi chèo mát mái, ngoại trừ một điều là dù tuổi đã khá cao,
nhà Vua hiền đức của chúng ta vẫn chưa có được Hoàng nam nối dõi.
Một
bữa tốt trời đức Vua cho yết bảng, truyền lệnh cho vời các đồng tử lên 7
đến 12 vào sân rồng cho Ngài tuyển chọn người kế nghiệp.
Các
thần dân của đức Vua trong số tuổi ấn định lũ lượt kéo nhau về kinh đăng
ký. Bất kể gia tộc sang hèn, nghèo giàu mỗi cậu bé đều được nhận một hạt
giống tí tẹo. Các thí sinh phải đem hạt giống về tự tay gieo trồng và chăm
bón. Ðến bao giờ hạt giống nẩy mầm, nứt lộc, đâm chồi, ra nụ kết hoa thì
sẽ mang đến Hoàng cung dự thí.
Ngày
khảo thí được ấn định vào đêm rằm tháng tám, chậu hoa nào được đức Vua
chấm giải nhất thì người gieo trồng nó sẽ được vào cung làm Hoàng tử.
Người sẽ kế vị đức Vua sau này.
Cái ngày chờ đợi đó đã
đến, vườn ngự uyển chất đầy các lẳng hoa do thí sinh đem nộp, không chê
vào đâu được, vì loài hoa nào cũng rực rỡ ngát hương. Nhưng đức Vua và
Hoàng hậu xem chừng vẫn chưa chọn một thứ nào vừa mắt.
Cuối
cùng một đứa bé khoảng 8 tuổi, áo quần rách rưới nhưng mặt mũi dễ thương,
xin được vào chầu đức vua của chú. Mọi người cười ồ khi thấy chú khư khư
ôm một cái chậu bằng đất nung chứa đầy phân và rác bẩn. Vị thần dân tí hon
này quỳ trước bệ rồng, nước mắt chảy quanh, sụt sịt nói:
- Muôn
tâu, con đã làm hết sức mình, con đã chọn chiếc chậu lành lặn nhất, để vào
đó thứ đất mịn nhất… rồi mới đặt hạt giống của đức Vua ban cho con vào đó…
Con đã phơi sương ủ nắng và tưới nước cho nói… Vậy mà nó không chịu nứt
cái mầm nào cả.
Ðức Vua nghe xong không
dấu được sự xúc động, ôm chầm lấy cậu bé reo:
- Ôi!
Con chính là vị Hoàng tử mà ta chờ đợi.
Mọi
người kinh ngạc lẫn bất bình. Ðức Vua vuốt râu mỉm cười giải thích:
- Tất
cả các hạt giống trao cho thí sinh đều đã được hấp chín… Nó chỉ có thể nở
hoa trung thực mà thôi…
Ðưa
tay chỉ chiếc chậu đầy đất bẩn của chú bé dân giả, đức Vua tiếp:
- Ðóa
hoa trung thực ấy chỉ đâm chồi nẩy lộc trong mỗi một chiếc chậu này. Con
người đã gieo trồng được loại hoa ấy, nhất định sẽ là vị minh quân mà đất
nước ta chờ đợi.
Ðức
Vua đã không lầm trong sự lựa chọn ấy.
“Vô bệnh là điều rất lợi, biết đủ là kẻ rất
giàu,
Thành tín ở nơi chí thân, Niết bàn là vui tối
thượng”.
Tham y hóa rận
(^)
Thuở
Phật còn tại thế, ở vườn Cấp Cô Ðộc, có một vị tân Tỳ kheo được cúng một
bộ y lụa tuyệt đẹp. Thầy mân mê bộ y không rời, tối dùng làm gối ngủ. Ðêm
ấy rủi thay thầy bị trúng gió nặng, cấm khẩu, các vị đồng phạm hạnh tìm
đủ cách cứu chữa, nào cạo gió, nào thoa bóp dầu nóng, nào hô hấp nhân tạo…
song đều vô hiệu. Thầy trút hơi thở cuối cùng. Vì tâm thức cuối cùng của
thầy là ham thích bộ y mới, nên khi thoát xác, thần thức thầy thác sanh
vào loài rận, làm một con rận đeo cứng vào bộ y lụa. Con rận khôn ngoan
chui tuốt vào cái giải “Bần bà” (Tương truyền, khi nhiều người cúng vải để
may y cho Phật, cái y sắp xong thì có một bà nghèo tới cúng một mảnh vải.
Ðức Thế Tôn thương xót nhận của hiến cúng muộn màng để gieo phước cho bà,
và bảo thị giả A Nan may vào hai góc y. Do đó sợ dây buộc y ngày nay có
tên là “bần bà” để nhớ đến bà già nghèo khó đã cúng dường mảnh vải cho
Phật.) để mọi người khỏi thấy.
Sau
khi vị Tỳ kheo qua đời, y lệ nhà chùa chúng Tăng chia đều nhau cái tài sản
nhỏ bé của thầy, trong đó có bộ y. Với Phật nhãn đức Thế Tôn rõ biết vị Tỳ
kheo đã hóa làm con rận đang ôm giữ chiếc y nên Ngài bảo đại chúng:
- Các
ông có “quân Tăng” (chia đều cho Tăng chúng) tài sản của tân Tỳ kheo ấy,
thì hãy chừa bộ y lại, để tuần sau hãy cắt chia.
Các Tỳ
kheo không hiểu vì sao Thế Tôn bảo chừa bộ y, nhưng không dám trái mệnh
bèn đem bộ y ấy xếp để một nơi. Vừa khi bộ y bị dời chỗ, con rận đã cuống
cuồn lên, la lối om sòm:
- Trời
đất quỷ thần ơi! người ta cướp giựt của tôi bộ y nè! Ai cứu cho với! Bộ y
này là của tôi, không phải của các người! Các người toan mang nó đi đâu,
bớ làng nước ơi! Quân cướp giựt!
Con
rận la khan cả cổ họng mà nào ai có hay! Có chăng chỉ đức Từ phụ thần
thông quảng đại thấy nghe được nổi khổ đau của nó. Trong tuyệt vọng con
rận chạy quanh cái giải bần bà để cầu cứu lính tuần đến bắt cướp, đã cướp
cái y của nó. Chạy rã giò chẳng có ma nào đến cứu, người ta vẫn ngang
nhiên nhấc bổng bộ y mang theo khổ chủ không biết đi đâu. Ðức Phật thương
xót gọi thị giả A Nan đang ôm bộ y để cất vào tủ:
- Con
hãy đem bộ y vào trong tịnh thất của ta.
Tôn
giả A Nan vâng lệnh. Ðức Thế Tôn đến bên bộ y, thuyết pháp cho rận nhớ
tiền kiếp của mình:
- Này
rận, con vốn là một Tỳ kheo vừa thọ giới. Cái y này là của thí chủ cúng
cho con. Con đã quên quán sát rằng: “Không có gì là ta, không có cái gì
là của ta. Cái này không phải là ta, cái này không phải là của ta, cái này
không phải tự ngã của ta”. Vì một chút bất giác cận tử nghiệp (nghiệp
xảy ra lúc lâm chung) đã khiến con phải sa đọa vào loài súc sanh. Con hãy
tịnh tâm nhớ lại tiền kiếp. Ta là đức Như Lai, đang ở trước mặt con.
Do
mãnh lực từ tâm nơi Phật, con rận thoạt nhớ lại kiếp vừa qua của mình,
lòng trở nên nhẹ nhàng thanh thản. Rận nằm im bảy ngày không ăn rồi trút
hơi cuối cùng. Thần thức rận thác sinh lên cõi trời tứ thiền thác sinh của
những vị Tỳ kheo siêng tu thiền định.
Khi rận thoát xác, đức
Phật mới bảo Tôn giả A Nan đem bộ y cắt ra chia cho mỗi người một mảnh để
làm khăn lau mặt. Các vị Tỳ kheo hỏi lý do vì sao Ngài đợi đến bảy ngày
mới phân chia bộ y, đức Thế Tôn kể lại câu chuyện và dạy:
- Nếu
các ông chia ngay lúc đó, con rận sẽ nổi sân và bị đọa vào loài quỷ. Nay
nhờ nghe pháp, nhờ thần lực của Như Lai, lại nhờ bản thân đã từng tu hành
thanh tịnh, mà vị Tỳ kheo hóa rận ấy đã được sanh lên cõi trời.
- Các
vị Tỳ kheo nghe xong, ai nấy toát mồ hôi hột, ngán ngẫm cho cái “cận tử
nghiệp” ác ôn kia. Sợ thay, mà lại mừng thầm cho ai!
Thích Nữ Trí Hải
“Ham muốn nhiều là khổ. Sống chết khổ đau là
do lòng tham dục, trừ bớt dục vọng thời thân tâm tự tại”.
Sự tích con nhái
(^)
Ngày
xưa có một vị Hòa thượng trẻ tuổi nổi tiếng chân tu. Mọi “thị dục” của bản
thân, Hòa thượng đều kiên quyết cắt đứt, chỉ một lòng chuyên chú vào lẽ hư
vô của đạo Thiền. Nhà vua nghe tiếng, vô cùng kính trọng, vời về cung, ban
tước Quốc sư và sai tu bổ một ngôi chùa ở Nam kinh thành để cho sư trụ
trì. Nhưng Hòa thượng từ tạ vua, chỉ xin phép đi xem chùa chiền, cảnh đẹp
trong thiên hạ.
Một
hôm, Hòa thượng một mình tìm đến một ngôi chùa xa ở vùng Bắc. Ở đó có một
vị sư bạn trụ trì mà Hòa thượng lâu ngày chưa gặp.
Từ lâu
Phật Bà Quan Âm đã nghe tiếng đồn về Hòa thượng, Phật Bà định bụng thử xem
con người đó như thế nào. Nếu quả đúng là chân tu thì Phật Bà sẽ đưa về
Tây Trúc, cho hóa thành Phật.
