Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 3
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần
tám
Công
đức xuất gia
(^)
Tại thành
Vương xá, vườn trúc Ca La Ða, một bài pháp tán than về hạnh xuất gia, mà
âm vang còn vọng khắp đó đây: “Nếu người nào thường hay khuyến khích, kẻ
nam người nữ, dân chúng hay chính tự mình xuất gia thì công đức ấy thật
nhiều vô lượng, nếu đem so sánh với những phước báo khác thì phước báo này
hơn hết. Vì sao vậy? Vì phước báo bố thí chỉ có hạn định, còn phước báo
xuất gia thì vô ngằn mé, nên không thể bì kịp, hoặc phước báo trì giới,
hoặc phước báo của các vị các thần tiên có năm phép thần thông, cho đến
phước báo cùng tột của cõi trời Phạm thiên mà đem ví với phước báo của
người xuất gia chơn chánh trong Phật pháp thì không thể so sánh nổi. Hơn
nữa người xuất gia là kẻ đi trên con đường đến Niết Bàn, thể nhập tịch
tĩnh, nên nói đến phước báo này không thể nghĩ bàn.
Giả như
có người phát tâm xây tháp bằng thất bảo cao ngất tận trời cao, thì công
đức ấycũng không bằng người khuyến khích kẻ khác xuất gia, vì thất bảo kia,
chắc chắn có ngày nào đó sẽ sụp đổ, hoặc bị kẻ gian ác ngu si phá hủy, còn
kẻ khuyến khích người xuất gia, thì người kia tu hành phạm hạnh, tinh tấn
trì giớ đức , cuối cùng chứng đắc A La Hán vô sanh hoặc lậu đoạn tận,
trang nghiêm chánh pháp, thì phước báo này là hơn nhất và cũng không ai
hủy hoại được.
Muốn cầu
các pháp thanh tịnh, ngoài Phật Pháp ra không có pháp nào có thể hơn được.
Cũng như có 100 người đui gặp thầy thuốc chữa lành, thấy rõ mọi vật, hoặc
100 người bị tội móc mắt mà giải cứu được khỏi bị nạn móc mắt, hai việc
làm trên tuy có lớn lao, nhưng cũng không bằng khuyên người xuất gia.
Công đức xuất gia cao cả
cùng tột, vì vậy chính tự mình xuất gia hay cho người khác xuất gia, sau
khi tu hành thành tựu quả vị Bồ Ðề, hoằng dương giáo pháp, phổ giáo chúng
sanh, chứng đắc tuệ nhãn, muôn ngàn kiếp không thể hoại diệt, lại còn làm
con mắt sáng cho nhân thiên nữa. Những người được hưởng phước báo trong
cõi người, cõi trời, chỉ trong thời gian rồi cũng bị dục vọng làm mê hoặc,
phóng túng tư tình mà không có con mắt trí tuệ để nhận xét sự vật là vô
thường, hư ngụy, là hố lửa, hang sâu thiêu đốt những ai ngu si tham vọng,
là con đường dẫn dắt vào tam đồ lục đạo.
Pháp xuất
gia có uy lực tiêu diệt quyến thuộc ma vương, làm cho lợi ích cho dòng
xuất thế của Phật Pháp, nuôi pháp lành, nhổ tội báo, tăng phước duyên rồi
thành Phật.
Ðức Phật
dạy: Công đức xuất gia trong sáng cao như núi Tu di, sâu như biển cả, rộng
như hư không. Ai đem tâm cản trở người xuất gia sẽ bị đoạ vào địa ngục hắc
ám, và không có mắt, chịu sự tối tăm đoanh vây.
Vì vậy,
khuyến khích hỗ trợ người xuất gia hay tự mình xuất gia được công đức cao
như trời xanh, lớn như biển thẳm. Người xuất gia lấy kinh điển làm nước để
rửa sạch hoặc nghiệp ô nhiễm, tẩy trừ sự sinh, già, bệnh, chết và gây nhân
thể nhập Niết bàn. Lấy giới làm chân bước trên đất thanh tịnh trang nghiêm,
lấy luật làm mắt để quán sát những việc thiện ác của thế gian, đi trên
chánh đạo thẳng tiến Niết bàn. Ðó là pháp tối thắng của người xuất gia.
Thuở xưa, có một ông
trưởng giả tên là Thi Lợi Bí Ðề sống đã tới 100 tuổi. Một hôm, ông nghe
người ta kể cho ông nghe công đức của người xuất gia cao cả như vậy, ông
thầm nghĩ: “Ta nay tuổi đã già, sức đã yếu, nhưng đối việc xuất gia học
đạo theo Phật pháp được nhiều phước đức cao cả vậy ta hãy đến chỗ Phật xin
xuất gia kẻo uổng lắm”. Nghĩ xong gọi vợ con lên bảo:
- Này bà
và các con, hôm nay tôi muốn đi xuất gia học đạo, làm đệ tử Ðức Thế tôn,
vậy ở nhà hãy lo làm ăn, có đồng ý không?
Vốn dĩ bị
vợ con ghét bỏ, vì họ cho ông chỉ là kẻ ăn hại, chẳng làm việc gì cho có
ích gia đình và những kẻ xung quanh, nên khi nghe ông đề nghị như vậy, vợ
con đều tỏ ý vui mừng và tán đồng ngay.
- Dạ phải,
ông hãy đi xuất gia đi, càng nhanh càng tốt, đi cho lũ chúng tôi nhờ.
Ông già
bèn lên đường, thẳng đến Trúc Lâm nơi Thế Tôn và đại chúng trú ngụ. Nhưng
chẳng may cho ông là hôm đó Thế Tôn chẳng có nơi tịnh thất, đi hóa độ nơi
xa, ông già thăm hỏi các thầy:
- Bạch
Ðại Ðức, Thế Tôn ở phòng nào? Xin làm ơn chỉ giùm tôi.
