Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 2
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Ngày
xưa, có một phú ông rất sùng mộ đạo Phật. Phú ông xuất tiền xây cất một
ngôi Chùa cực kỳ nguy nga tráng lệ. Ông già hảo tâm ấy lại có tính hiếu
kỳ. Sau khi hoàn thành ngôi Bảo điện ông già muốn có một điểm gì đặc biệt
khác thường nên ông chạm trổ một bức hoành phi thật đẹp và khắc sáu chữ
vàng “Nam mô A Di Ðà Phật” bằng chữ phạn rồi treo trước chánh điện. Những
học giả và bô lão trong làng đều chịu không biết là chữ gì. Họ rất thánh
phục Phú ông, cho Phú ông là một học giả uyên bác, thông hiểu cả Phạn ngữ.
Kỳ thật thì Phú ông đã nhờ một Pháp sư người Ấn Ðộ viết cho sáu chữ đó.
Ðược
thiên hạ trầm trồ khen ngợi bao nhiêu thì tính hiếu kỳ tự đắc của Phú ông
càng bị kích thích bấy nhiêu. Một hôm, ông cho viết sáu chữ ấy lên các tấm
bảng gỗ kèm theo mấy hàng chữ bản xứ ở dưới: “Nếu ai đọc được mấy chữ này
tôi sẽ gả con gái cho làm vợ và chia một nửa gia tài”. Ðoạn Phú ông cho
dựng những tấm bảng đó khắp nơi trong vùng và mỗi nơi cắt một người đứng
gác.
Sau khi
những tấm yết thị được dựng lên các học giả, văn gia, thi sĩ và nho sinh
nô nức đến xem, nhưng không một ai đọc được cả.
Một
ngày nọ có chàng thanh niên bán chiếu tên Hoàng Kim Ấn, đi qua một nơi có
dựng bảng, thấy rất nhiều người đang chen lấn nhau vào xem chữ, dĩ nhiên
là ai cũng ôm một bầu hy vọng to tướng trong lòng. Tò mò, chàng bán chiếu
cũng cố len lỏi để vào cho được. Nhưng khi đến nơi, nhìn lên tấm bảng
chàng chẳng hiểu cái quái gì, chỉ thấy mấy dòng chữ ngoằn ngoèo như giun
bò, chàng thất vọng quay ra. Song, lúc chàng vừa quay ra thì không may đầu
đòng gánh của chàng đụng ngay vào trán của một văn sĩ đang đứng bên cạnh.
Hoàng Kim Ấn hoảng hồn la lên “Nam Mô A Di Ðà Phật”. Lập tức người đứng
gác bảng tóm lấy cổ chàng và nói: “Ðúng người này rồi”. Hoàng Kim Ấn chẳng
hiểu đầu đuôi ra sao, cứ van lạy để xin lỗi vì trót vô ý để đòn gánh đụng
vào trán nhà văn. Nhưng người gác nhất định không buông tha chàng, và vội
vàng đưa chàng về trình với Phú ông. Chàng bán chiếu vẫn kêu van lạy lục
xin tha, nhưng người gác lại nói:
- Anh
này thật dại dột, sắp được vợ đẹp và giàu sang đến nơi rồi mà không biết,
còn cứ xin tha mãi! Bộ anh sợ vợ hay sao?
Hoàng
Kim Ấn càng hoang mang ngơ ngác thêm không hiểu chi hết và cứ bước theo
người gác về nhà Phú ông.
Chả
là Hoàng Kim Ấn là một Phật tử rất kiên thành. Mặc dầu nhà nghèo, học ít,
không được đọc kinh sách, nhưng chàng rất tin Phật, nên chỉ trì sáu chữ
Nam mô A Di Ðà Phật và lúc nào cũng nhớ Phật, niệm Phật, dù đi đứng, nằm,
ngồi không bao giờ quên cả. Niệm Phật đối với chàng đã thành một thói
quen. Mỗi khi gặp nguy hiểm, hay việc gì ngoài ý muốn của chàng, chàng lại
niệm Phật to hơn. Do đó, lúc vô ý để đòn gánh của mình đụng vào tránh nhà
văn sĩ, chàng cất tiếng niệm danh hiệu Phật, mục đích để cầu cho việc đó
được vô sự. Nhưng không ngờ sáu chữ chàng niệm lại đúng với sáu chữ viết
bằng chữ Phạn ở trên bảng, nên người đứng gác tưởng chàng biết những chữ
ấy, nên liền tóm lấy cổ chàng rồi lôi cổ chàng về để Phú ông gả con gái
cho. Khốn nỗi chàng bán chiếu không hiểu cứ tưởng là người ta bắt đi để
mang “gông” vào cổ, vì đã làm sứt trán của nhà văn lúc nãy nên cứ kêu xin
tha tội hoài!
Khi về
tới nhà Phú ông, chàng bán chiếu mới vỡ lẽ là chàng được tôn lên hàng “học
giả” để cùng sánh vai với tiểu thư, con gái Phú ông để cùng ca khúc
“Phượng cầu Kỳ Hoàng”. Chàng bán chiếu thấy bàn tay của định mệnh xếp đặt
lắm việc kỳ diệu quá. Bất giác chàng khẽ ngâm hai câu đối để ghi lại một
biến chuyển trong quãng đời chàng mà chàng cho là vô cùng huyền bí:
“Phúc chủ, lộc thầy, bát tất con hiền, con thận,
Thơm tay, may miệng, hà tụ phụng thỉnh, phụng chư”.
Từ đó,
Hoàng Kim Ấn sống cuộc đời trưởng giả, nhưng hàng ngày chàng vẫn không
quên công việc niệm Phật của quãng đời bán chiếu hồi xưa.
Một hôm,
vì trái nắng trở trời, vợ chàng cảm gió. Cũng tưởng chỉ qua loa, nào ngờ
mỗi ngày bệnh tình mỗi trầm trọng, cứ sốt li bì, không thuốc nào khỏi.
Hoàng Kim Ấn đâm lo và lúc nào cũng ngồi bên giường bệnh nhân để niệm
Phật. Vừa niệm, chàng vừa đưa tay thoa từ đầu đến chân của tiểu thư, và
huyền diệu thay! Hễ chàng đưa tay đến đâu là nàng cảm thấy nhẹ nhõm đến
đó. Chẳng bao lâu, vợ chàng bình phục hẳn. Thật là đã “may miệng” lại
“thơm tay”.