Lúc Hòa thượng sắp qua
một con sông rộng, Phật Bà hóa ngay làm một cô gái rất đẹp chống đò cập
bến chờ khách quá giang. Hôm ấy cũng theo phép mầu nhiệm của Phật Bà, khúc
sông đó trở nên vắng vẻ, người và thuyền bè qua lại rất ít. Khi Hòa thượng
chui vào trong khoang đò thì cô gái nhổ sào chèo ra giữa sông. Ðoạn nàng
chèo thuyền đến một bãi cát vắng đậu lại. Hòa thượng lấy làm lạ hỏi cô lái
vì sao không đi thẳng qua bờ bên kia. Cô lái chỉ đợi có câu hỏi ấy là
buông chèo, cười một nụ cười rất tình tứ rồi cùng chui vào khoang, trả lời
một cách trắng trợn là thấy sư đẹp trai quá nên cắm lại đấy cầu xin một
chút tình yêu. Hòa thượng vốn nghe nói con gái ở vùng này có nhiều người
đáo để nên nghiêm nét mặt lại:
- A Di
Ðà Phật! Mong người trần giới buông tha cho kẻ tu hành này.
Nhưng
cô lái đò đâu có buông tha, cô cố sán lại gần gợi tình. Hòa thượng không
nói gì, lẳng lặng mở gói lấy quyển kinh Kim Cương Tam Muội ra tụng. Tiếng
đọc của sư mỗi lúc mỗi lớn, át cả tiếng của cô lái đò. Nhưng cô lái đò vẫn
cười cười nói nói. Rồi cô che tay lên quyển kinh. Hòa thượng ngoái cổ nhìn
ra ngoài đò rồi nghiêm khắc cảnh cáo:
A Di
Ðà Phật! Trong người bần Tăng có một tờ lệnh chỉ của Hoàng đế. Trong đó
Hoàng đế đã ra lệnh là hễ người nào phạm vào người bần Tăng sẽ bị án trảm
quyết. Vậy bần Tăng mong người đừng phạm vào phép của thiên tử.
Lời
dọa của nhà sư không làm cho cô lái nhụt một tí nào. Cô nói:
- Em
đang muốn chết đây! Em chỉ mong chàng đoái thương một tí rồi chết cũng
thỏa.
Nhưng
hồi lâu, thấy lòng nhà sư không chuyển, cô lái đò lại thi hàng một mưu
khác, cố quyến rũ cho bằng được. Cô bắt đầu cỡi áo ra. Khi chiếc yếm có
đuôi nhạn bỏ xuống thì Hòa thượng nhắm mắt lại. Hòa thượng quay về cái gói
lấy chiếc áo của mình khoác vào người nàng. Trong khoang đò chật chội, tay
Hòa thượng vẫn lần tràng hạt, miệng vẫn lẩm nhẩm đọc kinh. Trong khi đó
những tiếng cô gái như mật rót vào tai:
-
Chàng thương em một tí… Chàng nhìn ra ngoài xem, không có một ai cả.
Nhưng
vô hiệu.
Phật
Bà Quan Âm rất cảm động. Những người con Phật như thế này rất xứng đáng
chiếm một chỗ ngồi trên Niết bàn. Nhưng đã thử thì phải thử cho trót. Lần
tấn công thứ chín, cô gái vẫn bị cự tuyệt. Hơi thở của cô gái trẻ và đẹp
phảng phất ở trên má, nhưng nét mặt của Hòa thượng vẫn không thay đổi.
Nhưng
đến lần thứ mười, cô gái không ngờ thành lũy tưởng là kiên cố lại bị hạ
một cách bất ngờ như thế. Bàn tay Hòa thượng tự nhiên bỏ lên mình nàng.
Thôi thế là chỉ trong một phút, vứt bỏ hơn hai ba mươi năm tu luyện.
Thế là
chuyến đó Phật Bà Quan Âm không được hài lòng. Giận vì Hòa thượng đã thiếu
kiên trì trước sức cám dỗ của “thị dục”, mà đã như thế thì thanh danh cũ
không còn đáng điếm xỉa nữa, nên Phật Bà lại nắm cổ Hòa thượng vứt ngay
xuống sông như người ta vứt một cái xác. Như thế mà Phật Bà còn cho là
chưa đáng tội, mà còn bắt hóa làm loài nhái là một động vật hạ đẳng. Cũng
vì thế mà người ta nói rằng ngày nay dòng dõi của loài nhái vẫn còn giữ
cái thói quen của tổ tiên, ví dụ khi chúng ta chặt đầu, chúng vẫn chắp hai
chân trước lại với nhau như người đang vái.
Nguyễn Ðỗng Chi
Truyện cổ Việt Nam tập II
“Giới là phao nổi để vượt qua bể khổ, nên
người qua biển quý trọng phao nổi như thế nào, thì người tu hành cũng giữ
gìn quý trọng giới luật như thế ấy”.
Tôn giả A Nan
(^)
“Phật pháp như đại hải thủy,
Lưu nhập A Nan tâm”
Tiền thân A Nan:
Trong
vườn Cấp Cô Ðộc, rừng cây Kỳ Ðà, bấy giờ chúng Tỳ kheo vây quanh với nhau
mà bàn luận rằng: “Không rõ hiền giả A Nan vào thời quá đã tu tập công đức
gì, mà đời này, hiền giả hiểu sâu biết rộng, nhớ dai và đẹp đẽ quá vậy?”.
Các Tỳ kheo nghĩ rồi bèn đi đến bạch Phật:
- Kính
bạch Ðức Thế Tôn, chúng con chẳng hiểu đời trước của hiền giả A Nan đã tu
tập công đức gì mà hiền giả được làm thị giả Thế Tôn, và thông minh đĩnh
ngộ quá vậy? Xin Thế Tôn ân cần chỉ giáo cho chúng con sáng tỏ.
Này
các Tỳ kheo, hãy lắng kỹ. Vào thời quá khứ, có một vị Tỳ kheo, nuôi một
chú Sa Di, ngày ngày bắt chú phải tụng kinh và đủ thời. Vì vậy mà khi nào
chú Sa Di tụng kinh đủ thời đã qui định thì vị Tỳ kheo vui vẻ, khen thưởng
cho chú Sa Di, còn khi nào bận công việc mà chú Sa Di tụng trễ hoặc thiếu
thời khóa thì vị Tỳ kheo ấy buồn hiu, và quở trách chú Sa Di nữa.
Vì
trách nhiệm như vậy nên lúc nào chú Sa Di cũng lo lắng và sợ sệt, vì ngoài
công việc tụng kinh ra, chú còn phải đi khất thực suốt buổi sáng nữa. Có
khi đàn việt vui lòng cúng dường nhiều thì được về sớm, rồi lo tụng kinh.
Còn khi nào ít người cúng dường thì chú phải đi khất thực cho đủ hai phần
ăn, như vậy là đã trưa rồi, làm sao tụng kinh được nữa. Vì vậy ăn thì mất
tụng, được tụng thì mất ăn.
Thực
tế đã xảy ra là hôm nay chẳng may ít ai cúng dường quá, nên chú về trễ,
đành bỏ thời tụng buổi sáng, vì vậy mà bị thầy quở trách, buồn quá sang
ngày hôm sau, vừa đi khất thực vừa khóc. Khi ấy, gặp ông Trưởng giả, ông
ta hỏi:
- Có
việc gì mà chú lại khóc lóc vậy?
Thưa
trưởng giả, thầy tôi thật nghiêm khắc, bắt tôi phải tụng kinh đủ thời giờ
thầy tôi đã qui định, nhưng khổ nỗi, tôi còn phải đi khất thực nữa, ngày
nào đàn việt thương nhiều thì tôi được về sớm và tụng kinh đầy đủ, còn
chẳng may ít người bố thí thì tôi phải trở về trễ, như vậy là bỏ mất thời
tụng kinh và chắc chắn bị thầy quở trách, vì vậy mà tôi buồn tôi khóc.
-
Tưởng gì chứ thầy muốn chú sốt sắng tu hành như vậy thì tốt quá. Ðược rồi,
kể từ nay về sau, đến giờ chú cứ đến nhà tôi lấy thức ăn về cho hai thầy
trò đủ dùng, còn hầu hết các thì giờ chú cứ việc lo tụng kinh niệm Phật
cho đúng thời khóa đã qui định, đừng buồn việc khất thực xin ăn gì nữa.
Như
vậy kể từ hôm đó, tới bữa chú Sa Di mang bình bát tới nhà ông trưởng giả
để mang đồ ăn về cho hai thầy trò dùng, còn bao nhiêu thì giờ chú đều
chuyên tâm trong việc tụng kinh niệm Phật tu hành đầy đủ, nhờ đó mà cả hai
thầy trò đều vui vẻ.
Ðến
đây, Ðức Thế Tôn nhắc lại:
- Này
các Tỳ kheo, các thầy biết không, vị Tỳ kheo của chú Sa Di đó chính là Ðức
Phật Ðịnh Quang, ông trưởng giả cúng dường thức ăn, hàng ngày chính là Ta,
còn chú Sa Di tụng niệm đó chính là A Nan bây giờ.
A Nan
nhờ phước báu tụng kinh đời trước mà đời này trí tuệ đa văn, nhớ rõ từng
câu kinh chẳng sai một chữ và thừa Phật trùng tuyên giáo pháp.
Thân thế:
A Nan
chào đời trong đêm Phật thành đạo, nên còn có tên là Khánh Hỷ, thuộc dòng
dõi quý tộc, nơi vương cung của vua Bạch Phạn, là em ruột của Ðề Bà Ðạt Ða
mà cũng là anh em chú bác của Thế Tôn.
Trong
hạng đồng thời đó, Ngài A Nan là người nhỏ tuổi nhất, nếu so với La Hầu La
thì còn nhỏ thua nửa số tuổi.
Là một Thế tử được vua
cha chiều chuộng, bảo bọc, đời sống vương giả chẳng thiếu một món gì,
nhưng đối với tánh tình thuần hậu, hoan hỷ đó, A Nan không quyến luyến
những vật dục, sang giàu của hoàng cung, cùng chơi đùa với chúng bạn chẳng
phân giai cấp. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng với tư cách một con vua, bẩm
tính sẵn có lúc nào A Nan cũng vui vẻ, hiền hòa, dễ thương đáo để.
Vì đời sống của
một phước báo tiền kiếp xa xưa, nên đã trưởng thành A Nan một con người
khôi ngô, tuấn tú. Về sau này, có thể nói trong hàng đệ tử Phật, A Nan là
người đẹp đẽ, đoan trang nhất, với thân hình cân đối, nét mặt hào hoa,
tươi nhuận, lúc nào cũng tỏ ra dễ dãi với mọi người. Vì sự đẹp trai và
tánh tình dễ dãi ấy mà sau này có lắm chuyện rắc rối đã đến với A Nan.