- Ðức Thế
Tôn đi hóa độ chưa về.
- Bạch
Ðại Ðức, Thế Tôn đi vắng rồi ai là bậc Tôn Túc Trưởng lão ở đây?
Nghe hỏi
các Tỳ kheo đều chỉ đến ngài Xá Lợi Phất, ông lão chống gậy về phía Tôn
giả, đến nơi, ông lão bỏ gậy, chắp tay thưa:
- Kính
lạy Tôn giả, con một lòng chí tín xuất gia, học đạo, cúi xin Ngài thương
xót thân già, thâu nạp làm đệ tử, con xin đội ơn muôn kiếp.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nhìn ông lão một lúc, rồi nghĩ: “Ông lão này yếu đuối quá, vậy
học hỏi tọa thiền và giúp việc chúng làm sao ông đảm đang nổi” nên Tôn giả
đáp:
- Ông già
yếu lắm rồi, không thể xuất gia được đâu.
Nghe nói
vậy, ông lão bèn chống gậy đến Ngài Ca Diếp, Ưu Ba Ly, A Nậu Lâu Ðà. . .
cuối cùng đến 500 vị A La Hán đều hỏi:
- Ông đã
thưa vị nào chưa?
Trước
tiên con có đến Ðức Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không có nhà, rồi con lại đến
Tôn giả Xá Lợi Phất, nhưng Ngài chê con già nua, lẩm cẩm nên không nhận
con làm đệ tử, xuất gia học đạo.
Nghe nói các vị đều nghĩ:
“Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ siêu phàm mà không dám nhận ông lão
vào hàng xuất gia huống nữa là ta. Như người thầy thuốc giỏi thấy con bịnh
không thể chữa được nên các thầy thuốc khác cũng chạy luôn, có nghĩa gì.
Hay Tôn giả biết trước ông lão sắp sửa chết nên không nhận, vì có nhận thì
cũng không thể tu học được gì. Nghĩ vậy nên các Ngài cũng từ chối luôn.
Ông lão
thất vọng, xin xuất gia mà chẳng có Ngài nào chấp nhận, chán nản ông ra
ngoài cổng Trúc viên ngồi than khóc một mình, nghĩ rằng: “Ta từ lúc cha
sanh mẹ đẻ cho đến khi khôn lớn rồi có gia đình sự nghiệp mãi đến bây giờ,
thử nghĩ lại, ta có làm điều chi tàn ác đâu, vậy tại sao ta chẳng thể xuất
gia học đạo được. Còn ông Ưu Ba Ly là người bần tiện, ông Ni Ðề là người
hốt phân bò, ông Ương Quật Ma La là kẻ sát nhân khủng khiếp, ông Ðà Tắc Ky
là ác nhân làm giặc, vậy mà sao họ lại được xuất gia thâu vào hàng Tăng
chúng? Còn riêng ta thì có tội chi?” Ðương cật vấn lòng mình, thì bỗng
nhiên Ðức Thế Tôn đi đến trước mặt, hào quang chiếu sáng, dung ghi đoan
nghiêm, ông hoảng hồn chấp tay bái lạy.
- Này Thi
Lợi Bí Ðề, làm gì mà khóc lóc vậy?
Ðức Thế
Tôn hỏi, ông mừng rỡ quá, vội thưa:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, có những chúng sanh kẻ giết người, người làm giặc, kẻ nói dối,
người phỉ báng, kẻ hạ tiện và những người cùng đinh, nhưng tất cả đều được
xuất gia tu học, còn riêng con, tự xét từ thuở cha mẹ sinh ra, làm người
đến giờ, nay là 100 tuổi rồi, con có làm điều gì bất thiện đâu, vậy tại
sao con không thể tham dự vào hàng Tăng chúng xuất gia của Thế Tôn được.
Bạch Thế Tôn, ở nhà thì bị vợ con ghét bỏ, nên đến đây, cầu chí nguyện
xuất gia thì lại bị các Tôn giả chê là già cả, vô tích sự nên không thâu
nhận. Khốn nổi quá! Con muốn tự tử, chết quách tại đây cho xong cái thân
hủ bại này.
- Ai nói
người này được xuất gia, còn kẻ kia thì không được xuất gia?
- Kính
bạch Thế Tôn, Trưởng lão Tôn Túc Xá Lợi Phất đó.
-Thôi ông
chớ buồn nữa, ta sẽ cho ông xuất gia học đạo, hãy theo ta vào Tịnh xá.
Nỗi lòng được xoa dịu, ước
nguyện được viên thành, ông lão vui mừng hớn hở, như muốn chắp cánh bay
lên hư không.
Khi về
tới Tịnh xá, Thế Tôn gọi Mục Kiền Liên giao trách nhiệm và dạy bảo, làm lễ
thế phát cho ông lão.
Vì Ðức
Thế Tôn là bậc Nhất thiết trí, với thiên nhãn, Ðức Thế Tôn nhìn thấy suốt
tâm địa chúng sanh, ai có duyên với người nào thì người đó mới độ được.
Như người chỉ có duyên với Phật thì duy chỉ có Phật mới độ được mà thôi,
còn như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên Liên cũng chịu; hoặc ngược lại kẻ có
duyên với Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên thì Phật cũng chịu không thể độ được
người đó.Vì duyên ai nấy gặp, không thể thay thế. Vì vậy, ông lão này trừ
Mục Kiền Liên ra không ai độ được.
Vâng lời
Thế Tôn, nhận trách nhiệm dạy bảo ông lão, Mục Kiền Liên thầm nghĩ: “Ông
lão này tuổi tác đã già rồi, thân hình lọm khọm, thì trong ba việc tụng
kinh, tọa thiền, và làm việc chúng chẳng được việc nào, nhưng Thế Tôn đã
giao, ta không dám trái ý”.
