Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 1
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Phần 02
Ðời Người Trong Một Câu ! ! !
^
Nhà vua
ấy, ngay từ lúc lên ngôi báu đã giao cho một viên đại thần cái trọng trách
sưu tầm dưới các bầu trời xa lạ những tinh hoa rải rác trong vũ trụ và
những triết lý của cuộc đời. Ý cửu trùng muốn thu nhập những cái hay ở đời
để dựng một nguyên tắc trị dân.
Ba mươi
năm trời đã qua, vị thanh niên anh tuấn nấy, chờ đợi tóc đã điểm bạc. Lễ
khánh thọ ngũ tuần đã cử hành long trọng trong Hoàng cung. Lúc ấy quan đại
thần cũng về với đoàn lạc đà, bốn vó trắng bụi đàng xa, và trên lưng chất
hơn nghìn sách quý mà vị đại thần đã có công kết tập.
“Trẫm đã
nhiều tuổi rồi, tinh hoa của trời đất nhiều đến thế. Trẫm làm sao xem hết.
Khanh mang về rút ngắn lại cho trẫm đủ thời giờ xem.”
Ðoàn lạc
đà lại chở những pho sách đi và mười năm sau nữa, bộ sách rút ngắn lại còn
năm trăm quyển được dâng lên ngự lãm:
Nhà vua
vuốt chòm râu bạc phau ngần ngại phán:
“Hãy còn
nhiều quá. Tuổi trẫm đã lớn, đọc sao cho kịp. Khanh chịu khó về gạn lọc
một lần nữa những tư tưởng huyền diệu trong ấy”.
Viên đại
thần tận trung không hề nghĩ đến số năm tháng đã tàn tạ trên đầu, lui về
một nơi u tịch kết tinh kho tư tưởng.
Sau năm
năm triền miên, với bao nhiêu tinh hoa và tư tưởng cổ kim đông tây, viên
quan già nua mừng rỡ khi thấy kết quả: năm trăm cuốn dồn lại chỉ còn một
pho sách dầy. Một pho sách đầy chứa tất cả triết lý của muôn cuộc đời!
Cuốc
sách dầy ấy, một buổi sớm được mang vào ngự lãm. Nhưng nhà vua đã nằm yên
trên giường bệnh, chung quanh ngự y chầu chực.
Vừa mở
mắt nhìn vị đại thần tận tâm và cuốn sách quý giá. Một nụ cười nhàn nhạt
nở trên môi vua như ánh hoàng hôn.
Vua thở
ra một giọng yếu nhỏ, viên đại thần quỳ xuống lắng tai đón lấy:
“Trẫm
yếu lắm, một trang sách còn chưa thể xem được huống là cả cuốn… Song trước
khi nhắm mắt, trẫm háo hức muốn biết qua những tư tưởng gì, những triết lý
gì, đã chi phối cả đời người, đã điều khiển cả một vân mệnh… Khanh khá rút
ngay quyển sách này thành một câu hay vài chữ cho trẫm xem kịp và đủ sức
hiểu…”
Nét
mặt viên đại thần trở nên trầm ngâm và hai mắt già nheo lại. Tử thần đã
chờn vờn đâu đó. Các ngự y cúi đầu trước số mệnh. Nhà vua nằm yên khắc
khoải chờ. Thời gian như ngừng hẳn lại. Không khí trở nên nặng nề và
nghiêm trọng. Vàng son nội điện tự nhiên cũng hóa rầu rĩ. Mọi người chăm
chú và kính cẩn nhìn viên đại thần đang lặng lẽ đem cuộc đời thu vào một
câu. Sau một hồi suy nghĩ, viên đại thần từ từ bước đến bên án. Cả bộ Văn
phòng tứ bảo hình như run khi bàn tay già đưa ra.
Bàn tay
kính cẩn nâng cây bút, và nhẹ nhàng vạch trên mảnh hoa tiên những nét buồn
lung linh. Mọi người đều ngó theo. Thần chết lúc ấy đã chập chờn đầu long
sàng. Ðã mấy lần nhắm mở. Vua mới cất được mấy tiếng cuối cùng: “SANH LÃO
BỆNH TỬ”.
Thuật
giả: Tâm Phước
Một đời người luống qua vô ích
Chỉ kết liễu trong ân hận
Vua Cò
Trắng
^
Ðời xưa,
có một ông vua tên là Mỹ Tuấn, còn trẻ, cai trị một nước phồn thịnh gọi là
xứ My Lăng. Nhà vua xem dân như con, tính tình thật là dễ chịu. Vua có một
cận thần rất trung thành tên là Bằng Tô. Bằng Tô có một bộ râu dài gần sát
đất. Bằng Tô thường hầu cận bên vua không khi nào rời. Vua mến ông ta lắm.
Một hôm,
sau buổi cơm trưa, vua Mỹ Tuấn nhận thấy Bằng Tô không vui, vì một lát hắn
ta lại thở dài một cái. Nhà vua hỏi:
- Khanh
có chuyện gì buồn thế?
- Tâu bệ
hạ! Bệ hạ thật là tài tình! Bệ hạ biết được cả trong lòng hạ thần! Tâu bệ
hạ, tuy lâu nay bệ hạ đối đãi với thần rất đại lượng, nhưng hôm nay hạ
thần chẳng dám nhờ hồng ân nữa, cho nên hạ thần buồn. Số là hồi sáng có
một chú Chệt vào trong thành, đem theo nhiều bảo vật mà hạ thần chả có đủ
tiền để mua.
- Chỉ có
thế thôi mà khanh cũng buồn! Nhà vua mỉm cười. Khanh bảo thằng Chệt ấy đến
đây. Khanh muốn gì ta mua đấy và bao nhiêu tiền ta trả cho cả. Bằng Tô
thích chí quá, cảm ơn rối rít. Một võ quan đi tìm khắp thành phố dẫn chú
Chệt vào.
Nhà vua
bảo:
- Có cái
gì trong tráp thì mở cả ra xem. Vừa hỏi vua vừa để ý nhận xét chú Chệt:
thân mình hắn cũng nhỏ bé, dễ thương, song đôi mắt rất tinh lanh; hắn ăn
mặc rách rưới, tiều tụy.
Chú Chệt
lạy xong, mở tráp ra. Nhà vua kêu lên:
- Trời
ơi! đẹp quá!
- Thật
vậy, trong tráp có rất nhiều đồ trang sức ngọc ngà, chạm trổ tuyệt đẹp,
nhẫn ngọc kim cương lóng la lóng lánh.
Bằng Tô
tâu vua:
- Tâu bệ
hạ! Như thế có đẹp không?
Nhà vua
gật đầu:
- Ðẹp
lắm!
Chú Chệt
nghe vua khen, mỉm cười và rút trong đáy ra một cái hộp nhỏ màu đen, dâng
lên đức vua:
- Tâu bệ
hạ, hắn vừa nói vừa cúi đầu thấp xuống để cho nhà vua khỏi thấy hắn đang
tái mặt – đây mới thật là của quý. Hạ thần mua được tận bên Mếch Di Cô kia
ạ. Nó quí cho đến nỗi hạ thần dám chắc rằng tất cả các kho tàng trên thế
giới họp lại mà cũng không đáng giá bằng. Hạ thần đã mua nó bằng một giá
đắt lắm và theo lời người bán, hạ thần chưa hề mở ra lần nào. Hạ thần chắc
rằng trong này có một bảo vật quý giá có một không hai trên trái đất.
Nhà vua
và Bằng Tô nghe nói cúi đầu vào xem. Trong hộp mở ra, chỉ có một ít hột
đen đen rất mịn, trên mặt có một mảnh giấy rất mỏng gất tư, trên mảnh giấy
có những hàng chữ rất là kỳ quái.
- Lạ
thật! Lạ thật! Nhà vua lẩm bẩm. Cái gì thế này? Chú Chệt run run:
- Hạ
thần cũng không được rõ, chỉ biết là quý lắm mà thôi.
- Trẫm
không biết đọc mấy chữ này, Bằng Tô, người có đọc được thì đọc cho trẫm
nghe.
- Tâu bệ
hạ, hạ thần cũng chịu, chả hiểu được chữ gì. Ðể hạ thần cho mời quan Thế
Lâm vào, chắc ông ta đọc được.
Một lát,
quan Thế Lâm vào. Nhà vua bảo:
- Này
Thế Lâm, cầm lấy miếng giấy này, đọc đi. Ðọc được, trẫm sẽ ban thưởng cho.
Nếu đọc không được thì giữ hồn, trẫm cho hai chục hèo đấy.
Quan Thế
Lâm run sợ, nhưng khi nhìn đến tờ giấy thì liền vui mừng:
- Tâu bệ
hạ, đây là chữ La Tinh đấy! Hạ thần xin đọc để bệ hạ nghe:
“Ai gặp
bảo vật này là người sung sướng nhất đời. Phải cám ơn Trời Phật ban phúc
lành cho mới được.
“Chỉ cần
một dúm hột nho nhỏ này thôi mà cũng đủ sung sướng bằng ngàn kẻ sung
sương!
“Chỉ cần
hít một chút xiú bột này vào trong mũi và đọc lên rằng: MUY TA BO” là có
thể tự mình biến ra một loài vật theo như mình ước muốn và có thể nói,
nghe được tiếng nói của loài vật ấy.
“Khi cần
hiện lại nguyên hình mình, thì chỉ phải quay mặt về phương Tây nghiêng
mình đọc ba lần: “MUY TA BO” thì tức khắc trở lại thân người.
“Nhưng
hãy cẩn thận; nếu trong khi biến thành loài vật mà cười lên một tiếng thì
sẽ quên mất ba chữ thần bí ấy và không bao giờ hiện trở lại nguyên hình
được, cứ thế mà sống mãi suốt đời.”
Nhà vua
nghe đọc xong, sung sướng quá:
- Này
Thế Lâm, trẫm cấm ngươi không được cho ai biết một tí gì về việc này. Nếu
ngươi nói lộ chuyện này ra, ta sẽ chém đầu ngươi. Ði tìm quan giữ kho vào
đây cho ta. Bảo nó nhét cho ngươi hai bọc vàng đầy.
Và quay
lại Bằng Tô, nhà vua mỉm cười.
- Ta
phải thí nghiệm mới được khanh ạ.
Bằng Tô
hấp tấp trả lời:
- Tâu bệ
hạ, phải đấy. Chúng ta phải thí nghiệm ngay, Bệ hạ chỉ hóa thành loài vật
một lát thôi, ai mà biết được!
- Ai mà
hiểu được! Nhà vua nhún vai, Trẫm chả cần ngươi khuyên. Theo ta mau. Chúng
ta ra vườn thượng uyển chơi. Ở đây chắc có một vài loài vật.
Một giờ
sau, nhà vua và Bằng Tô đã đi vào vườn không có tên lính nào hầu cả. Ðức
vua nhìn quanh nhìn quất bảo Bằng Tô:
- Chả có
thấy một con chim nào. Chúng ta phải đi đến chuồng ngựa hay sao?
Nhưng
không. Nhà vua không cần ra chuồng ngựa. Bên kia, là hồ sen, sen nở đầy hồ
ngát hương. Ba con cò trắng đang chăm chú tìm mồi. Một con thứ tư ưỡn ngực
bước một cách mạnh dạn trên hai cẳng dài lêu khêu, đi tìm ếch nhái.
- Ấy
đấy! Tâu bệ hạ! Xem cách đi của tụi cò ấy và cái nhìn của chúng, chắc câu
chuyện của chúng nó hẳn là vui lắm! Nhà vua vui vẻ:
- Hay
lắm! Này Bằng Tô! Hay lắm! Ngươi thật là một kẻ hầu cận trung thành vậy.
Biến thành hai con cò! Trời ơi! Vui biết bao nhiêu! Nhưng hãy nhớ Bằng Tô
nhé, nhớ học thuộc cái phương pháp hiện lại nguyên hình chứ, nếu mà quên
thì khốn đấy nhé.
