Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 3
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần năm
Chú tiểu hiền triết
(^)
Thuở Phật
Ca Diếp còn tại thế, Ngài có một tăng đoàn gồm 20.000 tỳ kheo đã diệt tận
các lậu hoặc. Mỗi khi du hóa một nơi nào, tất cả chúng Tỳ kheo ấy đều theo
Phật Ca Diếp, cũng như 1250 Tỳ kheo thường đi cùng với Ðức Bổn Sư Thích Ca
của chúng ta.
Một hôm,
Phật Ca Diếp và Tăng chúng của Ngài đi đến thành Ba La Nại, dân chúng đua
nhau đến đảnh lễ cúng dường và nghe Ngài thuyếp pháp. Sau khi thọ thực
xong, Phật nói lời tùy hỷ công đức như sau: “Này các cư sĩ, trong thế gian
có bốn hạng người. Thế nào là bốn? Một là những người tự mình làm phước bố
thí, nhưng không khuyến khích kẻ khác làm. Hạng người này, trong tương lai
được giàu có nhưng không được nhiều người theo. Hai là những người khuyên
kẻ khác bố thí, nhưng tự mình không bố thí. Hạng nggười này đời sau có
phước báo được đông người theo, nhưng không có của cải. Ba là những người
tự mình không bố thí cũng không khuyên người bố thí. Hạng người này đời
sau không có của cải cũng không có người theo, phải sống cô độc, ăn cơm
thừa của kẻ khác. Bốn là hạng người vừa tự bố thí, vừa khuyên người bố thí,
hạng người này trong tương lai sẽ được cả hai phước báo: giàu có và đông
người theo”.
Khi nghe
như thế, có một người khởi lên ý nghĩ: “Ta cố làm sao để được hai phước ấy”.
Rồi vị ấy đến đảnh lễ Phật, bạch rằng:
- Bạch
Thế Tôn, xin Ngài đến thọ thực làng con vào ngày mai, để chúng con được
phước cúng dường.
Phật Ca
Diếp hỏi lại:
- Ngươi
muốn cúng dường bao nhiêu vị Tỳ kheo?
- Bạch
Thế Tôn, Tăng chúng của Ngài gồm bao nhiêu?
- Hai
mươi ngàn.
- Bạch
Thế Tôn, ngày mai xin Ngài đem theo tất cả Tỳ kheo ấy.
Ðức Phật
nhận lời. Người kia cầm một mảnh bối diệp (xưa dùng lá cây khô để viết
chưa có giấy) trở về làng, rồi đi từng nhà khuyên sửa soạn cúng dường Phật
và chúng Tăng tùy khả năng của mỗi gia đình. Có nhà tình nguyện cúng dường
500 vị, nhà 200 vị, nhà 100 vị, nhà 50 vị v. v. . . Người kia đều ghi dấu
vào lá bối để hôm sau thỉnh đúng số Tỳ kheo đến từng nhà. Trong làng, có
một gia đình rất nghèo đến nỗi ông chủ được mệnh danh là “ông Chúa Nghèo”.
Người kia cũng không quên ghé vào nhà Chúa Nghèo để tạo phước cho ông ta.
Khi Chúa Nghèo nghe người kia muốn mình cúng dường chúng Tỳ kheo thì giật
bắn người lên:
- Ối bạn
ơi! Bạn coi nhà cửa tôi đây, đến một chỗ ngồi cũng không có, làm sao tôi
cúng dường gì được? Tôi có đồng xu nào đâu? Hãy đến những nhà cao cửa lớn
kia!
- Này bạn,
không phải chính vì vậy bạn mới nên nhân cơ hội này mà gieo giống phước
sao? Vì sao bạn phải nghèo? Phải chăng bạn chưa từng giúp ai một chút gì
cả.
Chúa
Nghèo ngẫm có lý bèn ưng thuận:
- Ðược.Vậy
thì xin bạn ghi cho tôi cúng dường một vị tỳ kheo. Người kia bằng lòng
nhưng không ghi vào lá vì y nghĩ rằng một vị thì ít quá, chẳng cần ghi làm
gì. Y từ giã, tiếp tục đi phổ khuyến.
Chúa
nghèo gọi vợ ra, cho hay ý định cúng dường một vị Tỳ kheo của mình, và đề
nghị với vợ cùng đi làm mướn để đủ tiền sắm sửa các thứ. Người vợ bằng
lòng ngay và cả hai cùng đi đến một nhà phú hộ. Nhà này sẳn lòng mướn hai
vợ chồng làm việc một buổi chiều hôm ấy để chuẩn bị cho việc cúng dường
hôm sau. Họ mướn Chúa Nghèo giã gạo, còn bà vợ thì gánh nước. Hai vợ chồng
làm việc rất hăng hái, nét hân hoan lộ hẳn trên gương mặt, đến nỗi chủ nhà
hỏi nguyên do. Khi được biết họ làm mướn để có tiền mua thực phẩm cúng
dường một vị Tỳ kheo, phú ông cảm khái, trả công gấp bội. Với số tiền nhận
được họ mua ít gạo thơm hảo hạng, trái cây quí và ít đồ vặt vãnh để nấu
nướng.
