Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 2
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Giao du cần chọn bạn
(^)
Trong Tuyết Sơn có một khu
rừng cây cối um tùm, có đủ thứ quả thơm ngon, lại ở về phía mặt trời soi
luôn, được thêm phần ấm áp.
Có đủ thứ chim tụ họp, một
hôm chúng bàn với nhau rằng: Chúng ta ở đây với nhau được đông đúc như thế
này, kể cũng là một sự quý hoá. Xong cũng cần nên có một con đứng đầu để
trông coi giữ gìn chật tự, mong khỏi xảy ra những sự đáng tiếc về sau.
Chúng đều cho là phải, lập
tức chiệu tập hội họp cùng nhau, bầu lên một con làm vua, cầm quyền thống
trị cho chúng.
Khi hội bàn cãi hồi lâu,
bắt đầu bầu chim Hạc.
Có con phản đối nói: Không
thể được, vì chim Hạc chân cao mỏ dài, bầu lên một khi con nào không may
có lỗi sẽ bị mổ vỡ óc.
Phần
đông cho là phải, Hạc bị bác.
Thứ hai đề cử chim Ngan.
Lại có con phản đối nói:
Chim Ngan tuy lông trắng mỏ đỏ mình đẹp, ai trông thấy cũng yêu thật, xong
vì cổ dài lạy hay ngoẹo, vậy cổ mình đã vênh, cử lên làm gương chính cho
cả chúng ta thế nào được.
Ngan bị bác.
Thứ ba cử chim Công, chúng
cho chỉ chim Công là xứng đáng, vì lông cánh đầu đuôi đều có vẻ, vậy có
thể làm vua được.
Lại phái phản đối nói: Vẫn
biết chim Công đẹp, xong chỉ tốt mã bề ngoài, không phải là loài biết liêm
xỉ, mỗi khi múa là xù ngay hình ra thực rất khó coi.
Công cũng bị bác. Chông đi
chông lại thấy chim Cú, chúng cho là Cú ban ngày thích yên tĩnh, ban đêm
hay rình mò, như thế có thể trông coi cho chúng được mọi xự yên ổn, cả đàn
vỗ cánh ưng thuận.
Cú được đại đa số tán
thành.
Bấy giờ chim Vẹt đứng
ngoài nghĩ rằng:
Phàm như phép làm chim, ban đêm cần
yên tĩnh để ban ngày đi kiếm ăn, nay bầu Cú lên, ban đêm thì hắn lần mò,
chúng mình phải chầu chực, ban ngày hắn nghĩ ngơi, mình phải kiếm ăn như
thế là cả chúng ta bị vất vả khổ sở suốt
đêm ngày. Nay nếu ta tất bị hắn giận có thể sẽ bị hắn vặt lông và mổ chết.
Nhưng nếu nay ta bỏ đi thì tất cả đàn cùng khổ.
Cuối cùng Vẹt lại nghĩ
rằng:
Thà là mình bị khổ, xong khổ để bênh
vực lẽ phải cho công chúng được nhờ, còn hơn là yên phận
sống
lấy một mình.
Vì thế, Vẹt giữ một thái
độ rất bình tĩnh và cương quyết ra nói với công chúng rằng: Cứ theo thiển
ý của tôi thì không nên bầu Cú làm vua.
Vì lúc vui vẻ trông mặt hắn khó
coi, huống chi khi hắn cáu lên, thì còn ai giám nhìn nữa. Vả lại ban ngày
thì hắn nằm dài
ra, ban đêm lần mò đến sáng, thì còn ai chịu được, đó là lòng thành thực
của tôi xin bày tỏ.
Cả chúng đều tỉnh ngộ cho
Vẹt nói là đúng đều nhận Vẹt là chí tuệ, nhanh nhẹn sáng xuốt nhất, kết
cuộc bầu Vẹt lên làm vua.
Trí
Hải
Bạn bè có 3 pháp yếu:
-
Một là thấy lỗi liền chỉ rõ
can gián.
-
Hai là thấy làm việc hay hết
sức tùy hỉ.
-
Ba là khi gặp tai nạn không
rời bỏ nhau.
Tiếng đàn vi diệu
(^)
Trong một đêm trăng sáng,
trời trong xanh hiền lành như một tâm hồn giải thoát. Trong Kỳ Hoàn tịnh
xá, Ðức Phật trang nghiêm ngồi trên Bửu tọa, hào quang ngũ sắc tỏa khắp
quang Ngài ánh sáng chói ngời làm tăng thêm vẻ uy nghi của một đấng Thế
Tôn.
