Đối Thoại Thiền
Giai Không
Pháp Bảo - Sydney - Ấn hành 2004
---o0o---
Phần
2
Mùa
Xuân Giáp Thân Năm nay (2004) thời tiết Sydney có phần dễ chịu, tuy ngày
mồng một Tết trời hơi nắng gắt một chút. Ngày mồng hai mồng ba (thứ bảy)
và mồng bốn (chủ nhật) nhiệt độ xuống thấp dần chỉ còn 22oC – 25oC. Vì
thế, bà con đồng hương Phật tử tưng bừng đi chùa lễ Phật đầu năm, chúc
Tết, cúng dường, nhận lộc, ngoạn cảnh, chụp hình lưu niệm... thật là
thoải mái vui vẽ, đúng nghĩa là ngày lễ hội Xuân truyền thống.
Trong khung cảnh
rộn rịp mùa xuân chỉ diễn ra được có ba ngày và không khí ngôi Tự Viện
Pháp Bảo tại Sydney vẫn trở lại bình thường như mọi ngày trong sinh hoạt
thiền môn qui củ. Buổi sáng đại chúng thức dậy sớm sau đó tọa thiền hay
niệm Phật. Ðúng 6 giờ là thời công phu sáng như thường lệ. Nhân dịp đầu
xuân tôi đọc sách ngữ Lục Thiền Tông của Tuệ Trung Thượng Sĩ (bản dịch
Lý Việt Dũng), Giai Thoại Thiền (của Viên Ðức sưu tầm) tìm về nguồn gốc
Văn Minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học (GS Cung Ðình Thanh).
Nhân đó, tôi đọc lại sách Ðối Thoại thiền cuốn 1 xuất bản năm 1997 do
Pháp Bảo – Sydney ấn hành, và nẩy ra ý định in tiếp Ðối Thoại Thiền tập
2 cống hiến chư độc giả xa gần đang trông đợi. Tưởng cần nói rõ, đây
chưa phải chấm dứt cuộc đối thoại mà tôi hy vọng tập 3 sẽ được hình
thành, nếu đủ sức khỏe và điều kiện. Sách Ðối Thoại Thiền sẽ thực hiện
in ấn vào mùa Phật Ðản năm nay (2004), Phật lịch 2548, như một kỷ niệm
đón mừng ngày Ðản sanh đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, hồi hướng công
đức dâng cúng dường Tam Bảo mà bút giả đã thừa hồng ân chư Phật, chư Tổ
đức được đi trên đoạn đường dài phụng sự chánh pháp trải qua gần 50 năm
xuân thu tuế nguyệt, qua vài nhận định của người vun chí nguyện phát tâm
xuất gia:
- Dấn thân đi
trên con đường nghịch chiều với cuộc đời
- Mọi gian khổ
thử thách không làm chùn bước mà vẫn kham nhẫn trong sự tinh tấn không
ngừng.
- Như kẻ cầm
đuốc đi ngược gió, nếu lơ đễnh sơ hở ắt bị nạn cháy tay
- Thực hành hạnh
nguyện Bồ Tát đi vào đời với tâm vô úy, thay chúng sanh chịu khổ nhục,
và đón nhận cái vui sau khi thấy tất cả an lạc hạnh phúc.
- Nhà mô phạm
đầy sáng tạo làm gương mẫu cho các thế hệ đến sau tiếp tục lên đường
phụng sự tha nhân.
- Viên tướng
soái oai dũng đi tiên phong thắng lướt trong mọi hiểm nguy đe dọa, qua
bao lằn tên mũi đạn.
Cũng trong tinh
thần đó, tôi luôn luôn theo đuổi 10 pháp cần hành như sau:
1- Mỗi ngày hai
thời công phu sáng chiều chưa hề gián đoạn trừ khi bịnh duyên hay bận đi
Phật sự xa. Nếu đi tới một đạo tràng nào qua đêm thứ hai, tôi đều phải
theo chúng công phu sáng đầy đủ. Thời công phu theo tôi quan niệm như
cơm bửa. Hôm nào không dùng bửa cảm thấy như thiếu một cái gì và do vậy,
thiếu thời công phu sáng mỗi ngày cũng y hệt như vậy. Thói quen tự động
nầy vô cùng quan trọng đối với tôi, đến độ tôi không cần đồng hồ báo
thức vẫn thức dậy đúng giờ như thường. Một điểm tế nhị hơn mà tôi không
dám khinh suất, đó là chư vị Long thiên hộ pháp luôn luôn có mặt thủ hộ
ngôi già lam (tự viện) và các thiên thần đều đến nghe pháp. Vì lẽ, tụng
kinh không riêng cho người sống nghe, người quá cố cũng được thừa hưởng
công đức nữa, và cả chư vị thần thánh cũng tới dự pháp hội mà những câu
trong bài sau đây để thí dụ chứng minh.
Thiên, A Tu La,
Dược xoa đẳng
Lai thính pháp
giả ưng chí tâm
Ủng hộ Phật pháp
sử trường tồn
Các các cần hành
Thế Tôn giáo
Chư hữu thính đồ
lai chí thử
Hoặc tại địa
thượng hoặc hư không
Thường ư nhơn
thế khởi từ tâm
Trú dạ từ tâm y
pháp trụ ...
(Trời, A
Tu La và Dược Xoa thảy
Những kẻ
tới nghe pháp nên chí tâm
Ủng hộ
Phật pháp để được trường tồn
Mỗi vị
hãy thực hành lời Phật dạy
Chư thiện
hữu thính chúng tới nghe pháp
Hoặc trên
đất liền hoặc ở hư không
Hãy vì
nhân thế khởi phát từ tâm
Ngày đêm
nương từ tâm mà an trú...)