Cứ việc
ngoảnh về phía Tây nghiêng mình đọc ba lần “MUY TA BO” là hiện nguyên hình
được, tâu bệ hạ.
- Ngươi
nói đúng lắm! Có khó gì mà không nhớ được! Ðồ trẻ con đấy mà! Nhà vua Mỹ
Tuấn rút trong túi ra cái hộp đầy bột, lấy một chút đưa cho Bằng Tô và lấy
một chút cho mình, khi hít bột vào mũi, hai người đọc lên ba chữ mầu
nhiệm.
Bỗng
chốc, một sự thay đổi mau chóng và bất ngờ: Hai chân dài và hai cánh rộng.
Có lông hẳn hòi đấy nhé – thay cho hai chân hai tay và mặt của hai ngườI
cứ dài dần ra cho đến khi trở thành hai cái mỏ thật dài. Nhà vua và Bằng
Tô đã hoàn toàn biến thành cò trắng!
Ðức vua
vui sướng khôn xiết.
- Này
Bằng Tô, ngươi nhìn xem ta có đẹp không? Chà! Cái mỏ của ngươi dài quá,
dài như bộ râu của ngươi hồi trước vậy.
Bằng Tô
nghiêng mình, lấy mỏ rỉa lông.
- Thật
bệ hạ có phước tướng! Làm vua cũng thế mà làm cò cũng vậy, bao giờ dáng
dấp của bệ hạ cũng uy nghiêm vô cùng. Hạ thần chắc rằng bây giờ mấy con cò
kia chả thèm sợ chúng ta nữa, vì chúng ta đã là đồng loại của chúng rồi
kia mà! Ðức vua nóng nảy:
- Mau,
chúng ta hãy đến gần chúng, vì trẫm đang khao khát không biết rằng có thể
nghe được tiếng nói của loài cò chăng.
Ðức vua
Cò và đại thần Cò chỉ cần bước vài bước trên cặp chân cao lêu khêu là tới
gần được hồ sen. Lạ chưa! Tiếng nhắp nơi mỏ của lũ cò bỗng trở thành một
tiếng nói mà hai vua tôi đều nghe rõ được, nhờ có lỗ tai cò.
Một con
cò bảo:
- Này!
Chị Dài cẳng ạ! nước hồ hôm nay mới trong làm sao! Tụi cóc nhái cũng nhiều
lạ! Này! Chị hãy nếm một chút này, ngon lắm.
Chị Dài
Cẳng là một chị còn trẻ măng, lông trắng như tuyết, nàng ta quẹt mỏ hai
bên cánh và đáp:
- Em chả
cần ăn uống gì cả chị ạ. Em chỉ đến đây để tắm mát mà thôi. Má em bảo ngày
mai có giỗ tổ, em phải sửa soạn sạch sẽ để mai khiêu vũ mừng quan khách
đến chơi, chị ạ! Này chị! Em biết một điệu múa hay lắm, gọi là Vũ khúc hoa
sen. Này nhé! Em múa thử chị xem.
Nàng
ta nhỏng nhẽo nhảy múa. Lúc thì hụp xuống, lúc thì trồi lên, hai cánh vỗ
có nhịp và uốn eó cái cổ dài một cách dễ cười, đến nỗi cả hai thầy trò nhà
vua nhịn cười không được, phá lên cười như vỡ.
Tiếng
cười bất ngờ quá làm cho các chị cò ta hoảng hốt, thốt nhiên vỗ cánh bay
mất.
- A! A!
A! Nhà vua nhảy cỡn lên vì sung sướng. Này Bằng Tô! Trẫm chưa hề thấy gì
vui hơn thế! Tiếc quá, nếu chúng ta đừng cười lớn thì có lẽ bây giờ lại
được nghe chúng nói chuyện thêm, vui biết bao nhiêu! Nhưng chàng cò Bằng
Tô bỗng hốt hoảng:
- Chết!
Chết rồi! Tâu bệ hạ: Ngài có nhớ ba chữ nhiệm mầu ấy không? Ba chữ mà hễ
khi nào muốn hiện lại nguyên hình phải đọc ba lần ấy mà! Hạ thần ngẫm nghĩ
mãi mà chẳng nhớ ra. Chết mất! Theo trong lời dặn thì trong khi biến hình,
chả được cười lên một tiếng, nếu không sẽ quên mất ba chữ ấy! Tâu bệ hạ!
Mà hạ thần đã… quên mất!
Ðức vua
run rẩy:
- Chết
rồi! Trẫm cũng đã quên mất ba chữ ấy! Này, khanh hãy nhớ lại xem. Muốn…
muốn hiện lại nguyên hình thì phải xoay về… về hướng Tây nghiêng mình và
đọc…
- Và
đọc… đọc ba lần chứ… muy… ma… mơ, chữ mi … mô… mơ… Bằng Tô tìm kiếm một
cách thất vọng.
- Muy..
ma… mô… mi… mô.
- Mơ…
mi… mô… chết thật rồi bệ hạ! Hai người cố lục lọi hơn một giờ đồng hồ
trong trí óc ba chữ cứu tinh kia, nhưng không tài nào nhớ được.
Cứ giờ
này đến giờ khác, hai chú cò cứ ngoảnh mặt về phía mặt trời lặn, ngừng cổ
tìm tòi một cách thất vọng, cho đến khi kiệt sức, hai chàng mỏi quá, nằm
phịch xuống đất.
- Chúng
ta chết mất!
Bằng Tô
lắc đầu, rên rỉ và khóc.
Nhà vua
bỗng trở nên mạnh dạn và làm chủ được mình:
- Im đi,
Bằng Tô! Than van, khóc lóc là yếu hèn! Hãy chịu đựng sự hình phạt một
cách can đảm. Chúng ta bị khổ thế này chắn hẳn chúng ta đã gây nhân xấu từ
lâu. Than khóc vô ích. Bây giờ chỉ có nước an vui với số phận. Ta là cò
thế cũng còn sung sướng chán. Cò, với hai cánh rộng, ta có thể bay tự do
trên trời xanh, trong khi bay, ta cũng có cảm tưởng như ta trị vì vậy!
Chúng ta
hãy đi tìm chỗ nghỉ, vì trời đã sắp tối. Ngày mai, chúng ta bay liệng trên
thành phố để xem tình trạng của dân chúng ra sao khi họ nghe tin ta mất
tích.
Bằng Tô
bước từng bước một, lặng lẽ theo sau đức Vua cò, thở dài não ruột. Ðêm
xuống lặng lẽ và buồn bã, buồn lặng với hai con cò.
Ngày
mai, hai thầy trò bay liệng trên thành phố My Lăng và kêu lên những tiếng
ai oán đau thương. Người qua đường nghe kêu, chỉ nhau và bảo:
- Ðấy,
điềm dữ đấy, điềm không lành cho xứ sở đấy.
Chiều
đến, Vua cò và Bằng Tô biết được rằng tin vua mất tích đã tràn xa khắp
nước.
Ðã nhiều
phen, hai vua tôi bay đến đậu trên nóc hoàng cung, cố ý làm cho các quan
và dân chúng biết rằng “đây ta là vua các người”. Song, ai mà có thể tin
được lời chim? Chỉ có một cách duy nhất: làm thế nào nhớ ba chữ thần diệu
để hiện lại nguyên hình.
Hai vua
tôi nhà cò đói quá, mới tìm trái cây để ăn và vụi mỏ xuống hồ nước để
uống. Tối về ngủ trên cành cây. Họ chả dám ăn thằn lằn, ăn ếch nhái, ăn
sao được! – như lũ cò khác, lũ này ăn ếch nhái một cách ngon lành.
Hơn một
tuần lễ, hai con cò sống một cách sầm thảm như thế, thì một hôm, quang
cảnh thành My Lăng bỗng nhộn nhịp khác thường. Ðường sá đều được cắm cờ,
các nghinh môn được dựng lên khắp nơi… Một đám rước vĩ đại diễn qua trong
thành phố: quân lính gươm giáo đi hàng tư và trống kèn inh ỏi.
Giữa đám
rước, một người trai trẻ ngồi trên lưng ngựa, chung quanh các võ quan hộ
giá uy nghiêm nhiệt liệt.
Nhà vua
Mỹ Tuấn uất người thét lên:
- Ðấy là
con của kẻ thù ta! Ðấy chính là thằng Cách Nô đấy, con của thằng Mai Gia
trước đây đem binh qua xâm lăng nước ta, bị ta đánh cho bại trận.
Chính
nó đã thề sẽ trả thù ta. Nó đã lập mưu đánh lừa ta để qua chiếm đoạt ngôi
ta! Quân tiểu nhân!
Nhà vua
nức lên, uất ức.
Bằng Tô
gật gù:
- Chính
nó! Thằng Chệt, chính là một đứa của tụi nó trá hình đến lừa ta! Quân gớm
thật.
Nhà vua
buồn bã:
- Thôi
ta đi! Hỡi Bằng Tô! Xứ My Lăng không còn là xứ của ta nữa, tụi nó đã chiếm
mất rồi! Ta đi! Ta đi đến xứ Mếch Di Cô. Ta đi đến đó, họa may được đỡ khổ
đôi phần. Có lẽ ta gặp được các ông phù thủy giải ách được cho ta.
Thế là
hai thầy trò từ giã thành My Lăng, vỗ cánh bay về Mếch Di Cô. Họ bay chưa
quen nên mới vài đồng hồ mà hai cánh đã mỏi rã rời.
- Bệ hạ
cho hạ thần nghĩ cánh chút đã. Bệ hạ bay mau quá! Chiều cũng đã xuống. Vậy
thì vua tôi ta hãy nghỉ lại đây đêm nay. Ta đi tìm một chỗ trú ẩn.
- Phải.
Trên đồi kia có một cái tháp cổ đã tiêu tàn. Ta lên đậu trên đó ngủ cho
qua đêm.
Hai vua
tôi, bay lên tháp. Trong tháp, có một gian phòng ẩm thấp, tối tăm. Bỗng
nhiên, Bằng Tô cản nhà vua lại:
- Bệ hạ
có nghe gì chăng? Bằng Tô nói nhỏ: Hình như có tiếng ai khóc nức nở.
Nhà vua
chổng tai lên nghe:
- Có
tiếng ai khóc! Lạ thật! Ta vào xem.
- Bệ hạ
đừng liều lĩnh, tâu bệ hạ! Chỗ này chắc không yên, ta đi tìm chỗ khác trú
ẩn vậy.
Nhưng
nhà vua không nghe, tiến tới. Bằng Tô vội vã lấy mõ kéo cánh nhà vua lại,
nhưng nhà vua đã đi tới, vài cái lông dính nơi miệng Bằng Tô.
- Ái chà
đau! Ngươi đừng nhổ lông ta chứ!
Bên
trong tối mịt. Tiếng khóc than càng rõ rệt giống như tiếng người! Nhìn cho
kỹ, vua chỉ thấy một con cú thật lớn ở bên trong mà thôi. Bạo dạn vua hỏi:
- Ai
khóc ở trong ấy?
Con cú
bỗng nhiên giật mình đánh thót một cái và khi trông thấy hai con cò, thì
kêu lên:
- Hai
con cò! Hai con cò! Trời ơi! Tôi được cứu thoát!
Vua cò
ngạc nhiên vô cùng, bởi vì con cú nói giọng người, mà lại nói một cách rõ
ràng.
Mỹ Tuấn
hỏi:
- Sao?
Tại sao nhà ngươi khóc, mà nhà ngươi lại nói được tiếng người, hỡi con cú?
Ta tin rằng ngươi cũng đồng một số phận với chúng ta,. Có phải ngươi đã
dại dột đến nỗi thành hình cú chăng, nói mau cho ta rõ.
Con cú
chùi nước mắt bằng hai cách màu sậm, úi đầu chào và trả lời:
- Em chả
biết ông là ai, ông cò ạ, song nghe giọng nói của ông, em biết ông là một
trong những kẻ đau khổ. Và người ta đã nói với em rằng một ngày kia nếu có
hạnh phúc trở thành người lại thì hạnh phúc ấy cũng do nơi một ông cò đem
đến. Bởi thế thấy hai ông, em thốt nhiên được vui mừng ngay.