Ðêm càng về khuya, khí
trời càng thêm mát dịu, gió nhẹ mơn man đem muôn vàn hương lạ từ Hy Mã Lạp
Sơn về luồn qua kẽ lá của rừng cây, len vào trong Tịnh xá, hòa hợp tạo nên
một hương vị đậm đà mùi đạo vị.
Giữa sự vắng lặng của đêm
khuya, các vị Tỳ kheo đều ngồi quanh trong Tịnh xá, trầm tư mặc tưởng, cố
công tu luyện tìm rõ cội gốc nghiệp chướng của con người, để diệt trừ mọi
dây oan nghiệt hầu trở nên con người lành mạnh hữu ích cho thế nhân. Với
tâm niệm bao la, với tâm hồn phóng khoáng, các vị Tỳ kheo tùy theo căn cơ
tùy theo sở thích của mình, đều một lòng tinh tấn tu tập theo phương pháp
của mình lựa chọn không ngừng.
Nhưng trong đêm nay một
trong hàng ngàn vị Tỳ kheo đương tu tập có một vị mới được thọ giới Tỳ
kheo vì chí bồng bột muốn mình sớm đắc đạo liền, đã tụng kinh Di giáo của
Ðức Phật Ca Diếp suốt đêm, cầu nguyện Ngài gia hộ để mau chứng Thánh quả.
Nhưng đêm càng về khuya, thân thể của vị Tỳ kheo ấy càng thêm mệt mỏi, mà
nhìn lại bản thân và nội tâm của mình vẫn chưa giác ngộ được điều gì. Vì
thế, sau một hồi suy nghĩ chưa thấu đáo, vị Tỳ kheo ấy sinh tâm buồn chán,
có ý định muốn thối lui trốn tất cả bạn đồng tu để về sống lại cuộc đời
trần tục.
Ý định của vị Tỳ kheo kia vừa khởi Ðức Phật
biết được. Ngài cho vị Tỳ kheo thị giả gọi ngay vị tỳ kheo sắp thoái chí
kia đến. Thoáng qua nét mặt ưu tư, với lòng Từ bi cao cả Ðức Phật liền dịu
dàng hỏi:
-
Khi còn ở thế gian, con thích
chơi thứ gì?
-
Bạch Ðức Thế Tôn, con thích
chơi đàn cầm.
-
Dây chùng thì thế nào?
-
Bạch Ngài đàn không ra tiếng.
-
Dây căng quá thì sao?
-
Bạch Thế Tôn, mọi tiếng đều
bứt.
-
Còn dây lên vừa vừa thì thế
nào?
-
Bạch Thế Tôn, tiếng đàn vi
diệu, vang ngân đó đây.
-
Cũng vậy con ạ! Người học đạo
không tinh tiến thì không hiểu đạo, mà tinh tấn quá cũng không đem lại kết
quả nào. Nếu muốn có kết quả tốt đẹp, con cần phải tu tập vừa phải, tinh
tiến đều đặn. Ðừng nên thái quá rồi bất cập, sanh tâm chán nản, như con
vừa có ý định thoái lui.
Nghe Phật dạy xong, vị Tỳ
kheo kia liền tỉnh ngộ. Thấy sự tu tập của mình quá khờ dại, ý định trở về
trần tục thật điên rồ, nên đã thành thật ăn năn sám hối, đảnh lễ Phật và
nguyện vâng lời chỉ dạy của Ngài, cố công tu tập vừa phải, tinh tiến không
ngừng trên đường đạo.
Sau khi lễ Phật trở về
phòng riêng của mình vị Tỳ kheo thoái chí kia vẫn còn nghe văng vẳng lời
Phật dạy, trong lòng thấy khoan khoái và mãn nguyện lắm. Vì không có gì
quý giá hơn, khi vị Tỳ kheo ấy thấy rõ hướng đi của mình trên đường tu tập
không khác gì chiếc thuyền sau bao ngày lênh đênh lạc hướng giữa bể cả,
vừa tìm thấy được lối về quê hương bến cũ.