Gia nhập Tăng đoàn:
Ngày
Thế Tôn trở về thăm Ca Tỳ La Vệ đầu tiên, trong dáng đi trầm hùng, sắc
diện trang nghiêm, dung mạo rực rỡ, chiếu diện như vầng trăng lồng lộng
giữa khoảng trời bao la, đã soi sáng mọi vật, cảm hóa được lòng người. Chú
bé A Nan nhìn say sưa dung nhan thậm kỳ diệu, sắc diện như núi vàng đoan
nghiêm của Thế Tôn cảm thấy chấn động tâm linh, bèn vào trình vua cha xin
đi xuất gia theo Phật cùng với bảy vương tử thời bấy giờ. Ðược vua cha
chấp nhận, trong lòng hoan hỷ vô cùng, như vậy kể từ đây A Nan theo sát
chân Phật, là một người tùy tùng thân cận với Ðức Thế Tôn, và sau này,
chẳng bao lâu được đại chúng cử làm thị giả hầu hạ Phật.
Thị giả:
Bấy
giờ, các Tỳ kheo, Trưởng lão thượng tôn danh đức, đại đệ tử của Phật được
mọi người hiểu biết: Tôn giả Câu Lan Nhã, Tôn giả A Nhiếp Bối, Tôn Giả Bạt
Ðề Thích Ca Vương, Tôn giả Ma Ha Nam Câu Lệ, Tôn giả Hòa Phá, Tôn giả Da
Xá, Tôn giả Bân Nậu, Tôn giả Duy La Ma, Tôn giả Già Hòa Ba Ðề, Tôn giả Na
Ðề, Tôn giả Kim Tỳ La, Tôn giả Ly Bà Ða, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên, Tôn
giả Ðại Ca Diếp, Tôn giả Ðại Câu Hy La, Tôn giả Ðại Châu Na, Tôn giả Ðại
Ca Chiên Diên, Tôn giả Bân Nậu Gia Nậu Tả Trưởng lão, Tôn giả Da Xá hành
trù trưởng lão, rất nhiều các Tỳ kheo Trưởng lão, danh đức đại đệ tử cùng
đi du hóa tại thành Vương Xá, tất cả đều ở xung quanh ngôi nhà lá của
Phật.
Lúc ấy
Ðức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng:
- Này
các thầy, hiện nay ta tuổi đã già, thân thể càng ngày càng suy yếu, nên ta
cần có một thị giả nhất định để chăm sóc và mang y bát cho ta, làm vừa
lòng ta và ghi nhớ những lời thuyết pháp rõ ràng, không quên nghĩa lý. Vậy
các thầy hãy chọn giùm Ta một vị.
Nghe
vậy, Tôn giả Câu Lan Nhã, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo sửa y chắp
tay hướng về Thế Tôn, bạch rằng:
Bạch
Thế Tôn, con tự nguyện hầu hạ Thế Tôn, làm vừa lòng Thế Tôn và ghi nhớ rõ
ràng những lời Thế Tôn dạy.
Này
Câu Lan Nhã, thầy tuổi đã già rồi thân thể chẳng hơn gì Ta, như vậy, chính
thầy cũng cần có một thị giả, để chăm sóc hầu hạ thầy trong cơn bịnh hoạn,
thôi được thầy hãy về chỗ cũ ngồi đi.
Bấy
giờ, các Trưởng lão tôn túc lần lượt bạch Thế Tôn để xin tự nguyện làm thị
giả hầuThế Tôn, nhưng cuối cùng tất cả đều được Thế Tôn bảo hãy lui về chỗ
cũ mà ngồi.
Kết
quả cuộc tự nguyện làm thị giả, chẳng có vị nào được Thế Tôn ghi nhận, Tôn
giả Mục Kiền Liên, suy nghĩ: “Ðức Thế Tôn muốn chọn vị nào làm thị giả, ý
Ngài đặt vào vị nào muốn cho ai săn sóc Ngài, tự nãy đến giờ chẳng có vị
Tỳ kheo nào được diễm phúc ấy cả, có lẽ ta nên nhập “Như Kỳ Tượng Ðịnh” để
quan sát tâm của đại chúng xem sao. Thế là Tôn giả nhập “Như Kỳ Tượng
Ðịnh” xem từng tâm niệm của đại chúng Tỳ kheo, lần lượt, lần lượt, đến
Ngài A Nan Tôn giả dừng lại, đây rồi, Thế Tôn đang hướng đến A Nan, muốn
chọn A Nan làm thị giả, liền xuất định, Tôn giả Mục Kiền Liên thưa với đại
chúng rằng:
Thưa
chư hiền, đức Thế Tôn muốn chọn hiền giả A Nan làm hiền giả, ý Ngài đã đặt
vào A Nan để thỉnh làm thị giả. Nói xong các vị thượng tôn trưởng lão,
cùng Tôn giả Mục Kiên Liên đồng đi đến chỗ A Nan, tất cả đều chào hỏi rồi
ngồi xuống. Lúc ấy, Tôn giả Mục Kiền Liên đại diện trình bày:
Này
hiền giả A Nan, thầy thật là diễm phúc, thầy có biết không đức Thế Tôn
muốn chọn thầy làm thị giả đó, để săn sóc Thế Tôn, khi mang y, khi dâng
bát và ghi nhớ những lời Thế Tôn giảng giải rõ ràng nghĩa lý. Cũng như
ngoài thôn xóm không xa, có một tòa lâu đài to lớn, cửa sổ ở phía đông mở
ra, khi mặt trời mọc lên, ánh sáng sẽ rọi thẳng vào vách phía tây, Này
hiền giả A Nan, đức Thế Tôn cũng vậy, chú ý muốn thầy hầu Thế Tôn. Vậy
thầy nên làm thị giả mà săn sóc Thế Tôn được phước hựu lớn.
- Thưa
Tôn giả Mục Kiền Liên, tôi không thể lãnh trách nhiệm hầu hạ Thế Tôn nổi.
Vì đối với các đức Thế Tôn, khó xứng ý, khó hầu hạ, nghĩa là khó làm thị
giả lắm, xin Tôn giả thông cảm cho tôi. Cũng giống như con voi rất hùng
mạnh, đã hơn 60 tuổi, kiêu bạo, sức mạnh cường thạnh, đủ ngà, đủ vóc, khó
mà làm cho xứng ý gần gũi, chăm sóc được. Thưa Tôn giả với những bậc Như
Lai Vô Sở Trước Ðẳng Chánh Giác cũng vậy, khó làm vừa lòng và gần gũi của
một trách nhiệm thị giả được.
- Này
hiền giả A Nan, chưa chi sao vội từ chối quá vậy, Thầy hãy nghe tôi ví dụ
thì sẽ hiểu rõ ý nghĩa, cũng như hoa Ưu Ðàm Bát La đúng thời mới xuất hiện
thế gian, thì đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước Ðẳng Chánh Giác cũng vậy, đúng
thời Như Lai mới thị hiện ra đời, vậy Thầy còn chần chờ gì nữa, hãy mau
làm thị giả đức Thế Tôn đúng lúc?
Bị Tôn
giả Mục Kiền Liên ép nài, A Nan túng thế phải chịu, nhưng với những điều
kiện như sau, nếu Thế Tôn thỏa mãn:
- Thưa
Tôn giả, nhờ Tôn giả bạch lại Thế Tôn, nếuThế Tôn thỏa mãn cho ba điều
nguyện của tôi, thì chừng ấy tôi mới chịu làm thị giả, bằng không thì
thôi. Một, tôi nguyện không đắp y của Thế Tôn dù mới hay cũ; hai, tôi
nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Thế Tôn; ba, tôi nguyện không gặp
Thế Tôn chẳng đúng lúc.
Thấy A
Nan đã chịu làm thị giả rồi, Mục Kiền Liên cùng các vị trưởng lão, từ chỗ
ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Tôn giả A Nan ba vòng rồi đi về chỗ Phật, làm
lễ xong, ngồi xuống một bên, Tôn giả Mục Kiền Liên liền thuật lại sự việc:
- Bạch
Thế Tôn, vừa rồi con đã khuyên dụ hiền giả A Nan làm thị giả cho Thế Tôn,
nhưng hiền giả A Nan đã xin Thế Tôn thỏa thuận cho ba điều tự nguyện:
Không đắp y của Thế Tôn, dù mới hay cũ, không ăn thực phẩm biệt thỉnh của
Thế Tôn và không gặp Thế Tôn chẳng đúng thời. Nếu Thế Tôn cho phép A Nan
được ba điều ấy thì A Nan mới làm thị giả hầu Thế Tôn.
- Này
Ðại Mục Kiền Liên, Tỳ kheo A Nan thông minh, trí tuệ, dự đoán biết trước
có những lời tỵ hiềm, hoặc các vị đồng phạm hạnh sẽ cho rằng: “A Nan vì
cơm áo mà hầu hạ đức Thế Tôn”. Ðây là pháp vị tằng hữu của A Nan.
Tỳ
kheo A Nan thông minh dự đoán biết trước những lời tỵ hiềm: “A Nan vì thực
phẩm nên hầu hạ Thế Tôn”.
Tỳ
kheo A Nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, khéo biết lúc nào tự
mình cần gặp đức Như Lai. Lúc nào nên cho và không nên cho Tỳ kheo, Tỳ
kheo Ni, chúng Ưu Bà Tắc, chúng Ưu Bà Di, hay Sa môn Phạm Chí, dị học đến
gặp Như Lai, thuận lợi hay không thuận lợi. Biết thức ăn loại cứng hay
loại mềm mà đức Như Lai thường dùng được an ổn, và loại thức ăn nào đức
Thế Tôn dùng rồi không được an ổn, nhẹ nhàng.