Ðược vài
hôm sau, Tôn giả làm lễ thế phát và mở giới đàn truyền giới cụ túc cho ông.
Từ khi
ông lão được thế phát xuất gia, chính thức là một Sa môn chánh hạnh, ông
rất tinh cần, ngày đêm cố gắng tu tập, nghe rành hiểu rõ giáo pháp nên
chẳng bao lâu ông đã thuộc làu kinh điển, do vì đời trước ông cũng đã gieo
rồng chủng tử lành và có duyên với Phật Pháp nên tuy đời này đi xuất gia
muộn nhưng chưa phải là trễ, chỉ tiếc có điều là tuổi già sức yếu nên về
phép tắc oai nghi đối với các bậc tôn túc không được tròn bổn phận cho lắm,
vì vậy mà các vị Tỳ kheo trẻ sanh tâm khinh lờn ông, cho rằng ông chẳng
giữ lề luật, thanh quy nơi thiền môn, cửa Phật. Thấy thái độ của các Tỳ
kheo trẻ đối với ông như vậy, ông lão tự nghĩ: “Thiệt khổ! Khi còn ở nhà
thì vợ con chẳng ngó ngàng gì tới, nay được xuất gia làm Sa môn đầu Phật,
mong sự an nhàn, để tiến tu công đức ai ngờ lại bị các thầy Tỳ kheo trẻ
tuổi hất hủi, khinh miệt, chẳng biết ta có tội gì mà nặng nề quá vậy,
phiền não chẳng chịu được, chi bằng ta chết bỏ xác cho hết chuyện”. Ông
liền đi đến khu rừng, bên cạnh con sông chảy xiết, ông cởi áo cà sa, vắt
lên cành cây, rồi quỳ thẳng chấp tay đối trước chiếc áo khóc lóc mà nguyện
rằng: “Con xin bỏ mạng nơi này, nhưng không bao giờ bỏ Phật Pháp Tăng.
Chiếc áo của con, xin dâng cúng các vị Tỳ kheo tinh tấn, trì giới tu hành,
nguyện bỏ thân này, được sinh vào nhà giàu sang, phú quý, vui vẻ thuận hòa,
chẳng ai cản các thiện pháp, ước nguyện việc làm của con và được gặp thiện
trí thức, xuất gia học đạo, tu đắc quả vị vô sanh, hoằng truyền pháp Phật
và thẳng tiến trên con đường cứu cánh Niết bàn”. Nguyện xong, ông lão nhảy
ùm xuống nước. Khi đó Tôn giả Mục Kiền Liên ở trong khu rừng trúc, dùng
thiên nhãn xem ông đệ tử già của mình làm trò gì, thì chợt thấy ông ta
nhảy tủm xuống sông, Tôn giả bèn phóng thần túc vớt ông lên bờ rồi bay tới
hỏi:
- Pháp tử
làm gì vậy?
Thi Lợi
Bí Ðề nhìn lên thấy Thầy mình, mắc cở quá liền cúi đầu xuống chẳng biết
thưa như thế nào cho phải. Ông thầm nghĩ: “Ta không nên nói dối với Thầy,
nếu nói dối trải qua nhiều đời sẽ bị tội kông lưỡi, nhưng nói dối sao được,
vì Thầy mình có thần thông mà, vậy có nói gì nữa thì cũng biết. Trên đời
bậc trí tuệ, thông minh, thật thà, ngay thẳng, các ông trời cũng phải kính
trọng, còn kẻ dối trá, ngu si thì sẽ bị người ta khinh miệt, chê bai, cho
là đồ hèn hạ, bẩn thỉu, lắm lúc có nói thật đi nữa thì họ cũng cho là nói
dối, chẳng tin. Vậy chi bằng ta hãy trình bày sự thật cho Thầy mình biết,
tội gì phải nói dối, mang tội đọa địa ngục”.
Bạch Thầy,
con đã chán nản cái cảnh tục lụy hồng trần này nên nguyện cắt tóc xuất gia,
cầu sự an lạc, nhưng những ngày con ở đây, chẳng thấy sự an lạc gì hết, mà
trái lại còn bị phiền nhiễu, bận lòng, nên con muốn chết tại đây cho xong
đời, không ngờ Thầy biết được, xin Thầy rộng lượng từ bi mà tha thứ.
Tôn giả
Mục Kiền Liên liền nghĩ: “Ông lão này sao lắm chán vậy, cứ đòi tự tử mãi
thôi. Nếu ta không dùng một phương pháp sợ hãi thì đối với việc xuất gia
của ông không thành công”.
- Này
Pháp tử, hãy nắm chặt chéo áo cà sa của ta, khi đi trên hư không, ông phải
nhiếp niệm chớ có loạn tưởng nghe.
- Dạ, con
xin tuân mạng.
Ông nắm
chéo áo thật chặt, Tôn giả Mục Kiền Liên bèn vọt thẳng lên hư không, như
một cơn gió thổi mạnh, cuốn theo sau một làn bụi mỏng, trong chốc lát đã
tới bờ biển. Tôn giả đáp xuống trên bãi cát, hai thầy trò thả bộ dọc theo
biển. Ði được một đỗi, gặp người con gái mới chết, nằm phơi xác dưới ánh
nắng mặt trời, ruồi nhặng bu quanh, trên mặt có một con trùng bò ra rồi
chun vô lỗ mũi, sau lại luồn ra hai mắt, rồi rúc vào lỗ tai, thấy thật ghê
rợn.
- Bạch
Thầy, người con gái này tạo nghiệp gì mà chết phơi thây trên bãi cát vậy?