Ứng dụng câu:
“Bồ Ðề tâm kiên cố, phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, hằng
hoạch kiết tường” (giữ Bồ Ðề tâm luôn được vững bền, dứt sạch phiền não,
tiêu trừ nghiệp chướng, luôn được an lành); người xuất gia mới thấm thía
ý nghĩa thoái Bồ Ðề tâm là thế nào. Từ thoái Bồ Ðề tâm rất hay và nó có
một giá trị nhứt định đối với người đệ tử Phật chung cả hai giới xuất
gia và tại gia. Không những kẻ phàm tăng thoái tâm mà ngay cả hàng Thánh
giả từ hàng sơ địa đến cửu địa (trong thập địa Bồ Tát) vẫn thoái tâm như
thường. Thế nên ca dao Việt Nam có những câu thật súc tích diễn đạt dòng
tâm lý đa dạng này của con người như sau:
Thức
khuya mới biết đêm dài
Tu lâu
mới biết ai người hữu duyên
Hay câu tục ngữ
diễn theo lối nói bình dân ý tương tự :
"Ðoạn trường ai
có qua cầu mới hay".
Tuy nhiên, câu
tục ngữ có thể hiểu theo một khía cạnh khác, tùy hoàn cảnh và tâm lý của
từng trường hợp theo nghĩa tiêu cực. Ở đây rút tỉa kinh nghiệm chính bản
thân và chắc chắn có phần chủ quan, nên không hẳn là mô thức cho mọi
người phải theo trong cuộc hành hoạt để làm thăng hoa đời sống, nhất là
đời sống nội tâm, cần đòi hỏi ở hành giả nhiều hy sinh dấn thân trong
tinh thần tự nguyện và giàu dũng lực để đánh bạt tất cả nội chướng
(phiền não, nghiệp lực, sở tri...) và ngoại ma (tiền tài, sắc đẹp, danh
vọng, ham thích ăn ngon mặc đẹp...). mới đủ ý chí khắc phục được mọi
tình huống, hoàn cảnh. Sở dĩ đạt được tâm nguyện như vậy là nhờ tôi luôn
luôn tự cảnh giác như thế này : “Vào giờ này mọi người phải vùng dậy đi
làm kiếm tiền sinh sống, tại sao ta nằm đây? Hôm nay tuyệt thực hay sao?
”. Nhờ đó tự sách tấn nên chưa hề thất thố bao giờ cho dù việc nhỏ.
2- Việc ưu tiên
giải quyết trước: có nghĩa là việc nào sắp đặt trước thực hiện trước,
việc sau thực hiện sau. Tuy cũng có trường hợp phải biết thích thời bằng
sự cân nhắc chọn việc ưu tiên làm trước mà trong đời có những việc ta
không dự liệu trước được. Thấy có nhiều người việc nào cũng nhúng tay
vào làm cả, kết quả chẳng việc nào ra việc nào hết. Chi bằng ta chỉ làm
một việc cho xong mà chắc chắn thành công đem đến lợi lạc và niềm hoan
hỷ cho mọi người vẫn hơn là ôm đồm nhiều việc cùng một lúc rồi không làm
được việc nào cả
3- Ngăn nắp thứ
tự: từ giấy tờ, đồ đạc, hứa hẹn, tiền bạc v.v... đâu ra đó không lẫn
lộn, quên sót. Vì thế mà không hay ít khi bị ai trách cứ (trừ người khó
tánh). Ðây là một điểm nổi bật thành công trong mọi việc, nhất là trong
thương trường hay trong phạm vi học đường. Vì được mọi người tin tưởng ở
khả năng làm việc, cách điều hành và tài quản lý của người có trách
nhiệm biết lo liệu công việc.
4- Làm việc như
sở thích: tức là tìm được thú vui trong công việc do ta tự sắp xếp mà
không phải người khác ép buộc làm. Thật vậy, công việc do ta đề xướng và
đeo đuổi đến nơi đến chốn cho tới thành công cũng mang lại cho ta nhiều
phấn khởi và hăng say để tiếp tục cống hiến tài năng và sức lực vào việc
lợi ích chung.
5- Làm việc như
bổn phận: tự thấy có bổn phận mới hết lòng lo công việc được chu đáo,
đạt đến hiệu quả tốt. Người không có trách nhiệm và bổn phận như khách
qua đường, không để ý tới những việc chung quanh, vì nghĩ đã có người
khác lo nên không cần quan tâm tới. Mỗi người nên tự xét thấy có bổn
phận như người cha, người mẹ trong gia đình; vị thầy cả trong ngôi tự
viện, ông giám đốc của một hảng xưởng v.v... để chu toàn trách nhiệm và
bổn phận .
Trên mọi lãnh
vực của đời sống, nếu mọi người ai cũng biết nhìn theo chiều hướng xây
dựng hẳn việc nào chúng ta cũng đạt đến thành công tốt đẹp.
6- Lời hứa như
mũi tên đã buông không thể rút lui được nữa; khi đã hứa với ai một việc
hay điều gì phải gắng giữ lời cho trọn vẹn, đừng để người ta nghi ngờ
khả năng và thiện chí ta. Như đã hứa mà giữa chừng tính không xong, cũng
phải tìm mọi cách thỏa đáp, không nên bỏ dỡ dang việc và tìm cách né
tránh, đỗ thừa qui kết cho người khác là không được.
Cho dù mình ta
phải chịu thiệt thòi quyền lợi hay ngay cả bị thiệt hại về danh dự và kể
cả tánh mạng cũng phải hy sinh cho người khác, không so hơn tính thiệt
để nuốt lời hứa. Một người đã thất hứa một lần chắc hẳn không ai tin
tưởng, nếu thất hứa nhiều lần hẳn bị mọi người tẩy chay và xa lánh.