Sáng hôm
sau, Chúa Nghèo dậy sớm đi hái rau bên bờ sông về cho vợ làm thức ăn. Một
người đánh cá hỏi:
- Chúa
Nghèo hái rau làm gì sớm thế?
- Tôi hái
rau để cúng dường một vị Tỳ kheo.
- Thế à!
Vị nào ăn rau của Chúa Nghèo cúng dường chắc là hên lắm đó. Này, làm hộ
tôi việc này được chăng? Ðây tôi có mấy xâu cá đỏ, Chúa Nghèo đi bán dùm.
Tôi bận coi lưới. Mỗi xâu hai đồng.
- Ðược.
- Chúa
Nghèo xách cá đi bán một chốc đã hết, vì nhà nào cũng đang cần thức ăn để
cúng dường. Khi trở về giao tiền cho chủ, Chúa Nghèo từ giã:
- Thôi
tôi đi đây, sắp tới giờ cúng dường rồi.
- Này
Chúa Nghèo, tặng Chúa Nghèo xâu cá đỏ đây, về mà nấu.
- Cảm ơn
lắm.
Chúa
Nghèo sung sướng xách cá và rau đem về cho vợ. Khi ấy, từ trong tịnh xá
của Ngài, Phật Ca Diếp đã biết được một người nghèo đang thành tâm sửa
soạn cúng dường một vị Tỳ kheo. Ngài cũng biết được rằng tất cả chúng Tỳ
kheo đã được sắp đặt vào từng nhà, mỗi nhà sẽ cúng dường một số Tỳ kheo.
Duy chỉ có nhà Chúa Nghèo chỉ cúng có một vị, người phổ khuyến quên ghi
vào lá, do đó mà y đã không chừa một người nào cho Chúa Nghèo.”Vậy chỉ còn
ta để cho Chúa Nghèo gieo ruộng phước”. Phật nghĩ thế, và Ngài lấy làm
hoan hỷ, vì Phật vốn thương những kẻ nghèo cùng. Vừa khi Ngài có ý định
như vậy, thì vua trời Ðế Thích cảm thấy chiếc ngai vàng đang ngồi rung
mạnh, “Có chuyện gì thế?” Vua trời ngẫm nghĩ, và biết chính tấm lòng thành
khẩn của Chúa Nghèo ở dưới thế đã làm chấn động đến chư thiên. “Ta phải
giúp Chúa Nghèo một tay để sửa soạn món ăn cúng dường Phật”. Ðế Thích cùng
với vợ rời thiên cung bay xuống, hóa làm hai vợ chồng nghèo đang đi tìm
việc làm. Ðến gần nhà Chúa Nghèo, Ðế Thích hỏi:
- Nhà có
việc gì làm không? Cho chúng tôi làm với.
- Ông lão
ơi! Chúng tôi có nhiều việc làm lắm, nhưng thú thật là chúng tôi không có
tiền để trả công ông lão.
- Bạn làm
gì thế?
- Chúng
tôi làm thức ăn cúng dường vị Tỳ kheo.
- Ồ, việc
phước ấy thì tôi cũng muốn hùn. Tôi không cần trả công đâu.
- Tốt lắm.
Vậy lão hãy gíup chúng tôi. Xin vâng.
Rồi hai vợ chồng Ðế Thích
bước vào nhà, Ðế Thích bảo:
- Bây
giờ, để chúng tôi làm thức ăn cho. Bạn hãy đi thỉnh vị Tỳ kheo của bạn đi.
Chúa
Nghèo đi đến vị phổ khuyến hôm qua. Y bảo:
- Ồ bạn!
Tôi quên bẵng. Không còn vị Tỳ kheo nào cho bạn thỉnh vì tất cả đều nhận
lời các nhà khác rồi.
Không
thể nào tả nỗi tuyệt vọng lớn lao của Chúa Nghèo lúc ấy. Chúa Nghèo đấm
ngực, lăn ra mà khóc.
-Trời
đất ơi! Bạn hại tôi rồi! Suốt hai hôm nay, chúng tôi làm việc tối mắt tắt
đèn để chờ đợi bữa trưa nay cúng dường một vị Tỳ kheo! Vậy mà bây giờ bạn
bảo không còn vị nào! Bạn phải cho tôi một vị Tỳ kheo! Không thì tôi chết
mất. Hu hu.
Quần
chúng bu lại xem đông. Người kia bối rối năn nỉ:
- Này
Chúa Nghèo, xin Chúa Nghèo đừng làm t ội tôi nữa. Tôi lỡ đi mà. Chúa Nghèo
tha cho tôi đi.
- Không
biết! Phải cho tôi một v ị Tỳ kheo! Hu hu, hu hu.