- Chớ vội,
tí nữa sẽ hay.
Hai thầy
trò đi được vài dặm lại gặp một người con gái, đội cái chảo bằng đồng đến
mé biển, đổ nước đầy rồi đun lửa sôi sùng sục, cô bèn cởi bỏ áo quần nhảy
vào chảo nước sôi ấy, tóc lông rụn hết, chân tay rả rời, nhừ nát cả thân
thể, nước sôi mạnh quá làm hất tung cả xương thịt ra ngoài, nhưng xương
thịt ấy gặp cơn gió thổi qua thì liền lại thành hình người như cũ, rồi cô
gái ấy tự xé thịt mình từng mảnh mà ăn nhai ngấu nghiến, trông ngon lành
lắm. Thấy vậy, ông lão sợ hãi, núp sau lưng thầy mà hỏi:
- Bạch
Thầy, người con gái này mắc tội gì mà tự ăn thịt mình ghê quá vậy.
- Chớ vội,
tí nữa sẽ hay.
Rồi tiếp
tục đi, vài dặm nữa, có một thân cây to đứng bên đường rất nhiều sâu bọ
bám quanh mình, cho đến cành lá cũng đều bị sâu bám chặt rúc rỉa, lại nghe
những tiếng kêu than thảm thiết, rợn người.
- Bạch
thầy, tiếng rên la của ai mà nghe rợn tóc gáy vậy?
- Chớ vội,
tí nữa sẽ hay.
Thầy trò
lại dắt nhau đi lang thang một đỗi thì gặp một trái núi rất lớn, có nhiều
đao kiếm nhọn sắc, cắm ngược mũi lên trời, sừng sựng như hàng cây mọc, lại
có một người nằm lăn từ trên đỉnh xuống dưới chân núi cứ như vậy suốt ngày
không thôi. Hình dạng rách nát, máu me đầm đìa chẳng còn hình thù một con
người nữa, thấy vậy, ông lão lên cơn sốt, bám chặt sau lưng Thầy:
- Bạch
Thầy, ông làm công việc như vậy để được gì trông ghê quá!
Với giọng
từ hòa cố hữu:
- Chớ vội,
tí nữa sẽ hay.
Lại tiếp
tục cuộc đi, qua khỏi hòn núi này, lại gặp một con trai to lớn, quanh mình
mọc ra những đầu thú to tướng, lại thấy các quỷ thần từ xa cầm cung nỏ,
mỗi mũi tên có ba chỉa, đầu bọc sắt nhọn có tẩm thuốc độc và cháy đỏ, họ
thi nhau bắn vào thân hình người con trai, cháy nung da thịt, kêu gào thảm
thiết.
- Ồ Bạch
Thầy, người chi lạ vậy, con sợ quá!
- Từ từ
rồi sẽ hay, chớ vội.
Nắm chéo
áo theo sau Thầy được một đỗi nữa, thì có một quả núi lớn nhưng núi này
toàn bằng xương ghép lại, không có đất đá, cỏ cây, cao tới bảy trăm do
tuần, che kín cả một khoảng trời rộng, thầy trò bèn lên trên sườn núi mà
đi. Thi Lợi Bí Ðề vừa đi vừa nghĩ: “Giờ này có lẽ ta hỏi Thầy sẽ trả lời,
chứ hồi nãy đến giờ Thầy chưa trả lời cho mình một câu hỏi nào hết. Nghĩ
vậy liền thưa:
- Bạch
Thầy, xin Thầy giảng giải những sự việc vừa rồi cho con hiểu.
Pháp tử,
hãy chú ý, lần gặp đầu tiên, người con gái chết nằm trên bãi cát đó là vợ
của Tát Bạc, người nước Xá Vệ. Cô ta rất đẹp nên được chồng quý mến và
chẳng muốn xa rời. Một hôm Tác Bác dong thuyền đi buôn, nhưng vì thương vợ
quá không thể để ở nhà một mình nên cho đi theo, cùng 500 khách buôn ra
biển.
Thường
ngày cô vợ hay tô điểm phấn son, trâm cài, lược dắt, soi gương ngắm nhìn
vẻ đẹp kiều diễm của mình và sanh lòng kiêu mạn, và quyến luyến sắc đẹp ấy
chẳng muốn phôi pha.
Thuyền đã
ra khơi, bỗng gặp một con rùa khổng lồ đạp thủng hông thuyền, nước tràn
vào và thuyền chìm lĩm xuống biển, mọi người đều chết hết, sóng gió thổi
tạt những thây chết ấy vào bờ, vì tâm ái luyến và tưởng nhớ sắc đẹp nơi
mặt mình, nên cô ta sau khi chết đọa làm côn trùng, nó vơ vẩn trên khuôn
mặt từ mồm rúc ra lại luồn qua mũi, sang lỗ tai, chui vào mắt để ngắm xem
bộ mặt đẹp đẽ, khả ái của mình mà không nở rời xa.
- Còn
người thiếu phụ tự ăn thịt mình nơi chảo nước sôi, ấy là tội gì vậy?
Người con
gái đó, ở Xá Vệ là đứa tớ của một người Ưu Bà Di. Người Ưu Bà Di nguyện
cúng dường cho một Tỳ kheo trì giới thanh tịnh trong mùa an cư ở riêng
trong một tịnh thất, ngày ngày Ưu Bà Di sửa soạn các món ăn ngon lành có
mùi đặc biệt, tới bửa sai đứa tới gái ấy bưng dâng cho vị Tỳ kheo kia,
nhưng khi bưng đi, người tớ gái đó bốc ăn hết những thức ăn ngon chỉ để
lại các món ăn dở cho vị Tỳ kheo dùng. Qua một thời gian, Ưu Bà Di thấy
nhan sắc của tớ gái tươi tắn, mập mạp bèn hỏi:
- Bộ mi
ăn vụng các món ăn của Thầy ta hay sao mà độ này mày mập tốt vậy?