- Trời
hỡi, ta chả giúp gì được cho ngươi đâu! Và khi ngươi nghe ta kể chuyện
chúng ta, ngươi sẽ thấy rằng nỗi đau của chúng ta là một nỗi đau khổ vô
biên, đến nổi chúng ta không còn gì tặng cho ngươi hơn là một lòng thương
hại.
Nhà vua
bèn kể chuyện mình và Bằng Tô cho cú nghe.
Nghe
xong con cú thở dài.
- Em
thấy giữa số phận chúng ta có cái tương quan giống nhau. Nếu như bệ hạ là
vua, thì em đây là công chúa Phương Châu, con gái độc nhất của vua Ấn Ðộ.
Thằng Cách Nô mà nó ám hại bệ hạ ấy, vốn nó đã đến hỏi em làm vợ. Nhưng
phụ hoàng em cho nó là đồ tồi tệ, bèn đuổi nó ra khỏi cửa. Bị nhục, nó tìm
cách giả trang để vào làm tôi tớ trong cung và tìm cách đưa cái hộp ma quỷ
ấy để lừa em. Thế là em bị mắc lừa, biến thành con cú và trong khi thị nữ
đi tìm em khắp chốn, nó xách cổ em lên cái tháp này, tống em vào đây rồi
bảo:
“Mi phải
ở đây cho đến khi một kẻ nào đến đây và bằng lòng hỏi mi làm vợ. Chỉ có
cách đó là mi có thể hiện lại nguyên hình. Nhưng tao thì tao giấu chả cho
ai biết có mi ở đây. Mi cứ ở đây cho đến trọn đời, già đi và chết đi như
những con cú khác. Thế cho bỏ ghét thằng cha mi”.
Nói
xong, hắn bỏ đi. Em ở đây chẳng đi đâu được, vì bị cột lỏng chân. Ðã hơn
ba tháng nay, em phải âm thầm sống ở đây, không có nhìn thấy trời đất. Ăn
thì ăn dơi chuột, rêu đá. Và bệ hạ ơi, số kiếp của em còn khổ sở hơn số
kiếp của bệ hạ nhiều. Bệ hạ còn có bạn, còn bay đi khắp chốn được, chứ em
thì phải trọn đời ở nơi đây.
- Lạ
thật, nhà vua lẩm bẩm. Số phận của chúng ta đồng nhau. Hẳn có liên quan gì
đây.
- Chắc
thế, tâu bệ hạ. Em bị quả báo thế này, bởi vì trước kia em có hỗn với mẫu
hoàng em một lần. Em chắc thế. Còn bệ hạ có lỗi gì đâu? Thế bây giờ bệ hạ
đi đâu?
- Chúng
tôi đi Mếch Di Cô để cầu cứu.
Cón cú
lắc đầu, rồi bỗng nhiên hai mắt sáng rỡ phi thường:
- Em
tưởng rằng bệ hạ và quan lớn chả phải đến Mếch Di Cô làm gì nữa. Em đã có
cách để cứu được bệ hạ và quan lớn và luôn dịp cứu được cả em nữa.
Nhà vua
hấp tấp:
- Làm
thế nào? Làm thế nào?
Bằng Tô
cũng hấp tấp:
- Làm
thế nào? Làm thế nào?
Mỗi
tháng bọn bộ hạ của Cách Nô đều nhóm họp gần ở đây, ở lâu đài bên kia đồi.
Chúng nó tiệc tùng và kể chuyện vui chơi mà chúng đã làm trong một tháng.
Có lẽ trong khi kể, chúng sẽ nhắc đến ba chữ thần bí kia mà bệ hạ đã quên.
Mà nếu em còn nhớ, thì tối nay là tối chúng nhóm họp.
Vua Mỹ
Tuấn vui mừng nhảy lên:
- Công
chúa! Công chúa! Hay biết bao nhiêu! Nàng là kẻ cứu mạng chúng ta! Mau
mau, nàng hãy chỉ cho ta đường lối sang lâu đài. Bằng Tô, hãy mổ đứt sợi
dây cột chân nàng cho ta. Công chúa, nàng hãy vui lòng chỉ đường cho ta
với.
Hai
chàng cò khẩn khoản. Nhưng công chúa nghiêm nét mặt:
- Em
cứu hai chàng, nhưng em phải ra một điều kiện. Nếu hai chàng tuân theo thì
em mới đi.
Vua hấp
tấp:
- Ðiều
kiện gì ta cũng chịu cả. Nàng cần gì?
- Em muốn rằng bệ hạ sẽ giúp em trở lại
nguyên hình. Em thưa rằng chỉ khi nào có kẻ muốn nhận em làm vợ, em mới
thoát khỏi cái lớp áo cú xấu xa này. Vậy thì, tâu bệ hạ, nếu bệ hạ hoặc là
quan lớn hứa làm chồng em.
Nhà vua
kéo Bằng Tô ra xa nói nhỏ:
- Này
Bằng Tô, bây giờ chính là lúc ngươi tỏ lòng trung thành với ta. Ngươi sẽ
cưới công chúa làm vợ.
Bằng Tô
giẫy nẩy và run lập cập:
- Tâu
bệ hạ! Bệ hạ muốn cho khi thần về vợ hạ thần sẽ móc cặp mắt của hạ thần đi
hay sao. Nó dữ lắm. Nếu nó thấy hạ thần đem công chúa về thì chết với nó.
Bệ hạ nên nhớ rằng thần đã có vợ con. Hơn nữa thần đã già. Bệ hạ còn trẻ,
chưa có vợ và đáng cưới công chúa hơn hạ thần. Công chúa thì trẻ đẹp… mà
hạ thần thì già nua, râu dài chấm đất…
- Ai bảo
ngươi công chúa còn trẻ và đẹp đấy! Chưa chắc! Nhà vua buồn rầu vuốt lông
cánh, nghĩ ngợi mơ màng. Chả có gì chắc rằng nàng trẻ và đẹp! chắc phen
này thì mua mèo trong bị đấy!
- Tâu
bệ hạ, Bằng Tô đáp một cách lễ độ nhưng cương quyết, hạ thần chỉ có thể
nói rằng: thà rằng chịu kiếp cò suốt đời còn hơn là rước vợ lẽ về để vợ hạ
thần nó hành hạ thần khổ lắm, nếu bệ hạ biết được tính nết của con vợ hạ
thần…
Hai thầy
trò còn cãi vã một hồi nữa và cuối cùng nhà vua phải đành lòng nhận chị cú
làm vợ.
Nghe nói
nhà vua thuận nhận, công chúa Phương Châu rất vui mừng:
- Chúng
ta sẽ được hiện nguyên hình không lâu. Chính hôm nay Cách Nô đãi tiệc. Giờ
này chắc chúng đã bắt đầu nhập tiệc. Chúng ta hãy đi mau mau.
Nói
xong nàng cú đi trước, bay nặng nề nhưng nhanh chóng. Hai chàng cò hấp tấp
theo sau. Ðến lâu đài, công chúa lấy mỏ trỏ một cánh cửa con để hai chàng
cò có thể bay lên đậu và nhìn vào tận bên trong phòng tiệc.
Mỹ
Tuấn và Bằng Tô nhẹ nhàng bay đậu lên cửa, chống tai chống mắt mà nhìn mà
nghe.
Trong
gian phòng, một quanh cảnh tươi đẹp. Ðèn nến sáng trưng, bàn ăn khói lên
nghi ngút. Chung quanh bàn, bọn chúng nó đến hơn sáu chục đứa. Trong bọn,
nhà vua cò thấy có cả tên Chệt hôm xưa.
Tên Chệt
này đang kể chuyện Bằng Tô và Mỹ Tuấn.
-
Chúng ta đến thật là vừa lúc, vua Mỹ Tuấn vừa nghĩ vừa rùng mình. Nếu chậm
một chút thì còn gì là đời! Lạy Phật! Xin nhớ ơn Ngài! Và hai thầy trò
lắng hết cả bốn tai.
Tiếng
cười trong phòng dội ra khi nghe tiếng kể chuyện của thằng Chệt bắt đầu
lên giọng khôi hài. Một đứa trong bọn hỏi:
- Hay
quá! Hay quá! Thế anh làm thế nào vào cung được và mấy chữ ấy là chữ gì mà
thần bí đến thế?
(Ngoài
này nhà vua và Bằng Tô lắng yên không dám động một máy lông).
- Chữ
gì ư? Một chữ la tinh khó nhớ lắm mà tụi chúng một khi quên đi thì không
thể nhớ lại được. Ấy là chữ “MUY TA BO” ấy mà!
Nghe đến
đây, hai chàng cò chả thèm nghe nữa, vội vã đáp xuống thật mau, đến nỗi
con cú phải bay gấp lắm mới theo kịp.
-
Công chúa ạ, nhà vua mừng rỡ nói, may mắn quá. Vậy trước khi hiện lại
nguyên hình, ta xin nhắc lại lời hứa: ta sẽ nhận công chúa làm vợ để trả
cái ơn muôn kiếp không quên này!
Nói xong
nhà vua quay mặt về hướng Tây, nghiêng mình đọc ba lần “MUY TA MO”.
Bằng Tô
cũng bắt chước vua. Phút chốc hai người hiện lại nguyên hình. Mỹ Tuấn, một
nhà vua đẹp trai và Bằng Tô một cận thần râu dài chí đất. Hai người nhìn
nhau mừng rỡ và cảm động quá, thầy trò ôm chầm lấy nhau khóc.
Khóc
xong, nhà vua chợt nhớ đến chị cú. Nhưng, sung sướng biết bao! Khi quay
lại nhìn, nhà vua chả thấy cú đâu mà chỉ thấy một nàng công chúa đẹp như
tiên, một nàng công chúa đẹp nhất trên đời mà người ta không có thể tưởng
tượng.
Nàng mặc
xiêm y lộng lẫy và nụ cười trên môi nàng đối với nhà vua còn tươi hơn cả
những đồ trang sức đẹp nhất của nàng.
Công
chúa Phương Châu quỳ xuống:
- Tâu bệ
hạ! Bệ hạ có còn sợ mua mèo trong bị nữa chăng?
Nhà
vua xấu hổ vì hồi nãy đã nói hơi to để cho công chúa nghe được. Nhưng
chàng sung sướng, đỡ công chúa dậy và hôn tay nàng:
- Nếu
sau này nhắc đến một cảnh ngộ vui mừng nhất của đời trẫm, trẫm sẽ nói rằng
đó là cảnh ngộ mà trẫm bị biến thành kiếp cò trắng!
Không
còn chậm trễ, vua và công chúa Phương Châu cùng Bằng Tô lên đường. Bán bớt
một cái áo choàng, nhà vua mua ba con ngựa, sắm một đoàn tuỳ tùng cho đáng
vẻ vương giả và cả ba lên ngựa về thành My Lăng.
Nhà
vua được đón tiếp với tất cả những bồng bột nồng nhiệt của dân chúng. Cách
Nô tiếm vị đã tuyên truyền nhà vua chết, nay thấy nhà vua về, toàn dân đều
vui mừng thiếu một đường điên dại lên.
Cách Nô
bị bắt, kẻ tiếm vị bị xử án: một là tự tử, hai là phải chịu kiếp cò. Thế
là Cách Nô phải hít một chút bột ma quỷ vào mũi và quay sang phía Tây:
“MUY TA BO!”.
Hắn
biến thành cò, sống trọn đời trong vườn thượng uyển giữ kiếp cò trắng.
Nghiệp quả của hắn đã gây, bây giờ hắn ráng chịu không ai phàn nàn.
Nhà
vua lại lên ngôi, nhân dân lại được thái bình. Quần chúng mở tiệc ăn mừng
luôn trong bảy ngày. Vua truyền lệnh tha cho các tội nhân và làm lễ thành
hôn với công chúa Phương Châu.