Từ đó,
Hoàng Kim Ấn nổi tiếng là một “Ðại y sư” thành danh lừng lẫy, đồn đến tai
Vua.
Thật
là một sự trùng hợp ly kỳ. Cũng trong thời gian trái nắng, trái gió ấy.
Công chúa cũng lâm bệnh, và bao nhiêu danh y đã được triệu vào để trị liệu
cho Công chúa, nhưng đều vô hiệu. Khi tiếng tăm của Hoàng Kim Ấn được đồn
đến Hoàng cung, lập tức nhà vua hạ chiếu chỉ vời chàng vào để chữa cho
Công chúa. Nhận được chiếu chỉ, Hoàng Kim Ấn cảm thấy bối rối, lo sợ, sợ
vì không biết miệng chàng còn may không nữa? Câu niệm Phật biết có còn
hiệu nghiệm để chữa bệnh cho Công chúa nữa không? Mặc dầu lo sợ, song
không cách nào để khước từ mệnh lệnh của nhà Vua, bởi vậy chàng đành “nhắm
mắt đưa chân” và chỉ tin tưởng vào sức vạn năng của một câu niệm Phật chí
thành, đã đến chỗ nhất tâm bất loạn.
Khi
tới Hoàng cung, Hoàng Kim Ấn được đưa ngay vào phòng bệnh của Công chúa.
Chàng đuổi hết người hầu cận ra ngoài. Trong phòng chỉ còn có chàng và
Công chúa. Bây giờ chàng bắt đầu chữa cho Công chúa bằng phương thần dược:
Miệng chàng niệm Phật, tay chàng thoa vào đầu và mình mẩy Công chúa. Công
chúa ngạc nhiên và không thấy y sư cho uống thuốc gì cả, mà trong người
thì cứ thấy nhẹ nhàng dần, rồi cuối cùng như một chiếc đũa thần hễ tay
Hoàng Kim Ấn đưa đến đâu là bệnh hết đến đấy. Mừng và lạ quá, Công chúa
chạy vào tâu với Hoàng hậu và Ðức Vua. Nhà Vua thấy con mình bình phục mau
quá cũng hết sức ngạc nhiên và trong bụng nghĩ thầm Hoàng Kim Ấn đúng là
“Thánh sư”.
Nhà Vua
hạ lệnh mở yến ăn mừng và khoản đãi “Thánh sư”. Trong bữa tiệc không thiếu
một thứ gì, đủ cả sơn hào hải vị. Trong lúc rượu đã ngà ngà, Nhà Vua nhìn
ra sân, nơi có đắp một con rồng thật lớn nói với Hoàng Kim Ấn:
- Trẫm
đố khanh biết trong miệng con rồng kia có cái gì? Nếu khanh nói đúng, Trẫm
sẽ cho làm phò mã và gả Công chúa cho, bằng không trẫm bắt tội!
Nguy to
rồi, nếu lần này mà cái miệng của chàng hết “may” thì đến “du địa phủ”.
Ðầu óc Hoàng Kim Ấn lúc này thật là rối tùng xòe, như một túi bòng bong
vậy. Chàng tự nghĩ: “Nếu không nói đúng, chắc mình phải chết, còn nếu nói
đúng thì cái nghĩa “tào khang chi thê” mới làm sao đây?”. Thật là tiến
thoái lưỡng nan. Ðúng cũng khổ mà không đúng thì chết. Chàng cứ băn khoăn
lo lắng, tự nghĩ đời tàn, bất giác chàng than một câu để thương cho số
phận: Hoàng Kim Ấn! Nhưng chàng vừa dứt lời thì bỗng nhà Vua vỗ tay reo và
truyền gọi Công chúa ra dâng cho chàng một ly rượu. Hoàng Kim Ấn ngơ ngác,
không hiểu ra sao. Chàng còn đang ngơ ngác thì nhà Vua nói:
-
Khanh nói đúng, thật là Thánh sư! Trẫm có cất chiếc “Hoàng Kim Ấn” trong
miệng rồng đó! Kỳ diệu biết bao! Tưởng mình chết đến nơi, kêu tên mình lên
để than thở cho số phận, không ngờ tên mình lại trùng với tên có giấu bằng
vàng ròng của nhà Vua, chết thì thoát rồi, còn việc phò mã và lấy Công
chúa thì sao? Hoàng Kim Ấn vập đầu xin nhà Vua tha cho tội đó, viện lẽ
mình đã có vợ và phải giữ trọn đạo thủy chung. Nhà Vua cảm khích vì người
có tiết nghĩa, không nỡ ép buộc, liền ban thưởng thật trọng hậu rồi sai
cận vệ đưa tiễn về nhà…
Huyền
diệu và linh nghiệm thay sáu chữ Nam mô A Di Ðà Phật khi được phát ra với
niềm chí thiết, chí thành và nhất tâm bất loạn!
NGƯ ÔNG
Ví dù muôn đắng ngàn cay,
Một câu niệm Phật tan ngay cấp kỳ!...
Niệm Phật dứt bỏ oán thù,
Lòng không hung dữ ngục tù đâu vương?
Niệm Phật mở rộng lòng thương
Oan thân bình đẳng tai ương nào vào?
Nắng
vàng buổi chiều dịu lại, phảng phất trên các ngọn cây xanh của rừng rậm.
Gió nhẹ thổi mặt nước hồ khẽ gợn sóng, rung rinh những bóng cây cao hai
bên bờ in hình trong đáy nước.
Trong
khung cảnh những buổi chiều êm mát này của chốn núi rừng, một con linh
dương đang thong thả uống từng ngụm nước trong. Nó hình như đang chờ đợi.
Nó nghĩ đến một chiều trước đây, nó làm quen với chàng rùa cùng chị chim
gõ kiến. Cả hai bạn nó đều cùng cư trú ở bờ hồ này và thường về vào cái
giờ mà nó đến uống nước. Lâu rồi thành quen nhau. Rồi chuyện trò qua lại
trở nên thân thiết, mỗi lần mà một con nào đến trễ là những con kia trông
đợi và tỏ vẻ lo lắng.