- Thưa bà,
đâu dám, con cũng tin tội phước lắm chứ, con đâu phải kẻ tà kiến ngu si,
có lẽ nào con lại làm một việc hỗn ẩu như vậy. Sau khi Thầy ăn xong rồi
còn thừa cho con, con mới dám hưởng chứ. Con xin thề: “Nếu con ăn trước đồ
ăn của Thầy, đời đời con tự ăn thịt thân con”.
- Này
Pháp tử, chính do nơi lời nói dối trá và thề thốt của người tớ gái mà sau
khi chết phải chịu quả báo chính tự mình tạo ra là ăn thịt tự thân mình,
sau đọa vào địa ngục, chịu khổ vô cùng tận.
- Bạch
Thầy, còn thân cây to lớn hồi nãy, có các con trùng bám chặt, sao mà rên
la dữ vậy?
- Ðó là
một vị Tỳ kheo, giữ của thường trụ tên là Lại Lợi Cha, lấy hoa quả và
những đồ dùng khác cho anh em họ hàng và những người chung quanh, những
người ấy sau khi chết, rơi vào loài súc sanh sâu trùng bám vào thân cây mà
rúc rỉa, còn thân cây ấy, chính là vị Tỳ kheo giữ của thường trụ.
- Bạch
Thầy, còn người bị bắn, thân thể cháy nám hết cả, là ai vậy?
- Người
ấy lúc sanh thời là một thợ săn, sát hại các loài thú quá nhiều, bởi tội
báo đó nên bây giờ phải chịu các quỷ thần bắn tên độc vào mình, chịu khổ
não muôn bề, chưa rõ ngày nào thoát khỏi.
- Cái
người lăn trên núi dao, máu me đẫm mình ấy, ông ta tạo tội gì mà bức bách
quá vậy?
- Người
này ở thành Vương Xá, là một chiến tướng đi tiên phong, sát hại dân chúng
chẳng gớm tay, vì tội báo này, phải đọa vào đại địa ngục chịu thống khổ và
việc làm hiện tại của ông đó là sự trả báo cho ngày trước.
- Vậy,
còn cái núi xương mà chúng ta đang đứng đây là do đâu mà có?
- Núi
xương này là của con cá Ma Kiệt, chính là tiền thân của ông. Ông còn là kẻ
phàm phu chưa biết.
Nghe Thầy
nói, ông lão đánh thót cả người, quỳ xuống bạch rằng:
- Bạch
Thầy, tâm hồn con mê mờ, ngu tối chẳng biết đâu là đâu, vậy xin Thầy chỉ
cho con biết vì tội gì mà con phải làm thân cá?
- Sinh tử
không bờ, luân hồi không bến, nhưng đối với nghiệp báo thiện ác không sai
lệch, trốn thoát được – Vào thuở quá khứ, có ông vua ở Diêm Phù Ðề này,
tên là Ðàm Ma La Bí Ðề, chăm làm việc bố thí, giữ giới nghe kinh, có tâm
từ bi, tánh không bạo ác, chẳng khi nào làm tổn thương tánh mạng loài côn
trùng. Xứng đáng là một ông vua đạo đức. Ông dùng chánh pháp để trị dân,
làm vua được 20 năm, nhân lúc rảnh đánh bạc chơi vui, lúc ấy có người bất
bình với quan tòa trong một vụ xử kiện, quan tòa nổi giận và ỷ mình là
quan lớn nên đi ngay vào tâu láo với vua:
- Tâu bệ
hạ, ngoài thành có kẻ phạm tội giết người, vậy phải trị như thế nào?
Nhà vua
ham chơi chẳng suy nghĩ:
- Cứ
chiếu theo luật nước mà trị tội.
Quan tòa
y theo luật, kẻ nào giết người thì bị tử hình, nên người đó bị xử trảm một
cách oan ức.
Mãn cuộc
chơi vua hỏi kỹ lại các quan, mới hay người ấy bị hãm hại vô cớ. Vua giựt
mình, xây xẫm mặt mày, té lăn xuống đất. Các quan kêu gọi hồi lâu mới tỉnh.
Vua than:
- Thôi
rồi! Hỡi các cung tần mỹ nữ! Hỡi bá quan văn võ ! Ta phải đọa vào địa ngục,
vì đã phạm tội giết người! tất cả đền đài ngôi báu ta xin trao lại cho các
khanh ngự trị, riêng ta một mình dấn thân vào rừng sâu núi thẳm để tu hành,
cầu đạo giải thoát từ đây.
Nỗ lực
tiến tu, sau thời gian liên tục, cuối cùng mạng chung, vua đọa làm loài cá
Ma Kiệt ở trong biển lớn, thân cá dài 700 do tuần. Một giấc ngủ trải qua
một trăm năm, lúc tỉnh dậy đói quá, không có đồ ăn nên há miệng ra các
loài tôm cá đều trôi vào bụng Ma Kiệt. Giữa lúc há miệng có một chiếc
thuyền buôn đang theo dòng nước, xuôi thẳng vào miệng cá, mọi người trên
thuyền quá khủng khiếp, gào thét, khóc la, có kẻ niệm Phật, người cầu trời
khẩn đất, cũng có người kêu gọi cha mẹ vợ con, kể lể hôm nay là phút cuối
cùng từ biệt cõi đời, không bao giờ thấy lại gia đình nữa. Thuyền sắp chui
vào miệng cá, sự sợ hãi lên tột độ, mọi người đồng thanh niệm to “Nam Mô
Phật”. Bấy giờ cá Ma Kiệt nghe được tiếng Phật, động lòng từ bi liền ngậm
miệng lại, đoàn người nhờ vậy được an lành. Vì lòng từ bi đó, cá Ma Kiệt
lặn xuống nước nhịn đói rồi chết, sau đầu thai sinh vào thành Vương Xá,
còn xác cá Ma Kiệt, nổi trên biển, các quỷ dạ xoa la sát kéo vào bờ và
khiêng vứt lên bãi. Trải qua ngày tháng nắng mưa, da thịt đều tan hết chỉ
còn trơ lại bộ xương. Này pháp tử, ông vua thuở đó nay chính là ông. Bởi
tội giết người mà phải đọa làm cá Ma Kiệt ở dưới biển, nay đã làm được
thân người tại sao lại muốn chết? Ông hãy nhàm chán sinh tử để yên tâm cầu
giải thoát, chứ nếu một khi rơi vào địa ngục thì khó bề có ngày ra khỏi.