Một hôm
nhà vua nhớ lại chuyện cũ, cười bảo Bằng Tô:
- Khanh
có nhớ không, nhớ đến kiếp cò của chúng ta không? Trẫm không nhịn được
cười khi thấy khanh nghiểnh cổ về phía tây lắp bắp: “Muy ma… no… mô…”.
Trông dáng điệu của khanh lúc bấy giờ thật là thiểu não lắm! Bằng Tô cười
nhẹ, ghé tai nhà vua nói nhỏ:
- Bệ
hạ đừng nhạo hạ thần quá, nếu không, hạ thần sẽ nói toạc câu chuyện tranh
luận giữa hạ thần và bệ hạ ở trên tòa tháp hôm nọ… Hoàng hậu mà biết bệ hạ
ấy Hoàng hậu về phía hạ thần vừa xấu, vừa già, vừa dài râu, thì Hoàng hậu
sẽ buồn bệ hạ lắm đấy.
Nhà vua
vội vã:
- Ấy, ấy
đừng nói nhé, khanh nhé. Ta nói chuyện khác chơi vậy…
Nàng
Ưu Ðà Di
^
Ðược
tin Hoàng tử cùng vợ đi săn, dân thành Ca Tỳ La Vệ lo sửa soạn những cây
cảnh trước nhà, họ xây những chậu hoa nào có màu tươi đẹp nhất quay mặt ra
phía ngoài đường để đón chào vị Thái tử. Người ta chờ đợi nhìn khuôn mặt
hiền từ với đôi lông mày dài và mềm lượn trên đôi mắt xanh như dòng nước
biếc của sông Hằng, dáng điệu dõng dạc và thân hình nở nang của vị thiếu
niên lúc nào cũng dẫn đầu một bọn lính kỵ vai đeo binh khí sáng chói, hùng
hổ trên những con ngựa mập mạp. Ngày nào Thái tử dạo chơi thì đêm đó những
tiếng đàn của các thiếu nữ trong thành vang lên, vừa quấn quit, vừa não
nùng, khiến cho những hoa xung quanh vườn hình như say nhạc mà quên mất
hương của mình bay tận đâu đâu và những kẻ láng giềng cũng ngẩn ngơ bỏ dở
việc làm ngồi thừ như pho tượng.
Người ta
uổng công chờ đợi chiều hôm ấy. Các hoa đẹp chỉ khoe sắc với khách qua
đường. Ở phía cửa thành Thái tử đã bỏ dỡ cuộc đi săn. Thái tử Thích Ca
thấy cảnh trái ngược giữa thân thể mạnh khỏe của mình như một cái cây đang
lớn, với một hình vóc xấu xí của ông già kia như que củi khô: râu tóc bạc
phơ bờm ra như lông lá của một con vật, thân ông cong quắp, tay với sát
đất như chực bò.
- Có
như vậy được chăng? Một người tráng kiện như ta bây giờ một ngày kia cũng
thế?
Thái tử
tự bảo rồi quay ngựa trở về.
Tối hôm
ấy ánh trăng vằng vặc trên lâu đài nhà vua. Hoa kỳ cỏ lạ trong hoa viên
sáng lên như ngọc. Vua Tịnh Phạn đã được thị vệ cho hay, Thái tử bỏ dở
cuộc dạo chơi vì gặp một cụ già. Vua bèn mở ngay cuộc khiêu vũ dưới muôn
ngọn đèn hoa để làm khuây Thái tử. Nhưng Thái tử Thích Ca vẫn không quên
được ông già và màu râu tóc bạc hình như lại hiện về trên các khuôn cây ở
hoa viên dưới ánh trăng bàng bạc.
Vua
lo sợ săn sóc đến Thái tử như vậy, vì chỉ có một mình Thái tử là người kế
vị. Thái tử là một thiếu niên anh tuấn mới 19 tuổi người đã thông thuộc cả
các nghề. Nào thiên văn, địa lý, nghị luận, thi phú, văn chương, âm nhạc,
hội hoạ, bói toán, phù chú, võ nghệ, trong nghề nào Thái tử cũng là người
xuất chúng. Không những vì thế mà vua yêu quí, vua yêu quí Thái tử vì Thái
tử là kết quả của cuộc nhân duyên đằm thắm giữa vua và hoàng hậu Ma Ha Ma
Da. Thái tử là một mối tình thiên liêng của Hoàng hậu để lại cho vua ở thế
giới này.
19
năm về trước, một đêm nằm mộng, Hoàng hậu thấy mình lạc vào khu rừng hoang
vu. Một con voi trắng sáu ngà đến ve vuốt bà mãi. Một hôm biết mình thụ
thai, Hoàng hậu mới đem chuyện ấy nói cho vua nghe. Vua đoán là một điềm
mộng tốt và rất vui mừng vì vua đã 50 tuổi rồi và Hoàng hậu cũng xấp xỉ
tuổi vua, nếu may ra, Hoàng hậu sanh được Hoàng nam, vua sẽ có người kế
vị.
Theo tục
Ấn Ðộ phải về nhà cha mẹ mà đẻ. Một ngày ở vườn Lâm Tỳ Ni nước Câu Ly quê
hương của Hoàng hậu Ma Ha Ha Da, chim kêu không ngớt tiếng, mặt trời lên
cao chói sáng hơn cả mọi ngày. Ðêm ấy các khóm hoa đều tỏa hương thơm ngào
ngạt. Hoàng hậu Ma Da ra dạo ở vườn hoa của vua Thiện Giác (anh bà), thơ
thẩn nhìn trăng bà nguyện cầu: “Hởi những đấng thiêng liêng hãy phù hộ con
con tôi sau này trong sáng như mặt trăng kia, trí tuệ của nó sẽ rộng rãi
bao trùm cả thế giới như ánh sáng mặt trăng”.
Sao
dần dần thưa, trên bầu trời đen thẳm. Rạng đông bừng sáng một phía vườn.
Hoàng hậu bỗng thấy đau bụng, bà tựa vào một cây Vô Ưu.
Mặt trời
vừa lên tỏa ánh sáng vàng ửng khắp vườn Lâm Tỳ Ni, một trẻ lọt lòng xinh
đẹp và toàn vẹn hơn cả những châu ngọc ở cõi trần. Trẻ ấy là Thái tử Thích
Ca.
Từ hôm
Thái tử bỏ dở cuộc đi chơi về, nét trầm ngâm vẫn thoáng trên gương mặt
sáng lạng tinh anh… Muốn giả sầu cho Thái tử, ngày nào vua cũng đặt ra
những cuộc chơi trong cung điện. Các bọn ca nhi vũ nữ cùng các đào hát
thầy đàn tha hồ được dịp trổ tài. Vua lại còn ra “Chỉ” xem ai có vật lạ
nghề hay đem vào cung để làm vui Thái tử đều được hưởng.
Người
ta đem đến những thứ hoa quỳnh to bằng cái đĩa lớn, những hoa lài cánh ta
bằng cái hồng, những hoa sen vàng nở lá bốn mùa, những cây chuối trăm
buồng, những giống quái vật ở núi ở biển, những san hô, ngọc cùng các thứ
chạm trổ khéo léo. Trong các thứ ấy có con ngựa làm cho Thái Tử chú ý đến.
Con ngựa vừa đẹp vừa khôn ngoan. Mình mẩy đều đặn, bốn chân thon thon, nó
đứng bên cạnh những con ngựa to lớn nhất trong cung, thì những con này
cũng thành thấp bé, những hình hài của nó làm sao sánh nổi với màu sắc của
nó, tròng đen trong mắt nó có một sắc đen lánh như hột huyền, móng chân
của nó đi vào trong tối thì sáng lên như sừng tê giác, lông nó mướt và
trắng như tuyết trên núi Hy Mã Lạp Sơn, bờm của nó óng ánh như tơ vàng mềm
mại và ở quanh cổ nó có nhung vân màu ngũ sắc dợn lên như một cầu vồng.
Chưa hết đâu, người ta lại khéo đeo hai chân trước nó hai cái lục lạc âm
dương, lúc ngựa chạy tiếng nhạc hoà lên một điệu xao xuyến và huyền bí như
tiếng suối chảy trong đêm khuya, giọng chim riú rít trong rừng xa. Có lẽ
từ hôm được con ngựa ấy, Thái tử cũng khuây được nỗi buồn. Nhưng đêm đến,
vua còn sợ không có gì để giải trí cho Thái tử, nên bày ra không ngớt
những cuộc vui. Ðêm hôm ấy cũng như mọi hôm, trong cung đều có múa hát trà
tiệc, dưới ánh những cây nến có ngọn lửa to như bó đuốc, các vàng bạc ngà
ngọc khảm trên các cây cột, trên trần nhà, trên các áo mão của người trong
tiệc đều phản chiếu lên muôn ngàn màu sắc lạ. Hương trầm ở bốn phía tỏa ra
ngào ngạt và rượu trong những cốc thủy tinh đủ màu như muôn hoa ở một vườn
xuân, các vũ nữ đều thi tài múa hát, thân hình uyển chuyển theo âm nhạc
như những gợn sóng, mặt mày tươi như những hao sen một buổi sớm mùa hạ.
Ðiệu múa rất tự nhiên. Chân tay họ như làm bằng một thứ sáp, thứ bột gì
rất dẻo tha hồ để cho một bàn tay vô hình uốn nắn. Một người chưa thấy
cảnh ấy, nếu lạc vào đây e tưởng mình đã lên tiên. Nhưng những cảnh đẹp ấy
đối với cặp mắt Thái tử quen lắm rồi. Ðêm ấy người ta mời một người con
gái vừa tài vừa sắc đến giúp cuộc vui.
Các
vũ nữ vừa kéo vào, một tiểu thơ quần áo trắng bước đến, nét mặt của nàng
một cách ngây thơ và hồn nhiên. Trên tay nàng cầm một cây đàn chín dây,
nàng cúi chào rồi quỳ xuống giữa chiếc thảm xanh như một đóa hoa mọc giữa
một vùng lá biếc.
Người ta
không rõ nàng đàn bản gì. Toàn xứ Ca Tỳ La Vệ chưa ai được nghe. Người
nghe bản đàn ấy dầu có một mối sầu khó giải trong lòng cũng có thể nguôi
được, dầu có tánh giận dữ đến đâu cũng thấy trở lại ôn hòa. Một bản đàn
khiến cho người ta thấy sống ở cõi trần này là một cõi êm ái. Cứ mỗi lần
nàng nghỉ tay, người nghe lại không biết từ đâu có tiếng chim rất trong
nổi lên để tiếp theo. Nàng đã khéo luyện tập được một con chim khôn ngoan
và bắt nó đậu trên cây đàn. Người ta tưởng con chim ấy hòa một bộ phận của
một cây đàn, không ai ngờ những tiếng chim bay ra lại là của con vật xinh
xinh kia. Ðàn xong, nàng cất tiếng hát. Chao ôi! tiếng hát lại trong bằng
mấy tiếng đàn, khi lên khi xuống như hẹn hò trước với điều ao ước riêng
của từng người. Trước khuôn mặt ngây thơ của người hát và giọng ngân trong
trẻo, lòng ghen tuông của các cung tần không có thể có nữa.
Nàng dứt
tiếng hát, Thái tử thấy khoan khoái, các người trong tiệc như ngây như
dại, từ nãy đến giờ nín hơn để nghe, bây giờ mới dám thở ra. Thái tử quay
lại mỉm cười, một người thị vệ đã nhanh nhẩu tâu: “Tâu Thái tử! Nàng Ưu Ðà
Di, dòng dõi Bà La Môn”.
Như có
mặt trời trên mình ngựa, Thái tử vui vẻ hầu như xóa được nỗi buồn xưa. Thị
vệ được vui lây nên có người dám vui đùa như những lúc Thái tử không có gì
phiền não. Thái tử đối với người hầu tử tế như anh em. Một người thị vệ
thưa Thái tử.
- Thái
tử có nhớ cái nhà trồng rất nhiều hoa ở phía nam hoàng thành?
- Nhà ấy
có gì lạ, ngươi sẽ bảo ta nghe!