Nhưng
kìa linh dương ngẩng mặt lên mừng rỡ vì chàng rùa, đã bò gần đến và trên
cành cây chị gõ kiến cũng đã reo lên những tràng tiếng dài. Câu chuyện của
rừng sâu, của lưng trời, của bờ nước, được trao đổi cùng nhau. Trong lúc
linh dương cúi thấp xuống gần sát chàng rùa và chim gõ kiến đang gạt những
con nhện vẩn vơ trên bộ lông linh dương mướt màu nâu lợt. Cho đến khi mặt
trời khuất sau trái núi đằng xa, linh dương rời hai bạn để trở vào bên
trong đám cây rậm rạp.
Một hôm
kia, một người thợ săn lảng vảng đến rừng này. Hắn mang theo cung tên giáo
mác đầy đủ. Hắn lần theo dấu chân linh dương và khám phá ra chỗ linh dương
thường hay đến uống nước. Hắn núp vào một bụi rậm chờ đợi.
Trưa
đã qua rồi, mặt trời đã chết về phương tây. Mệt mỏi hắn đứng dậy, ra khỏi
bụi, nhìn hồ nước, nhìn cái gốc cây rồi bỏ đi nơi khác. Trong óc hắn đang
chuẩn bị một kế hoạch sát hại gì đây? Ngày mai hắn trở lại. Hắn đào đất
thành hục nhỏ, ở mỗi hục hắn đặt một chiếc bẫy rồi khỏa đất lại liền láng.
Nó còn bỏ thêm lên vài chiếc lá để không ai để ý tới những dấu đất mới ở
trên đường. Nó khôn ngoan đoán trước những chỗ mà linh dương sẽ để chân
tới mà đặt bẫy. Xong đêm ấy nó quanh sang đường khác, đi trở về, hẹn sáng
mai trở lại để trói chặt bốn chân linh dương xỏ vào đầu gậy quẩy về. Từ
trước đến nay, chưa lần nào nó đặt bẫy mà không đánh được con thú nào.
Nắng
vàng buổi chiều dịu lại, phảng phất trên các ngọn cây xanh, linh dương
thong thả bước đi. Nó lánh một đôi dấu lạ trên đường và tiến đến bờ hồ để
gặp hai bạn thân thiết. Vừa uống từng ngụm nước, nó vừa kể chuyện của rừng
sâu trong lúc chàng rùa và chị gõ kiến lắng tai nghe.
Gió mát
quá thành ra cả ba đều muốn kéo dài thời gian gặp gỡ. Ðến khi linh dương
từ giã bạn ra về thì trời đã gần tối. Trong rừng sâu, đêm đổ xuống rất
mau, đường đất chỉ trông thấy mờ mờ. Linh dương đang đi bỗng sụp một chân
xuống, nó nhảy lướt tới, nhưng không kịp nữa rồi, một cái gì giữ chặt chân
nó. Nó giựt mạnh và nghe chân càng bị thắt chặt thêm. Nó biết là nó bị mắc
bẫy rồi. Cảnh tượng như thế này đã in sâu vào trí nó. Chính cha nó, trước
đây đã bị trói chặt chân sau, khi dẫn nó đi ăn, hồi nó còn nhỏ lắm. Rồi
liền sau đó hai người dữ tợn từ bụi rậm nhảy xổ ra, vật ngã cha nó, trói
chặt bốn chân, khiêng đi trong lúc nó chạy lùi lại xa, đứng nhìn theo,
nước mắt tuôn trào, đến nỗi nó không còn thấy gì nữa.
Giờ
đây đến lượt nó, nó nhìn ra hai bên cây là tối đen, không có hai người tàn
ác đó nhưng nó cũng đoán biết là chính loài người đã gây ra tai ác này.
Tại sao con người lại tìm cách giết nó, giết gia đình nó, trong lúc chúng
nó không làm gì hại ai cả.
Nó
giật mạnh chân lần nữa. Sợi dây càng thắt chặt hơn trước nó làm tê cả bắp
đùi. Nó kêu cứu khe khẽ. Trong rừng lúc này, tiếng kêu của nó thật không
lợi gì cho nó vì loái thú dữ có thể theo đó mà tìm đến. May quá là chim gõ
kiến nghe được liền chạy đến ngay. Tội nghiệp quá! Nó nhìn quanh quẩn hồi
lâu quanh linh dương mà chẳng tìm được cách nào để cứu bạn. Thấy bạn lo
lắng, linh dương không lộ vẻ đau đớn nữa. Rồi bỗng gõ kiến bay đi. Chim
vất vả lắm mới tìm được chỗ rùa. Rùa đoán biết được việc chẳng lành vì từ
đầu hôm đến nó thấy nóng lòng không sao ngủ được. Gõ kiến vừa nói xong,
rùa vội vã giục đi. Gõ kiến dẫn đường. Rùa bò theo sau, nhanh gấp mấy lần
ngày thường. Ðường tối mò, hai ba phen rùa ngã lăn lóc, nhưng rồi cũng trở
dậy được, bò theo kịp bạn.
Tới nơi
rồi, rùa không khỏi đau lòng khi nghe linh dương thở mệt nhọc, và rờ thấy
chiếc dây thừng to đang xiết chặt chân bạn. Rùa bắt đầu thử sức nó mổ vào
sợi dây thừng. Dây thừng bằng gai bền chắc, làm tê cả hai hàm răng. Nó mổ
nhát thứ hai. Lần này dây thừng bị xơ ra đôi ba sợi ngoài nhưng hàm răng
rùa cũng rung rúng.
Rùa ngậm
dây, nghiến từng sợi nhỏ. Chậm, nhưng chắc chắn và ít đau. Công việc phải
làm xong trong đêm nay. Gõ kiến suốt đêm canh chừng, và rùa không một chút
nghỉ ngơi, cắn đứt từng sợi trong lúc linh dương chịu đau giữ cho dây căng
thẳng.
Gần
sáng, dây thừng đã đứt quá nửa, việc cắn dây dễ làm hơn trước, nhưng rùa
đã mệt quá sức rồi. Có nhiều lần rùa gục đầu vào dây không cử động được.
Nhưng rùa cố tỉnh lại để nghiến đứt thêm một vài sợi con nữa.