Người học Phật giữ đúng hạnh nguyện Bồ Tát trong sứ mạng độ sanh, dứt
trừ phiền não, quyết học giáo pháp giải thoát và nguyện thành đạo để lợi
lạc hữu tình.
7- Nghiêm khắc
với chính mình: tự răn nhắc mình trong mọi trường hợp và hoàn cảnh.
Không dễ dưng rồi đi tới chỗ buông lung phóng túng cách tệ hại, lố bịch
và gây ra những phiền não khổ đau, chua xót, phẫn hận, thù hiềm, không
tốt cho chính mình và cho mọi người chung quanh; rộng hơn là cho xã hội,
quốc gia.
Nghiêm khắc
không đồng với khắc khổ, tuy có một vài điểm tương đồng nhưng hoàn toàn
khác nhau. Người biết nghiêm khắc với chính mình là người luôn đề cao
cảnh giác niệm vô minh và tự thiết lập "Bộ Quốc Phòng" để phòng vệ bốn
ma binh rình rập xâm nhập (ma phiền não, ma ngũ ấm, thiên ma, tử ma) tâm
thức bất cứ lúc nào ta lơ đễnh bỏ ngõ.
Phải luôn luôn
dùng giới luật để răn nhắc mình trong từng giây phút
8- Thấy sai chỉ
ngay không nể vì: người trực tánh dễ gây phật lòng người khác ở chỗ ưa
nói thẳng và chỉ ngay những sai trái lỗi lầm của người, không sợ mích
lòng, kể cả những vị cao niên, các bậc tôn đức, hể sai lầm liền bị chỉnh
mà không đợi bất cứ một dịp nào khác. Ðiều này làm cho có nhiều người
không thích nhưng đối với những ai thích học hỏi và cầu tiến bộ nên cám
ơn người chỉ ra lỗi lầm của mình để một ngày kia sẽ được hay hơn, giỏi
hơn và sống có chiều sâu hơn.
Người sống gần
người trực tánh sẽ tự luyện cho mình tánh kiên nhẫn chịu đựng và lấy đó
làm thước đo giá trị thực ở đời.
9- Ðược khen
ngợi không hãnh diện, tự hào: kẻ nào thích được tâng bốc tán dương là
người mang tính tự kiêu rất lớn. Tánh tự kiêu đâm ra ngã mạn hay tự hào
và hiêu hiêu tự đắc không cho thiên hạ ai ra gì cả. Có nhiều lúc được
người khác mời hợp tác những công việc quan trọng hàng đầu, ta nên lượng
sức và tài năng mình. Cũng như nên tự hỏi: mình thật có tài nhận lãnh
vai trò đó không? Phải chăng người ta cố gài mình để họ dễ lung lạc hay
đứng ngoài "thọc gậy bánh xe"? Nếu xét thấy vị thế ấy thích hợp với sự
ân cần mời gọi do thật tâm của bạn bè hay pháp lữ hoặc sư trưởng. Ta
cũng không quá nguyên tắc từ chối thẳng thừng làm cụt hứng họ mà phải
biết uyển chuyển cho khéo léo để giữ được mối liên hệ lâu dài.
10- Luôn luôn
cẩn trọng khi được đề cử, cất nhắc: một khi thấy khả năng làm việc hữu
hiệu của ta, người khác mới đề cử vào một vị trí quan trọng hoặc cất
nhắc ta từ một địa vị thấp lên một bậc cao hơn. Dù được người khác tín
nhiệm cũng phải hết sức dè dặt cẩn trọng. Không vì vội vàng hấp tấp mà
làm hỏng cả một công việc lớn hay làm ảnh hưởng không tốt cho tương lai.
Người háo danh thường hay mắc phải lỗi lầm nghiêm trọng khi đang giữ một
địa vị quan trọng là muốn chứng tỏ cho kẻ khác rõ mặt ta đây có quyền
hành thế này thế nọ.
Hãy cùng suy
nghĩ để học hỏi câu tục ngữ này: "mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"
hầu tránh những cạm bẫy cho những ai nông nỗi dễ vướng mắc.
Ngày nay chúng
ta đang ở vào thế kỷ thứ hai mươi mốt, mọi mặt tiến bộ vượt bực, về kỹ
thuật, truyền thông và nhất là mạng xa lộ thông tin – internet – toàn
cầu. Chúng ta giống như những tài xế lái xe giữa xa lộ, ai cũng phải lái
nhanh, nếu không muốn gây ra tai nạn không cần thiết. Thật cũng khó mà
hiểu nổi có người không thích như vậy mà muốn đi ngược lại thời xa xưa
về trước. Ðây chính là sự thật của một số ít người và trong số có tôi,
thấy hay hay nên giữ mặc cho có người chê trách thế này thế nọ, kể cả
hàng môn đệ tôi cũng không hiểu nổi thầy mình nữa. Ðây là 10 KHÔNG mà
tôi cố theo đuổi trong suốt quảng đời hành đạo. Ðó là:
1- Không điện
thoại cầm tay (mobile phone); thời đại tín học ngày nay, hầu hết mọi
người ai nấy phải có điện thoại cầm tay để liên lạc khi cần thiết, kể cả
học sinh tiểu học cũng biết xử dụng loại phương tiện thông tin tối tân
này. Người ta dùng nó như món đồ trang sức để liên hệ trong nhiều lãnh
vực, mục tiêu. Hơn 20 năm về trước vào thập niên 80, người nào xử dụng
mobile phone xem như oai phong lịch lãm lắm. Lúc đó giá thành của một
chiếc điện thoại loại thường cũng từ 500 đô trở lên, còn loại tốt liên
lạc được nước ngoài giá phải từ 1000 đến $ 2000USD. Ðến thập niên 90
giá mỗi chiếc điện thoại hạ thấp xuống còn chỉ $100 tới $300 mà thôi. Và
trong vòng 10 năm tới 5 năm trở lại đây, điện thoại cầm tay được tặng
miển phí.