Túng quá,
người kia đánh bạo đề nghị:
- Thôi
chúa Nghèo hãy đứng dậy, tôi bày cho một cách này. Ðấng Ðạo sư chưa nhận
lời của ai, vì rất đông vua chúa đại thần đều muốn thỉnh Ngài. Vậy bạn hãy
đến thỉnh Ngài đi. Ngài rất thương những người nghèo chắc Ngày sẽ nhận lời
bạn đấy. Ngài đang ngồi trong tịnh xá nói pháp cho các bậc thượng khách
nghe.
Chúa
nghèo nghe lời, đứng lên đi đến tịnh xá. Vua và đình thần đang nghe pháp,
thấy Chúa Nghèo tiến tới thì ngăn lại (vì họ tưởng Chúa Nghèo đến xin đồ
ăn thừa):
- Chúa
Nghèo chưa đến giờ ăn đâu.
- Tôi
biết. Tôi đi thỉnh Phật về nhà tôi thọ trai.
Ðức Phật
mỉm cười, chìa cái bình bát của Ngài ra, trao cho Chúa Nghèo một cách thân
mật. Chúa Nghèo ôm lấy bình bát của Phật vào lòng, mặt mày hớn hở như đứa
bé vừa được kẹo. Các ông Hoàng và đại thần chạy theo đề nghị:
- Chúa
Nghèo, hãy nhường cái bát ấy cho ta cúng thức ăn cho Phật. Ta sẽ cho Chúa
nghèo 1000 đồng.
Chúa
Nghèo trân trọng ôm bình bát của Phật về nhà để bày thức ăn. Vua đang ngồi
gần Phật ngẫm nghĩ: “Lão Chúa Nghèo chắc chẳng có gì ngon lành mà cúng
dường Ðức Thế Tôn đâu. Chi bằng ta sắm sẵn các thức ăn thượng vị đựng
trong một cái bát khác, chờ khi Chúa Nghèo dâng lên Phật ta sẽ đổi thức ăn
của ta cho Phật dùng.
Ðến giờ
thọ thực, Phật Ca Diếp đến nhà chúa Nghèo. Vua đi theo ý định như
trên.Nhưng khi Phật vào nhà Chúa Nghèo. Ðế Thích hóa trang để dâng Phật
một bát đầy thức ăn mùi thơm bay khắp không gian. Vua bẻn lẻn cáo từ Phật
trở về
Do phước
báo cúng dường Phật Ca Diếp, Chúa Nghèo được sanh lên cõi trời cho đến khi
Phật Thích Ca ra đời mới trở xuống trần thế, sanh vào nhà một thí chủ thân
tín của Ngài Xá Lợi Phất. Khi mang thai Chúa Nghèo người mẹ bổng thông
minh khác thường, những người trong gia đình ai có bệnh tật gì đều được
khỏi và trở nên thông tuệ. Do đó hài nhi được Tôn Giả Xá Lợi Phất đặt tên
là Hiền Trí. Khi lên 7, Hiền Trí xin mẹ xuất gia làm đệ tử Tôn giả.
Tôn giả
dạy cho chú tiểu những uy nghi phép tắc phải theo trước khi đưa chú vào
thành khất thực. Lần đầu tiên ôm bát theo hầu thầy ra đường, chú hỏi Ngài
khi thấy một con đê:
- Bạch
Tôn giả, cái kia là cái gì?
- Chú
tiểu, đấy là một con đê.
- Bạch
Tôn giả, con đê dùng để làm gì?
- Ðể dẫn
nước đi khắp nơi nào người ta muốn.
- Nhưng
bạch Tôn giả, nước có hiểu biết gì không?
- Không
đâu, chú tiểu. Nước là vật vô tri giác.
- Bạch
Tôn giả, thế thì người ta có thể hướng dẫn một vật vô tri giác đến bất cứ
chỗ nào người ta muốn hay sao?
- Chính
vậy, chú tiểu
- Hiền
Trí nghĩ: “Nếu người ta có thể hướng dẫn một vật vô tri tùy theo ý muốn
thì tại sao ta lại không thể nhiếp phục theo tâm ý mình để chứng A La Hán
quả?”
Ði thêm
một quãng, chú thấy những người làm tên đang hơ những cây tên trên lửa và
nheo mắt nhắm để uốn chúng cho thẳng. Chú tiểu hỏi:
- Bạch
Tôn giả họ làm chi vậy?
- Họ
đang uốn những cây tên cho thật thẳng.
- Cây
tên có lý trí không?
- Không
nó là vật vô tri.
Chú tiểu
nghĩ: “Nếu người ta có thể uốn nắn một vật vô tri cho thẳng theo ý muốn,
thì ta cũng có thể nỗ lực điều phục tâm ý để chứng quả A La Hán”
Một lát sau,
hai thầy trò gặp những người thợ mộc đang đẽo bánh xe, chú lại hỏi:
- Bạch
Tôn giả, họ làm gì thế?