- Bẩm
Thái tử! Ở đó có những tiếng nhạc, mà không có ai xứ này được nghe, họa
may có một mình tôi.
Thái tử
mỉm cười nhớ lại cái đêm nghe đàn trong cung.
- Hay
hơn tiếng nhạc của Ưu Ðà Di chăng? Thế thì ngươi hãy dẫn ta đi đến đó.
- Bẩm
Thái tử chính là Ưu Ðà Di.
- Sao
ngươi bảo chưa ai được nghe?
- Bẩm
Thái tử một đêm rất khuya, một đêm mà kinh thành Ca Tỳ La Vệ đều say trong
giấc ngủ, hôm ấy tôi được nghỉ, phóng ngựa về thăm nhà. Lúc qua đấy tình
cờ nghe được tiếng đàn thanh thót ở ngôi nhà kia đưa ra. Tôi dừng ngựa ngơ
ngẩn quên mất việc về thăm nhà. Bẩm Thái tử, tôi đã nghe một khúc hát kỳ
lạ hơn khúc hát ở trong cung hôm trước.
- Thế
thì ta rẻ lối này.
Thái tử
Thích Ca vừa nói vừa rẽ ngựa sang tay trái, các thị vệ đều mỉm cười sung
sướng bước theo người.
Vó ngựa
rầm rộ trên đường sỏi, gió thổi cái bờm óng ánh tơ vàng của con ngựa đi
qua lớp áo nhung trắng cài khuy đỏ của Thái tử. Cái khăn trắng lớn trùm
ngang trán để lộ ngọc bào, một nốt thịt nổi cao giữa hai hàng lông mày và
phủ ngoài mớ tóc đen như mun, sợi tóc nào cũng uốn tròn về phía hữu.
Dưới màu
trời xanh thẳm, ở trước mặt Thái tử xa xa một thành phố hiện lên trong
quang đãng. Thái tử, trong một phút, đã nghĩ đến những nóc nhà kia là của
thần dân dưới quyền vua cha. Mà trong đám nhà ấy, lại có ngôi nhà của
người con gái tài hoa. Thái tử lại hình dung người đánh đàn hôm trước.
Vừa lúc
ấy có những tiếng rên khừ khừ bên đường lọt vào tai Thái tử. Thái tử quay
lại hỏi thị vệ:
- Hình
như có người rên, các ngươi hãy lắng tai nghe có phải chăng?
Các thị
vệ lắng tai nghe rồi đồng thanh trả lời:
- Bẩm
Thái tử quả có.
Tiếng
rên rõ lắm ở trong một bụi cây bên đường. Bên bụi cây, một người đen đủi
gầy đét, đầu đã rụng tóc, da đầu lòi ra như sọ dừa, khắp thân mình đều lỡ
lói ghê sợ, cả thân hình bệnh nhân xông lên một mùi rất hôi hám khiến cho
người xem không dám đến gần. Tên ấy là một tên hủi thuộc về phái Bà Li A,
là một phái hạ cấp ở Ấn Ðộ bị khách qua đường đá vùi xuống đấy như một con
vật, vì không ai muốn gần một người bệnh ở một giai cấp mà người ta cho là
hèn mạt. Nghe tiếng có người đến gần, nó gần đưa hai tay cụt bàn như hai
cái càng lên trời và đôi mắt nó gần như mất hết tròng đen cũng cố mở để
nhìn lên cao. Như tuồng nó không còn tin rằng những người đồng loại của nó
còn thương xót nó. Trước cảnh ấy Thái tử buột miệng than:
- Còn
cách gì chữa được nữa chăng?
Một
người theo hầu tiếp trả lời:
- Bẩm
như đến bệnh hủi ghê gớm kia thì không còn phương thuốc gì chữa được.
Thái tử
Thích Ca cởi áo mình – cái áo nhung trắng có cúc đỏ và chỉ vàng thêu ở
trước ngực đắp cho kẻ kia rồi cùng thị vệ quay về.
Trên
đường về, đôi mắt Thái tử Thích Ca trở nên buồn bã, lúc nào trên gương mặt
cũng tỏ dáng đăm chiêu suy nghĩ. Vua tìm hết cách để làm cho Thái tử vui
mà cũng không có hiệu quả gì. Tình cờ một hôm vua sực nhớ đến người con
gái đánh đàn. Vua ngẫm nghĩ, có lẽ Thái tử buồn bực vì cảnh cung cấm có vẻ
tiều tụy, cung tần mỹ nữ không biết trang điểm, không có tài ăn nói để
giải buồn Thái tử, họa may còn có con bé này; hôm trước ta nghe những khúc
hát của nó cũng phải mê mẩn tâm thần, thấy mình quên hết những phiền muộn
ở đời. Ừ mà phải, nó là dòng dõi Bà La Môn, tài gì mà không có sức học
uyên thâm, giới hạnh nghiêm chỉnh. Ta sẽ nhờ nó xem sao.
Nghĩ như
vậy bèn sai người mời Ưu Ðà Di vào cung, nàng khiêm tốn tâu rằng:
- Tâu
Hoàng thượng, ân đức Hoàng thượng hầu khắp cả thần dân trong nước, ai ai
lại không truyền tụng, tôi như hạt bụi dưới ánh mặt trời, như bọt nước
trong bể cả. Bấy lâu chỉ biết tận hưởng những ân huệ cao siêu của Ngài,
bây giờ Ngài ủy thác cho công việc theo hầu Thái tử tôi rất lấy làm vui,
nhưng cũng lấy làm sợ.
- Nàng
Ưu Ðà Di, tài đức của nàng sắc đẹp của nàng ở đây ai lại không biết, hãy
nhân dịp này để tỏ lòng trung thành của nàng.
Hôm ấy
vua đến khuyên Thái tử:
“Ðã
biết bao lần ta phải nhắc lại rằng ta chỉ còn một mình con ở trên đời này
là ta quý mà thôi. Ðã biết bao lần con làm ta phải âu sầu nhớ đến mẹ con
chăng? Ôi? nếu con biết những sự mong mỏi của mẹ con lúc tuổi tác cao mà
vẫn chưa thai nghén, nếu con biết những lúc mẹ con cùng ta sung sướng với
giấc mộng kỳ lạ của mẹ con. Ôi! Nếu con biết những nỗi hân hoan của mẹ con
lúc mang con trong lòng cầu nguyện cho con sau này được hơn người. Cứ mỗi
lần con không vui ta bùi ngùi tưởng nhớ đến mẹ con và tiếc rằng không còn
mẹ con ở đây để dỗ dành con hộ ta”.
- Thưa
cha, con đã là đứa con bất hiếu, con xin từ nay yên vui để cha bằng lòng,
để linh hồn mẹ con được nhẹ nhàng trên chín từng trời thẳm. Mẹ con bây giờ
còn làm sao gặp được con nữa, mà con cũng vậy, hình ảnh mẹ con còn có tìm
đâu được ở trần giới này.
Như biết
được Thái tử Thích Ca sắp rơi vào bẫy của mình, vua vẫn ôn tồn không lộ vẽ
sung sướng của mình.
- Lời
con nói nhắc ta nhớ đến một việc mà ta quên hẳn đi.
- Thưa
cha nhớ lại việc gì?
- Còn
một người sống ở thành này rất giống mẹ con ngày xưa.
- Thưa
cha người ấy là ai con muốn tìm cho gặp.
Phải,
ý nghĩ của con rất hay, vì tội nghiệp cho con, con vừa ra đời được bảy hôm
thì mẹ con vội từ giả vườn Lâm Tỳ Ni, người con muốn chẳng ai xa lạ, chính
là nàng Ưu Ðà Di, người đánh đàn hôm trước.
Tối đó ở
hoa viên, Ưu Ðà Di ngồi trên một ghế da trước mặt vua và Thái tử. Trăng Ấn
Ðộ tỏa một thứ ánh sáng huyền ảo trên thành quách, những cây trắc cao vút
như muốn níu theo điệu nhạc do chính dây tơ dưới mười ngón tay tài tử đưa
ra bên cạnh, những khóm lài đầy trĩu những hoa có hương ngào ngạt khiến
cho những người hầu đứng bên dẫu có chất phát cho mấy cũng trở nên mơ mộng
như nhà thi sĩ.
Hôm sau
vua ban cho cha mẹ Ưu Ðà Di vàng ngọc châu báu để rước nàng vào cung. Tuy
được trọng thưởng ông bà cụ không khỏi buồn vì xa con.
- “Vàng
ngọc châu báu có quý đâu bằng tình mẹ con. Xa con mẹ lấy làm đau lắm. Con
hãy còn nhỏ, rồi đây ai săn sóc con. Tuy vậy lệnh nhà vua không ai dám
trái. Mẹ cầu nguyện cho vua và Thái tử sẽ yêu mến con như thầy mẹ đối với
con vậy”.
Ưu Ðà Di
an ủi mẹ:
- “Con
đã lớn rồi mẹ ạ! Lẽ đâu con phải bắt mẹ lo lắng cho con. Hoàng tử người
rất hiền lành, như mẹ đã thấy những khi Ngài dạo trước cửa nhà ta. Con sẽ
cố làm cho Ngài vui, thế nào Ngài cũng chiều con như mẹ vậy”. Ông cụ ít
bịn rịn hơn, khuyên con:
- “Con
đã 15 tuổi rồi đó, gắng mà giữ gìn tâm tính. Con phải luôn luôn khiêm tốn
nết na như những ngày sống gần thầy mẹ vậy, vì chức vị của cải dễ làm hư
tâm tánh con người lắm đó. Thôi con cứ vui đi, thầy mẹ cũng mừng cho con”.
Ưu Ðà Di
cúi đầu vâng lời cha mẹ, rồi nàng chạy tìm em, một cậu bé đang loay hoay
dán một con diều nhỏ.
- Em ở
lại vui vẻ nhỉ! Ðừng làm phiền cha mẹ, rồi lúc nào chị sẽ đem quà bánh về
cho em. Em sẽ thay chị cho các con vật mình nuôi ăn uống. Luôn luôn săn
sóc chứ đừng đánh đập nó.
Nói đoạn
nàng kéo tay em ra vườn để thăm lại những cảnh vật thân yêu. Cây khế mà
dưới gốc nàng đã bao lần ngồi hát, ngồi đàn cho cả nhà nghe.
- Nàng
đi còn có ai mà hát dưới đêm trăng nữa?
Cây huệ
than:
- Ai
vuốt ve tôi? Tôi nở hoa cho ai?
Hoa hồng
nũng nịu:
- Tôi
lấy tóc ai mà bíu nữa?
Ưu Ðà Di
trả lời:
- Các
bạn ơi, thầy mẹ tôi và em tôi lại săn sóc hơn tôi nữa kia.
Ðàn
ngỗng lúc bấy giờ ở dưới nước lại kéo lên:
- Rồi
đây ai chìa tay cho chúng tôi mổ?
- Em tôi
sẽ đưa bàn tay xinh xắn hơn tôi cho các ngươi.
Nước
trong hồ cũng phụng chịu:
- Chiều
chiều ai soi bóng trong lòng tôi nữa?
- Còn có
em tôi soi bóng trong lòng của ngươi, em tôi còn ngoan ngoãn hơn tôi, đẹp
đẽ hơn tôi.
Bồ câu
và các thứ chim trong vườn cũng bay đến.
- Nàng
đi thật đấy à? Vắng nàng chúng tôi hót cho ai nghe đây và ai hát cùng
chúng tôi?
- Có
thầy mẹ tôi và em tôi nghe những điệu thánh thót của các ngươi, giọng em
tôi còn tốt hơn giọng tôi, sẽ hòa cùng các người.
Con chó
lúc bấy giờ cũng chạy quấn quít bên chân nàng:
- Nàng
đi, ai vuốt ve tôi và dắt tôi đi dạo?
- Em tôi
vẽ vui đùa với ngươi.
Lúc ấy
con chim nhỏ của nàng nuôi ở đâu cũng bay đến:
- Tôi
nhất định theo nàng.
- Em sẽ
theo ta và đậu trên cây đàn của ta.