Không phải vì
giá điện thoại đắc tôi không xài, giá rẻ cũng không xài và ngay cả biếu
không tôi cũng làm lơ không xài. Ðó mới là vấn đề để quý độc giả suy
nghĩ. Vào tháng 12 năm 1999, lúc đó tôi đảm nhận vai trò Tổng Thư Ký Hội
Ðồng Ðiều Hành Giáo Hội Phật Giáo VNTN Hải Ngoại tại Úc Ðại lợi – Tân
Tây Lan. Vừa được bầu chức vụ mới ngày hôm trước, qua bửa sau các đệ tử
tôi qua câu chuyện xây dựng và phát triển tổ chức, đề nghị tôi nên sắm
một điện thoại cầm tay cho tiện việc liên lạc. Tôi không chấp thuận mà
cũng không phản bác, với thái độ làm thinh. Tưởng tôi thuận theo đề
nghị, nhưng sau vài tuần thấy tôi không có gì thay đổi, cũng với mobile
phone nhưng đệ tử tôi đề nghị khác như thế này: Thầy không cần mua điện
thoại, nếu thấy không thích con muốn Thầy xử dụng điện thoại của con mỗi
khi thầy rời khỏi chùa để mọi người dễ tiếp xúc lúc cần công việc Phật
sự của Giáo Hội cũng được giải quyết nhanh và có hiệu quả. Qua nhiều lần
đề nghị xử dụng điện thoại cầm tay của những đệ tử thân cận tôi vẫn
không dùng tới mãi cho tới nay, sau nhiều năm làm việc Giáo Hội. Vào một
ngày mùa xuân năm 2003, Ðại Ðức CK nói với tôi bằng cả tấm lòng chân
thật như thế này:
- Mãi tới nay
con mới thấy Thầy không xử dụng mobile phone là đúng, vì nó có một số
vấn đề mà chỉ người dùng nó mới phát hiện được nhược điểm của việc "lợi
bất cập hại" ra sao. Và Ðại Ðức còn nói tiếp:
- Con ôm điện
thoại mà không turn on (mở) cũng xem như không có điện thoại rồi còn gì
nữa. Vì đang lái xe nghe điện thoại là bị cảnh sát phạt nặng đấy. Và còn
không ít những bất tiện khác nữa.
Nêu lên điểm
này, tôi tin chắc một điều rằng tôi mạnh dạn nói ra sự thật và không rõ
nó tốt hay xấu. Thôi tốt xấu mặc kệ, chấp nhận theo đuổi là được nên tôi
ghi nhận điều này: việc làm của tôi, tôi không muốn thuyết phục ai theo,
kể cả môn đệ vì tự nghĩ không muốn cầm cái điện thoại nói chuyện ôm sát
vào tai coi ra nó không đẹp một chút nào. Lý luận này chỉ tôi và tôi tin
chắc có nhiều người không đồng ý. Và biết đâu có người lại cười thầm,
hay còn gì gì nữa. Miển sao tôi cảm thấy an lạc không bị chi phối bởi
những phương tiện nhất thời vào cuộc đời tu niệm là đủ rồi.
2- Không thẻ tín
dụng (credit card): từ khi thẻ tín dụng lưu hành phổ thông để mọi người
dùng nó như là mode thời trang mới, có nhiều điều tiện lợi cho việc đi
mua sắm, trả tiền qua thẻ mà không phải mang theo mình một số tiền cồng
kềnh có nhiều lúc cũng rất nguy cho tánh mạng nữa. Tuy nhiên, các phương
hại của thẻ tín dụng đưa đến cho người xài cũng không phải ít mà nhiều
khi còn gây ra thêm rắc rối, đau buồn, gây gỗ, chia ly, nợ nần chồng
chất, do ta không kiểm soát được hay không tự chủ lấy mình mà có lắm
ngườøi tan nhà, mất hạnh phúc cũng vì phóng tay xài thả cửa, vì không tự
chế được lòng tham, cho đến khi phát hiện ra đống nợ đồ sộ mới đâm hoảng
hốt tìm cách chữa. Ðợi tới lúc cháy nhà mới lo phòng hỏa, dù có phương
cách khéo, kỹ thuật cao đến đâu cũng không còn kịp nữa. Thế còn người
chủ trương không xài thẻ tín dụng cũng đâu phải đã hay hơn, vì không tự
kiểm soát được mình và thấy được điểm dỡ, thế yếu mới lo tìm cách tránh
trước thế thôi. Bản thân tôi không xử dụng thẻ credit card, nhưng tôi
không bài bác, ngăn cản hay chỉ trích người xài loại phương tiện tối tân
này theo trào lưu mới. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh tới chữ "phong trào"
xài thẻ cho nó hợp thời một chút. Nhất là giới thanh thiếu niên nam nữ
ưa xài thẻ tín dụng hơn cả. Người nào cũng có lý do và lập trường của
mình, miển đừng phạm đến tự do và quyền lợi của người khác, cũng như sự
ích lợi chung là được.
Tôi là ông thầy
tu từ nơi "gốc rạ chun lên" tôi tự cảm thấy kém tân tiến cho tới thế kỷ
hai mươi mốt hôm nay. Mặc cho dư luận thế nào tôi vẫn là thầy tỳ kheo
trên mình mặc 3 y, theo hạnh nguyện của Phật, chư Tổ để tìm vui trong an
lạc giải thoát.