- Ðây là
thợ mộc đang đẽo bánh xe.
- Bánh
xe có lý trí không?
- Không,
bánh xe chỉ chạy theo ý người muốn.
Khi ấy
chú tiểu trao y bát cho thầy và bạch:
- Bạch
Tôn giả, con muốn trở về.
Tôn giả Xá Lợi
Phất không nói một lời đỡ lấy y bát trên tay chú tiểu. Chú tiểu vái chào
thầy xong còn quay đầu lại dặn Tôn giả:
- Bạch
Tôn giả, khi nào Ngài đem thức ăn về cho con, xin Ngài chỉ cho con toàn
một cá vàng ngon nhất ấy.
- Ở đâu
ta có thể kiếm được thứ ấy, chú tiểu?
- Bạch
Tôn giả nếu Ngài không thể kiếm được nhờ phước đức của Ngài, thì Ngài cũng
sẽ kiếm được do phước đức của con.
Tôn giả
Xá Lợi Phất vốn cẩn thận, Ngài sợ chú tiểu ngủ ngoài trời có thể bị rắn
cắn, hay sâu bọ đốt, bởi thế Ngài trao chìa khóa cho chú tiểu và bảo:
- Hãy
mở cửa tịnh thất của ta mà vào.
Chú tiểu
vâng lời. Vào phòng Tôn giả, chú bắt đầu tỉnh tọa thiền quán. Khi ấy Ðế
Thích ở trên trời cảm thấy chiếc ngai vàng rung động, và nhận ra rằng chú
tiểu Hiền Trí đang ngồi thiền quyết chứng quả A La Hán trong ngày đó, nên
Ngài muốn giúp chú một tay. Ngài bảo thần mặt trời phải đi chậm lại, kéo
dài buổi sáng ra trọn ngày, và sắc cho Tứ Thiên vương đứng gác bốn góc
chùa, đuổi hết chim chóc ra khỏi vườn đừng gây tiếng động. Do đó, tịnh xá
Cấp Cô Ðộc trở nên yên tĩnh lạ thường. Thỉnh thoảng mới có một âm thanh
rất nhỏ gây nên bởi một chiếc lá vàng lìa cành rơi xuống.
Trong
khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất vào nhà người thí chủ quen biết để khất thực.
Gia chủ vừa mua về một mớ cá đỏ nấu nướng xong đem đặt vào bát Ngài. Tôn
giả định đem về cho chú tiểu như lời chú tiểu dặn nhưng gia chủ xin thỉnh
Tôn Giả cứ dùng, sẽ còn phần khác để Tôn giả đem về. Tôn giả ngồi lại thọ
thực.
Ðúng lúc
ấy, từ tư thất của Ngài, đức Ðạo Sư quan sát bằng Phật nhãn thanh tịnh
thấy chú tiểu có thể chứng quả A La Hán trong vài giờ nữa. Nhưng nếu Tôn
giả Xá Lợi Phất mà về lúc này, đem thức ăn vào phòng cho chú tiểu thì lỡ
mất dịp đắc quả của chú. Do đó Ðức Phật quyết định đi đến tịnh thất của
Tôn giả để đón đường. Vừa khi Tôn giả trở về, Ngài gặp ngay đức Ðạo Sư
đứng trước cửa. Tôn giả thi lễ, đức Ðạo Sư hỏi vị thông tuệ của Ngài về
một số câu hỏi trong luận tạng, chỉ cốt kéo dài thời gian cho chú tiểu có
thể đắc quả. Khi biết Hiền Trí đã chứng quả, Ngài bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Bây
giờ, này Xá Lợi Phất, hãy đem thức ăn vào cho chú tiểu Hiền Trí đi.
Tôn giả
khỏ cửa. Chú tiểu bước ra đỡ lấy bát trên tay Ngài đặt xuống một nơi, rồi
bắt đầu quạt cho Ngài. Tôn giả bảo:
- Này
chú hãy ăn sáng đi.
- Bạch
Tôn giả, còn Tôn giả thì sao?
- Ta đã
ăn rồi.
Khi chú
tiểu mới ngồi xuống quán tưởng năm điều rồi thọ thực. Khi chú đã ăn xong,
rửa bát và dọn dẹp xong, thì mọi sự mới trở lại bình thường: Mặt trời bắt
đầu lặn, trăng từ từ lên, Tứ thiên vương hết canh gác bốn góc chùa. Ðế
Thích trở về thiên cung ngồi vào chiếc ngai vàng thường lệ. Chúng Tỳ kheo
bảo nhau:
- Thật
kỳ lạ! Hôm nay buổi sáng hầu như dài suốt cả ngày, mà buổi chiều lại ngắn
có một khoảnh khắc. Tại sao thế nhỉ?