Trời
sáng hẳn, thật khó lòng giải thoát cho linh dương trước khi người thợ săn
đến. Phải làm thế cho tên tàn ác đến chậm, gõ kiến vụt bay đi. Chi tìm ra
nhà người thợ săn vào lúc hắn bước ra cửa mang theo tất cả những đồ dùng
sát hại của hắn. Gõ kiến bay đến trước hắn, kêu lên những tiếng buồn thảm
nhất. Tên thợ săn ngẩng đầu lên lẩm bẩm, chửi rủa. Hắn cho là điềm xấu nên
vội quay lại. Khá lâu rồi mà không thấy hắn ra. Nhưng kìa hắn đã lách cửa
sau, định tiến bằng đường khác. Rất nhanh, chim bay tới trước mặt hắn và
kêu lên ai oán. Hắn nhìn lên chửi rủa rồi lại đi trở vào.
Mặt
trời đã lên cao, không chậm trễ được nữa, hắn hối hả tiến vào rừng mặc cho
gõ kiến buông những lời oán trách tội ác trước mặt hắn, hắn đi nhanh như
chạy, hắn nghĩ đến cách hả hê khi vật ngã con thú đã kiệt sức, đến những
ly rượu hòa với máu tươi, đến đĩa thịt phay ưng ửng hồng màu máu. Hắn gần
đến nơi rồi, con linh dương đang đứng ở đằng kia kìa. Ðích là nó đã mắc
bẫy rồi. Tên thợ săn có cả sự thật để tự hà là xưa nay nó chưa lần nào đặt
bẫy mà không bắt được một con mồi. Hắn thỏa thích không gì bằng.
Dây vẫn
chưa chịu đứt, không lẽ công trình cả một đêm chỉ đưa đến kết quả thảm hại
thế này ư? Trên cây gõ kiến giục quyết liệt. Rùa gom góp cả toàn lực cắn
phát cuối cùng trong lúc linh dương giựt thật mạnh. Dây thừng đứt ngang.
Một đoạn còn lại nằm cong queo trên mặt đất. Rùa ngã lăn ra ngất lịm đi.
Linh dương không thể nỡ rời bạn. Nhưng không còn có thể trì hoãn nữa, nó
vội vã lánh vào đám rậm lánh sang rừng bên cạnh. Tên thợ săn chạy như bay
đến nhưng không còn đuổi kịp linh dương nữa. Hắn dậm chân tức tối. Hắn
lượm hòn đá quăng vào bụi rậm để xua đuổi chim gõ kiến mà nó ghét cay ghét
đắng. Hắn định dậm nát thân rùa cho hả dạ, nhưng suy nghĩ lại, hắn bắt rùa
bỏ ngay vào cái giỏ nó đang mang sau lưng. Hắn thâu các bẫy lại và buồn
bực trở về.
Người
thợ săn đi được một quãng đường thì thấy phía trước mặt mình con linh
dương đang đi thấp thỏm. Hắn mừng quýnh hắn đi nhanh hơn định bắt lại con
vật mới sổ ra khỏi tay hắn. Hắn đến gần hơn, gần hơn. Hắn chạy nhanh lại,
nhưng linh dương nhanh nhẹn lánh sang lối khác. Phía sau xa này rõ ràng
tên đi săn nom thấy con linh dương đi thấp thỏm một cách đau đớn. Chân sau
vẫn còn mang theo một đoạn thừng. Hắn lại rượt đuổi theo mà có cái gì nặng
cứ đập thình thịch sau lưng hắn như muốn trì hắn lại. Thì ra, hắn nhớ lại
là con rùa đáng đánh chết này đang bò ngom ngóp trong chiếc giỏ mang sau
lưng hắn. Nếu không có cái giỏ này chắc chắn hắn đã bắt kịp con linh dương
từ buổi đầu, hắn nghĩ như thế.
Ðàng xa, linh dương đi chậm lại, có lẽ linh
dương đã mệt đừ rồi. Phải rồi! Vùng vẫy suốt một đêm, còn gì sức đâu mà
chạy thi với hắn nữa. Tên thợ săn tin ở tài chạy của hắn lắm. Nhưng phải
trừ bỏ cái giỏ bất tài vô tướng này. Hắn vội gấp tay, rút ra khỏi quai
giỏ. Hắn quăng giỏ sang một bên và đuổi theo linh dương. Hắn tin rằng chỉ
trong dây lát, con thú sẽ thuộc về hắn.
Nhưng
khi hắn tới gần thì linh dương vụt lao nhanh sang đường khác và chạy như
biến. “Ừ có giỏi thì cho mày gắng giỏi một lần cuối cùng này nữa”. Nghĩ
thế rồi, tên thợ săn quên mệt đuổi theo.
Trong
lúc này chim gõ kiến vẫn theo dõi cuộc đuổi của người thợ săn. Cho đến lúc
người thợ săn mệt nhoài chạy theo linh dương mà tiến sâu vào rừng, thì gõ
kiến dẫn linh dương đi ngõ tắt trở lại chỗ rùa. Ðến nơi linh dương thấy
rùa lung túng trong giỏ mà thương lắm. Thật là may mà nó còn gặp lại bạn,
ân nhân của nó ở đây. Không thì còn cách nào để đền đáp ơn cứu thoát. Linh
dương chân đạp một quai giỏ, miệng cắn chặt vành giỏ. Nó giật một cái
mạnh, xé rách một mảnh lớn. Rùa mừng rỡ bò ra khỏi ngục tù, gật đầu cám
ơn bạn và đi luôn không thèm ngó lại cái giỏ xấu xí. Trên cành cây chim gõ
kiến reo từng tràng dài vui vẻ.
Chiều hôm ấy, trong bầu trời yên tĩnh và
mát mẻ bên bờ hồ quen thuộc, linh dương một tiền thân của Ðức Phật và hai
bạn thân thiết cùng yên lặng để tưởng nghĩ đến tai nạn khủng khiếp vừa
qua, giữa lúc mối tình thân hữu đang rạo rực bừng dậy từ mọi cõi
lòng.
QUẢNG HUỆ
Khi tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ
yếu người mạnh, có luận nghị mới biết được người trí, lúc cơm thua gạo kém
mới biết người có lòng nhân.
Dắt nhau xuống giếng(^)
Xưa kia ở trong một khu
rừng, có đàn khỉ tới khoảng 500 con, chúng rủ nhau tới một cây cổ thụ,
trên bờ giếng.