Thi Lợi
Bí Ðề nghe thầy mình giảng giải những báo ở tiền kiếp được hiểu rõ nhân
quả luân hồi, và sự tạo nghiệp, trong lòng rung động, nhàm chán sanh tử.
Ông chú ý quán sát đống xương cá là kiếp trước chính thân mình, thầm hiểu
nỗi vô thường biến dịch. Trong giờ phút đó, Thi Lợi Bí Ðề trút sạch các
lậu hoặc, đắc quả A La Hán. Biết được đệ tử của mình đã chứng quả, Mục
Kiền Liên hoan hỷ:
- Này
pháp tử, việc làm của ông đã xong, gánh nặng đã đặt xuống rồi, vậy hãy về
Tịnh Xá. Nói xong, Tôn giả vụt lên hư không như phượng hoàng vỗ cánh, Thi
Lợi Bí Ðề cũng bay theo, như chim con bay theo chim mẹ, trong chốc lát đã
đến vườn trúc, trước cửa Tịnh xá. Khi ấy các vị Tỳ kheo trẻ chưa biết ông
đã chứng quả A La Hán nên vẫn xem thường, không cung kính có lúc lại còn
la rầy nữa. Nhưng vì lòng đã từ mẫn nhu nhuận nên ông hoan hỷ âm thầm chấp
nhận.
Ðức thế
Tôn biết được tâm ý của các Tỳ kheo trẻ kinh mạn đối với các bậc đã chứng
quả, và để chận đứng tội lỗi đó, nên giữa đại chúng Phật dạy:
- Này Thi
Lợi Bí Ðề, ông mới ở ngoài biển về phải không?
- Bạch
Thế Tôn, con mới từ biển về.
- Ra biển
có gì vui không?
Thi Lợi
Bí Ðề cung kính thuật lại những điều đã qua cho Thế Tôn và đại chúng nghe.
Phật dạy
- Lành
thay, Thi Lợi Bí Ðề kể từ hôm nay nỗi khổ sanh tử ông đã trút sạch, thể
chứng Niết Bàn. Như vậy, ông thọ nhận sự cúng dường của chư thiên và loài
người, việc làm xứng đáng của một bậc A La Hán.
Nghe sự
việc rõ ràng như vậy, các Tỳ kheo trẻ lo sợ, thầm nghĩ: “Chính ông lão này
là bậc Trưởng lão Tôn túc, ấy là mình không hiểu, đem tâm khinh mạn, tội
này chẳng phải nhẹ, vậy giờ ta hãy tỏ bày sám hối trước Tôn giả là hơn”
Nghĩ xong, các Tỳ kheo trẻ đứng dậy đến trước Thi Lợi Bí Ðề cúi đầu xin
sám hối.
Tôi đối
với mọi người đều có lòng thương xót, xin nguyện các Thầy thân tâm được
thanh tịnh. Mặc dù đã sám hối, nhưng các Tỳ kheo trẻ vẫn thấy sợ sệt, Thi
Lợi Bí Ðề biết được, ông giảng giải lý sanh tử cho nghe, từ đó các Tỳ kheo
trẻ gắng tu, tinh cần công hạnh, chẳng bao lâu đều đắc quả A La Hán. Do
nhân duyên này, tiếng đồn khắp thành Vương xá:
- Thật lạ
quá, ông già 100 tuổi rồi mà đi tu còn đắc đạo, thuyết pháp như nước chảy
suối reo, chưa từng thấy. Từ đó, người trong thành noi gương ông mà lần
lượt xuất gia rất nhiều.
Giới Ðức
“Ðức Phật cao thượng hơn các bậc trí tuệ, Ngài
chẳng những chỉ cho chúng sanh thấy cái quả, mà còn dẫn chứng cho thấy cái
nhân. Mỗi khi đề cập cái nhân, thì Ngài tiên đoán ngay cái quả”.
Vị
Sa Di giữ giới
(^)
Xưa tại
nước An Ðà có một vị Tỳ kheo sai một vị Sa Di đến nhà một cư sĩ lấy đồ ăn.
Lúc bấy giờ cả nhà đi xem hội vắng, chỉ có một người con gái tuổi 16, nhan
sắc đẹp đẽ ở nhà. Người con gái thấy vị Sa Di, tà tâm nổi lên, bèn cuối
lạy vị Sa di và thưa rằng:
- Nhà của
tôi tiền bạc rất nhiều, nếu Ngài chiều theo ý của tôi thời Ngài làm chủ
cái nhà này, tôi nguyện xin cung cấp tất cả.
Vị Sa di suy nghĩ rằng:
- “Ta thà
chịu bỏ thân mạng, quyết không phá cấm giới”.
Nghĩ vậy
bèn vào trong phòng, đóng cửa quỳ thẳng chấp tay phát nguyện rằng:
- “Tôi
nguyện không bỏ Tam Bảo chánh giới, nguyện sanh vào nhà thanh tịnh dứt
sạch mọi phiền não, thành đạt Chánh giác”.