3- Không có danh
thiếp: tấm danh thiếp (business card) hay gọi nôm na là thẻ nghề nghiệp,
card thương mại mà trên đó có ghi tên, điạ chỉ, chức vụ để mỗi lần gặp
khách hay bạn bè là trao đổi cho mọi người biết tới ta. Việc này đã trở
thành rất phổ thông trong xã hội chúng ta đang sống ngày nay, từ Ðông
sang Tây, từ Nam chí Bắc ai cũng lấy làm quen thuộc cách thức này. Gọi
danh thiếp có hai phần: danh là tên họ, và thiếp là địa chỉ, tên đường,
số nhà (cơ sở), số điện thoại, số fax, email, website, ngay cả các chức
vụ đang đảm trách. Ðây được xem như là một hình thức quảng cáo hữu hiệu
nhất, vì nó rất tiện lợi là nhiều người biết tới dịch vụ của ta. Còn tôi
là một nhà tu, tại sao phải quảng cáo nghề tu của mình? Hay là muốn cho
mọi người biết tôi đang là Viện Trưởng, Trụ trì, Chủ Tịch, Giám Ðốc
v.v... của một tự viện lớn, một cơ sở đồ sộ chăng? Những tước hiệu ấy
đối với tôi đâu có gì quan trọng. Không quan trọng không phải tôi không
với tới được mà vì tôi không thích thôi; và dĩ nhiên nhận xét này chỉ
riêng tôi chứ không làm va chạm người khác. Nếu quan niệm tu là một
nghề, và những ai chọn, đó như một cái nghề để sinh sống thì thật quả vô
cùng tệ hại cho đạo pháp và con người ở hiện tại và trong tương lai .
Ðôi lúc tôi bị
khách hỏi xin tấm danh thiếp mà không có cũng cảm thấy hơi quê một chút,
nhưng lâu ngày cũng thành quen và nay mọi người hầu như ai cũng rõ. Ðó
là một việc tuy nhỏ, nhưng có người không chịu bỏ qua; còn tôi thì vượt
qua tất cả, ngay như những lời chỉ trích cũng không hề nao núng nản
lòng.
Tấm danh thiếp
không có trong túi xách hay đúng ra tôi không dùng nó cho đến bây giờ và
mãn đời tu cũng là điều dễ hiểu. Nếu có người hiếu kỳ thắc mắc muốn
biết tại sao; xin thưa, tại tôi là nhà tu hành đã khác đời nên không
thích làm những việc như người đời.
4- Không lái xe:
Có xe không lái, có bằng lái không xài, đây mới là chuyện lạ không thể
ai cũng hiểu được trong môi trường của xã hội hôm nay.
Có xe
không lái
Bằng lái
không xài
Ðường dài
không chạy
Chưa hẳn
đã hay
Việc lái xe như
là phương tiện đi lại trong các đô thị tân tiến đều được mọi người tán
đồng và đôi khi còn cổ võ đôn đốc nữa, và tôi cũng vậy. Ngày còn ở Việt
nam vào thập niên 60, tôi lái xe Honda đi học, đi dạy học và hoằng pháp
cũng bằng chiếc xe con khiêm tốn. Khi sang Nhật du học thập niên 70, tôi
dùng phương tiện đi lại bằng xe lửa. Ðến khi qua Úc thập niên 80 và mãi
đến năm 2000, tôi dùng đủ mọi loại phương tiện: xe bus, tàu lửa, xe
hơi... Nói nghe cho oai chứ kỳ thật xe hơi tôi chỉ đi ké đi nhờ người
khác lái chở đi, còn riêng tôi đâu có lái xe hơi bao giờ, mặc dù có bằng
lái loại top (golden licence) cũng chỉ để làm kiểng chơi mà không có xài
tới. Không lái xe có đôi khi cũng vất vả lắm, nhất là lúc cần đi việc
gấp lại không nhờ được người lái, còn khi thường muốn đi lại nhờ vả
nhiều quá cũng làm người khác phiền lòng thì không nên. Ai cũng nghĩ:
Thầy không cần phải lái xe, vì đi đâu đã có đệ tử lái giúp. Vì thầy đông
thiếu gì đệ tử muốn giúp công quả chở thầy, đi tới đâu lại chẳng được.
Thế nhưng quý vị có biết không, tôi vẫn thường xử dụng phương tiện
chuyên chở công cộng xe bus, xe lửa v.v... như thường! Việc làm nầy của
tôi nhằm mục đích để học hỏi và quan sát tận mắt mọi sinh hoạt của mọi
người trong cuộc mưu sinh chạy đua ngoài xã hội. Có nhiều người hỏi: tại
sao Thầy không lái xe?
- Câu trả lời
đơn giản của tôi là tôi không lái vì không thích lái xe, thế thôi. Tuy
cũng có những lý do tiềm tàng, nên không thể ghi kể hết được ra đây.
Theo tôi, không lái xe là một cái thú để được người khác chở và nhìn
người khác lái mình đi. Cũng như trái sầu riêng là món khoái khẩu của
nhiều người; thế nhưng có người nghe mùi sầu riêng là chịu không được
phải lánh đi nơi khác. Lại có người không thích giá đậu xanh và tìm cách
loại bỏ khỏi món ăn, người không thích măng hễ ăn vào là bị đau nhức
mình mẩy v.v...; cũng là một lý do chính đáng mà mọi người phải tôn
trọng quyền tự do của kẻ khác. Và ở đời này còn có muôn ngàn điều, việc
thích hợp người này lại trái nghịch với người khác mà ta không biết phải
giải thích làm sao, hay đúng ra không cần phải giải thích chi cho thêm
phức tạp, khó hiểu. Chỉ người trong cuộc mới đáp án đúng nguyên nhân của
việc mình làm và chủ trương theo đuổi mà thôi. Ở đây tôi bật mí không
lái xe cho quý thiện hữu tri thức rõ được đôi điều về việc làm này của
tôi từ lâu nay như sau.
- Nhà tu hành
không tiện để tình cảm mình lao theo đầu máy xe lúc nóng lúc nguội bất
thường được .