Ðức Ðạo
Sư giải thích:
- Ðúng
thế, này các Tỳ kheo, chính vì chú tiểu 7 tuổi kia phát tâm chứng quả A La
Hán, mà tất cả trời Ðế Thích, Tứ Thiên Vương, thần mặt trời, thần mặt
trăng đều hỗ trợ cho công việc của chú ấy. và để canh chừng chính Như Lai
cũng đã phải bỏ cả thì giờ nghỉ ngơi cho chú bé, một người nhân quán sát
con đê dẫn nước, thợ làm tên, người làm bánh xe, mà quyết tâm nỗ lực thiền
định để chứng quả.
“Người đào đê dẫn nước. Người làm tên uốn tên
Thợ mộc đẽo gỗ, còn người trí thì lo điều phục
tâm mình”
(Pháp cú 80)
Thích Nữ Trí Hải
“Không ai làm cho anh cao thượng, cũng không
ai làm cho anh thấp hèn, mà chỉ có những hành động của anh làm cho anh cao
thượng hay thấp hèn mà thôi”.
Nhờ nghe Phật
pháp khỏi
phải tự thiêu
(^)
Xưa kia
tại nước Bùi Phiến Xá, có một người đàn bà tên Ðề Vi, going Bà La Môn. Nhà
rất giàu, chồng chết không con, phải ở góa một mình không người che chở.
Theo phép Bà La Môn, những ai sống không được như ý thì nên tự thiêu. Các
vị Bà La Môn liền đến khuyến hóa nàng Ðề Vi nên tự thiêu để được sanh lên
cõi trời Na La Diên, lại nên thỉnh cho đủ 100 vị Bà La Môn để thiết đại
hội cúng dường và đem trâu bò của cải bảo vật cúng dường cho 500 Bà La Môn,
rồi đem củi chất lên làm một giàn hỏa để tự thiêu trên bờ sông Hằng.
Các vị Bà
La Môn sẽ chú nguyện cho nàng tiêu trừ tất cả tội lỗi nặng nhẹ, để đời sau
được sống trong gia đình đông đúc, thọ mạng vô lượng và sung sướng không
cùng. Nàng Ðề Vi nhất thiết nghe theo và cho dựng một giàn củi để tự thiêu.
Lúc bấy
giờ có vị Sa Môn hiệu là Biện Tài, giữ giới học rộng, thường lấy từ tâm
giáo hóa chúng sanh làm lành tránh dữ rất nhiều. Khi Ngài được tin nàng Ðề
Vi muốn tự thiêu, liền đến hỏi:
- Nàng
dùng giàn củi để làm gì?
Nàng Ðề
Vi thưa:
- Tôi
muốn tự thiêu để diệt trừ những tội chướng đã tạo nên.
Ngài
Biệi Tài nói:
- Những
tội chướng gây ra luôn luôn tùy theo tâm thức, đâu có thuộc về thân thể.
Nay nàng thiêu thân làm sao diệt tội được. Vả lại, tội phước theo tâm mà
sanh, tâm niệm pháp lành thời quả báo lành, tâm niệm pháp dữ thì quả báo
dữ. Trong khi tự thiêu đốt, thế nào tâm cũng sanh đau khổ áo não, thời làm
sao trông mong diệt được tột được quả báo lành. Về lý chắc nàng khó hiểu,
nay tôi đem một vài ví dụ cho nàng rõ. Như có người đau bệnh khổ não, lại
bị một người mắng chửi đánh đập, người bệnh có thể giữ thiện tâm không sầu
não chăng? Nàng nay cũng vậy. Vì muốn diệt tội thân trước, nên thiêu thân.
Trong khi lửa đốt thân thể thì đau đớn vô cùng, tâm sanh khổ não đến lúc
mạng chung liền sanh vào cõi địa ngục, chịu khổ lại kịch liệt gấp trăm
ngàn vạn lần.
Lại ví
dụ như con bò kéo xe, vì ghét kéo xe nên đạp cổ xe đi. Nhưng nếu cỗ xe
trước bị hư thì cỗ xe thứ hai sẽ được thay vào, làm sao tránh thoát được.
Nghiệp
tội của nàng chưa hết, nếu có đốt trăm ngàn thân cũng không bao giờ xa lìa.
Vả lại, nhhững nghiệp tội ở A tỳ địa ngục, phải tám vạn lần chết, tám vạn
lần sống, trọn hơn một kiếp mới trừ diệt tội. Nay nàng chẳng qua thiêu
thân chỉ có một lần, làm sao hết tội được.
Nàng Ðề Vi thưa:
- Xin
Ngài giảng cho con nghe, phương pháp diệt trừ tội lỗi.
Ngài
Biện Tài đáp:
- Tâm
trước tạo ác, như mây che mặt trăng. Tâm sau khởi niệm lành, như ngọn đuốc
trừ tối tăm. Nguồn gốc nghiệp tội do thân, khẩu, ý nghiệp tạo các nghiệp
hành. Nàng nay chân thành sám hối, cải tà quy chánh, xả thân thọ thân, chí
thành Phật đạo.