Gặp ngay kỳ trăng, đến tối chúng trông thấy ở dưới đáy giếng
nước rất trong và có bóng trăng. Chúng đều kêu rộ lên rằng: “Ôi! Chết rồi
các anh em ơi! Nguy to rồi! Hôm nay mặt trăng rơi xuống giếng này rồi.
Chúng ta phải tìm cách mò lên, không thể để thiên hạ bị tối tăm khổ sở
được”.
Xôn xao nhảy nhót, cuống quít với nhau chưa biết làm cách nào,
thì con khỉ chúa bảo các con kia rằng:
- Tất cả các anh em hãy yên lòng, tôi đã có cách. Việc này
cũng không khó khăn chi, miễn là làm theo lời tôi.
Vậy tôi bíu lấy cành cây, rồi một anh bám lấy đuôi tôi, rồi cứ
thế lần lượt bám đuôi nhau hết tất cả đàn, thế là chúng ta xuống được tới
ngay đáy giếng.
Chúng
đều cho là diệu kế, làm đúng như lời khỉ chúa. Khi gần xuống đến nơi bị
nặng quá nên cành kia gãy, cả lũ đều rơi xuống giếng lúng túng không có
lối lên, không người cứu vớt, kết cuộc cả lũ đều bị chết.
Bấy giờ
ông Thần ở trên cây trông thấy, nói bài kệ rằng:
“Một con ngu dại đã xong,
Thương thay cả lũ cũng không biết gì.
Trăng tròn vằng vặc trên kia,
Dắt nhau xuống giếng làm chi cực lòng”
TRÍ HẢI
Biết rõ ràng, nhưng sự thật là không, nên
gọi là không, chớ không phải không biết.
Ôi nhân sanh mê muội,
Nhận khổ cho là vui,
Chấp ngã cho là thường
Mà lặn lội nơi non sầu bể hận.
Bồ Tát và mãng xà vương(^)
Có
một hôm, Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cỡi mây chu du tay cầm bình Dương Chi,
mình mặc áo bào trắng nhìn xuống và quan sát thế gian thấy người trần nào
kêu cầu danh hiệu cứu khổ cứu nạn thì Ngài cứu độ.
Khi Ngài
đến núi Phổ Ðà ở địa phận Triết Giang quận Nam Hải, thấy núi non tráng lệ,
cây cỏ xanh tươi, chung quanh có bể bao bọc, thì Ngài lấy làm mãn ý và
nghĩ rằng:
“Tại
chốn này nên lập một đạo tràng trang nghiêm để mở mang Phật Pháp, khiến
cho chúng sinh có nơi cầu phước cầu tuệ. Tuy nhiên, núi này lại thuộc La
Môn Xà Vương, vậy ta thử xuống hỏi mượn điạ điểm của y xem sao?”
Nghĩ như
thế, rồi Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ từ hạ mây giáng xuống núi Phổ Ðà.
Ðây
nói về La Môn Xà Vương vốn là một con rắn tu hành đã hàng nghìn năm và đã
có phép thần thông. Hôm đó rắn biết Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát đến mượn đất
Phổ Ðà Sơn để mở ngôi đạo tràng, hắn muốn lánh mặt Bồ Tát, liền chui xuống
đất để lộ cái đuôi ngoe nguẩy chọc lên trời, trong chẳng khác chi một cây
cổ thụ cao chót vót mà không có cành có lá chi cả. Nhưng cái thủ đoạn thần
thông nho nhỏ của y làm sao mà che mắt được vị Quán Thế Âm Bồ Tát là bậc
đại trí tuệ, đại thần thông? Khi Ðức Quán Thế Âm xuống bên cạnh cây Xà
Vương, liền vịn tay vào thân cây, mỉm cười và tự nói:
- Cây
đại thụ này không cành không lá, chắc là đã chết khô rồi, ta há nên chặt
đem về làm đồ dùng.
La Môn
Xà Vương nghe thấy nói vậy thì hoảng hồn. Còn đang bối rối, lại nghe Ðức
Quán Thế Âm Bồ Tát nói:
- Xà
Vương! Nhà ngươi không cần giả vờ ẩn dấu để trốn tránh ta. Ta có câu
chuyện hay muốn nói với nhà ngươi đây!
La
Môn Xà Vương nghe Bồ Tát nói thế, tự biết là trốn tránh không khỏi, liền
rút đầu ra khỏi đất hỏi Bồ Tát muốn nói chuyện gì? Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát
liền bày tỏ ý kiến muợn núi Phổ Ðà làm nơi thiết lập đạo tràng. La Môn Xà
Vương nghe xong cự tuyệt ngay:
-
Không được, đây là chỗ con con cháu cháu đời đời kiếp kiếp của rắn tôi
dùng làm chỗ căn cứ để ở. Người có uy đức gì mà dám nghĩ đến chuyện mượn
núi Phổ Ðà này của tôi.
Bồ Tát
trả lời:
- Ta đây
không có đại oai thần lực như Ðức Phật Tổ, nhưng vì ta thay người tế độ
chúng sanh nên không thể không xin nhà ngươi bố thí cho chút phương tiện
là mượn dãy núi này.
La Môn
Xà Vương nghe rồi tỏ vẻ bất phục vì hắn nghĩ rằng: “Ta tu hành ít ra cũng
có hàng ngàn năm nay và có phép thần thông quảng đại, liệu Quán Thế Âm Bồ
Tát có thể đấu phép với ta được chăng?”. Nghĩ như thế rồi hắn liền nói với
Bồ Tát:
- Nếu Bồ
Tát chỉ biết đến Phật Tổ mà không cần đếm xỉa gì đến Xà Vương ta đây, thì
đây không ngại gì mà không đấu phép với Bồ Tát một phen. Nếu Bồ Tát không
thắng thì xin tự tiện rút lui đi nơi khác chớ đừng hy vọng gì mượn núi
này.
Bồ Tát
nói:
- Tốt
lắm, nếu nhà ngươi không thắng nổi ta, thì núi này ta được tùy ý được dùng
mà nhà ngươi không được hối hận ảo não chứ gì? Vậy nhà ngươi định đấu thứ
phép gì đây?