- Lái xe thế nào
cũng phạm lỗi lầm mà phạm nhiều lần càng làm tâm trí ta bất an rối loạn.
- Lỗi nhẹ có thể
dễ bỏ qua, còn như phạm tội hẳn có luật pháp xử phạt điều tra.
- Không muốn để
cảnh sát sưu tra lý lịch - một việc không cần thiết. Vì đã chắc gì ai
dám bảo đảm lái xe an toàn một trăm phần trăm đâu !
Thật quả đúng
như chủ trương của tôi sau nhiều năm không lái xe; tôi mới có được sự an
nhiên và hoàn toàn tự do tự tại một cách tuyệt đối. Nói vậy, cũng chưa
hoàn hão, có người sẽ vặn hỏi: nếu nói như kiểu thầy thì ai lái xe để
thầy đi đây đi đó? Chẳng hóa ra người tài xế giúp thầy khờ lắm sao và
tất cả những ai biết lái xe đều nằm trong thế bị quy kết như đã nêu trên
chứ gì?
Nếu cứ phải lý
luận, chắc chắn một điều là không bao giờ tìm ra được đáp số đúng nhất
cho vấn đề được nêu ra đâu. Chi bằng ta nên chấp nhận một giải pháp
tương đối; tất cả chúng ta ai cũng có phần đúng và có phần sai. Biết
đúng nên giữ, biết sai nghĩ là sai nên tìm cách sửa lại cho đúng, là
người muốn cầu tiến trong tinh thần học hỏi đáng trân trọng.
5- Không thuốc
lá, cà phê: hút thuốc, uống cà phê cũng là một cái thú của người ghiền,
kể cả uống trà loại đắc tiền hạng sang trọng. Có người mỗi lần cơm nước
xong phải có điếu thuốc nếu không bị lạt miệng như thiếu một cái gì đó.
Ấy là chưa nói nhiều người cứ hút liên tục hết điếu này sang điếu khác
suốt ngày, hết ngày này qua ngày khác, đến đổi nhựa vàng cả mấy đầu ngón
tay. Khói thuốc xông lên người kế bên không thể nào chịu nổi.
Hút thuốc nhiều
có những điểm hại sau đây:
- Mùi khói hôi
hám khiến người không biết hút thuốc khó chịu tránh né và có khi gây ra
mất hòa khí với nhau.
- Tốn tiền vô
ích, thuốc như một loại xa xí phẩm; vì thế Bộ Thương mại Chính phủ Úc
đánh thuế rất nặng vào món hàng này để làm giảm bớt người tiêu thụ.
- Cấm hút thuốc
tại một số nơi như văn phòng làm việc, trên phi cơ... Ngày nay hầu hết
các hảng máy bay đều nghiêm cấm hành khách hút thuốc, kể cả hút lén
trong cầu tiêu cũng không được.
- Gây ra bịnh
nám phổi có hại cho sức khỏe mà người lớn tuổi khó trị liệu.
Ðó là một số
những phương hại của thuốc lá mà ai cũng nhìn nhận thấy rõ và ngày nay
khoa học, y khoa chứng minh không còn là điều bí mật nữa.
Còn với riêng
tôi không hút cũng có nguyên nhân, như sau:
- Nhà tu hành
cầm điếu thuốc phì phà nhả khói trông mất oai nghi không đẹp chút nào
- Tiền mua thuốc
do Phật tử cúng dường chi tiêu việc khác; xài đồng tiền không đúng chỗ
cảm thấy trái với lương tâm
- Thứ gì nữa còn
xả bỏ được, thế tại sao không bỏ thuốc được? Chẳng qua do mình muốn tập
thói quen và muốn duy trì một việc không được tán đồng và ai cũng không
ưa thích.
- Mùi hôi của
thuốc làm cho miệng, quần áo và tay cũng hôi lây. Thế thì tiếp khách,
người Thầy phải ăn nói sao đây.
Còn cà phê, trà
là thú tiêu khiển đâu có tác dụng hại cho sức khỏe mà lại không xài; có
phải chăng mất đi một phần ý nghĩa cuộc đời?
Thú tiêu khiển
có nhiều loại, loại cho giới bình dân và cho người thanh lịch; có những
thú tiêu khiển thấp kém hèn hạ như cờ bạc, rượu chè, đỉ điếm v.v... cà
phê, trà tuy không nằm trong những thú tiêu khiển thấp kém, nhưng không
biết dùng chúng hay xử dụng thái quá cũng gây ra những tác dụng có hại
nhiều mặt.
Người dùng lượng
cà phê nhiều quá, lâu ngày chất cocaine dễ làm cho nhịp tim khó hoạt
động, nhất là đối với người ghiền cà phê đậm dùng nguyên chất đen không
pha chế thêm chất ngọt như sữa, đường. Riêng về trà, nếu biết thưởng
thức với một trình độ cao sẽ đạt đến môn nghệ thuật như người Nhật qua
trà đạo, hay thiền gia có môn thiền trà. Ai dám bảo những môn nghệ thuật
thanh tao như thế là sa đọa, kém cõi, thấp hèn? Tôi không thích uống trà
kiểu cách, tuy vẫn biết thưởng thức loại trà ngon dỡ, vì mỗi lần uống
trà cho đúng điệu phải cần thời gian pha chế, cần người đối ẩm. Tôi
không muốn tiêu phí thì giờ vào mấy thú tiêu khiển lỉnh kỉnh đó. Mặc dù
ở chùa vẫn đủ những bộ tách trà, bình pha trà; tuy có thiếu đồ gắp trà,
thìa múc trà, oản trà, trà vương...