Sau đó
Ngài Biện Tài đem pháp Thập Thiện trao dạy cho nàng Ðề Vi. Nàng Ðề Vi hoan
hỷ lãnh thọ, dâng cúng các món trân bảo và thỉnh cầu Ngài Biện Tàì ở lại
giáo hóa. Ngài từ tạ rằng:
Nàng đã
thọ lãnh phép Thập Thiện đó là pháp thí, nàng nên đem mà dạy bảo mọi người.
Ðó là chính cách đáp ân thiết thực nhất nàng đã được độ, tôi không cần lưu
lại làm gì. Tôi còn phải đi giáo hóa nơi khác, và xin trả lui các món trân
bảo cúng dường. Vì người tu hành không bao giờ dùng những đồ vật quý báu.
. .
Minh Châu
“Ai biết sửa đổi lỗi lầm thì người ấy được
tiến hóa trong giáo pháp của Như Lai.”
Ông sư
Huyền Trân
(^)
Xưa ở
chùa Quang Minh, làng Hậu Bỗng, huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương, có một vị sư
tên Huyền Trân, tu đắc đạo. Một đêm, nằm thấy Phật Di Ðà báo mộng rằng:
Nhà ngươi tu hành có công đức, trời Phật độ cho kiếp sau được làm vua nước
Tàu. Nhà sư thức dậy lấy làm kỳ dị, gọi các đạo tràng bảo rằng:
- Ðêm, Thầy
thấy mộng lạ, đến khi Thầy chết hãy lấy bút son mà viết trên vai Thầy mười
chữ rằng: “Nhà sư tu ở chùa Quang Minh, nước An Nam”, rồi đem thiêu đừng
có chôn!
Khi vị sư chết,
tuổi đã chín mươi, các đạo tràng làm theo như lời dặn trước.
Ðời vua Hoàng
Ðịnh, nhà Lê, ông tiến sĩ tên là Nguyễn Tự Huyện sang cống vua Khang Hi
nước Tàu, vua Khang Hi phán hỏi:
- Ngươi
có biết chùa Quang Minh, ở nước An Nam, thuộc về tỉnh nào?
Ông ấy
tâu rằng:
- Muôn
tâu bệ hạ, hạ thần chỉ biết chùa Quỳnh Lâm, chùa Thiên Phúc, còn chùa
Quang Minh thì thần không rõ.
Vua nói
rằng:
- Khi
Trẫm giáng sinh, ở trên vai có mười chữ son, hẳn là kiếp trước Trẫm tu ở
chùa ấy. Nay Trẫm muốn bỏ những chữ ấy đi, mà không phép nào rửa sạch.
Ông ấy
tâu lại rằng:
- Dám
xin có phải thế, thì lấy nước giếng chùa ấy mới rửa được.
Vua dặn
rằng:
- Thế
thì khi về, người tâu với vua Lê cho đi tìm, lấy hộ Trẫm nước giếng ấy.
Ông
Nguyễn Tự Huyền về tâu lại với vua Lê như thế. Rồi ông tìm đến chùa Quang
Minh, lấy một vò nước đem sang Tàu, dâng vua Khang Hi. Vua Khang Hi lấy
nước ấy rửa, thì những chữ son đi ngay. Nhà vua mừng lắm, mới đưa cho ông
ta ba trăm lạng vàng, nhờ đem về tu bổ chùa Quang Minh cho lịch sự.
Nguyễn Bình
Truyện cổ tích Việt Nam
“Làm sao hiểu được luân hồi,
Rõ thân kiếp trước, biết nơi sau về?”
Nguyễn Minh
Không
(^)
Nguyễn
Minh Không người làng Ðàm Xá, phủ Tràng An ( Nam Ðịnh) tên là Nguyễn Chí
Thành. Lúc nhỏ đi học, sẩy gặp Từ Ðạo Hạnh, mới theo học đạo Ðạo Hạnh hơn
40 năm. Ð ạo Hạnh khen là người có chí, cho ấn quyết và đổi tên là Minh
Không Thiền sư, cho ở riêng một chùa Quốc Thanh.
Khi Ðạo Hạnh
sắp hóa bảo Minh Không rằng:
- Ngày
xưa Phật Thế Tôn ta, đạo quả đã tròn, mà còn có báo Kim tỏa, huống chi lâu
nay phép đạo suy mòn, thì ta giữ mình làm sao cho xiết được, kiếp sau ta ở
ngôi nhân chủ, chắc là không khỏi bệnh nợ, ngươi nên nghĩ nghĩa thầy trò,
đến bấy giờ hãy cứu cho ta.
- Ðến
khi Ðạo Hạnh hóa rồi Minh Không trở về quê nhà, cày cấy làm ăn, trụ trì
hơn 20 năm, không cần tiếng tăm với đời.