La Môn
Xà Vương gật đầu và mỉm cười:
- Ta
đây không hối hận cũng không ảo não chi hết, miễn là Bồ Tát chịu thừa nhận
rằng: Phàm đất đai trong núi này ta sẽ vươn mình bao bọc được đến đâu là
ở trong khoảng đó, Bồ Tát không được mượn. Bồ Tát gật đầu, La Môn Xà Vương
liền vận dụng thần công đại lực vươn mình dài ra khoanh lấy núi Ðà Sơn.
Nhưng kỳ lạ thay! Bình thường hắn dùng phép vươn mình ít ra cũng quấn được
tới ba lần, nhưng hôm nay trước mặt Bồ Tát phép thần thông của hắn tan
mất, hắn cố hết sức vươn mình cho dài tưởng chừng như đứt cả đầu đuôi ra
làm hai đoạn, thế mà mình vẫn không dài ra được chút nào. Lúc đó La Môn Xà
Vương mới thấy sức thần thông của mình không bằng Bồ Tát nên có ý duyệt
phục mà giải hòa rằng:
- Thưa
Bồ Tát! Tôi thực có mắt mà không nhìn thấy núi Thái Sơn, đức thần thông
của tôi quả không địch nổi Bồ Tát. Nhưng có một điều khó xử là: Con con
cháu cháu gia đình, nhà tôi tôi biết ở chốn nào?
Bồ Tát
vui vẻ trả lời:
- Nếu
nhà ngươi phát tân hoan hỷ cho ta mượn núi này thiết lập đạo tràng thì nhà
ngươi sẽ được công đức vô biên, còn con cháu nhà ngươi vẫn ở nguyên đây
như cũ.
Xà Vương
có ý ngần ngại không quyết?
-
Thưa Bồ Tát làm sao để người và rắn ở chung cùng nhau. Bởi vì người sợ
rắn, rắn sợ người, đôi bên nhất định phải tàn sát lẫn nhau mất. Nay Bồ Tát
bảo con cháu tôi cứ ở nguyên núi này, thì tối thiểu tôi và Bồ Tát phải lập
một điều ước: “Nếu giống rắn tôi con nào xâm phạm đến tín đồ phật giáo thì
rắn đó sẽ do Bồ Tát xử phạt, nhược bằng tín đồ nào sát hại đến loài rắn
chúng tôi thì tín đồ đó sẽ bị tôi bắt thường mạng, chẳng hai tôn ý nghĩ
biện pháp đó như thế nào?”.
Ðức
Quán Thế Âm Bồ Tát nhận rằng Xà Vương nói đúng bè lập đính ước với Xà
Vương. Từ đấy Phổ Ðà Sơn trở thành đạo tràng Quán Thế Âm Bồ Tát, chùa
chiền được dựng lên rất nhiều, Tăng Ni cũng lại ở rất đông, những khách du
lịch thập phương thấy núi này non xanh nước biếc hùng vĩ vô cùng, đều rủ
nhau đến hành hương nghe giảng kinh Phật. Chỉ hiềm một nỗi chỗ nào chỗ nấy
đều nhan nhản có rắn nhỏ rắn to ẩn nấp làm cho phải kinh hoảng hãi hùng.
Tuy nhiên các rắn này đã nghe lời giáo thị của Xà Vương, cho nên kể hàng
bao nhiêu năm chưa từng thấy rắn cắn một người nào. Trên núi cũng đã có
cắm bảng cáo thị thông tri của nhà Chùa: “Các tín đồ và du khách không
được làm hại rắn”. Cho nên đôi bên người và rắn bình an vô sự, không xảy
ra chuyện gì đáng tiếc. Trên núi này có một số rắn nhân thường ngày nghe
mõ sớm chuông chiều, cùng tiếng tụng kinh niệm Phật mà phát tâm tu hành
rồi thoát khỏi kiếp rắn cũng không phải là ít.
*
Có
một em nhỏ tên là Tiểu Ðinh thường quen tính chơi nghịch tinh quái, hay đi
quấy phá tổ chim, bắt di, bắt sẻ về chơi, nghe nói phong cảnh trên núi Phổ
Ðà rất đẹp, có nhiều chim muông thì có ý muốn lên đó sục sạo lung tung một
phen cho hả dạ, đã mấy lần nó năn nỉ cha mẹ cho theo lên núi, nhưng vì
thấy bản tính nghịch ngợm của nó nên lần nào cũng bị từ chối khiến cho
Tiểu Ðinh trong lòng buồn rầu sinh oán cha mẹ. Một ngày kia Tiểu Ðinh
quyết trốn cha mẹ một mình lên Phổ Ðà Sơn.
Khi đến
chân núi thấy người đi lễ Phật rất đông lũ lượt qua lại như mắc cửi. Thiện
nam, tín nữ cũng không quản đường xa trời nắng, không ngại đói khát mỏi
mệt, đều theo nhau trèo lên núi với vẻ mặt cực kỳ thành khẩn niệm cầu.
Tiểu Ðinh vội vã bước theo tới khi miệng khát, chân mỏi nó liền ngồi lên
một cái ghế dài đặt trước cửa điện Tam Bảo. Lạ thay! Khi ngồi xuống, toàn
thân cảm thấy mát mẻ lạ lùng nó nở một nụ cười mãn nguyện và lên tiếng
khen chiếc ghế:
- Cha
chả phiến đá đại lý thạch quý hóa làm sao, trên mặt có bao nhiêu là điểm
điểm, chấm chấm coi thật sướng mắt và lại lạnh như băng sương, mát đến gan
ruột khiến cho những người mỏi mệt ngả lưng lên trên thì tiêu hết được khí
nóng nực và quên cả sự mỏi mệt đi đường, Tiểu Ðinh đang lẩm bẩm một mình
khen chiếc ghế, bỗng có một người hành khất ở bên đường nghe thấy phì cười
bảo Tiểu Ðinh:
- Hỡi
người bạn nhỏ ngây thơ của tôi ơi! Thử nhìn lại chiếc ghế xem, nó không
phải chiếc ghế làm bằng đá đại lý đâu. Ðó là lưng con mãng xà đấy, con
mãng xà này đã tu hành hơn ba trăm năm nay rồi, nó phát nguyện lấy thân
làm ghế để mọi người ngồi nghỉ chân, tiêu sự nóng nực trong khi leo núi
mỏi mệt.