Chuông trong Tịnh xá nhẹ
nhàng, khoan thai điểm từng tiếng một, báo hiệu một đêm đã tàn. Ánh sáng
ban mai hòa hợp với không khí trong
lành của Tịnh xá, tạo thành một sớm bình minh vô cùng tươi sáng. Chim
trong vườn tỉnh dậy,
cất tiếng hát líu lo hòa theo tiếng
gió, tạo nên một bản nhạc trầm hùng của vũ trụ.
Chư thiên khắp nơi, từ
những phương trời xa thẳm vượt qua giới hạn của không gian, rộn ràng bay
về trong Tịnh xá, và mang theo vô số hoa lạ của ngàn phương về cúng dường
Ðức Phật, làm cho buổi sáng của Tịnh xá, và mang theo vô số hoa lạ của
ngàn phương về cúng dường Ðức Phật, làm cho buổi sáng của Tịnh xá đã linh
động lại tưng bừng và càng linh động thêm. Nhưng có bình minh nào trong
lành tươi sáng, có cảnh nào tưng bừng linh động bằng tâm hồn của vị Tỳ
kheo kia, khi vị ấy nhận rõ được đường lối tu tập của đời mình qua một đêm
dài đen tối của cõi lòng…
Trúc
Ti
Trên đường đạo nhiều khi ta khổ
sở,
Một lòng hăng hái tiến không thôi,
Dù cho non nước có đổi dời,
Ta cũng nguyện muôn đòi tinh tiến
mãi.
Hy sinh
(^)
Ngày xưa, có một ngưòi lái
buôn nhân đức và hiền hậu, một ngày kia, chàng cùng năm người khách khác
vượt trùng dương chèo thuyền qua xứ lạ để mua các thực phẩm và châu báu.
Mua xong, mọi người đều vui vẻ dong buồm trở về xứ.
Khi ra đi thì trời quang
mây tạnh, gió thuận buồm xuôi, nhưng khi thuyền ra khơi, thì thời tiết
bỗng thay đổi, gió xoay chiều, từng đám mây đen ùn ùn kéo đến dần dần lan
tỏa khắp cả bầu trời. Những lằn chớp rạch từng luồng sóng quằn quèo giữa
vùng trời mây gió. Tiếng sấm vang dậy, mưa ào ào đổ xuống. Gió mỗi phút
mỗi mạnh, sóng mỗi lúc mỗi to, tiếng gầm thét dữ dội và nhào lộn như điên
cuồng. Chiếc thuyền nhỏ, lên xuống theo với đợt sóng nổi chìm. Ðược một
lúc thì lái gãy, buồm đứt, chiếc thuyền lảo đảo quay tít mấy vòng như
chiếc lá vàng, giữa cơn gió lốc, bỗng bị úp lại và chìm hẳn.
Cuống quít hãi hùng và lo
sợ, những người trong thuyền đều bị sóng cuốn ra giữa bể. Trong khi ấy
người lái buôn bám vào được cột buồm, còn năm người bạn đồng hành không
bám vào đâu được cả và sắp bị chìm sâu vào đáy bể. Họ kêu cầu rên la rất
thảm thiết. Ai đã từng chứng kiến tiếng khóc não lòng của một kẻ sắp lìa
trần mà không động lòng đau xót? Cũng chính vì tiếng khóc ấy, đã khơi dậy
ở lòng người thương gia một tình thương vô hạn, một sự hy sinh cao cả mà
trừ phi những bậc Thánh nhân thì ít người làm được.
Chàng ta quay mũi cột buồm
lại, rồi bơi đến vớt từng người một, khi cả năm người bạn đều níu vào cột
buồm chàng mới hơi yên lòng, nhưng vì cột buồm nhỏ, không thể chịu đựng
được sức nặng của sáu người. Kể cả người lái buôn kia nữa, nên bị chìm dần
xuống nước.
Người lái buôn tự nghĩ: Nếu ta ham
sống cứ níu vào cột buồm này, thì không những một mình ta chết mà năm
người kia cũng không tài nào thoát khỏi. Nếu ta dùng sức mạnh mà gạt bớt
một người ra khỏi cột buồm thì có lẽ cứu được thân ta và bốn người kia
nữa. Nhưng việc ác đức ấy ta không nỡ và không thể làm. Chi bằng ta hy
sinh ta để cứu những người khốn nạn ấy.
Nghĩ như thế nên người lái
buôn thả cột buồm và bị sóng đánh chìm nghỉm. Cột buồm bấy giờ được nhẹ
bớt, từ từ nổi lên lại. Năm người kia nhờ thế mà được an toàn, trở về quê
hương sum họp với gia đình họ.