Lúc cha
mẹ và em đưa ra đến cửa, nàng như nhớ việc gì, quay lại bảo em:
- Em có
nhớ những nhà tu hành ngày ngày đến xin ăn trước cửa, em sẽ kính cẩn em
các thức ăn ra biếu lấy em ạ.
Ở cửa xe
ngựa đã sẵn sàng để đón lấy nàng vào cung điện. Những người theo hầu
nghiêng mình chào đón.
Về cung,
Ưu Ðà Di tìm hết cách để làm cho Thái tử vui. Trước vẻ hồn nhiên của người
con gái ấy, Thái tử không thể buồn được nữa. Ngày nào Thái tử cũng cùng
với nàng cưỡi ngựa đi dạo trong khu vườn rộng thênh thang. Bên cạnh những
đóa hoa tươi sắc, những lá biếc xum xuê biết hót bằng tiếng chim. Vợ Thái
tử là bà Da Du Ðà La rất yêu mến nàng vì nhờ nàng bày vẻ những điệu hát
những bài đàn cho con bà. Ưu Ðà Di lấy những lời rất dịu dàng để khuyên
bảo như chị với em. Ðối với những người hầu hạ lúc nào nàng cũng tỏ ra là
một người vừa nhũn nhặn vừa khoan dung. Nàng lại đem lòng yêu mến tất cả
những người xung quanh nàng. Nàng lại biết tự tay đi hái những lá thuốc để
chữa bệnh cho những người ở bên nàng trong cơn nguy hiểm.
Nhưng ở
đời hễ được nhiều người mến chuộng thì lại tăng phần căm tức ghen tuông
của những đứa tiểu nhân. Cũng may ở trong cung chỉ có một người ngầm ghét
Ưu Ðà Di mà thôi, người đó là một cung tần tên là Sai A.
Một bữa
Ưu Ðà Di vào phòng mình thấy quần áo treo trên móc đều bị con gì nhấm
thủng cả, mà căn phòng cao ráo ấy làm gì có dán hay chuột. Hôm khác nàng
thấy cây đàn tự nhiên đứt mất mấy dây, nàng phải nhọc công một buổi để
buộc dây cho đúng điệu. Có hôm nàng săn sóc chậu hoa quý định đem bày ở
phòng sách của Thái tử. Buổi sáng hoa ở chậu vừa nụ xinh tươi, thế mà
chiều đến nàng phải khóc, vì không thấy hoa ở trên cành nữa. Ưu Ðà Di đoán
có ai ngầm hại mình, nhưng nghĩ mãi cũng chẳng biết là ai, vì trong cung
mọi người đối với nàng đều tử tế cả. Nhưng trong khi nàng không biết ai
ngầm hại mình, Sai A lại càng nghĩ ngợi những mưu kế ghê tởm để ngầm hại.
Nhưng hắn không ngờ làm một việc dữ chưa chắc hại nổi ai mà mình lại bị
điều dữ đến cho mình.
Một tối
hắn biết thế nào Ưu Ðà Di cũng ngủ rất say vì nàng phải đàn khuya, hắn
khuyên một đứa tớ rất trung thành của hắn lén vào phòng của Ưu Ðà Di theo
lời dặn của hắn.
Ưu Ðà Di
thiêm thiếp ngủ trên chiếc nệm trắng tinh, đôi tay nho nhỏ của nàng trong
giấc ngủ vẫn không rời cây đàn chín dây. Con chim xinh xinh đang đậu ở đầu
giường. Cái dáng điệu ngủ đáng yêu và vô tội ấy, ai nỡ đứng trước mà nghĩ
đến những chuyện giết hại được.
Lúc ấy
con hầu của người cung tần vừa đến bên người lính canh ở trước phòng của
Ưu Ðà Di. Nó toan lấy thuốc mê ra bỏ theo lời dặn của Sai A nhưng nó lại
ngầm nghĩ: anh này say ngủ như chết, có bỏ cũng phí, để lát nữa ta bỏ cho
cô bé này cho nhiều, càng nhiều càng mê lâu ta càng dễ hành động.
Nó mỉm
cười, mất cả lo lắng từ trước, bước sang người anh lính hầu ngủ lăn trên
đất. Nó mở cửa lẻn vào phòng Ưu Ðà Di, con chim thấy động kếu ríu rít và
đến mổ tay người con gái đang ngủ. Nhưng vì nhọc Ưu Ðà Di say mê như không
biết gì. Con hầu của Sai A tức khắc rút một ít thuốc rẩy trên mắt nàng và
đưa tay xua đuổi con chim. Chim sợ sệt bay lên ở một góc phòng, nhưng nó
vẫn kêu ríu rít. Con thị tỳ lại rút trong túi ra một cái hộp con. Nhưng
tay nó dừng phắt lại. Trước khuôn mặt hiền từ đang nằm ngủ say, nó cảm
thấy như đứng trước một vật gì trong sạch, rất quý báu, nó muốn ôm chầm
lấy để thu tất cả mọi tội lỗi. Nó quay đi không nỡ làm hại con người đang
ngủ ấy nữa. Ngực nàng Ưu Ðà Di nhẹ nhẹ lên xuống hình như nàng ngủ một
giấc vô cùng êm ái. Nhưng con thị tỳ quay lại sực nhớ phần thưởng của Sai
A hứa cho nó. Ðồng tiền bao giờ cũng có một sức mạnh xúi giục người ta dễ
làm bậy. Phần vì ham tiền thưởng, phần vì sợ nếu không được việc sẽ bị chủ
hành hạ, con thị tỳ mắm miệng quay vào. Nó quả quyết rút cái hộp ra. Nếu
nó lanh tay một tý thì người con gái hiền hậu kia không còn ở trên đời này
nữa, nhưng tay nó run lật bật, một con rít trong hộp đáng lẽ rơi trên mình
Ưu Ðà Di, lại cứ bíu lấy hộp rồi bò thẳng lên tay nó, nó khiếp sợ quá thét
lên, lúc ấy tên lính hầu vừa tỉnh giấc và con hầu của Ưu Ðà Di ở phòng bên
cạnh nghe tiếng rú chạy vào. Con nữ tỳ của Sai A không tài nào thoát khỏi.
Trong lúc kinh khủng nó thú cả tội lỗi. Không mấy chốc nó bị điệu cổ vào
nhà giam xét hỏi và những viên lương y đã đến giải thuốc mê cho Ưu Ðà Di.
Cơ mưu của Sai A bị tiết lộ. Vua tức giận lắm định đem giết kẻ làm việc ác
đức ấy đi cùng với tên thị tỳ đã giúp việc cho hắn. Ưu Ðà Di được tin ấy
động lòng thương hại xin cho những kẻ kia được nhẹ tội. Cảm lòng nhân đức
của nàng tuy phải tù tội, nhưng tránh được cái chết, lấy làm ăn năn tội ác
của mình, từ ấy thề sẽ chữa lại tâm tánh. Còn những kẻ ở trong cung càng
yêu mến người con gái nhân đức kia.
Hết cái
nạn ấy, Ưu Ðà Di được sống vui vẻ bên cạnh Thái tử. Thường hai người cùng
đánh cờ, cùng đọc sách, cùng hòa đàn. Thật là đôi thiếu niên sung sướng
trong đời này vậy. Tuy thế có những việc xảy đến mà không bao giờ người ta
ngờ có được, hôm ấy đoàn ngựa của nhà vua lại ung dung kéo ra cửa thành
phía đông. Mặt trời quang đãng trên con đường phẳng, đoàn ngựa chạy dưới
bóng hai hàng cây kè kè lá xòe ra như những cái quạt lớn. Qua những cây
ấy, Thái tử nhìn thấy những người cày ruộng mình trần trùi trụi cùng với
những con trâu hì hục cày bừa trên những thửa ruộng lầy lội. Một luồn gió
mát thổi qua, Thái tử bất giác nghĩ đến cái khoái trá trên mình ngựa dưới
bóng cây râm mát và cái cảnh lam lũ của những người làm ruộng kia dưới ánh
nắng mặt trời gay gắt. Cảnh tượng ấy, Thái tử đã gặp từ năm còn nhỏ trong
một cuộc dạo chơi với vua cha. Thì ra lòng thương xót của người không theo
thời gian mà thay đổi. Cảnh tượng ấy vừa qua, đi được một lát, đoàn ngựa
gặp phải một vật gì lù lù nằm choáng cả lối đi. Một tên thị vệ tâu:
- Bẩm
Thái tử cho tôi đến trước xem vật gì nằm choáng ngang đường. Nói đoạn, hắn
phi ngựa chạy đến trước. Lúc Thái tử cùng bọn hầu đến gần thì thấy người
thị vệ đã xuống ngựa hất cái vật kia qua một bên đường, vật ấy cứng đờ như
một khúc gỗ.
- Bẩm
Thái tử, thây một kẻ chết, nó vừa nó vừa vọt lên ngựa định theo Thái tử
nối tiếp cuộc đi chơi, nhưng Thái tử gò cương lại nhìn cái xác chết mà
ruồi nhặng đương tha hồ đục khoét. Thái tử thấy lòng se lại ngồi nghĩ đến
đời sống của con người thật là khổ: suốt đời chỉ thấy lo lắng bâng khuâng,
bệnh hoạn, già nua, chết chóc. Nghĩ vậy, Thái tử không thiết đến cuộc đi
chơi nữa. Những thị vệ trông thấy Thái tử trở lại buồn rầu, lo quá. Chúng
bèn bàn nhau đưa Thái tử về hoa viên rồi mời Ưu Ðà Di ra khuyên dỗ Thái
tử. Ưu Ðà Di vội vã ra vườn. Nàng thiết tha như một nàng tiên trong cảnh
bồng lai. Tuy vậy, Thái tử vẫn điềm nhiên ngồi trầm tư bên một gốc cây. Ưu
Ðà Di lại gần nỉ non.
- Thưa
Thái tử, có phải hôm nay Thái tử buồn vì như lời thị vệ nói Ngài đã gặp
những cảnh thương tâm chăng? Nếu vậy sao Ngài không nhân trời tối này đi
dạo cho khuây khỏa lại cứ ngồi giữ kín mối sầu làm gì vậy? Hay là tại lỗi
tôi không kịp theo hầu Thái tử chăng?
Thái tử
vẫn điềm nhiên không đáp:
- Thưa
Thái tử, Ngài không nhớ một hôm trong vườn hoa, Ngài đã bảo tôi là em gái
Ngài, tôi có nét mặt giống Hoàng hậu không đủ làm cho Ngài vui sao?
Thái tử
nhìn thấy đôi mắt long lanh sáng của người con gái quỳ trước mặt, ra lệnh
cho nàng đứng dậy:
- Tôi
không muốn nàng biết nỗi buồn của tôi, bởi nàng cũng như đóa hoa vô tư
kia.
- Thưa
Thái tử, những đóa hoa kia cũng biết buồn rồi đó, hôm nay tôi thấy hoa nào
cũng ủ rũ cả, như thế không thật sao?
- Hoa
nào lại có thể giữa màu sắc được bền lâu.
- Thưa
Thái tử đời cũng vậy, ai lại không đau ốm, bệnh tật và chết.
- Nhưng
cái chết của cây cỏ không máu mủ thịt xương, còn con người, con vật đến
lúc bệnh hoạn có khi làm cho không ai có thể đứng gần bên được. Vì vậy tôi
biết người sinh ra thì khổ nên tôi muốn tìm cách để trừ cái khổ ấy đi. Tôi
đã hết cách tiêu khiển. Có cái gì tôi muốn mà không được. Thế mà cách để
được yên vui tôi, làm sao tôi yên vui được lúc tôi nghĩ đến không làm sao
tìm được bên cạnh đời no ấm xa hoa của tôi, biết bao nhiêu người khổ sở
lăn lóc ốm đau, già nua bệnh hoạn.
Ưu Ðà Di
không biết phân giải thế nào bèn đến quỳ tâu bên Thái tử nét mặt rầu rầu.