Tỳ
kheo A Nan mặc dù chưa có tha tâm trí, nhưng có thể biết trước được đức
Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai, khi Như Lai từ chỗ tỉnh tọa dậy, vào buổi
xế, hôm nay đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc thọ như vậy, nhận
xét đúng lời Thế Tôn nói, chắc chắn không thể sai khác. Khi A Nan nói như
vầy: “Thưa chư hiền, tôi đã hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm, trong thời
gian đó tôi chưa hề khởi tâm cao ngạo bao giờ”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, tôi đã hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm cho
đến ngày hôm nay tôi chưa hề gặp đức Thế Tôn chưa phải lúc”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, tôi đã hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm,
chưa hề bị Phật quở trách, trừ một lỗi, nhưng lỗi đó cũng vì người khác”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ trì tám vạn pháp
tu, thọ trì không quên, không bao giờ khởi tâm cống cao, tự đắc”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ trì tám vạn pháp
tu, chưa hề hỏi lại một lần thứ hai, trừ có một câu, câu ấy như vậy cũng
không phải dễ”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ trì tám vạn pháp
tu, trước hết không có tâm này: tôi thọ trì pháp ấy là để giáo hóa cho
người khác. Này chư hiền, tôi chỉ muốn tự điều ngự, tự tịch tịnh, tự bát
Niết Bàn thôi”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, có điều rất kỳ lạ này, đó là bốn bộ chúng
đi đến chỗ tôi để nghe pháp, nếu tôi vì thế mà khởi tâm cống cao, điều ấy
chắc chắn không thể có được. Tôi cũng không hề tác ý trước, để khi có
người đến hỏi, thì tôi trả lời như vầy: này chư hiền, bây giờ tôi ngồi
đây, rồi tùy theo phía của người kia hỏi mà ứng đối”.
Khi A
Nan nói như vầy: “Thưa chư hiền, có điều rất kỳ lạ này: đó là có số Sa
môn, Phạm Chí, dị học đến hỏi việc nơi tôi, nếu vì thế mà tôi sợ sệt, hãi
hùng, lông tóc dựng đứng, không thể có sự kiện đó. Tôi cũng không hề tác ý
trước để khi có người đến hỏi thì tôi sẽ trả lời như vầy: thưa chư hiền,
bây giờ tôi ngồi đây, rồi theo nghĩa ấy mà ứng đối”.
Lại
nữa, có một hôm Tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả A Nan,
trụ tại nước Xá Vệ, trong núi Bà La Là. Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi
rằng: “Này hiền giả A Nan, thầy hầu hạ Thế Tôn suốt 25 năm, thầy nhớ có
lần nào khởi dục tâm không?”.
- Thưa
Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi còn là hàng hữu học, chưa ly dục.
- Này
A Nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữa học hay vô học, tôi chỉ hỏi thầy suốt
25 năm qua, thầy hầu hạ bên đức Thế Tôn có khi nào Thầy khởi dục tâm
không?
Xá Lợi
Phất hỏi ba lần như vậy, thì A Nan cũng trả lời ba lần như vậy. Khi ấy Tôn
giả Mục Kiền Liên ngồi một bên nắm chéo áo A Nan thúc mà nói:
- Hiền
giả A Nan đáp nhanh đi, hiền giả đáp nhanh đi, đừng xúc nhiểu đến bậc
thượng tôn trưởng lão mà tội.
- Thưa
Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm, tôi nhớ lại chưa
hề khi nào phát khởi dục tâm, vì tôi thường hướng đến Thế Tôn và các vị
đồng phạm hạnh với tâm niệm hổ thẹn.
Lại
nữa, có một thời đức Thế Tôn du hóa tại thành Vương Xá, trụ trong Nham
Sơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo:
- Này
A Nan, thầy nên nằm như cách nằm của sư tử chúa.
- Bạch
Thế Tôn, sư tử chúa nằm như thế nào?
- Sư
tử chúa ban ngày đi tìm ăn, xong rồi vào hang, khi muốn ngủ, bốn chân xếp
chồng lên phải. Qua đêm ấy, đến sáng hôm sau, quay ra nhìn thân thể, nếu
như sư tử thấy thân thể mình không ngay ngắn thì chẳng ưng, buồn bã, còn
nếu ngay ngắn tròn trịa thì hớn hởn vui mừng, nó từ chỗ nằm đứng dậy, ở
trong hang đi ra, đi ra rồi vươn mình, vươn mình rồi tự ngắm thân thể, tự
ngắm thân thể xoay nhìn bốn hướng, xoay nhìn bốn hướng rồi liền rống lên
vài ba tiếng, rồi đi tìm ăn, cách thức nằm của sư tử chúa là như vậy.
- Bạch
Thế Tôn, đó là cách nằm của sư tử chúa, còn cách nằm của Tỳ kheo thế nào?
- Nếu
Tỳ kheo trụ nơi thôn ấp, qua một đêm đến sáng hôm sau, khoát y ôm bát, đi
vào thôn khất thực, khéo hộ trì thân thể, nhiếp thủ các căn, trụ nơi chánh
niệm. Vị ấy từ thôn ấp lần lượt khất thực xong, thâu bát xếp y, rửa sạch
tay chân, vắt ni sư đàn lên vai đi đến chỗ rừng vắng hoặc đến dưới gốc
cây, hoặc trong nhà trống, hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, trừ các phép
chướng ngại trong tâm. Ban ngày đã tịnh trừ chướng ngại trong tâm, rồi lại
vào đầu hôm, tinh tấn tọa thiền, tư duy để thân tâm được vắng lặng, cho
đến nữa đêm, xã thiền đi vào tịnh thất đất nằm, xếp làm bốn Uất Ða La Tăng
trải lên giường, gấp đôi Y Tăng Già Lê làm gối, nằm xuống phía hông bên
phải, hai chân xếp chồng lên nhau, ý buộc vào mình tưởng chánh niệm, chánh
trí, hằng hướng đến ý tưởng sẽ ngồi dậy. Khi đêm đã qua, mau ngồi dậy, đi
kinh thành, hoặc tọa thiền để tịnh trừ sự chướng ngại của tâm. Như vậy là
cách nằm sư tử của Tỳ kheo. Kể từ đó A Nan nằm xuống như sư tử chúa không
hề có lần nào nằm về hướng bên trái.
Lại
nữa, có lúc đức Thế Tôn du hóa Câu Thi Na Kiệt, trụ trong rừng Ta La của
Hòa Bạt Ðam lực sĩ. Bây giờ là lúc tối hậu, đức Thế Tôn muốn thủ bát Niết
bàn, Thế Tôn bảo:
- Này
A Nan, thầy hãy đi đến giữa hai cây Ta La song thọ, trải một giường nằm,
đầu quay về hướng bắc cho Như Lai, vì nữa đêm hôm nay Như Lai sẽ bát Niết
bàn.
Tôn
giả A Nan vâng lời, liền đến giữa hai cây Ta La, trải giường nằm, trải
xong trở về đức Thế Tôn, cúi đầu lễ Phật, đứng sang một bên, bạch Thế Tôn:
- Con
đã trải giường nằm, quay đầu về hướng bắc cho Như Lai, ở giữa hai cây Ta
La song thọ rồi, kính mong Như Lai tự quyết.
Bất
giờ Thế Tôn dẫn A Nan đến giữa hai cây Ta La song thọ, xếp làm bốn Uất Ða
La Tăng trải lên giường, gấp đôi Y Tăng Già Lê làm gối, nằm về phía hông
bên phải, hai chân chồng lên nhau.
Lúc
tối hậu, Thế Tôn sắp bát Niết bàn, Tôn giả A Nan quạt hầu Phật giơ tay gạt
nước mắt, nghĩ như vầy: “Trước kia có đại chúng Tỳ kheo ở các nơi muốn đến
thăm viếng đức Thế Tôn để cúng dường, lễ bái thì đều có thể tùy lúc mà
được thăm viếng, cúng dường, lễ bái. Bấy giờ họ nghe được Thế Tôn sắp bát
Niết bàn thì sẽ không còn đến thăm viếng, cúng dường Thế Tôn nữa”.
Khi ấy đức Thế Tôn hỏi
các Tỳ kheo: “Tỳ kheo A Nan giờ ở đâu?”
Bạch Thế Tôn, A Nan đang
cầm quạt hầu Phật và khóc lóc nghĩ ngợi.
- Này
A Nan, thầy chớ khóc lóc, cũng chớ buồn rầu, vì thầy hầu hạ Ta thân hành
từ hòa, khẩu và ý hành từ hòa, chưa từng có hai tâm, an lạc vô lượng, vô
biên, vô hạn. Này A Nan, trong đời quá khứ, các bậc Như Lai, Vô Sở Trước,
Chánh Ðẳng Chánh Giác có người thị giả hầu cận, thì cũng không thể hơn
thầy được, nay Ta là bậc Như Lai, Ứng Cúng trong đời hiện tại, nếu có
người thị giả nào thì người thị giả đó cũng không thể hơn thầy được, vì
thầy khéo biết thời, khéo phân biệt thời, điểm và hiểu biết ý Như Lai
trong mọi trường hợp.
Bấy
giờ Thế Tôn muốn làm cho Tôn giả A Nan vui vẻ, bèn bảo các Tỳ kheo rằng:
- Vị
chuyển Luân Thánh Vương có bốn pháp vị tằng hữu, mà mỗi khi các hàng Sát
đế lợi, cư sĩ hoặc Sa môn đến yết kiến, Chuyển Luân Thánh Vương dù nói hay
im lặng, họ thấy mặt đều sanh tâm hoan hỷ, vui vẻ. Tỳ kheo A Nan cũng vậy,
A Nan có bốn pháp vị tằng hữu mà mỗi khi chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu Bà
Tắc, Ưu Bà Di đến tham vấn thì dù A Nan có nói hay im lặng, họ thấy A Nan
rồi thì liền sanh tâm hoan hỷ, vui mừng.
Lại
nữa, A Nan thuyết pháp cho đại chúng có bốn điểm vị tằng hữu. Mỗi khi A
Nan thuyết pháp cho chúng Tỳ kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, bằng
lời chí tâm thành kính, cả chúng nghe rồi nghĩ như vầy: “Mong Tôn giả A
Nan thuyết pháp không dừng lại nữa chừng”.
Khi
nghe Tôn giả A Nan thuyết pháp, các chúng hoàn toàn tâm không chán nản,
và Tỳ kheo A Nan vẫn ngồi im lặng.