Người lái buôn nhân đức và
hiền hậu ấy là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thiện
Châu
Cứu một người bị nạn hơn bố thí
tất cả.
Các sao tuy có sáng, chẳng bằng
sức sáng của mặt trăng.
Bớ người ta! Ăn cướp!
(^)
Thuở xưa, lúc Ðức Xá Lợi xuất gia,
Ngài còn một người em trai và một người em gái. Mẹ ngài là người tà
kiến, không tin theo Phật giáo, nên Ngài có căn dặn Chư Tăng, khi nào em
trai Ngài có xin xuất gia thì cứ tự tiện cho, không cần chờ sự ưng thuận
của mẹ Ngài.
Bà mẹ thấy con trai lớn
của bà là Ngài Xá Lợi Phất xuất gia, bà sợ con trai út cũng xuất gia theo
anh nên bà lo đi cưới vợ cho con. Ngày làm lễ rước dâu, theo phong tục
thời ấy thì phải chọn một người rất già mà còn đủ vợ chồng đến xối nước
trên tay cô dâu và chú rể.
Trong khi ấy chọn được bà
ngoại của cô dâu là người có đủ điều kiện. Khi làm lễ bà ngoại vợ lại nắm
tay đôi tân nhân rồi xối nước và nói rằng: “Bà cầu chúc cho hai con được
ăn ở với nhau cho đến đầu bạc răng long như bà vậy”.
Em của Ngài Xá Lợi Phất
nhìn vợ thật là đẹp, nhưng khi day qua nhìn bà ngoại già nua, miệng thì
móm mém, da nhăn tóc bạc, thật là xấu xí. Chàng ta mới có cảm tưởng rằng:
“Bà ngoại vợ ta trước kia chắc cũng đẹp lắm mà hôm nay cái đẹp ấy không
còn, thì sau này vợ ta cũng phải chịu cái cảnh già nua chi phối, vậy thì
sắc đẹp đâu có tồn tại mãi được.
Trên đời không có gì
trường tồn bền vững. Khi mà sắc đẹp của vợ ta phai lạt với thời gian, thì
còn thú vị gì nữa. Thảo nào mà anh cả ta lại không đi tìm đường giải
thoát!”.
Suy sét đến đó, chàng phát
tâm chán nản mùi giàu sang, vợ đẹp, ý chàng muốn xuất gia theo gương của
anh, chàng mới nghĩ ra một kế, khi rước dâu theo đường chàng làm bộ đau
bụng cứ đòi xuống đi sông mãi.
Nhiều lần như vậy, bà mẹ
tưởng con mình bị bệnh kiết nên không để ý, để cho chàng tự do và cho xe
rước dâu về trước, để chàng đi sau. Dịp may đã đến, chàng bèn đi thẳng vào
Chùa ở gần đấy, xin Chư Tăng cho phép xuất gia.
Chư Tăng nói;
-
Nhà ngươi đã được sự ưng thuận
của cha mẹ chưa?
-
Bạch chư Ðại Ðức, chưa!
Chư Tăng không dám cho
xuất gia, vì theo luật Ðức Thế Tôn cấm không cho người xuất gia trong khi
cha mẹ không cho phép.
Khi hết sức yêu cầu Chư
Tăng mà quý Ngài không bằng lòng cho xuất gia, chàng mới la lên rằng:
“Bớ người ta! Ăn cướp nó cướp
của tôi đây này!”.
Chư Tăng lấy làm lạ mới
hỏi:
-
Gã kia! Ngươi đã điên rồi
chăng? tại sao ở giữa chúng Tăng mà ngươi lại la lên như thế? Ai cướp của
nhà ngươi?
Chàng đáp:
-
Bạch Chư Tăng! Ðệ tử là em của
Ngài Xá Lợi Phất.
Chư Tăng mới sực nhớ đến lời dặn của
Ngài Xá Lợi Phất, nên cho em Ngài xuất gia…
Thông
Kham
Trí tuệ là gốc của muôn hạnh loài.
Ngu si là nguồn tội lỗi.
Làm vua trong 7 ngày
(^)
Hoàng đệ Vi Ta gò cương
ngựa, quay sang lão tướng Kiên Ðà:
-Ta muốn đi tản bộ để được
cùng lão tướng đến cạnh các đạo sĩ tu khổ hạnh trong rừng già này.