Năm
Thiên Chương Bảo Tự thứ tư đời vuaThần Tôn (1136) vua bổng sanh ra một
bệnh dị kỳ, thuốc chữa thế nào cũng không khỏi tinh thần phiến loạn, tiếng
gào thét kinh người (tục truyền vua hóa hổ) các thầy thuốc, có hằng nghìn
muôn người, nhưng không ai biết chữa bằng cách nào cả.
Minh
Không nghe tin làm vậy, mới chống gậy đến các chỗ trẻ con chơi, cho chúng
ăn quà và dạy chúng nó hát rằng:
“Tập tành vông,
có ông Nguyễn Minh Không chữa được Hoàng Thái tử”.
Dần dần đám
trẻ nào cũng hát câu ấy, tiếng đồn đến triều đình. Triều đình sai sứ đi
hỏi thăm, mà tìm được Minh Không, Minh Không thấy sứ giả đến triệu mình,
mới thổi một nồi cơm con, cho bọn chèo thuyền cùng ăn.
Sứ giả nói rằng:
- Bọn
chèo thuyền đông lắm, có một niêu cơm con thế kia, thì ăn làm sao?
Minh
Không nói:
- Hãy cứ
ăn đi, lúc nào thiếu sẽ hay.
Minh
Không mới sai giở cơm ra rá, thì càng giở càng nhiều, h àng mấy trăm người
ăn mà vẫn không hết. Chúng càng ngạc nhiên lấy làm lạ. Ðến lúc ăn xong,
Minh Không bảo các quân chở thuyền rằng:
- Các
anh hãy ngũ đi một lát, đợi lúc nào có nước chảy thủy triều lên sẽ đi.
Chúng
nghe lời nằm ngủ cả trong thuyền, một lát tỉnh dậy thì thuyền đã ngược đến
kinh đô rồi, ai nấy đều mừng rỡ cho là phép tài.
Minh
Không đến kinh, các thầy thuốc cùng các phù thủy đang túc trực cả trên
điện, mỗi người dùng một cách chữa bệnh cho vua, mà vẫn chưa thấy kiến
hiệu. Trông thấy Minh Không đến, ăn mặc quê mùa cộc kệch, dân chúng ai
cũng khinh bỉ không thèm chào hỏi đến. Minh Không lấy một cái đinh dài độ
năm, sáu tấc, đóng lên trên cột nói to lên rằng:
- Hễ ai
rút được cây đinh này ra, thì mới chữa được Hoàng đế.
Nói hai,
ba câu, không ai thèm trả lời, Minh Không mới lấy hai ngón tay trái nhổ ra,
cái đinh ấy bật ngay.
Minh
Không đến tận trước mặt vua thét to lên rằng:
- Ðại
trượng phu đã phú quý mà làm đến Thiên tử, sao lại còn cuồng loạn như thế?
Vua sợ
hãi run lật bật, Minh Không sai lấy cái vạc to, đổ nước hòa thuốc vào đun
lên, đun sôi một trăm lần, Minh Không ra tắm cho vua, tắm xong thì vua
khỏi bệnh.
Vua khỏi
rồi, phong Minh Không làm quốc sư, thưởng cho vài nóc nhà lấy thuế mà ăn.
Ðến năm
Ðại Ðịnh thứ hai Minh Không mất, bấy giờ đã 76 tuổi, Minh Không mất rồi
thiêng lắm, nhiều sự hiển linh. Phàm dân xã cầu mưa đảo nắng tất nghiệm.
Các chùa ở huyện Giao Thủy, huyện Phả Lại, đều tô tượng Minh Không để thờ
cả.
Nguyễn Bình
Truyện cổ tích Việt Nam
“Các việc làm (Nghiệp) của tôi là của cải của
tôi
Các việc làm của tôi là gia tài của tôi.
Các việc làm của tôi là cái thai bọc lấy tôi.
Các việc làm của tôi là hạng phái của tôi.
Các việc làm của tôi là chỗ tôi gởi thân.”
Vọng phu
(^)
Khi người đang hái hoa
Lòng say mê lạc thú
Niềm vui kia chưa thỏa
Tử thần đã lôi xa
Pháp cú 48
Một buổi
sáng ở thiên đường, vua trời Ðế Thích đi vào Lạc viên ở cung trời 33 cùng
với 1000 tiên nữ hầu hạ. Năm trăm nàng leo lên cây hái hoa tung xuống, năm
trăm nàng lượm hoa kết thành tràng để trang sức cho vua trời, chồng của họ.
Một nàng đang h ái hoa trúng gió nặng, hồn lìa khỏi xác ngay khi ngồi trên
cây. Thân thể nàng tan biến mau lẹ như hơi sương (vì là tiên nên thể xác
nhẹ hơn người trần) và thần thức nhập vào thai cung của một phụ nữ thuộc
hàng trưởng giả thành Xá Vệ. Khi xuất thai và dần dần lớn thành một thiếu
nữ. Nàng vẫn nhớ kiếp vừa qua của mình và mong mỏi được về cõi trời hầu hạ
Ðế Thích như trước. Nàng thường đến Kỳ Viên tịnh xá Cấp Cô Ðộc để cúng
dường Phật và chúng Tăng với một nguyện bất di dịch: “Mong rằng với phước
đức này con được trở lại với chồng con”. Các Tỳ kheo đều lấy làm lạ về lời
nói của thiếu n ữ, và đặt cho nàng một biệt hiệu là “Vọng phu”.