Lại
nữa thuở ấy, Thế Tôn đã bát Niết bàn chưa được bao lâu, A Nan du hóa tại
Kim Cang, trụ ở thôn Kim Cang. Bấy giờ thuyết pháp cho vô lượng trăm nghìn
đại chúng vây quanh. Hiện đó, có Tôn giả Kim Cang Tử cũng ở trong chúng,
Tôn giả trong lòng suy nghĩ: “Hiền giả A Nan vẫn còn là bậc hữu học chưa
ly dục sao, ta thử nhập Như Kỳ Tượng Ðịnh để quan sát tâm A Nan như thế
nào?”. Nghĩ rồi bèn nhập định, Tôn giả biết A Nan vẫn còn là bậc hữu học
chưa ly dục,Tôn giả liền xuất định hướng về A Nan, nói bài tụng:
Núi rừng
vắng tư duy
Niết bàn
khiến vào tâm
Thiền Cù
Ðàm không loạn
Sẽ sớm
chứng tịch tịnh.
Bấy
giờ A Nan nghe lời dạy của Tôn giả Kim Cang Tử, rời bỏ chỗ đông người,
sống một mình nơi yên tĩnh, tinh tấn không tán loạn, thời gian chẳng bao
lâu các lậu dũ sạch, cho đến khi vừa mới nghiêng đầu chưa đụng gối lòng
bổng nhiên khai ngộ, chứng tâm giải thoát. Nếu Tôn giả A Nan nói như vậy
thì đó là pháp vị tằng hữu của A Nan.
Nếu
sau khi chứng tâm giải thoát rồi, A Nan nói rằng: “Tôi sẽ ngồi kiết già để
bát Niết bàn, thì đó chính là pháp vị tằng hữu của A Nan”.
Bị nạn Ma Ðăng Già:
(Xem chuyện Tỉnh Giấc Mơ Hoa ở Truyện cổ Phật giáo
Tập I)
Ðối với Ni Chúng:
Một con người đa cảm, giàu
tình thương nên lắm lúc thấy ai đau khổ hay ý nguyện không tròn thì A Nan
sẳn sàng giúp đỡ mọi cách. Với một tình thương, giàu nhân ái đó mà A Nan
đã đề bạt và bạch Phật cho hàng nữ nhân được xuất gia theo học giáo pháp
Phật, trong khi đó cả Thánh chúng chẳng ai dám làm.
Một thời đức Thế Tôn du hóa
giữa dân chúng Thích Ca, tại Ca Tỳ La Vệ, trong khu vườn Nigrodha.
Ðêm đã qua, vừa tờ mờ sáng
bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề đi đến Thế Tôn, lạy sát chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn, hôm nay con
xin làm lễ Thế Tôn, mong Thế Tôn hứa khả cho nữ nhân được xuất gia tu học
theo giáo pháp Phật, sống đời không nhà để cầu đạo giải thoát.
- Thôi! Vừa rồi, Kiều Ðàm
Di chớ có ưa thích mà xin cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
trong pháp và luật do Như Lai thuyết giảng.
Lần thứ hai rồi lần thứ ba
đề nghị, nhưng rồi Ðức Thế Tôn cũng ba lần từ chối.
Hiểu ý Ðức Thế Tôn chẳng
muốn cho nữ nhân xuất gia, sống đời không gia đình, nên bà Ma Ha Ba Xà Ba
Ðề quá đau khổ, sầu muộn, khóc lóc nước mắt chảy đầy mặt rồi đứng dậy đảnh
lễ Ðức Thế Tôn, nhiễu quanh ba vòng rồi đi.
Khi ấy Ðức Thế Tôn rời khỏi
Ca Tỳ La Vệ để đi đến Vệ Xá Ly trú tại đại lâm, trong ngôi nhà nóc nhọn.
Biết được Thế Tôn hiện trú tại Vệ Xá Ly, bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề bèn tự cạo
đầu đắp áo cà sa cùng với 500 nữ nhân khác kéo đếnVệ Xá Ly quyết cầu Phật
cho xuất gia bằng được, trông thân thể tiều tụy, lấm lem cát bụi, đôi chân
sưng vù, đôi tay ướt đẫm, đau khổ sầu muộn mặt mày ràn rụa nước mắt, khóc
than, đứng ngoài cổng chính. Khi ấy A Nan thấy tình huống như vậy, bèn
đến:
- Thưa Kiều Ðàm Di, vì sao
lại đứng ngoài cửa, và thân thể đến nổi này? Trông thảm thương quá vậy?
- Thưa Tôn giả A Nan, Thế
Tôn chẳng cho nữ nhân xuất gia, sống đời không nhà trong chánh pháp luật
của Ngài, nên tôi mới làm ra việc này.
- Thưa Kiều Ðàm Di, hãy
đứng chờ ở đây, Tôi sẽ vào xin phép Thế Tôn cho.
Rồi Tôn giả A Nan đi đến
bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, có Kiều Ðàm
Di đứng ngoài cửa, thân thể lấm lem cát bụi, tay chân sưng vù, trông thiểu
não, nguyện xin Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
đời không nhà trong chánh pháp luật do Thế Tôn thuyết giảng cũng tốt vậy.
- Thôi, vừa rồi A Nan, chớ
có ưa thích mà xin cho nữ nhân xuất gia trong chánh pháp luật của Ta.
A Nan lại thưa đến ba lần,
nhưng rồi Thế Tôn cũng từ chối ba lần. Túng thế quá, A Nan tự nghĩ: “Thế
Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, sống trong giáo pháp, vậy ta hãy
dùng phương pháp khác để xin Thế Tôn”.
- Bạch Thế Tôn, chẳng biết
nữ nhân sau khi xuất gia tu học chơn chánh trong giáo pháp thì có thể
chứng đắc tứ quả của bậc Thánh không?
- Này A Nan, sau khi xuất
gia, sống đời không nhà, tinh tấn tu hành trong chánh pháp luật thì nữ
nhân chắc chắn chứng đắc quả Dự lưu, Nhất lai hoặc A La Hán.
- Bạch Thế Tôn, như vậy, Ma
Ha Ba Xà Ba Ðề đã giúp đỡ Thế Tôn còn nhỏ, trong bổn phận của một người
dì, người kế mẫu, cho Thế Tôn bú sữa mẹ, khi bà mẹ Thế Tôn từ trần. Bà đã
thay mẹ nâng niu nuôi nấng Thế Tôn cho đến ngày khôn lớn. Vậy Thế Tôn hãy
nghĩ tình mà cho phép nữ nhân được xuất gia.
Vì sự chân thành khẩn khoản
của A Nan, nên cuối cùng đức Thế Tôn đã chấp nhận.
Kể từ đây, hàng nữ nhân
được sống trong chánh pháp luật, cuộc đời không nhà, và tổ chức thành Giáo
Hội Ni Chúng.
Pháp Vị Tằng Hữu:
Từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy,
đi đến Thế Tôn, A Nan cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, con nghe
Ðức Thế Tôn đến thời Phật Ca Diếp mới bắt đầu phát nguyện Phật đạo, thực
hành phạm hạnh, rồi sinh lên cõi trời Ðâu Suất. Thế Tôn sinh lên sau,
nhưng có ba việc thù thắng hơn các vị trời Ðâu Suất sinh trước, đó là thọ
mạng, sắc tướng và danh dự của hàng trời. Vì vậy, các vị trời Ðâu Suất vui
mừng, hớn hở, tán thán rằng: “Kỳ diệu thay, hy hữu thay vị thiên tử này có
đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Như vậy,
con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Con
nghe khi Ðức Thế Tôn ở cung trời Ðâu Suất, ở nơi đó mạng chung biết sẽ
sinh vào thai mẹ, lúc ấy chấn động cả trời đất, có ánh sáng quảng đại vi
diệu chiếu khắp thế gian, cho đến những nơi u ám tối tăm cũng không có gì
ngăn che được, trong khi đó ánh sáng của mặt trăng, mặt trời không thể lọt
qua, chúng sanh các nơi ấy do thấy được ánh nhiệm mầu này mà phát khởi sự
hiểu biết rằng: “Có một chúng sinh kỳ diệu, hi hữu ra đời”. Như vậy, con
xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Con
nghe Ðức Thế Tôn biết mình trụ trong thai mẹ, tựa vào hông bên phải, nằm
duỗi dài, ẩn kính trong thai, không bị máu dơ làm ô uế, cũng không bị các
thứ bất tịnh khác làm ô uế. Rồi Thế Tôn biết mình sắp ra khỏi thai mẹ, lúc
ấy chấn động cả đất trời, có ánh sánh vi diệu, quảng đại, chiếu khắp thế
gian cho đến những nơi u tối cũng không có gì ngăn che được. Khi Ðức Thế
Tôn duỗi dài để ra khỏi thai mẹ và không bị máu me làm ô uế. Như vậy, con
xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe khi Ðức Thế Tôn
vừa sinh ra có bốn vị Thiên tử, tay cầm áo mịn, đứng trước thai mẹ, làm
cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: “Ðồng tử này rất kỳ diệu, rất hy hữu,
có đại như ý túc, có đại oai thần”. Rồi Thế Tôn vừa mới sinh ra liền đi
bảy bước, không khiếp sợ, không kinh hãi, quán sát các phương, thì ngay
khi ấy phía trước người mẹ bỗng nẩy sinh một hồ nước lớn, nước tràn bờ,
làm cho người mẹ ở nơi đó được tắm rửa thanh tịnh, còn Thế Tôn thì từ trên
hư không nước mưa rưới xuống, một luồng ấm, một luồng lạnh để tắm thân thể
của Thế Tôn, chư Thiên đánh trống tấu nhạc của trời, hoa sen xanh, hoa sen
vàng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng, hoa mạn đà la của trời, và bột chiên đàn
rưới trên đức Thế Tôn. Như vậy, con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của
Thế Tôn.