Ðội ngựa dừng lại ngoan ngoãn, hai
người cùng nhảy xuống đất. Trong khi chờ đợi vị lão tướng của mình buộc
xong ngựa vào gốc cây, Hoàng đệ Vi Ta đưa mắt nhìn theo con đường mòn sâu
thẳm, mơ màng suy tưởng đến những cảnh trí mình sắp được trông thấy: “Dưới
tàn cây, hốc đá của rừng xanh vắng lặng, thân đạo sĩ uy nghi như thần
tượng.
Ðiệu nhạc thoảng lên từ hơi gió ngàn
phương, thanh tịnh vô cùng như nâng hồn người thoát tục cao thêm mãi tận
hư vô. Thật là huyền diệu”.
-
Xin mời Ngài đăng trình.
Vi Ta bỗng quay lạ, nhìn lão tướng
Kiên Ðà và nói với giọng u buồn:
-
Lão tướng ạ! Lâu nay ta ôm ấp
một mối băn khoăn khó giải. Ta tưởng đến một hướng đi cho cuộc đời. Phải
chọn một trong hai con đường: Một là bằng mọi cách, chiếm đoạt tất cả
những gì mình ao ước để tạo được hạnh phúc hiện tiền, hai là ép buộc thân
xác vào cảnh thiếu thốn, khổ hạnh để hủy diệt thân này mà được hạnh phúc
trong tương lai. Ta không tán thành cách tu tập của các vị Sa môn theo đạo
Phật, vẫn ăn uống đầy đủ mà luyện tâm thanh tịnh.
Lão tướng có hiểu được ta chăng!
Ta buồn vì anh ta Hoàng Ðế A Dục, một
bậc trí tuệ, một vị anh hùng cái thế lừng danh của Ðại quốc Magada này lại
bị cám dỗ bởi những lời đường mật của hàng đệ tử của Phật. Nhưng mà thôi,
ta không nên nhắc chuyện ấy lại làm chi, lão tướng hãy dẫn ta vào tận núi
thẳm rừng sâu để ta được chiêm ngưỡng các đạo sĩ tu khổ hạnh.
Lão tướng Kiên Ðà đăm chiêu nghĩ ngợi,
lão vẫn giữ im lặng khi bước đi bên cạnh ông
Hoàng. Nhưng bỗng vị cận thận
chỉ về hốc đá, cung kính:
-
Tâu Hoàng đệ, dưới hốc đá, một
bóng hình đạo sĩ.
Ông Hoàng tiến nhanh về phía hốc đá.
Dưới tàn cây rậm rạp, một đạo sĩ gầy như một bộ xương khô. Ðôi mắt sâu như
hai vực thẳm, và cái đầu tóc, tóc dài quanh rối ghê gớm, phủ kín cả đôi
vai, tỏa xuống bộ sườn trần trụi. Thân thể đạo sĩ ở trong tình trạng gần
như chết hẳn, chỉ còn cái lưng vẫn giữ thẳng, lồng ngực hồi lâu thấp thỏm.
Hoàng đệ Vi Ta đến bên cạnh đạo sĩ:
-
Bạch Ðại Ðức, Ngài tu hành khổ
đạo đã bao năm rồi mà thân xác ốm yếu như thế này? Thật đệ tử lấy làm bái
phục.
Ðạo sĩ vẫn nhắm nghiền đôi mắt trả
lời:
-
Ðã mười hai năm rồi, mười hai
năm mong giải thoát chiếc thân uế trược này để linh hồn siêu thoát.
-
Bạch Ðại Ðức, Ngài dùng món chi
để nuôi mạng qua ngày?
-
Bần đạo ăn rễ rau và trái cây
thôi.
-
Bạch Ðại Ðức, Ngài ăn nghỉ ở
đâu?
Ðạo sĩ chỉ đồng cỏ khô bên cạnh:
-
Bần đạo nằm nghỉ trên đống cỏ
khô này.
-
Bạch Ðại Ðức, trên đường tu học
Thiên Ma bách
chiếc, những chướng ngại nào làm tâm hồn Ngài không an tịnh?
Ðạo sĩ lắc đầu tỏ vẻ chán nản:
-
Ðiều làm cho bần đạo khổ công
và tốn nhiều công phu nhất là nhìn thầy những đôi chim trời, thú rừng
“nhảy nhót” với nhau.