Phát
nguyện xong bèn tự giận mà chết.
Vua trong
nước nghe tin bèn tán thán cho rằng việc chưa từng có, bèn tự thân hành
đến đảnh lễ trước vị Sa di, để thi hài trên xe báu, làm lễ cúng dường, rồi
đem các thứ gỗ thơm làm giàn hỏa thiêu thân vị Sa di: “Xả thân giữ cấm
giới”.
Minh Châu
“Giới là phao nổi để vượt qua bể khổ sanh tử,
là ngọc anh lạc để trang nghiêm Pháp thân”
“Giới là đèn sáng lớn
Hay thiêu tối đêm dài.
Giới là gương thật báu
Soi khắp pháp thế gian
Giới là thuyền bè lớn
Ðưa người qua bể khổ.
Giới là ao thanh lương
Tắm gội trừ phiền não.
Mọi công đức lành, đều từ đây phát sanh”.
Vạ mẹ
(^)
Ngày xưa
có một nước rất là thái bình thịnh vượng, nhân dân cực kỳ đông đúc yên vui,
mùa màng tươi tốt, của cải chứa chan, khí hậu đều hòa, tật bệnh không có,
khắp thị thành thôn quê, đâu cũng như đâu, ai nấy đều được sung sướng như
ý, không hề nghe tiếng kêu ca than thở bao giờ, đi đến đâu cũng thuần
những cảnh ăn uống chơi bời hát xướng vui vẻ, thật không khác chi cảnh
thần tiên hiện tại.
Bấy giờ
vua hỏi các quan rằng:
- “Trẫm
nghe nói có những thứ tai vạ, vậy không biết có những thứ gì và hình thù
của nó ra sao?”
Tất cả
các quan cũng đều nói là không ai biết cả. Vua liền sai một ông quan đi
sang nước bên cạnh xem có thì mua về.
Lập tức
ông sắm sửa để đi, sang tới nơi, vào trong một cái chợ rất đông, thấy có
một người (thần hóa) đứng giữa một con vật thật kỳ quái, hình nó như một
con lợn nhưng coi rất hung tợn, nên phải buột bằng dây sắt và khóa bằng
một cái khóa sắt rất cẩn thận.
Ông quan
kia liền hỏi:
- Ðây là
con vật gì và có bán không?
- Ðây là
“Vạ mẹ” ông có mua tôi bán cho.
- Bao
nhiêu thì bán và hằng ngày nó ăn bằng gì?
- Một
nghìn vạn thì tôi bán, cứ mỗi ngày nó ăn hết một đấu to kim.
Khi ông
quan mua được đem về, liền truyền khắp cho tất cả toàn dân ai ai cũng phải
góp kim để nuôi Vạ mẹ.
Từ đấy
trở đi suốt đêm ngày khắp cả nhân dân trong nước, ai ai cũng phải lo tìm
kiếm sao cho ra kim để đóng góp, từ quan chí dân, đi đến đâu cũng thấy
diễn ra những cảnh hà hiếp bắt bớ nhau, toàn dân bỏ hết mọi sự làm ăn,
thành ra vườn ruộng bỏ hoang nhân dân đói khổ, tranh giành cướp bóc lẫn
nhau, trở nên rối loạn, đâu đấy đều bị lầm than khổ sở vô cùng.
Sau một
thời gian, các quan thấy dân thống khổ quá lắm rồi, mới tâu vua rằng: Vì
cái Vạ mẹ nó đã sinh ra cho dân biết bao nhiêu tai họa, khiến cho toàn dân
phải điêu đứng khốn khổ vì nó, vậy nay xin đem giết nó đi.
Vua nói:
Việc đó phải lắm!
Bấy giờ
cho người đem ra ngoài thành giết, thì đâm nó không thủng, chém nó không
đứt, bổ nó không vào, đập nó không vỡ, đánh nó không chết, sau cùng phải
đem lửa đốt nó.
Khi mình
nó bị lửa cháy hồng, thì nó chạy xông vào khắp tất cả làng xóm, chợ búa,
phố phường, nó đi đến đâu có bao nhiêu nhà cửa hàng quán đều bị thiêu ra
tro hết.
Nhân dân
lúc đó lại càng rối loạn khốn cùng đi đến đâu cũng nghe thấy tiếng kêu ca
than khóc suốt đêm ngày, đầy rẫy những cảnh hoang tàn thảm đạm, ai ai cũng
đều than vãn cho là đương yên lành, bỗng dưng đi mua cái vạ mẹ đem về để
nó sinh ra tai vạ, làm dân phải chịu lầm than khổ não.
Trí Hải
“Muốn làm một việc gì, trước nhất phải nghĩ đến
kết quả của nó.
Kẻ thường nhân sợ kết quả nhưng người trí tuệ
chỉ sợ nguyên nhân”.
Hòa
thượng cua
(^)
Thuở
trước ở miền Bắc nước ta, có một chú bé mồ côi cha sống với mẹ tại một
miền quê hẻo lánh nọ. Năm chú bé được 12 tuổi, bà mẹ vẫn còn buôn bán tảo
tần nuôi con. Một hôm, trước khi mang hàng ra chợ bán, bà mẹ trao cho con
một giỏ cua đồng, bảo giã ra nấu canh làm cơm trưa. Chú bé y lời mẹ dặn
mang giỏ cua ra làm. Bất ngờ, vừa giáng chày đập con cua đầu tiên, thấy
con vật quýnh quáng, quờ quạng tay chân tìm đường sống, chú bé chợt động
lòng bi mẫn, không nỡ tiếp tục, liền đem giỏ cua ra trút xuống ruộng.