Con
nghe khi đức Thế Tôn ở trong hoàng gia của phụ vương Bạch Tịnh vào một
ngày đi dự lễ hạ điền, ngồi dưới gốc cây diêm phù, ly dục, ly ác và pháp
bất thiện, có giác có quán, ly sanh hỷ lạc, nhập sơ thiền và thành tựu an
trụ, bấy giờ là buổi xế, tất cả bóng của các cây đều ngã dần dần chỉ có
cây diêm phù ấy là bóng không ngã để che mát thân thể Thế Tôn. Lúc ấyvua
Bạch Tịnh đến quan sát công tác hạ điền, đi đến chỗ người làm ruộng hỏi
rằng: “Này nông phu, Vương tử ở chỗ nào?”-Vị Vương tử ấy hiện ở dưới gốc
cây diêm phù. Rồi vua Bạch Tịnh đi đến cây diêm phù, ngài ngạc nhiên thấy
bóng cây diêm phù không ngã như những bóng cây khác, liền nghĩ: “Vị Vương
tử này thật là kỳ diệu, có phước hựu lớn lao”. Như vậy, con xin thọ trì
pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Con
nghe có một thời Ðức Thế Tôn du hóa ở đại lâm, lúc đó qua một đêm, đến
buổi sáng, Ðức Thế Tôn đắp y, mang bát vào thành Tỳ Xá Ly khất thực, khất
thực xong, thâu y, ôm bát, rửa tay chân, vắt ni sư đàn lên vai đi vào
rừng, đến dưới một gốc cây đa la. Khi ấy Thích Ma Ha Nam, ung dung đi đếm
đại lâm, thấy Thế Tôn đang tĩnh tọa dưới bóng cây che mát, Ma Ha Nam nghĩ:
“Sa môn Cù Ðàm rất kỳ diệu, rất hy hữu và có đại công đức lớn”.
Cũng
có một thời Ðức Thế Tôn du hóa tại Tỳ Xá Ly, trong đại lâm. Bấygiờ, các
Thầy Tỳ kheo để bát ngoài đất trống, lúc ấy, bát Thế Tôn cũng có trong số
đó, có một con khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi, các Thầy Tỳ kheo la gọi, sợ
rằng nó làm bể bát của Thế Tôn, nhưng Phật bảo các Tỳ kheo: “Hãy để yên
đừng la, nó không làm bể bát đâu”. Thế rồi khỉ ôm bát của Thế Tôn đi đến
một cây Sa La, chậm rãi leo lên, lấy mật đầy bát, rồi chậm rãi leo xuống,
trở về chỗ của Ðức Phật, đem dâng bát mật ấy lên cho Ðức Thế Tôn. Ðức Thế
Tôn không nhận. Lúc đó, khỉ liền ôm qua một bên, nhặt bỏ rác và sâu bọ,
sau khi lựa bỏ rác xong, nó ôm bát trở lại dâng lên Thế Tôn, nhưng Thế Tôn
vẫn không nhận. Khỉ lại ôm qua một bên, múc nước đổ vào trong mật, rồi ôm
trở lại dâng lên Thế Tôn. Bấy giờ Thế Tôn thọ nhận. Khỉ thấy Thế Tôn lấy
bát mật rồi, vui mừng hớn hở, múa may nhảy nhót rồi bỏ đi.
Hoặc
một thời Ðức Thế Tôn du hóa tại Tỳ Xá Ly, cao lầu đài quán, bên bờ ao di
hầu, bấy giờ Thế Tôn đang phơi tọa cụ, rũ bụi phủi đất, lúc ấy có một đám
mây kéo tới trái thời, che kín khắp hư không, muốn mưa nhưng dừng lại chờ
Ðức Thế Tôn phơi tọa cụ. Sau khi rũ bụi phơi xong, xếp đem vô nhà, bấy giờ
đám mây lớn ấy mới mưa xuống thật to, từ đất cao cho đến thấp, nước ngập
lai láng. Như vậy, con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Con
nghe Ðức Thế Tôn khi ở trong miếu A Thần Phù, bấy giờ sau một đêm, đến
buổi sáng Ðức Thế Tôn khoác y ôm bát vào thôn A Phù để khất thực. Sau khi
khất thực xong, thâu bát xếp y, rửa tay chân, Thế Tôn vắt ni sư đàn lên
vai đi vào miếu thần ngồi nghỉ. Bấy giờ mưa to và sấm sét đánh chết bốn
con trâu và hai người cày, lúc chôn cất cho hai người chết đó, thật đông
đảo ồn ào, âm thinh cao và to, tiếng dội chấn động. Bấy giờ vào xế trưa,
khi Ðức Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa
đứng dậy, trong miếu thần đi ra chỗ đất trống để kinh hành, trong đám
đông, có người thấy Thế Tôn, liền đi đến cúi đầu làm lễ rồi đi kinh hành
theo Phật. Ðức Thế Tôn thấy người ấy ở phía sau, nên hỏi rằng: “Vì cớ gì
mà đông đảo ồn ào, nhiều người vậy”. Người ấy thưa: “Bạch Thế Tôn, khi
trưa trời mưa to và sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày, họ
chôn các người ấy, nên đông đảo và ồn ào như vậy. Bạch Thế Tôn, vừa rồi
Ngài ngủ sao?-“Không phải”-Lúc ấy Ngài tỉnh mà không nghe âm thanh lớn ấy
sao?”-“Quả thật như vậy”. Rất là kỳ diệu, rất là hy hữu, sở hành của Như
Lai, bậc Vô Sở Trước Ðẳng Chánh Giác rất là vắng lặng, rất là tịch tịnh.
Vì sao? Vì lúc tỉnh mà vẫn không nghe các âm thanh to lớn này. Như vậy,
con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.
Rồi có
lần Ðức Thế Tôn trụ tại Uất Tỳ La bên bờ sông Ni Liên thuyền ngồi dưới cây
A Xà Hòa La Ni Câu Loại lúc mới thành đạo. Bấy giờ mưa lớn đến bảy ngày,
từ chỗ cao đến thấp bị ngập nước, từng luồng nước lớn chảy ngang dọc,
trong vùng đất đó, Ðức Thế Tôn đi kinh hành đến chỗ nào thì chỗ ấy đếu khô
ráo. Hoặc nữa, ma vương trong suốt sáu năm theo Phật để tìm chỗ sơ suất mà
không được, liền chán nản bỏ về, chẳng phá hoại được gì nơi Thế Tôn. Lại
nữa, Thế Tôn suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn suy niệm không gián
đoạn, thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn bảo rằng:
- Này
A Nan, thầy hãy nghe Như Lai nói và thọ trì thêm pháp vị tằng hữu. Này A
Nan, Như Lai biết thọ sanh, biết trú, biết diệt, luôn luôn biết chẳng có
lúc nào không biết. Này A Nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết diệt,
luôn luôn biết không lúc nào không biết. Cho nên, này A Nan, hãy nghe Như
Lai mà thọ trì pháp vị tằng hữu như vậy.
Bảy điềm mộng:
Thời
gian sau này, khi Ðức Thế Tôn gần bát Niết bàn, một đêm A Nan nằm mộng
thấy bảy điều quái dị, trong lòng hoang mang lo sợ, sáng ngày đến bạch Thế
Tôn:
Bạch
Thế Tôn, đêm vừa qua con nằm ngủ thấy bảy điều mà lâu nay con chưa hề bao
giờ thấy mộng mị hay chiêm bao. Bạch Thế Tôn, bảy điềm mộng mà con thấy
là:
- Lữa dữ khắp nơi, thiêu
đốt làm khô biển ngòi sông rạch.
- Mặt trời rụng xuống,
thế gian tối tăm, đầu con cao ngang núi Tu di.
- Tỳ kheo bỏ giới luật,
vứt áo cà sa.
- Tỳ kheo y áo tả tơi,
xuôi theo thế gian khổ sở.
- Heo rừng kéo đến ủi
bức gốc rễ cây chiên đàn to lớn.
- Voi con không nghe lời
voi mẹ rong chơi khắp nơi, lạc đường bị chết đói.
- Sư tử chết, bị các vi
trùng trong thân bò ra lúc nhúc, rúc rỉa.
A
Nan, biết rằng mộng là do tâm sanh, nhưng bảy điều vừa rồi thầy đã thấy đó
chính là điềm báo trước trong tương lai Tăng đoàn sẽ suy đồi, giáo pháp sẽ
bị mai một.
Này A
Nan, điềm thứ nhất, đó là trong đời mạt pháp có hạng Tỳ kheo được đàn na
thí chủ cúng dường đầy đủ, rồi lại sanh lòng tranh cãi chia rẽ.
Thứ
hai, mặt trời sụp xuống, thế gian tối tăm và đầu A Nan vươn cao như núi Tu
Di, đó là sau khi Ta bát Niết bàn, đại chúng, chư thiên sẽ cử thầy trùng
tuyên lại giáo pháp.
Thứ
ba, Tỳ kheo mà vứt bỏ cà sa, hủy hoại giới pháp đó là điềm trong đời mạt
pháp có hạng Tỳ kheo chỉ lý thuyết suông mà chẳng chuyên tâm tinh tấn tu
hành.
Thứ
tư, Tỳ kheo lận đận, khốn đốn, y áo tả tơi, đó là điềm trong đời mạt pháp
có Tỳ kheo bị vợ con ràng buộc, bỏ giới chạy theo thế tục.
Thứ
năm, heo rừng ủi tung rễ chiên đàn, đó là điềm trong đời mạt pháp có hạng
Tỳ kheo buôn bán Như Lai, xem giáo pháp như món hàng để trao đổi sự lợi
dưỡng.
Thứ
sáu, voi con không nghe lời voi mẹ, cuối cùng phải chết đói, đó là điềm
trong đời mạt pháp có hàng Tỳ kheo trẻ tuổi, hậu học, không chịu nghe lời
chỉ dạy của bậc Tôn túc, không tin tội phước nhân quả, chết đều rơi vào
địa ngục.
Thứ bảy, dòi bọ từ trong
thân sư tử chết bò ra rúc rỉa thịt xương của sư tử, đó là điềm trong đời
mạt pháp chính đệ tử của Như Lai phá hoại Phật Pháp, chứ chẳng do ngoại
đạo, bên ngoài có sức phá nổi.
Bảy
điềm mộng của A Nan, để chứng minh cho hôm nay, thực tế đã xảy ra, vậy
chúng ta biết rằng giai đoạn này chính là thời mạt pháp.