Hoàng đệ Vi Ta buồn than:
-
Ngài đã thấy chân đích của sự
tu hành sắp đạt đến chưa?
Ðạo sĩ yên lặng giây lâu, Ngài khẽ lắc
đầu rung rinh mớ tóc dày:
-
Họa may khi thân xác này tàn
rụi!
Ông Hoàng đứng dậy nét mặt buồn rười
rượi. Mười hai năm khổ hạnh hành hạ thân xác đến cùng kiệt mà vẫn chưa
diệt hết được dục tình, dục ác! Phải đợi đến khi cái thân này hủi diệt,
các giác quan không còn cảm xúc, cái biết hoàn toàn vô năng lực thì mới
tin rằng có thể đạt được chân lý?
Lão tướng Kiên Ðà đến bên cạnh góp
lời:
-
Xin Ngài chớ khá bận tâm! Chúng
ta còn viếng thăm đôi vị danh tiếng nữa rồi Ngài được tận mắt tỏ tường,
sức chịu đựng khổ đau vô cùng tận để mong cho cuộc đời riêng thoát khỏi
khổ đau của kiếp người.
Hoàng đệ Vi Ta khua tay:
-
Ta hiểu
đủ rõ lão tướng ạ! Chúng ta sắp sửa về đi thôi.
Chiều đã xuống bóng cây đổ dài trên
đường. Trước khi lên ngựa ông Hoàng quay lại vị cận thần nói:
-
Kiên Ðà ạ! Sự tu hành của vị
Ðạo sĩ kia khó khăn biết là bao mà chưa thoát được ước muốn tầm thường.
Thế các vị Sa môn tu theo Ðạo Phật ở trong các chùa viện, tuy sống trong
chay tịnh đạm bạc nhưng no ấm, thì làm sao mà thành tựu được đạo quả. Ấy
thế mà Hoàng huynh ta vẫn mãi cung kính, cúng dường cho họ.
Lão tướng Kiên Ðà không trả lời. Và
trên đường về hai người lặng lẽ cho ngựa chạy chậm chậm. Trong tâm trí mỗi
người đều nặng một nỗi suy tư.
-
Kìa lão tướng Kiên Ðà và cả Ðại
thần Châu Ðàn nữa. Các Ngài làm gì ở đây?
Ðại thần Châu Ðàn cung kính trả lời
Hoàng đệ Vi Ta:
-
Tâu Ngài, trời hè nóng bức,
Hoàng đế tắm ở trong cung, cho nên chúng tôi đứng đây giữ long bào và mão
ngọc.
Ông Hoàng Vi Ta nhìn đăm đăm vào chiếc
vương miện trên tay Châu Ðàn. Vị Ðại thần biết ý, đưa chiếc vương miện lên
trước mặt hoàng đệ Vi Ta:
-
Thưa Hoàng đệ, đây quả thật là
một chiếc mão vô giá và đẹp nhất kinh thành. Nó kết bằng một trăm hạt xích
châu, hai trăm hạt lưu ly và năm mươi hạt mã não. Lót bên trong là gấm quý
xứ Ty La và ở ngoài bọc vàng Ðề Bạt.
Ông Hoàng tỏ ý thèm thuồng :
-
Thật là một chiếc vương niệm
quý giá và đẹp đẽ vô cùng ước gì ta sẽ được một chiếc nhỉ!
Lão tướng Kiên Ðà nhìn Vi Ta, mỉm cười
:
-
Thưa Hoàng đệ, với dung mạo đẹp
đẽ uy nghi và gương mặt khôi ngô của Ngài, nếu Ngài đội chiếc vương miện
quý giá này thì hạ thần sẽ tưởng đến một vị trời Ðế Thích vừa giáng hạ.
Vi Ta khoái chí, cầm chiếc vương niệm
mân mê.
Ðại thần Châu Ðàn liếc nhanh về phía
ông hoàng:
-
Lão tướng Kiên Ðà nói đúng đấy.
Thưa Hoàng Ðệ, Ngài hãy đội thử để chúng tôi chiêm ngưỡng dung nhan.
Hoàng đệ mỉm cười nhìn quanh:
-
Nhưng ta ngại…
Châu đoàn cướp lời:
-
Thưa không, Hoàng đế mới đi
tắm. Vả lại, Ngài là Hoàng đế tương lai kia mà. Chiếc vương miện này sẽ là
của Ngài.