Tiểu
Ðinh nghe xong nhảy phắt dậy, mặt trắng phệt cắt không còn một tí máu, nổi
gai khắp người nó gương to đôi mắt rồi hỏi người ăn mày:
- Thế
đầu rắn và đuôi rắn đâu sao không thấy?
Người ăn
mày thấy Tiểu Ðinh vẫn còn run rẫy bất giác cười và nói rằng:
- Không
những chiếc ghế này là con đại xà mà cả chiếc ghế đối nhiện cũng là đại xà
nốt, vì hai con rắn này sợ thiện nam tín nữ trông thấy hình rắn mà sợ nên
đầu nó chui vào trong cung Tam Bảo mà không ai nhìn rõ được; còn đuôi nó
thì cắm sâu dưới đất. Tuy nhiên bạn đừng sợ, ở trên núi Phổ Ðà này rắn
chưa từng hại một ai cả! Miễn là chúng ta đừng nghịch phá và ghết hại dòng
họ rắn.
Tiểu
Ðinh vẫn kinh hoảng ngắm đi ngắm lại một lần nữa thấy hai khúc rắn này dài
ước mười trượng chẳng khác gì hai chiếc ghế dài đặt trước cửa điện Tam
Bảo. Nhưng cái văn hoa bóng loáng đẹp như đá Ðại Lý đều là vẩy rắn có màu
sắc như vân đá. Tiểu Ðinh sợ quá không dám ngồi nữa và kiếm đường lánh đi
nơi khác. Tiểu Ðinh trốn nhà ra đi lẽ tất nhiên không mang theo đồ ăn, lại
nhân chạy nhanh nhiều nên miệng khát dạ đói nôn nao chưa biết tính sao,
thì may thay trên núi Phổ Ðà, trong Chùa thường vẫn sẵn có cơm chay nước
vối, thiện nam tín nữ vào đó đói cứ việc ăn uống tự nhiên. Tiểu Ðinh mừng
quá nhảy vào ăn uống cho đến thỏa thích, ăn rồi lại đi ngao du khắp núi.
Chiều hôm đó nó vào ngủ trong chùa, nằm bên một cụ già. Hôm sau nó dậy
sớm, nghe thấy cụ già ấy đang hỏi một vị sư phó:
- Xin
Sư phó chỉ giáo cho câu chuyện này. Nguyên đêm qua vào khoảng nửa đêm tôi
sực tỉnh dậy thấy bóng trăng le lói bên giường như tăng thêm cảnh mỷ lệ êm
đềm của Phổ Ðà Sơn. Tôi liền bước ra khỏi phòng bồi hồi ngắm cảnh núi dưới
trăng trong, bỗng nhiên tôi thấy xuất hiện một cây khổng lồ không cành
không lá, cao vút ở giữa trời, chung quanh có rất nhiều các cây khác, tôi
lại gần rờ vào cây khổng lồ thì thấy mát lạnh, tôi có trăm lạng vàng kim
muốn mua cây đó của quý tự đem về chơi, vậy dám hỏi cây đó là cây gì và
hiện giờ ở đâu?
Vị Sư
phó nghe xong kinh ngạc bảo rằng:
- Làm
gì có thứ cây đó, lão Tăng ở đây đã trọn ba mươi năm nay, nội các thứ cây
thứ hoa ở trên núi này lão tăng đều biết hết không có cây nào như thế cả.
Cụ già
nhất định cãi lại:
- Có mà,
đêm qua tôi trông thấy rõ ràng và chính tôi rờ lên trên thân cây vừa nhẵn
vừa mát thì làm sao Sư phó bảo là không có cây đó. Chẳng tin thì xin người
cùng tôi đi tìm xem!
Giữa lúc
hai người rủ nhau định đi thì Sư phó trụ trì khác nghe thấy liền vào xua
tay ngăn lại:
- Các
vị không cần phải đi xem, cây khổng lồ đó thật không có đâu. Ðêm qua, chắc
rằng ông thấy La Môn Xà Vương hiện thân đấy. Ai thấy được Xà Vương thì ít
lâu cũng gặp điềm hay, vậy tôi mừng cho ông đấy.
Cụ già
nghe xong rất lấy làm vui mừng nhưng hãy còn bán tín bán nghi liền hỏi
lại:
- Có
thật như thế không? Nếu quả tôi sẽ gặp chuyện hay thì tôi nhất định thành
tâm xây một tòa bảo pháp bảy từng để cúng dường.
Vị Sư
phó trụ trì gật đầu đáp:
- Thật
như thế đấy! Xà ở đây thì nhiều nhưng Xà Vương thì ít người trông thấy ông
ạ. Chỉ ai có phúc mới được gặp mà thôi. Tiểu Ðinh ngồi bên cạnh nghe rõ
đầu đuôi, bất giác trong lòng rất là thắc mắc về câu chuyện Xà Vương ở núi
Phổ Ðà Sơn, cho là một chuyện thần kỳ quá sức.
Tiểu
Ðinh lại bắt đầu đi theo thiện nam tính nữ vãn cảnh như hôm qua, mặc dầu
nó đã được nghe chuyện thần bí của Xà Vương, nhưng vì trong lòng nó vẫn có
bản tính sát sanh, cho nên khi đường đôi mắt trợn trừng, nhìn sau nhìn
trước nhìn tả nhìn hữu, xem có con chim nào ở trên cành, hoặc chuồn chuồn,
bươm bướm bay qua thì tìm cách bắt ném cho chết hoặc bắt về làm trò chơi
cấu chân, bẻ cánh cho hả thích.
Ðến một
đoạn đường nọ, có thấy một con bọ cạp đuổi theo một con rắn, nó dừng chân
lại ngắm thấy rắn nhỏ sợ quá đang lao đầu cố chạy mà bò cạp thì hết sức
đuổi theo. Tới một khe nước nhỏ, rắn nhanh như chớp bơi sang bờ bên kia,
còn bò cạp vì không biết nên đành phải dừng lại nhìn theo rắn ta với vẻ
thất vọng. Tiểu Ðinh thấy thế vụt nghĩ: “ Chuyện này hay quá ta! Ðể ta lấy
cây bắc cầu cho con bò cạp qua khe sang đánh nhau với rắn coi chơi”.