Sáu tội Ðột Kiết La:
“Các đệ tử
Phật
Nếu nghĩ
đến Phật
Nên báo ân
Phật
Chớ nhập
Niết bàn”
Một
hoàn cảnh thật đau lòng, sau khi Phật diệt độ, trong hàng đệ tử vị nào đã
chứng đắc A La Hán thì cũng lần lượt Niết bàn theo Phật, còn những ai chưa
đạt đến quả vị tự thâu thần tịch diệt được thì ưu sầu thương tiếc. Tâm tư
của hàng đệ tử bấy giờ bị chấn động mãnh liệt, ai cũng đầy ấp nỗi lòng nhớ
nhung, bàng hoàng trước sự ra đi của Thế Tôn vào nơi tịch mặc, chẳng ai có
lòng dạ nào để suy nghĩ việc gì hơn nữa. Trước cảnh bi thương ấy, Ngài Ðại
Ca Diếp quán xuyến tâm tư của hàng Thánh chúng bị xáo trộn, lung lay. Ngài
nghĩ nếu như vậy tiếp tục diễn tiến thì chắc chắn Phật Pháp sẽ
bị mau tiêu diệt, giáo pháp sẽ chóng lãng quên và chúng ta chẳng
tròn bổn phận với Ðức Như Lai và đắc tội với chúng sanh, xa thời chánh
Pháp. Trước một trọng trách nên làm và phải hoàn thành trước nhất, ấy là
kiết tập giáo pháp của Ðức Thế Tôn, suốt thời gian 45 năm Ngài đã hoằng
hóa.
Tiếng
kiềng chùy được giống lên trên đỉnh núi Tu Di, vang vội khắp thế giới ba
ngàn:
“Hỡi
các Thánh đệ tử, những bậc vô sanh, các hàng tôn túc, hãy nhớ lời Phật
dạy, thương xót chúng sanh, chớ vội thâu thần thị tịch, thế gian tăm tối
hàng chúng sanh trong đời mạt pháp sẽ bơ vơ, vì con mắt trí tuệ của thế
gian đã nhắm lại rồi. Vì lòng thương tưởng cho đời, mở lượng từ bi, xin
các Ngài hãy kiết tập giáo pháp, xâu chuỗi viên ngọc vô giá thành từng
chuỗi mà Ðức Thế Tôn đã trao truyền cho chúng ta, để sau này hàng chúng
sanh được ân triêm công đức”.
Lời
triệu thỉnh được truyền đi và hội chúng tụ tập, vây quanh giảng đường để
báo ân Phật, kiết tập giáo pháp.
Trước
khi bắt tay vào công việc, Ngài Ca Diếp nhập đại định, để quán tâm đại
chúng, xem ai chưa đoạn tận các lậu, và thấy A Nan hãy còn những kiết sử
vụn vặt của một vị Tu Ðà Hoàn. Xuất định, Ðại Ca Diếp đi đến chỗ A Nan,
thản nhiên nắm tay A Nan kéo ra khỏi đại hội và nói rằng: “Trong hàng
Thánh chúng tất cả các lậu hoặc đều đã đoạn trừ và đang làm việc thanh
tịnh, ông hãy còn nhiễm ô, chưa sạch, vậy xin mời ra khỏi đại hội. Ðó là
tội đột kiết la thứ nhất.
Như cả
một bầu trời sụp đổ, mây đen giăng kín cả lòng, thật là một điều không
ngờ, làm thị giả suốt 25 năm trời gần Phật để đến giờ phút này A Nan phải
lãnh chịu hậu quả tan nát cả lòng, bị đuổi ra khỏi đại hội chẳng được
duyên lành báo đáp ân Phật. Tủi phận mình, A Nan tự nghĩ: “Khi Phật còn
tại thế, ta theo hầu Ngài từ khi mới xuất gia cho đến khi Ngài thị tịch,
chưa có lần nào bị tủi hổ và khổ não như bây giờ”.
Thưa
Tôn giả Ðại Ca Diếp, từ khi làm thị giả cho Thế Tôn đến bây giờ, không
phải tôi không đủ khả năng để hoàn thành một vị A Lan Hán, nhưng vì trong
pháp Phật, một vị A Lan Hán không thể làm công việc của một thị giả, hầu
cạnh Phật được, vì lý do đó nên tôi còn giữ lại một ít kiết sử nhỏ nhiệm
để tròn bổn phận của mình.
Trước
nỗi lòng tha thiết đó, Ngài Ca Diếp vẫn lạnh nhạt, tiếp tục hạch tội:
Khi
Ðức Thế Tôn còn ở đời, ý Ngài không muốn cho nữ nhân xuất gia sống theo
pháp luật của chúng Tăng, nhưng do ông ân cần thưa thỉnh nên Ðức Thế Tôn
nhận lời, để cho thời chánh pháp của Ðức Thế Tôn bị giảm 500 năm, đó là
tội đột kiết la thứ hai.
Rồi
đến Phật sắp nhập Niết bàn, Ngài đau lưng phải trải bốn lớp áo Uất Ða La
Tăng để nằm. Lúc đó, Ðức Thế Tôn nói với ông hãy múc nước cho Thế Tôn. Khi
ấy sao ông không chịu múc nước, đó là tội đột kiết la thứ ba.
Một
hôm nọ trong rừng Ta La, Ðức Thế Tôn hỏi: “Bậc có bốn thần túc, có thể duy
trì đời sống trong một kiếp hay một phần kiếp” Ông vẫn làm thinh, Ðức Thế
Tôn hỏi tới ba lần mà ông cũng không đáp. Do nhân duyên đó mà Ðức Thế Tôn
quyết định nhập Niết bàn, đó là tội đột kiết la thứ tư.
Trong
khi trải Tăng Già Lê của Phật mà ông lại dẫm chân lên đó là tội đột kiết
la thứ năm.
Sau
khi Ðức Thế Tôn nhập Niết bàn tại sao ông lại vén y cho nữ nhân thấy
tướng mã âm tàng của Thế Tôn, một việc phi pháp, đó là tội đội kiết la thứ
sáu.
Trước
những lời buộc tội gay gắt, nhưng A Nan bình tĩnh, xin giải bày:
Ðối
với tội thứ nhất tôi phải đành chịu, vì thương Phật nên tôi lưu lại một ít
phiền não. Còn tội thứ hai vì thấy tình cảnh của bà Kiều Ðàm Di thảm
thương quá, hơn nữa lại là di mẫu của Thế Tôn,
nên tôi cầu xin như vậy, vì trong chư Phật ba đời thảy đều có bốn
bộ chúng, thì Ðức Thế Tôn của chúng ta cũng phải có đủ. Tội thứ ba chẳng
phải tôi không dâng nước cho Phật, mà vì do ngựa voi lội trên sông làm cho
nước vẩn đục. Tội thứ tư, là khi ấy ma vương muốn hại nên che kín cả tâm
tôi, chứ không phải tôi có ác ý muốn Thế Tôn nhập Niết bàn sớm. Tội thứ
năm, lúc ấy vì gió lớn quá, một mình tôi nắm chẳng hết nên bị gió tung và
rớt y xuống chân chứ không phải tôi cố tình dẫm lên y Phật. Cuối cùng tội
thứ sáu, tôi tự nghĩ rằng cho các nữ nhân thấy tướng âm tàng của Thế Tôn
để tự xấu hổ thân hình nữ của mình mà siêng năng tu hành và cầu làm thân
nam, tướng hảo, chứ chẳng phải làm điều phi pháp chẳng biết xấu hổ.
Sau
những lời luận giải rõ ràng, nhưng Ngài Ca Diếp vẫn bắt A Nan sám hối
trước đại chúng, và nói rằng: “Khi nào ông hết các kiết sử thì mới được
vào đây”.
Thầm
lặng A Nan bước ra khỏi giảng đường và về phòng riêng. Trong đêm đó, A Nan
tọa thiền, nhập định cho đến nửa đêm, thấy mỏi quá, bèn nghiêng mình nằm
xuống nghỉ, nhưng đầu chưa chấm gối thì hoát nhiên đại ngộ. Tiếp tục A Nan
nhập Kim Cang định và phá đổ hết thảy các lậu hoặc vi tế, chứng đắc tam
minh lục thông, trở thành vị A La Hán.
Trong
đêm đó, A Nan liền đến phòng riêng của Ðại Ca Diếp gõ cửa để trình bày sở
đắc của mình, nhưng Ngài Ca Diếp chẳng mở cửa mà nói rằng: “Hãy chui lỗ
khóa mà vào” A Nan bèn dùng thần thông sẳn có lách mình qua lỗ khóa vào
đảnh lễ Ngài Ca Diếp. Ðại Ca Diếp. vui mừng, xoa đầu A Nan nói rằng: “Này
A Nan, hiền giả chớ giận ta nghe, mục đích ta muốn hiền giả tự đắc chứng,
như vẽ hình giữa hư không, không dính mắc vào đâu cả, hơn nữa, giáo pháp
của Thế Tôn tồn trữ trong tâm của hiền giả vắng lặng trong ngần như biển
sâu để tuyên hoằng lại cho hàng hậu chúng”.
Một
lần nữa Ðại Ca Diếp vỗ đầu A Nan, tỏ một niềm kính mến thiết tha, vì A Nan
sẽ chủ trì trọng trách kiết tập giáo pháp, sẽ xâu lại những lời vàng,
tiếng ngọc để làm mặt trời huệ cho hậu lai.
Tiếng
kiềng chùy lại gióng lên và buổi kiết tập giáo pháp được bắt đầu. Ngài Ðại
Ca Diếp đi trước, A Nan theo sau khoan thai tiến vào hội chúng, trong bước
đi trầm hùng như sư tử, dõng dạc như tượng vương, sắc mặt rạng rỡ tươi
sáng. Ðại chúng đều im lặng, cung thỉnh A Nan thăng lâm pháp tòa sư tử, và
suối pháp tuôn chảy từ A Nan, như hải triều âm bất tuyệt.
Nhập Niết bàn:
Một
thời A Nan du hành tại Tỳ Xá Ly.
Sau
buổi du hóa, Ngài đi đến các vị Tỳ kheo đang nhóm dưới những gốc cây thanh
vắng tĩnh tọa, tư duy, hay cùng nhau đàm đạo những lời Ðức Thế Tôn đã
giảng thuyết.