Kiên Ðà phụ hoạ :
-
Vâng, Ngài sẽ là Hoàng đế. Ngài
hãy đội thử tý thôi.
Hoàng đệ Vi Ta không còn tự chủ được
lòng ham muốn. Ngài trịnh trọng đặt chiếc vương miện lên đầu và dang ra
xa:
-
Các khanh ngắm ta có đẹp không
nào?
Bổng cửa phòng vụt mở và Hoàng đế A
Dục đã bước ra khỏi phòng.
Vi Ta hốt hoảng đứng ngây người chiếc
vương miện vẫn còn mang trên đầu.
Nghiêm nghị Hoàng đế A Dục phán:
Ngự đệ
Vi Ta! Hành động của ngươi tố cáo một tham muốn cuồng loạn.
Ông Hoàng Vi Ta quỳ xuống run run van
xin:
-
Em khờ dại lầm lỗi. Xin Hoàng
huynh mở lượng bao dung. Thật tình em không có lòng bội phản chỉ một phút…
Hoàng Ðế A Dục cắt nganh lời:
-
Pháp luật nghiêm minh của triều
đình không cho phép ta dung tha, dù tội phạm chính là em ruột ta.
Rồi đổi sắc mặt Ngài truyền lệnh:
-
Lực sĩ đâu. Hãy dẫn phạm nhân
ra pháp trường.
Vi Ta sụp xuống chân vua, nức nở
khóc. Các cận thần cũng lạy lục, xin vua thương tình, giảm tội. Hoàng đế
A Dục hạ giọng và chậm rãi, Ngài nói:
-
Ta niệm tình các khanh! Và để
thỏa lòng ước muốn của em ta, ta sẽ cho Vi Ta làm vua trong bảy ngày,
nhưng…
Ngài dừng lại một lát, rồi nhìn thẳng
vào Hoàng đệ Vi Ta, ngài tiếp:
-
Nhưng sau bảy ngày làm Hoàng
đế, ngươi sẽ phải chịu y luật tử hình.
Hoàng đế A Dục đỡ Vi Ta dậy, truyền
khoác thêm áo cẩm bào và bảo các quan đón rước Vi Ta về cung điện đặt lên
ngôi cao cả.
Trước sân rồng, Hoàng đế Vi Ta tiều
tuỵ, rũ rượi trong bộ áo cẩm bào, phủ phục dưới bệ. Hoàng đế A Dục nghiêm
nghị:
-
Ngự đệ Vi Ta!
-
Dạ !
-
Bảy ngày đã qua! Trong bảy ngày
trên ngôi vàng điện ngọc, say sưa bên cung nữ yêu kiều, có trong tay muôn
vạn quyền lực, hẳn em đã được sung sướng rồi chứ?
Hoàng đệ Vi Ta ê chề, chán nản:
-
Tâu Hoàng huynh, em khổ lắm
Hoàng huynh! Ngồi trên nệm gấm vương giả, chung quanh dìu dặt tiếng nhạc,
tiếng ca của những cung tần mỹ nữ, nhưng lòng em không thể nào vui được
khi trí em mãi nghĩ đến lưỡi gươm sáng quắc của tên đao phủ, đến dòng máu
đào phun giọt từ cổ em sau khi chiếc đầu em lăn lóc. Trời ơi! Lại thêm
nỗi, mỗi khi hoàng hôn vừa tắt, bốn tên lực sĩ Chiên Ðà La đứng bốn góc
Hoàng cung, tay cầm gươm trần, tay nắm xích sắt, khua lổn cổn hô to: “Một
ngày qua.
Một…còn sáu ngày nữa, tân vương sẽ bị
chặt đầu. Cái chết của Ngài đang đi tới…
một ngày qua…”
Hoàng đệ Vi Ta buông tiếng thở dài não
nuột, rồi tiếp:
-
Tâu Hoàng huynh, mỗi tiếng nói
của họ là mỗi lưỡi gươm nhọn đâm vào tim
em. Suốt cả bảy ngày, em sống
trong phập phồng lo sợ. Ngai vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ, quyền lực
danh vị nào có nghĩa lý gì đâu khi tâm em đang đau khổ, Hoàng huynh ạ! Rồi
Vi Ta bưng mặt khóc nức nở. Ðôi vai run run trong chiếc cẩm bào rộng. Bá
quan đều cảm động.