Lúc ấy nhận thấy vì mình mà những người xung quanh phải khổ lây, Thái tử
gượng cười đứng dậy cùng Ưu Ðà Di đi dạo quanh vườn. Những người hầu từ
nảy đến giờ lo ngay ngáy, sợ nếu Thái tử còn buồn thì sẽ bị vua cha quở
mắng, lúc bấy giờ cũng tươi lên. Chim chóc từ bốn phía vườn cũng bay lại
hòa thành khúc nhạc rất vui. Những hoa huệ bổng vươn mình lên trắng xóa
khắp vườn làm cho những hoa bướm khác tăng phần rực rỡ.
Tuy cố
gượng vui nhưng nét mặt trầm tư của Thái tử, nhiều lúc vẫn lộ ra không
giấu được. Vua lại tìm hết cách để làm cho Thái tử khuây. Ðàn hát xướng ca
không ngớt. Tuy vậy hình như không có kết quả gì mấy. Một hôm vua cha bảo
Ưu Ðà Di: Từ nay con hãy chiều chiều hầu Thái tử ra vườn hoa cửa Bắc mà ta
vừa mới lập xong. Con sẽ mỗi ngày thay một thứ áo xinh đẹp để cùng với
những thiên nhiên ở đấy làm vui cho Thái tử, vì ta chắc không ai có thể
bằng con trong việc này. Những đình tạ hoa nước trong vườn kia không phải
chỉ riêng cho Thái tử, đó là phần thưởng ta tặng cho con đó để chung vui
cùng Thái tử.
Chiều ấy
song trên mình ngựa Thái tử Thích Ca và Ưu Ðà Di đi trước một đoàn thị vệ
áo hầu rực rỡ. Ưu Ðà Di chỉ những màu sắc tươi đẹp ở một bụi cây, trên mặt
nước, hay ở một khoảng trời lần lượt hiện ra hai bên đường. Thái tử Thích
Ca luôn luôn mỉm cười nhưng trong đôi mắt vẫn phảng phất một mối buồn
không dứt được.
Vườn hoa
cửa Bắc của vua Tịnh Phạn là một vườn hoa đẹp nhất xứ Ấn Ðộ. Trong vườn có
cả các thứ cây quí hoa lạ ở các nơi đem đến. Những giống chim giống thú đỗ
ở các miền xa, những đường lối sạch sẽ như mặt bàn trải thảm, những nệm cỏ
xanh tươi, những hồ nước trong leo lẻo in bóng, những đình tạ nạm vàng mạn
ngọc chói lên ánh sáng rực rỡ.
Vào vườn
không thể lấy mắt mà đếm những màu sắc của hoa thú trong ấy. Ðến bên cạnh
hồ da thịt mát rượi, hương lên nồng nàn. Người ta tưởng các thứ nước hoa
Ấn Ðộ đều là lấy ở đó ra. Nói tóm lại, như chắt lọc ở khu vườn này tất cả
cái tinh túy của vũ trụ thần tiên.
Tuy vậy,
Thái tử cũng nhìn qua loa cảnh vật rồi tìm một góc cây ngồi nghĩ và bảo
người hầu đem Ưu Ðà Di đi dạo các nơi. Mọi người đang dụ dự Thái tử quả
quyết:
- Các
ngươi hãy vâng lời cho ta vui. Ưu Ðà Di nàng hãy đi dạo chơi vì chỗ này
mát mẻ nên tôi ngồi đây một lát, tý nữa tôi sẽ theo.
Thái tử
ngồi một mình bên gốc cây suy nghĩ. Bao nhiêu những cảnh xưa lại hiện về
trong óc. Những phút sung sướng, những lúc đau buồn, những cảnh hào nhoáng
xa hoa, những kẻ tật bệnh đói rét, những thảm trạng của đời người lần lượt
diễn ra trong trí của vị Hoàng tử. Ðang lúc ấy, một người đầu không tóc
mình khoác một manh áo xấu xí, tay chống gậy đi đến. Nhưng dáng điệu thì
uy nghi, đôi mắt thì lóng lánh như có luồng điện. Thái tử thấy trong điệu
bộ lạ lùng của người này có vẻ huyền bí, khác hẳn với những người thường
ngày đã gặp trong cung. Thái tử hỏi:
- Ông ở
đâu lại?
- Tôi ở
khu rừng ở xứ này.
- Ông
làm gì ở đây?
- Bẩm,
tôi làm kẻ tu hành theo tìm học đạo.
- Tu
hành là người thế nào?
- Là một
kẻ chuyên suy nghĩ đến những lý lẽ của mọi sự, mọi vật, để tìm tòi những
phương pháp phá hết các sự phiền muộn đang buộc con người với đời không
thiệt, được đó mất đó, để về sau hết kiếp này khỏi chịu kiếp khác.
Nói xong
ông thầy dùng phép thần thông bay bỗng lên không lẫn với màu sắc huyền ảo
của hoàng hôn.
Thái tử
mừng reo lên:
- Hay
lắm! Hay lắm! Ta quyết tu thế nào cho được cho như vậy mới nghe.
Ưu Ðà Di
và kẻ hầu đã quay về. Tuy dưới ánh nắng hoàng hôn mà ai nấy cũng đều lấy
làm lạ rằng Thái tử Thích Ca trở nên vui vẻ.
Ðêm ấy
Thái tử tâu với vua cha cho theo tu hành như ông thầy tu kia. Vua giật
mình khuyên can.
- Ai
gieo vào cho con cái tư tưởng điên rồ ấy? Con không phải là nhà vua trên
muôn ngàn dân ở xứ này sao? Bây giờ con lại làm một ông thầy tu cực khổ,
rách rưới, thì ta nhục nhã biết bao nhiêu; dòng dõi vua chúa không phải
đến đây là hết?
- Thưa
cha, công đức của cha mẹ như trời như bể. Con sống ở giữa châu báu ngọc
ngà, giữa những sự nưng niu, chiều chuộng, không còn thiếu gì nữa. Tuy vậy
bấy lâu nay con vẫn bị những phiền muộn mà không được vui gì, không vàng
ngọc gì làm khuây khỏa được. Nay tình cờ con gặp được một vị tu hành nghe
có mấy lời của người mà lòng con như cất được gánh nặng từ bấy lâu nay đèn
nén. Vậy xin vua cha cho con được xuất gia, đó là một cách yên vui hoàn
toàn vậy.
- Ta đã
hết sức chiều Thái tử, nhưng đến việc này ta không thể nghe theo. Con là
con nhà vua, con sẽ là nhà vua, ta chỉ biết có thế, con đừng xin nài gì
nữa.
Từ đấy
vua truyền lệnh cho những người hầu canh giữ trong cung rất nghiêm ngặt.
Thái tử đi đâu là người theo, tuy vậy nghĩ đến chuyện xuất gia, Thái tử
vẫn luôn luôn vui vẻ.
Ðêm nào
cũng vậy, ở các cửa thành vẫn có lệnh canh nghiêm nhặt, lại có lính đi
tuần tiểu. Thái tử Thích Ca vẫn ngày đêm lo nghĩ về kế xuất gia.
Một đêm
Thái tử đợi cho trong cung cấm không còn một tiếng động, nhẹ nhàng nhỏm
dậy khoác áo, dắt vào mình một thanh kiếm ngắn. Qua mấy cánh cửa sổ để mở,
trời đêm chỉ còn nhấp nhánh sao mờ, Thái tử vươn mình từ trên cửa sổ tầng
thứ ba nhảy xuống vườn hoa.
Thỉnh
thoảng lính hầu lại vác cung đi qua lại. Thái tử Thích Ca vừa rơi xuống
đất, thì nhún mình nhảy vào một nhóm lài để tránh những quân lính canh.
Vừa lúc ấy một bóng đen ở bên cũng nhảy xổ theo. Thái tử Thích Ca nhanh
nhẹn khóa hai tay người ấy.
- Bẩm
Thái tử, tôi đây ạ.
Nghe
giọng nói Thái tử Thích Ca nhận được tiếng của Xa Nặc, người hầu trung
thành của mình.
- Ngươi
làm ta giật mình tưởng quân gác, thế đã xong chưa?
- Bẩm lũ
kia uống rượu tẩm thuốc mê ngủ lăn ra cả. Tôi định vào đây để mời Thái tử
đi ngay. Tôi nhắm cái cửa sổ Ngài vừa nhảy qua, nhưng quân canh lúc ấy
chưa đi khuất.
- Thôi
chúng ta nhanh chân chứ, ngựa đâu?
- Bẩm
dưới cây dừa nước đằng kia.
Hai
người len qua các nhóm cây rồi lên ngựa. Trong đêm chân con ngựa của Hoàng
tử sáng lên như bốn ngọn đèn xanh. Tuy vậy lính canh không ai biết cả. Anh
nào cũng đang đánh một giấc ngủ ngon. Không mấy chốc hai con ngựa đã nện
móng trên con đường vắng vẻ ngoài thành Ca Tỳ La Vệ. Phố xá lâu đài im
lặng đang êm giấc trong đêm khuya, dưới trăng sao mờ mờ, dần dần bị bỏ lại
biến xa trong đêm mù, rồi tan mất, Thái tử vừa đến một khu rừng rậm:
- Xa Nặc
trung thành ơi, thôi anh hãy về, mang con ngựa về tặng Ưu Ðà Di vì ta
không muốn một ai theo ta vào trong rừng rú.
Xa Nặc
toan kêu nài, Thái tử bèn ra hiệu nên vâng lời về ngay.
Xa Nặc
buồn rầu dẫn con ngựa về. Lúc quay lại bóng Thái tử vừa khuất trong rừng
rậm.
Trời vừa
tảng sáng, Ưu Ðà Di nghe có tiếng gọi nho nhỏ nhưng cấp bách ngoài cửa. Ưu
Ðà Di vừa mở cửa. Xa Nặc đã hớt hải thưa:
- Bẩm cô
nương, Hoàng tử tặng cô con ngựa quý, tôi đã buộc nó ở bên ngoài, thôi xin
chào cô nương tôi đi chịu tội đây.
Ưu Ðà Di
sửng sốt níu áo Xa Nặc hỏi chuyện đầu đuôi. Xa Nặc đem câu chuyện thuật
lại, Ưu Ðà Di khóc sướt mướt, Xa Nặc an ủi:
- Thưa
cô đây là ý muốn của Thái tử, lẽ nào cô nương không muốn Thái tử vui hay
sao?
Tuy vậy
nàng vẫn không thể đè nén lòng mình, bỏ mặc Xa Nặc ngồi đấy, ra ngoài lấy
ngựa của Xa Nặc phóng như bay ra ngoài hoàng thành trước những lũ quân ngơ
ngác. Xa Nặc ngồi lại một mình lắc đầu buồn bã. Ngoài sân chim rũ lông đầy
cả lối đi.
Ba ngày
lưu lạc trong rừng rậm, người nhọc bụng đói mà vẫn không tìm được Thái tử.
Ưu Ðà Di đã ngã gục bên ngựa, một tối thứ ba, đến lúc mở mắt dậy nàng thấy
trong mình nhẹ nhõm khác thường. Một người mình trần trùi trụi không râu
không tóc, nhưng với những đường nhăn trên mặt trên mình có vẻ đã nhiều
tuổi lắm. Ưu Ðà Di bủn rủn cả người, nàng liếc thấy con ngựa của mình đang
đứng bên một gốc cây định chạy lại lấy ngựa để trốn. Người kia gọi giật
lại:
- Nàng
Ưu Ðà Di.
Nghe gọi
đúng tên mình, nàng quay lại kinh ngạc nhưng cũng cố can đảm xem thử người
nào lại biết mình.
- Cô
không nhớ tôi sao?
- Thưa
cụ tôi không được rõ.
- Nàng
không nhớ nàng đã cho tôi cơm ở nhà nàng hay sao? Nàng chóng quên thế?
Tưởng
rằng ma quỷ hiện lên ám ảnh mình vì nàng không nhớ người ấy là ai. Tuy vậy
nàng vẫn giữ lễ phép trả lời.