Họa hoằn lắm tôi
mới phải dùng tới mấy món đồ trà kiểu cách đãi khách quý phương xa tới
viếng thăm, đàm đạo, trong số có những pháp lữ lâu năm xa cách, nay gặp
lại mới mượn chung trà làm mối giao hão đạo tình. Cũng có trường hơp các
vị Thầy cao tuổi, họ rất cần, sống theo phong vị chung trà để tìm lại
những kỷ niệm xưa mà vui qua ngày tháng nhìn đàn hậu tấn tiến lên,
trưởng thành. Còn loại tiêu khiển thanh cao cũng có rất nhiều thứ như:
- Ði dạo công
viên ngắm cảnh, xem hoa nở, nghe chim hót và quan sát thế giới đa thù
của loài côn trùng như sâu, kiến, ong, bướm... sinh hoạt cũng không kém
phần rộn ràng như loài người không khác.
- Làm vườn,
trồng cây, tưới nước... để vừa thưởng thức công việc đang làm, vừa quan
sát cây cảnh xanh tươi đơm hoa kết trái mà vui sống với thiên nhiên tạo
vật .
- Ðọc sách cũng
là một thú vui tuyệt hảo đối với người nào muốn như là con mọt sách, nhờ
đó tìm thấy chân hình của nhiều biểu tượng không thời của quá khứ, hiện
tại, vị lai.
Ðề cập tới sách,
đối với tôi, là món ăn tinh thần bổ ích. Chung quanh phòng tôi vách
tường nào cũng đầy sách kín cả. Ðến đổi, các đệ tử lo lắng cho sức khỏe
và sự an toàn của tôi, đề nghị giải tỏa mấy kệ sách. Nhận thấy sự quan
tâm này đúng, tôi đã cho dời sách vỡ sang phòng bên cạnh từ vài năm nay.
Dĩ nhiên thú tiêu khiển cũng đa dạng, còn nhiều loại khác nhau như bơi
lội, leo núi, picnic, chèo thuyền, tắm hồ, vv... thật là muôn màu nghìn
vẻ, dồi dào đầy đủ. Tùy sở thích mỗi người chọn lựa để tìm vui trong
thanh thoát nhẹ nhàng.
Thay vì:
Hớp ngụm
cà phê đậm
Nhâm nhi
tách trà nóng
Ngồi phì
phà khói thuốc
Theo từng
nhịp thời gian...
Tôi dành thì giờ
vào việc đọc sách, làm vườn nhất là đi bộ mỗi ngày vào buổi sáng, ít
nhất cũng từ 45 phút đến một tiếng đồng hồ. Nhờ tập quen như thế, sức
khỏe có phần gia tăng, tâm luôn an lạc và thư thái, không vướng bận thời
gian, công việc và còn nhiều nữa...
Chỉ nêu vài cái
KHÔNG như vậy chắc cũng đã khó với nhiều người không theo được, huống gì
hơn nữa; nhưng với tôi đó chỉ mới hơn phân nửa, áp dụng vào đời sống còn
nhiều hơn thế nữa không phải kể những điểm tiểu tiết e thêm rườm rà.
6. Không trể giờ
giấc; trên thế giới ngày nay hai dân tộc đúng giờ nhất là Ðức và Nhật.
Nhờ sống và học ở Nhật tôi theo tinh thần đúng giờ giấc như người Nhật.
Sang định cư tại
Sydney năm 1981, đầu tiên tôi họp một số Phật tử trong Ban Ðiều Hành Hội
Phật Giáo lại và lưu ý hai điều: thứ nhất, tôi tiếp tục hợp tác, nếu số
người vẫn ủng hộ có trên 5 người, và thứ nhì, giờ giấc phải chính xác
đúng. Tuy nhiên, tôi cũng qui định cho mọi người theo giờ dây thun (co
dãn) trong vòng nửa năm. Từ lễ Vu Lan năm 1981 đến nay, (2004) các buổi
lễ lớn nhỏ tại chùa Pháp Bảo hầu như diễn ra đúng giờ.
Những sinh hoạt
hằng ngày tại chùa cũng áp dụng giờ giấc nhất định: thời kinh sáng lúc 6
giờ, điểm tâm 7giờ, học tập 9.00 giờ, ngọ trai 12 giờ. Những năm sau này
có thay đổi giờ theo mùa vì tiểu bang New South Wales theo chế độ saving
time – vặn giờ lên một giờ hay vặn giảm xuống một giờ (tháng 3 và tháng
9) đầu mùa thu và đầu mùa xuân, nghĩa là từ tháng 3 đến cuối tháng 8
(Thu Ðông) trời mau tối, nên buổi chiều giảm lại nửa giờ thay vì 6 giờ
dùng cơm chiều đổi thành 5.30 giờ; thời Tịnh Ðộ lúc 7 giờ, thay vì 7 giờ
30 phút. Aùp dụng giờ giấc chính xác lâu thành quen dần, nay nghe nói
chùa Pháp Bảo tổ chức lễ, khách lo đến đúng giờ và nhờ tinh thần tự
trọng đúng giờ như thế mà mãi tới nay ai cũng biết Phật sự tại chùa cũng
như mọi sinh hoạt lễ lược quanh năm khác.
Tưởng cần nói
thêm về thói quen, theo Duy thức học phân biệt thành hai khía cạnh: huân
tập và tập khí.
- Huân tập là sự
chăm sóc, tưới tẩm như người trồng cây săn sóc cây cối; người nông phu
chăm lo mùa màng.
- Tập khí là sự
xông ướp để tạo nên một khí chất nào đó, có thể thiện hoặc bất thiện.
Thí dụ: hút thuốc, ngày nào cũng đều hút thuốc là huân tập và lâu ngày
trở thành ghiền thuốc là tập khí. Như luôn thức dậy đúng giờ là huân tập
mỗi ngày và ý thức việc đúng giờ luôn ghi mãi trong lòng rồi được thể
hiện qua sự tĩnh thức mỗi sáng sớm dậy tụng kinh... là tập khí.