Vua A Dục từ từ bước xuống ngai vàng,
đến bên cạnh đỡ em Ngài dậy, dịu dàng an ủi:
-
Vi Ta em! Trong cái danh vị cao
cả nhất của người đời, em chỉ sợ sệt, lo âu chết mất một thân này, một
kiếp này mà cảm thấy thống khổ đến như thế.
Vậy em hãy nghị lại, các vị Sa môn tu
theo đạo Phật, họ luôn luôn nghĩ đến cảnh sanh, già, bệnh, chết của hết
thảy con người, trong vô lượng kiếp, qua nhiều cảnh giới đau thương khốn
nạn như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thì thử hỏi ăn một đôi bữa trong
ngày, khoác hài gai áo vải, có gì là sung sướng đâu em!
Hoàng đệ Vi Ta trầm ngâm nghĩ ngợi,
Ngài nhớ lại những băn khoăn trước đây của mình mà đã có lần Ngài thổ lộ
với lão tướng Kiên Ðà.
-
Tâu Hoàng Thượng…
Vua A Dục không để em nói hết lời:
-
Ta đã hiểu hết những thắc mắc
của em. Có phải em đã cho rằng cần phải tu hành ép xác,
làm tê liệt giác quan mới có
thể tạo được tâm thanh tịnh. Và sự thật đã trả lời cho em như thế nào. Vi
Ta ạ! Ðức Phật có dạy: Chẳng phải đi chân không, chẳng phải để tóc bồm
sồm, chẳng phải xoa cho đất vào người mình, chẳng phải tuyệt thực, chẳng
phải nằm trên đất, cũng chẳng phải ngồi mãi mà người ta có thể trở thành
thanh tịnh nếu không tiêu diệt dục vọng tự tâm mình.
Và Ðức Phật cũng đã dạy: “Có hai cực
đoan mà kẻ cầu đạo phải lẩn tránh. Cực đoan thứ nhất là sống cuộc đời
buông lung theo dục vọng để mưu cầu những thọ hưởng ích kỉ, ti tiện, xấu
xa. Cực đoan thứ hai là sống đời sống khổ hạnh, hành thân hoại thể mình
một cách khả ố, ghê tởm. Cả hai cực đoan kia đều không có lợi ích gì để
đưa đến cứu cách giải thoát. Phải đi trên con đường trung đạo. Chỉ có con
đường trung đạo mới đưa hành giả đến chánh tri kiến, đến thanh tịnh yên
vui. Ðến đại giác ngộ, và cứu cánh “Niết Bàn”. Em đã nghe rõ chưa?
Mắt sâu hóm của Hoàng đệ Vi Ta khô
dần, mặt Ngà tươi tỉnh. Ngước lên nhìn Hoàng đế A Dục, Ngài nói:
-
Tâu Hoàng huynh. Em đã hiểu
rồi! Những nỗi băn khoăn lâu nay của em đã được cởi mở. Em đã thấy được
con đường tu tập chân chính. Em đã thấy lòng nhẹ nhõm dù bây giờ em phải
bị tội tử hình.
Hoàng đế A Dục nắm lấy tay em cảm
động:
-
Không! Không! Em không còn có
tội lỗi gì nữa. Nếu như trước đây, lòng ước vọng cuồng loạn của em đã gây
nên tội lỗi thì bây giờ chính sự giác ngộ của em đã tự nó xóa được hết cả
lỗi lầm của em rồi! Hoàng đệ Vi Ta nắm lấy tay anh nói qua ánh mắt trìu
mến kính yêu:
-
Hoành huynh, hoàng huynh thương
em đến ngần ấy sao! Hoàng huynh đã chỉ cho em con đường giải thoát. Em đã
thấy rõ rồi và em nguyện sẽ đi theo con đường sáng suốt của Ðức Phật.
Hai anh em ôm nhau. Tình thương yêu
chan hòa trong đôi tim đồng điệu thông cảm, giác ngộ.
Ngoài vườn ngự, con chim hoành anh
chuốt lưỡi tung một tràng nhạc mừng vầng dương lên mang ánh sáng đến loài
người.
Quảng
Huệ
Nghĩ đến cái chết, đến cái đời mơ
hồ, không biết mình sống bao lâu và không biết thời thế nó xảy ra cho mình
như thế nào, nghĩ như vậy khiến mình sống theo chân lý.
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính: Tịnh
Hương, Tịnh Tâm
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-09-2002