- Phải,
tôi biết cô đang bận tìm Thái tử phải không?
Nghe
người đoán đúng ý nghĩ mình, nàng vội kên lên:
- Cụ ơi,
Hoàng tử ở đâu cụ bảo giùm tôi. Thái tử đi lốIinào hở cụ?
- Thái
tử đã đi xa rồi cô ạ. Cô hãy ngồi yên đây rồi tôi sẽ giúp cô.
Ưu Ðà
Di vâng lời nghe theo.
- Không
giấu gì cô, tôi là một kẻ tu hành lâu năm ở chốn rừng này học được ít phép
mầu nhiệm, đã đoán biết những việc đã qua và sắp xảy đến. Ðêm qua nhìn một
ngôi sao tôi biết rằng Thái tử sẽ xuất gia, tôi rất vui mừng, vì thế nào
Hoàng tử sau này cũng sẽ là một vị đại cứu thế.
- Thưa
cụ, thế tôi có gặp được Hoàng tử không?
-
Nàng hãy yên tâm, Hoàng tử đã vào rừng sâu khó lòng mà gặp được, nhưng
nàng hãy vui đi, vì thế nào Ngài cũng thành Phật mà tế độ chúng sanh.
- Phật
là thế nào? Bẩm cụ có uy quyền, có sung sướng hơn Hoàng tử không?
- Chính
chúng tôi cũng cố tu để một ngày kia được thấy ánh sáng của Phật đây. Phật
là đức đại từ đại bi thông thuộc hết những lý lẽ cao siêu, những nguyên
nhân huyền bí để chỉ vẽ chúng ta tránh xa con đường tội lỗi khổ sở, các
ông hoàng làm sao sánh kịp.
- Thế
liệu Hoàng tử có thành Phật được không? Ngài có về với chúng ta không?
- Thế
nào Ngài cũng thành Phật, một đức Phật xưa nay chưa từng có ở thế giới
này. Thôi tôi chỉ nói chừng ấy cho cô vui, cô nên nghe tôi về ngay nhà vì
chính là lúc cô nên về theo sự suy đoán của tôi, cô hãy cưỡi ngựa chạy về
nhà đi, tôi sẽ đưa cô ra khỏi rừng này, đây mấy viên thuốc cô hãy cầm lấy
để cứu người. Bây giờ cô hãy ngậm một viên đi. Vừa ngậm xong tức thì nàng
thấy trong người vui tươi tự kiếm được lời để tự an ủi mình:
- Hoàng
tử rồi sẽ thành Phật, người sẽ về với chúng ta.
Ðến
cổng nhà, nghe có tiếng khóc mới chạy vào thì thấy mẹ và em đang ngồi bên
giường của cha. Ông cụ đang thoi thóp trên giường bệnh. Nàng cầm một viên
thuốc bỏ vào miệng cha, tức thì ông cụ mở mắt chống tay ngồi dậy tỉnh táo
như thường, nàng bèn lấy hai viên thuốc khác đưa cho mẹ và em tức thì ai
nấy đều trở nên vui vẻ.
Bà mẹ ôm
lấy em vào lòng:
- Tôi
lại gặp được con tôi vui tươi hơn trước, thật là phước quá. Nhưng làm sao
con lại về được đây?
Ưu Ðà Di
đem mọi chuyện kể lại cho cha mẹ nghe.
Hai cụ
đều tỏ vẻ sung sướng. Vừa lúc ấy, những cây cỏ ngoài vườn cũng đều reo
lên, cây khế nói:
-
Nàng đã về, nàng sẽ vui vẻ ca hát với chúng ta, ở bên gốc của ta.
Cây huệ:
- Ðêm
nay tôi sẽ nở hoa trắng mướt cho nàng vuốt ve.
Cây
hồng:
- Tôi sẽ
bíu lấy tóc nàng, nàng ơi!
Con
ngỗng:
- Nàng
sẽ chìa tay xinh đẹp của nàng cho tôi mổ lúa.
Mặt hồ:
-
Chiều chiều, nàng lại ra đây rửa chân, tôi lại được ôm bóng nàng.
Chim bồ
câu và chim chích:
- Nàng
lại cùng chúng ta hát đây.
Con chó:
-
Nàng ve vuốt tôi đi, ve vuốt tôi đi.
Con chim
từ ngày nàng rời cung điện vẫn bay theo nàng:
- Tôi sẽ
luôn luôn đậu trên cây đàn của nàng.
Ưu Ðà
Di tưởng những ngày mình sống trong cung điện bên cạnh vị Hoàng tử chỉ là
một giấc mộng xinh đẹp để điểm trang cho đời sống của mình, từ đây nàng
mới thật sống vui vẻ bên cạnh những cảnh vật lúc nào cũng âu yếm mình.
Thuật
giả: Trực Hiền
Tại Sao Phải Niệm Phật?
^
Thành
Thất La Phiệt có một ông hoàng tánh rất hung bạo. Thêm vào đó, quyền thế
và địa vị của ông có thể giúp ông thủ tiêu tội án trước pháp luật. Chưa
một lời phải, một đạo giáo nào cảm hóa được ông. Một hôm ông gặp Phật khi
Phật du hóa xứ này. Mới thấy, lòng ông bỗng cảm phục như voi dữ trước quản
tượng. Ngài có dạy ông vài lời sơ lược: “Hãy tưởng niệm Phật Ðà, hãy từ bi
thương người, sốt sắng cứu người”. Ông cung kính vâng lời. Nhưng khi về
đến nhà, vừa thấy người hành khất, ông liền đùng đùng nổi giận. Lời vàng
của Phật không còn trong lòng của ông nữa, khi ông toan đánh đuổi người.
Bỗng sực nhớ lại hình dáng từ nghiêm của Phật, ông liền dịu lại, nhưng
không bố thí chút gì. Tối hôm đó vợ ông lấy làm lạ, gạn hỏi đầu đuôi. Ông
bèn tuần tự thuật lại. Nhờ thuật lại, ông nhớ lại rõ ràng hình dung Ðức
Phật và lời Ngài dạy. Ðêm hôm ấy ông suy nghĩ mung lung. Ông nghĩ:
“Nhớ
Phật, phải nhớ đến người nghèo khổ, tưởng Phật phải tưởng đến người nghèo
khổ”. Rồi trời mới sáng ông liền đi tìm Phật. Giữa đường gặp một người
hành khất ốm liệt bên vệ đường, ông suy nghĩ, ông đến ân cần hỏi han và
dốc hết tiền túi ra cho. Người ấy e sợ, cám ơn rối rít. Nhưng ông chỉ bảo:
“Vì tưởng nhớ Phật, nên tôi giúp anh. Anh nhận tiền này khiến tôi được
phước, thế là tôi chịu ơn anh, chớ nào anh có mang ơn gì với tôi”. Người
hành khất nghe thế, lấy làm lạ, vì không lạ gì tánh nết của ông và uy danh
của Ðức Phật nữa. Bỗng nhiên người ấy cất tiếng niệm: “NAM MÔ PHẬT ÐÀ”
(kính lễ đấng Giác Ngộ). Ông hoàng cũng bất giác niệm theo và đi mau tìm
Phật. Khi gặp được Phật ông thuật lại rõ đầu đuôi mọi việc. Nghe xong, Ðức
Phật mỉm cười hiền từ bảo: “Phải! Niệm Phật, ông hãy tưởng niệm người
nghèo khổ. Tưởng niệm người nghèo khổ là tưởng chư Phật đó”.
Trích
báo: Viên Âm
Thân làm việc ích lợi
Miệng nói điều phải
Ý nghĩ những sự tốt đẹp
Như thế là niệm Phật
Tình Ân Ái Là Gốc Của Sự Sanh
Tử
^
Bóng
hồng vừa gác núi. Chim chóc từng đàn lũ lượt bay về tổ, kêu la rộn rịp.
Trên con đường mòn khúc khuỷu, các bác tiều phu vội vã cất gánh củi lên
vai trở về làng mạc. Tiếng náo động vắng dần. Quang cảnh rừng rú mỗi lúc
càng tĩnh mịch.
Thỉnh
thoảng một vài tiếng chuông chùa ngân nga từ xa vọng lại, dường như để
thúc hối những người còn chậm bước chưa ra khỏi cảnh hoang liêu ghê rợn
của núi rừng. Một vài tiếng hú kêu vang và sâu tận trong hốc núi càng làm
cho những kẻ lạc loài khiếp đảm. Các loài thú dữ đã bắt đầu cuộc săn mồi
thường bữa, chốc chốc điểm lên những tiếng rống ghê người của chúa tể sơn
lâm.
Từ trong
thảo am bên mé nói, một vị Thiền sư lưng mang dây bố, tay chống gậy tre,
lần bước trên con đường mòn, tiến dần về phía xóm nhà cạnh mé rừng. Trời
vừa sắp tối, vị Thiền sư đến nơi và đi ngay vào cổng, tìm lại nhà hai vợ
chồng vị cư sĩ đã thọ giáo với Ngài. Sau những lời chào hỏi, hai vợ chồng
vị cư sĩ trải chiếu hoa mời Ngài an toạ. Trà nước xong, Thiền sư liền bảo:
“Từ Ngày hai ông bà đã thọ giáo theo Phật đến giờ, tôi thường tới lui để
thúc nhắc. Ðộ này việc tu niệm của ông bà được khá lắm, thật tôi rất lấy
làm vui mừng. Song sự đời có hiệp phải có tan, hôm nay tôi đến đây để thăm
và cũng để tỏ lòng từ giả hai ông bà. Ngày mai này tôi sẽ lên đường đặng
đi giáo hoá một nơi khác. Có lẽ cách nhau lâu, vì vậy tôi không dám hẹn
ngày tái ngộ. Trước khi lên đường, tôi xin dặn lại ít lời rất thiết, có
thể là châm ngôn tu tập hằng ngày. Hai ông bà phải cố gắng niệm Phật đừng
để lãng quên, nếu chẳng may có gặp việc gì xảy ra chênh mếch trong gia
đình, ngoài xã hội, nên kiên nhẫn bỏ qua, tự an ủi lấy lòng. Giả như một
trong hai người lâm bịnh nặng sắp đến giờ hấp hối, người mạnh cần nhất
phải cho tĩnh tâm, sửa sang Phật tượng, hộ niệm cho nhau đến phút cuối
cùng; đừng nên than khóc, van kêu, làm cho người chết phải bối rối, loạn
niệm, khó được vãng sanh. Ðây là một việc khó, mà nhiều người tu hành đã
vấp phải. Nên tôi căn dặn hai ông bà hãy ghi nhớ. Ðược vậy, dù tôi ở cách
xa, vẫn yên hóa đạo”.
Dặn dò,
chỉ bảo đâu đó xong xuôi, rạng ngày vị Thiền sư lên đường…
Ngày
tháng qua mau, phút chốc đã được hai thu, nhờ y theo lời dạy của vị Thiền
sư mà thời gian qua, hai vợ chồng vị cư sĩ ăn ở với nhau rất thuận hòa,
hằng ngày làm phước, bố thí tụng kinh niệm Phật chuyên cần, lối xóm nhiều
người cảm mến.
Một hôm
người chồng bị chứng thương hàn đau nặng. Người vợ chạy thuốc tìm thầy đã
hết hơi mà bịnh đâu vẫn còn nguyên đấy. Cuối cùng, có một vị danh y đại
tài đã được mời đến do công lao của người anh họ chẳng ngại xa xôi rước
về. Sau khi bắt mạch xong, vị danh y bảo: “Bệnh này không qua khỏi ngày
nay, vì mạch đã hết. Vậy bà đừng nên chạy chữa làm gì nữa cho tốn công hao
của, hãy lo liệu những vật dưỡng già mà thôi”.
Người vợ
lúc bấy giờ đã tuyệt vọng, tâm thần bà rối loạn, quên hẳn lời dặn bảo của
vị Thiền sư, người chồng cứ nằm mê man mãi. Trong tình cảnh này, vì thương
chồng, vì tủi phận, ngư