Trong
nhóm Tỳ kheo trẻ đang luận bàn về đề tài thế gian vô thường Phật pháp sanh
diệt, con người cũng nằm trong định luật ấy. Có kẻ sanh ra đời rồi lớn lên
trải qua đôi mươi năm rồi chết đi, luống qua một kiếp người vô tích sự,
không làm lành, cũng chẳng tạo phước hay ích lợi cho ai, vậy sự sống của
kẻ ấy có trải qua trăm năm hay ngàn năm rồi cũng vô dụng.
Khi
bàn luận đến đây, có vị Tỳ kheo trẻ phát biểu:
Thế
gian vô thường, đời người chóng vánh, sinh ra đời sống hằng trăm năm mà
không gặp Phật Pháp, không tạo duyên lành tô bồi cho kiếp sau thì rồi cũng
luống trôi qua, chẳng bằng kẻ sống
một ngày mà thấy được con hạc già đứng cạnh bờ ao. Rồi vị Tỳ kheo ấy đọc
lên bài kệ:
“Như
nhơn sinh bách tuế
Bất kiến
thủy lão hạc
Bất như
sinh nhứt nhật
Nhi đắc
kiến chi”.
Bất
giờ Tôn giả A Nan cũng ngồi gần đó nghe vị Tỳ kheo trẻ đọc bài kệ như vậy,
Ngài thầm nghĩ: “Vị Tỳ kheo này sao đọc lạ vậy, Ðức Thế Tôn có dạy như vậy
bao giờ đâu, chắc có lẽ vị ấy đã nhầm lẫn”. Nghĩ xong Tôn giả đứng dậy đi
đến bên vị Tỳ kheo ấy nói rằng:
- Này
hiền giả, vừa rồi hiền giả đọc bài kệ như vậy là nhầm rồi, Thế Tôn không
phải dạy như vậy, mà như thế này, hiền giả hãy nghe kỹ:
“Nhược
nhơn sinh bách tuế
Bất kiến
sanh diệt pháp
Bất như
sanh nhứt nhựt
Nhi đắc
kiến chi”.
Nghe
xong vị Tỳ kheo trẻ không biết đâu là sai, đâu là đúng.
Sau khi trở về tịnh xá,
vị Tỳ kheo trẻ ấy đem sự việc bài kệ mà Ngài A Nan đã đính chính đọc lại
cho thầy nghe. Vị bổn sư của thầy Tỳ kheo trẻ nầy nghe rồi liền nói:
Tôn
giả A Nan bây giờ đã già nên sanh ra lẩm cẩm, có nhớ rõ ràng gì đâu mà nói
đúng. A Nan biết được điều này, Ngài tự nghĩ: “Hàng chúng sanh hậu học căn
cơ chậm lụt chẳng nhận ra đâu là tà thuyết của ngoại đạo, của sự mê mờ,
chấp giữ sai lầm, thật thương thay! Giáo pháp của đấng Thế Tôn rồi đây sẽ
mai một. Thôi, giờ ta hãy vào Niết bàn, vì đã già nua lẩm cẩm”. Nghĩ vậy,
A Nan quyết định nhập Niết bàn.
Trước
khi vào nơi tịch mặc vĩnh viễn, A Nan bèn kêu đệ tử của mình là Thương Na
Hòa Tu dạy rằng:
- Này
Pháp tử, khi Ðức Thế Tôn sắp nhập Niết bàn Thế Tôn đã trao truyền chánh
pháp nhãn tạng lại cho Tôn giả Ðại Ca Diếp, sau đó Tôn giả cũng nhập Niết
bàn nên đã trao lại cho ta, nay ta cũng nhập Niết bàn, vậy ta phó chúc lại
cho ông, ông nên truyền thừa ngọn đuốc giáo pháp để soi sáng thế gian làm
con mắt huệ cho đời và báo Phật ân đức, lợi lạc chúng sanh. Ông hãy giữ
gìn cẩn thận.
- Kính
bạch Thầy, xin Thầy hãy vì lòng từ bi thương tưởng cho đời, vì lợi ích
hàng Tăng chúng, làm điểm tựa cho hàng hậu học còn đang cần Thầy, chớ vội
vào Niết bàn.
- Ðã
đến lúc ta vào Niết bàn, ông hãy lắng lòng nghe bài kệ mà thọ trì pháp Như
Lai:
“Bản lai
phó hữu pháp
Phó liễu
ngôn vô pháp
Các các
tu tự ngộ
Ngộ liễu
vô vô pháp”.
Tin
Ngài A Nan sắp vào Niết bàn, từ vua quan đến dân chúng ai nấy đều rơi lệ
thương tiếc. Vòm trời trần gian mất đi bóng sáng của ánh sao mai và hàng
chúng Tăng mất đi một bậc kỳ đức tôn túc.
Khi ấy
vua A Xà Thế và vua nước Tỳ Xá Ly rắp tâm đến giành Xá lợi đem về nước xây
bảo tháp thờ.
Thấy
trước tình cảnh như vậy, Tôn giả A Nan đi thẳng về phía bờ sông Hằng, lên
một chiếc thuyền và ngồi kiết già thả trôi ra giữa dòng sông mà nhập Niết
bàn.
Vua A
Xà Thế liền cùng quan quân, tùy tùng tìm đến bờ sông, vua thấy Tôn giả A
Nan kiết già phu tọa trên thuyền ở giữa dòng sông, liền cúi đầu đảnh lễ và
đọc bài kệ:
“Khể thủ
tam giới tôn
Khí ngã
nhi chí thử
Tạm bằng
bi nguyện lực
Thả mạc
bát Niết bàn”.
Ðồng
thời, vua nước Tỳ Xá Ly cũng rầm rộ voi ngựa kéo đến bờ bên kia sông Hằng,
cúi đầu và đọc bài kệ:
“Tôn giả
nhất hà tốc
Nhi qui
tịch diệt trường
Nguyện
trụ tu du gian
Nhi thọ
ư cúng dường”.
Trước
nổi lòng khuyến thỉnh của hai vua, Tôn giả A Nan đọc bài kệ:
“Nhị
vương thiện nghiêm trụ
Vật vi
khổ bi luyến
Niết bàn
đương ngã tịnh
Nhi vô
chư hữu cố”.
Liền
khi ấy, Tôn giả A Nan nhập định và bát Niết bàn.
Giới Ðức
“Làm cho ông lưu chuyển sanh tử, là lỗi tại
cái tâm cùng với con mắt, vậy nếu ông không biết cái tâm cùng con mắt ở
chỗ nào? Thì ông không hàng phục được phiền não trần lao. Cũng như vị quốc
vương bị giặc đến xâm chiếm, đem binh dẹp trừ, nếu không biết được giặc ở
chỗ nào, thì không bao giờ dẹp trừ giặc được”.
Ðộ đệ tử
(^)
Lúc
Phật còn tại thế, có một vị tân Tỳ kheo tên là Hòa Tiên, cùng đi với một
người đệ tử đến yến kiến Ðức Thế Tôn. Ðức Phật lấy tay chỉ người cùng đi,
hỏi vị tân Tỳ kheo rằng:
- Thầy
là gì giới Thầy?
Vị Tân
Tỳ kheo ấy tỏ vẻ sung sướng:
- Kính
bạch Ðức Thế Tôn, Thầy này là đệ tử của con!
Ðức
Thế Tôn ngạc nhiên:
- Thầy
được bao nhiêu tuổi hạ?
- Bạch
Thế Tôn, con được hai tuổi hạ, vị tân Tỳ kheo trịnh trọng thưa. Ðức Thế
Tôn tiếp lời:
-
Người đệ tử của Thầy đây được mấy tuổi hạ?
- Bạch
Thế Tôn, Thầy này được một tuổi hạ, vị tân Tỳ kheo trả lời.
Lúc
bấy giờ Ðức Thế Tôn liền kêu riêng vị Tỳ kheo ấy mà dạy rằng:
- Thầy
độ người như vậy là không đúng phép, không đúng của Sa môn… Thầy không nên
làm như vậy.
Chính
Thầy chưa biết chi, lấy chi Thầy dạy đệ tử?!
Ðức
Thế Tôn la rầy quở trách ông Hòa Tiên Tỳ kheo xong liền bảo các Thầy Tỳ
kheo rằng:
Từ nay
về sau, vị nào muốn độ người xuất gia phải đủ những điều căn bản như sau
đây:
1/
Phải đủ 10 tuổi hạ-chứ không phải tuổi đời hay tuổi thọ giới.
2/
Phải thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến…
3/
Phải biết thế nào là khai, giá, trì, phạm, khinh, trọng v.v…
Nếu
không hội đủ những điều tất yếu như vậy thì không được độ người xuất gia
làm đệ tử. Ngoài ra, vị nào xét thấy mình đủ những yếu tố trên nhưng
trước khi bắt đầu độ người xuất gia phải (bạch nhị yết ma) và Tăng đoàn
chấp thuận mới được.
Lại có
một vị Tỳ kheo Ni, ham nuôi đệ tử, có năm độ đến hai ba người xuất gia mà
rồi không chu đáo được vấn đề giáo dục cho họ nên gây ảnh hưởng không hay
cho Tăng đoàn. Ðức Thế Tôn liền kêu vị Tỳ kheo Ni ấy hỏi rằng:
-
Ngoài đời có ai một năm sanh hai ba người con không? Nếu có thì sự nuôi
dạy có chu toàn không v.v…
Ðức
Thế Tôn quở trách vị Tỳ kheo Ni ấy xong liền khuyên bảo các Tỳ kheo rằng:
- Từ
nay các vị đừng nên làm việc phi pháp, phi Sa môn… như vậy nữa!
Thích Ðổng Minh
“Giới luật là mạng mạch của Tăng già, là
thuyền bè đưa chúng sanh thoát khỏi bể khổ”.
Ðạo tràng của Bồ Tát
(^)
Ngày
xưa ở một ngôi chùa lớn tại Trung Quốc, có một vị sư nổi tiếng là khùng.
Thầy không bao giờ ở chùa, quanh năm mặc cái rách đi lang thang la cà khắp
các trà đình tửu điếm, bạn với những kẻ côn đồ, nghiện ngập. Những kẻ này
sau khi giao thiệp với Thầy, phần lớn đâm ra hiền lương và trở thành những
hiệp sĩ ưa giúp đời. Chúng tụ tập tại các bến chợ, đỡ đần gánh nặng cho
những người già yếu, sản ph