Tan chợ, bà mẹ mang hàng
về. Nhìn mâm cơm đạm bạc, bà ngạc nhiên hỏi:
- Thế,
món canh cua đâu?
Chú bé ấp
úng:
- Khi
sáng con mang cua ra làm, thấy chúng nó khóc, con thương quá, nên. . . thả
hết rồi mẹ ạ!
Vừa đói,
vừa giận, bà mẹ vơ lấy cây đũa bếp, gõ cho con một cái, chú bé hoảng sợ co
giò chạy ra kỏi nhà. Chú đi, đi mãi và xa mẹ từ đó.
Ba muơi
năm đã qua, Bà mẹ đã già nua, vẫn bán hàng từng buổi chợ để mưu sinh. Một
hôm đang buổi chợ, bà gặp một vị Tăng trung niên, ghé qua hàng hỏi thăm
qua gia thế và đề nghị giúp đỡ bà bằng cách đem về chùa nuôi dưỡng. Bà cụ
nhận lời và vào chùa làm công quả từ dạo đó.
Ngày
tháng dần qua, đã đến lúc bà cụ từ giã cõi đời. Hòa thượng trụ trì, tức vị
Tăng đã đề nghị mang bà vào chùa dạo trước, có việc phải đi bố giáo phương
xa. Trước khi đi, Ngài dặn các môn đệ rằng nếu bà cụ mất thì chư Tăng cứ
tẩn liệm nhưng đừng mai táng mà phải đợi Ngài về. Mọi người đều y lời.
Bà lão mất được một hôm
thì Hòa thượng trở về. Ðứng trước quan tài mẹ Hòa thượng thắp hương khấn
vái rằng:
Trong
kinh Phật có dạy, một người con tu hành đạt đạo, cha mẹ sẽ được sinh thiên.
Nếu lời nói ấ y không ngoa thì xin cho chiếc quan tài này bay bổng lên và
vỡ làm ba mảnh.
Hòa
thượng vừa dứt lời, chiếc quan tài đựng thân xác bà cụ từ từ bay lên, bỗng
hạ xuống vỡ làm ba mảnh. Trước sự kinh ngạc của toàn thể hội chúng, Hoà
thượng bèn thuật lại thân thế của mình, chẳng ai đâu xa lạ mà chính là chú
bé thả cua dạo nọ. Từ đó, người ta gọi Ngài là Hòa Thượng Cua, và cũng
theo lời người ta kể ba mảnh vỡ của chiếc quan tài hiện vẫn còn tồi tại ở
một ngôi chùa Bắc Việt để mọi người ghi nhớ câu chuyện lạ lùng và cảm động
về Hoà Thượng Cua và vị thân mẫu sinh ra Ngài.
“Tu một thuở cứu thân vĩnh kiếp
Ðộ mình còn cứu vớt Mẹ Cha
Thuyền to một chiếc sắm ra
Tất nhiên chở hết cả nhà xuống đi”.
Hái
hoa cúng Phật
(^)
Một thời
Ðức Phật ở thành La Duyệt Kỳ. Lúc bấy giờ vua trong nước thường hay sai 10
người đi hái hoa. Một hôm, những người này ra ngoài thành hái hoa xong,
liền trở về. Giữa đường gặp Ðức Phật hào quang chói sáng tướng tốt oai
nghi, như mặt trăng giữa các vì sao, như mặt trời mới mọc, xung quanh lại
có rất nhiều vị Bồ tát đệ tử theo hầu.
Các người hái hoa liền đến
trước Ðức Phật, chấp tay đảnh lễ và bạch Phật rằng:
- Mạng
người rất khó bảo toàn, Ðức Phật rất là khó gặp, kinh pháp rất là khó được
nghe. Nay chúng con gặp được bậc Ðại Thánh, thật chẳng khác gì người bệnh
gặp lương y. chúng con vì lòng tham dục mà phải đi hành dịch như thế này,
mỗi ngày phải đi hái hoa về dâng cho vua, nếu chậm trể thì bị hình phạt.
Nhưng ở đời được gặp vị Thánh Nhân là rất khó, trăm kiếp ngàn đời may mới
gặp một lần, dầu cho chúng con cũng rất hoan hỷ dâng hoa cúng dường Phật
và Thánh chúng, được thọ lãnh kinh giới, nghiên cứu suy tầm Phật Pháp cao
sâu, trí tuệ vô cùng tận. Chúng con trải qua vô số kiếp, bị người hãm hại
không sao kể xiết, nhưng chúng con chưa được vì Phật Pháp mà hy sinh thân
mạng. Nay chúng con xin dâng bó hoa Tam Bảo cúng dường Ðức Thế Tôn, dầu có
gì việc này mà bị hại, chúng con cũng khỏi đọa vào đường dữ, được sanh lên
những cảnh giới an lạc. Chúng con xin thành tâm quy y, đảnh lễ Ðức Thế Tôn.
Ðức Phật biết rõ tâm ý
chân thành của các người dâng hoa, tâm sanh lòng thương mến vô hạn, liền
đem giáo lý Ðại thừa ra giảng dạy, khiến cho mọi người đều phát đạo ý,
khai sáng Phật tuệ, chứng được bậc bất thối chuyển, không còn bị đọa lạc.
Ðồng thời Ðức Phật thọ ký cho những người hái hoa tương lai sẽ thành Phật
hiệu là Diệu Hoa.
Minh Châu
“Ở đời ai nghèo đến nổi không có thân.
Thấy người làm việc thiện, tự mình giúp hoặc
sanh tâm hoan hỷ tán thành, như vậy cũng gọi là thí chủ, cũng được phước
đức”.
--o0o--
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
(^)
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính :
Diệu Mỹ
Cập
nhật : 01-07-2002