Nghĩ rồi
nó làm ngay, bò cạp qua sang được khe rồi thừa lúc rắn không để ý, sấn lại
cắn luôn làm cho rắn đau đớn, quằn quại một lúc lâu, rắn lăn quay ra chết.
Tiểu Ðinh nhìn sướng mắt reo lên rồi vừa đi vừa nhảy vừa ca hát, tỏ ra
khoái ý.
Khi mặt
trời gần lặn những ánh vàng rớt lại trên Phổ Ðà Sơn, phủ lên mọi vật tạo
nên một màu vàng quắc thật đẹp mắt, Tiểu Ðinh tìm một ngôi chùa vào ngủ
qua đêm, khi vào tới cửa, Tri khách lão Sư nhìn Tiểu Ðinh lắc đầu ra vẻ
thương hại nói rằng:
- Em nhỏ
ơi! Ta xem sắc mặt em có ám khí che phủ, ta e rằng tối nay em lại nghỉ ở
đây, nhưng sáng mai em sẽ không còn sống để ra về nữa.
Tiểu
Ðinh không hiểu câu nói trố mắt ra nhìn và hỏi lại:
- Thế là
nghĩa làm sao, con không hiểu ý Thầy định nói gì?
Tri
khách lão Sư nhìn Tiểu Ðinh chăm chú một hồi lâu rồi căn vặn hỏi:
- Em
thử nghĩ gần đây em có làm một việc gì tổn đức không?
Tiểu
Ðinh quả quyết trả lời:
- Thưa
Thầy, con không hề làm một sự gì tổn đức cả.
Sư
phó lắc đầu lần nữa:
- Em thử
nghĩ lại một lần nữa coi, hoặc giả trên núi Phổ Ðà này trong khi đi đường
em có sát hại một sinh vật nào không?
Tiểu
Ðinh ngẫm nghĩ hồi lâu:
-
Thưa Thầy! Hôm nay giữa đường con thấy một con bò cạp đuổi một con rắn
nhỏ. Rắn nhỏ chạy đến bên khe nước bơi sang hồ bên kia. Bò cạp không lội
được nước nên dừng, con liền nhặt một cành cây bắt qua bên kia làm cầu. Bò
cạp nhờ đó qua được khe và đuổi rắn cắn, nhân thế mà rắn chết.
Tri
khách lão Sư cau mày:
- Chao
ôi! Nhân vì tội nghiệp đó thế nào mà em chẳng biết sắc mặt, việc này khó
khăn lắm đấy. Không thể trốn thoát tay Xà Vương được. Nhân vì trên núi
này, khi xưa Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát đã lập qui ước với Xà Vương đòi thường
mạng”. Vậy tối nay em sẽ chết về tay Xà Vương mất.
Tiểu
Ðinh sợ quá cố van cầu:
- Xin
Thầy cứu con với. Ba má con ở nhà chắc là đang trông đợi con lắm.
Tri
khách lão Sư lắc đầu than thở:
- Ðó là
tội nghiệp do con gây ra, Thầy không có cách nào cứu được.
Tiểu
Ðinh rỏ hai hàng lệ ròng ròng, túm chặt lấy vạt áo vị Sư mà van lơn không
chịu bỏ ra một phút.
- Nhất
định Thầy cứu được con và từ nay con nguyện sẽ vâng lời cha mẹ, không bỏ
nhà đi chơi và con nguyện xin làm người hiền lành không dám giết hại sinh
linh nữa. Con không bắt chim, bắt bươm bướm chuồn chuồn nữa.
Tri
khách lão Sư cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi từ từ nói:
- Em
ơi, giờ đây Thầy chỉ biết hết sức vì em mà tụng kinh trước Chư Phật Bồ
Tát, để nhờ công đức tụng kinh may ra cứu thoát oan nghiệp này không,
ngoài ra cũng còn phải nhờ phúc đức của nhà em cứu thêm. Ngoài cách đó ra,
Thầy không còn phương pháp nào cả.
Tiểu
Ðinh gật đầu lia lịa tỏ vẻ hết lòng cảm khích và nhất thiết y theo lời tri
khách Sư phó xếp đặt cho. Tri khách Sư phó liền thả dây cho cái chuông lớn
treo ở trước cửa Tam Bảo hạ thấp xuống và bảo Tiểu Ðinh núp vào trong niệm
Phật luôn mồm, còn Sư phó thì khêu đèn đốt hương mở kinh rồi quỳ trước bàn
Phật tụng kinh.
Quái lạ
thay! Khi trông vào kinh điển tri khách rất lấy làm ngạc nhiên vì cả quyển
kinh không nhìn thấy một chữ nào cả, khi cầm dùi gõ mõ thì mõ cũng chẳng
kêu. Tri khách Sư phó, ba lần gõ, ba lần xem vào kinh mà trước sau vẫn
nguyên tình trạng như thế thì trong lòng lấy làm sợ hãi muôn phần, thật là
định nghiệp của đứa nhỏ không thể trốn thoát được.
La Môn
Xà Vương lúc đó ở ngoài tiến vào phía quả chuông quẩn ba vòng chung quanh
quả chuông và từ từ buông ra và lặng lẽ ra khỏi cửa Tam Bảo biến mất.
Tri
khách lão Sư thấy Xà Vương đi rồi, liền chạy mau đến kéo chuông lên thì
trong quả chuông chẳng thấy Tiểu Ðinh đâu, mà chỉ thấy còn sót lại một
vũng máu và một mớ tóc. Vị Sư nhắm nghiền hai mắt lại miệng niệm:
- A Di
Ðà Phật và tự lẩm bẩm một mình:
- Ðịnh
nghiệp không thể chuyển được. Ðịnh nghiệp không có cách nào chuyển được,
làm ra thời phải chịu lấy, nhân quả tơ hào không sai! Há chẳng đáng cẩn
thận lắm ru?
Tri
khách lão Sư vì việc Tiểu Ðịnh hiếu sát nên tụng kinh niệm Phật luôn trong
ba ngày để cầu cho vong hồn Tiểu Ðinh được sớm giải thoát về nơi Cực Lạc.
PHẠM NGỌC
KHUÊ
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính: Tịnh
Hương, Tịnh Tâm
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-09-2002