Vọng phu ti ếp tục bố thí cúng dường như vậy cho đến 16 tuổi,
cha mẹ gả ch ồng cho nàng và lần hồi sinh được bốn con. Một ngày kia sau
khi đến tịnh xá cúng dờng Ph ật và chúng Tăng trở về Vọng phu cảm thấy
nhức đầu, chóng mặt, liền lên giường nằm một lát rồi trút hơi thở cuối
cùng.
Thần thức
nàng trở về cõi trời 33 trong khi các tiên nữ đang bận rộn kết hoa để
trang hoàng cho Ðế Thích. Khi vua trời thấy nàng liền hỏi:
- sáng
nay sao ta không thấy nàng, nàng đi đâu?
- Thưa
thần thiếp chết giấc một hồi, rời khỏi thiên cung.
- Nàng nói cái gì thế? (Ðế Thích ngạc nhiên).
- Quả
thế, muôn tâu thánh thượng, thần thiếp đ ã chết đi một lát.
- R ồi
nàng tái sanh ở đâu?
- Tâu, ở
một gia đình trong Xá vệ.
- Nàng ở
đấy bao lâu?
- Sau
mười tháng ở trong thai, thần thiếp ra khỏi thai mẹ. Khi lên 16 tuổi thần
thiếp được gả chồng, có 4 con. Thần thiếp đã tu phước và bố thí liên miên,
ước nguyện được trở về thiên cung sum họp với thánh thượng.
- Ðời
sống của con người dài bao lâu?
- Tâu
thánh thượng, chỉ có 100 năm thôi ạ?
- Ôi
ngắn thế kia ư?
- Dạ tâu
thán thượng.
- Nếu
đời sống con người ngắn ngủi như vậy, thì chúng ta không làm được cái gì?
Chắc chúng phải tạo phước lành gấp lắm?
- Dạ
không, trái lại, tâu tháh thượng, con người ở dưới ấy vẫn mê ngủ, buông
lung, bê tha làm như chúng sẽ sống mãi hoài, làm như chúng sẽ không bao
giờ chết.
- Vua
trời nghe xong, buồn rầu bảo:
- Nếu
như lời nàng nói, con người chỉ sống có 100 năm mà lại mê ngủ, buông lung,
bê tha thì biết bao giờ chúng mới giải thoát khỏi khổ?
Ngày hôm
sau ở Xá Vệ khi chúng Tỳ kheo vào làng đến chỗ thường lệ vẫn được nàng
Vọng phu tiếp đón, thì thấy lạnh ngắt như tờ. Không có chỗ ngồi, nước uống
được xếp đặt như mọi khi. Họ hỏi:
- Nàng
Vọng phu đâu rồi?
Dân
chúng thưa:
- Bạch
chư Ðại đức, nàng ấy đã chết chiều qua, sau khi cúng dường trở về.
Khi ấy những
vị Tỳ kheo chưa chứng quả bỗng thấy lòng buồn man mác nhớ đến những săn
sóc chu đáo của người tín nữ hôm qua mới đó, mà nay đã ra người thiên cổ.
Trở về họ hỏi Phật:
- Bạch
Thế Tôn, Vọng phu tạo phước cúng dường nhiều cốt để được gặp chồng. Tại
sao nàng vừa mới ở với chồng chưa bao lâu, hương lửa đang nồng mà đã phải
chết như vậy? Bây giờ tái sanh ở đâu?
- Này
các Tỳ kheo, không phải Vọng phu ước được với chồng hiện tại của nàng đâu.
Nàng vọng là vọng cái người chồng cũ của nàng trên cõi trời thứ 33 ấy, và
bây giờ đã được toại nguyện. Hiện giờ nàng trở lại hầu hạ Ðế Thích trong
Lạc Viên. Một đời nàng trải qua dưới thế gian này không bàng nửa buổi sáng
trên cung trời Ðế Thích.
- Ồ,
Bạch Thế Tôn, đời con người ngắn ngủi. Mới buổi sáng nàng ấy cúng dường
thực phẩm cho chúng con, mà chiều đã nghe nàng ấy chết r ồi.
- Quả
thế, các Tỳ kheo, đời con người ngắn ngủi lắm.Trong khi chúng khát khao
những lạc thú cõi trần mà chưa được thỏa mãn, cúng đã bị thần chết mang đi.
Thích Nữ Trí Hải
___
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để mà tan
Người gần để ly biệt.
--o0o--
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính :
Diệu Mỹ
Cập
nhật : 01-05-2002