Như vậy, huân
tập và tập khí là một tiến trình hình thành hoặc trở nên của đời sống
tâm thức được biểu hiện cụ thể qua thói quen. Nó là phong cách và cá
tính hay biệt nghiệp của mỗi cá nhân. Nói qua về bản chất của tập khí,
nó là hiện thân của nghiệp thức; theo tâm lý học; vừa mang tính cách
sinh học (biological) lại vừa mang tính cách tâm lý (psychological). Do
đó, hiện thân của tập khí chính là con người toàn diện của cả hai mặt
tâm lý và vật lý, tư duy và hành động; vật chất và tinh thần; tự tướng
và tổng tướng, biệt nghiệp và cộng nghiệp; cá nhân và cộng đồng v.v..."
(Thích Tâm Thiện – Tâm lý học Phật Giáo. p178 xb tại Saigon 1998).
Cũng do thói
quen, tôi không hài lòng những người hẹn không đúng giờ. Tuy cũng có kẻ
phiền tôi về sự đúng giờ để bào chửa việc trể nãi của họ. Ðiều này phải
khẳng định họ sai, thế mà vẫn có kẻ chống chế không chịu sửa sai. Ðó là
tâm bịnh của chúng sanh biết đời nào mới chịu cải thiện?
7- Không thị
giả: thị giả là người phụ giúp một số công việc nhẹ như quét dọn phòng
xá, xếp lại mền gối, ủi quần áo, giặt đồ, bưng cơm, pha trà. Phần này do
một sư chú hay sư cô phụ trách đối với vị Thượng Tọa hay Hòa Thượng lớn
tuổi.
Mấy chục năm
nay, tôi tự lo liệu mọi việc cho mình mà không phải nhờ một chú hay cô
làm thị giả giúp đở. Vì xét thấy mình chưa cần sự tiếp tay giúp sức của
người khác. Và điểm này lại là điểm dỡ của tôi, chớ đâu hay ho gì mà
phải nêu ra đây để mọi người biết. Có người lại cho đó là một đặc điểm
nổi bật chỉ có Thầy Pháp Bảo mới có được mà không tìm thấy nơi bất cứ
một Thầy nào khác. Với tôi, quan niệm đơn giản chỉ có thế này:
- Tu hành chưa
bao nhiêu, công đức chưa dày không thể để người khác phục vụ cho mình
nhiều mặt.
- Nhờ một người
phục vụ cho riêng cá nhân, dù người đó nhỏ tuổi, cũng coi thường nhân
cách họ.
- Người không
được phục dịch Thầy có niệm phân bì, rồi gây nên bất hòa chúng.
Biết được những
gì mọi người nhìn nơi Thầy cả, trong phòng tôi không để tủ lạnh, không
nước uống, không đồ ăn vì nghĩ tới một số điểm bất lợi này:
- Những món ngon
lạ đem chất đầy tủ lạnh để dành Thầy
- Thức ăn uống
dùng thừa ra, bị hư ối cũng thật khó xử
- Cung phụng lâu
ngày, thành độc đoán, kỳ cục khó coi đối với mọi người.
Do thấy rõ những
suy nghĩ và việc làm thiếu chánh niệm của hàng tử đệ như thế, mới đầu họ
phục vụ Thầy với tâm vô chấp, dần dần tánh u mê, lòng tật đố dấy lên lúc
nào không biết đã tạo thành vấn đề cho ngôi chùa và cho vị Thầy mà đúng
ra Thầy phải là một biểu tượng cao cả đáng tôn kính.
Ðệ tử kính thầy,
thương Thầy phải hiểu Thầy và theo chí nguyện Thầy mới đủ tầm vóc kế
thừa đạo nghiệp.
8- Không ủi (đồ)
quần áo: quần áo giặt giũ, phơi xong, hầu hết nhiều người đều phải ủi
cho thẳng nếp mới mặc lại. Có thói quen từ nhỏ tới lớn tôi chưa hề ủi
quần áo bao giờ.
Tuy nói vậy,
thỉnh thoảng cũng có ủi y hậu cho nó thẳng để làm lễ trước đại chúng cho
nghiêm túc thế thôi. Còn về quần áo mặc thường, hầu như tôi không hề
quan tâm phải ủi ngay thẳng. Thuật của tôi thế này: khi giặt đồ xong,
trước khi phơi đem xủ kỹ những chỗ nhăn, nếp gãy bung ra, thế là đồ khô
vẫn thẳng khỏi cần tốn công ủi. Dù vậy, có đôi khi vì gấp giặt không kịp
xủ đồ, lúc mặc quần áo nhăn nheo khó coi, thế là phải đem đồ giặt lại.
Thấy nhiều người
bỏ cả buổi và tốn nhiều thì giờ lo việc quần áo và trang điểm. Tâm lý
làm đẹp nói chung là của phái nữ, nhưng phái nam có người cũng làm dáng
nữa! Tôi quen một thầy ở Saigon thập niên 60, trong cặp táp luôn luôn có
gương soi mặt; và trước khi đi đâu sửa soạn hằng giờ, còn quần áo thầy
ấy khỏi phải bàn đến: ủi láng coóng thẳng có ly! Giới tăng trẻ có người
còn ham diện cở đó, chúng ta cũng không trách người đời được. Thế thì,
ta nên thông cảm giới phụ nữ có nặng phần trang điểm chút đỉnh cũng châm
chế!
Tại sao ta phải
bỏ thì giờ quá nhiều vào những việc không đâu như thế? Nếu không phải
muốn người khác phái chú ý tới mình ta đâu cần quan tâm đến như vậy.
Thật cũng mâu thuẩn và khó hiểu tâm lý người đời, khi người ta ai cũng
muốn làm nhiều việc, lại không biết quí thì giờ mà dùng vào những việc
ít quan trọng, không phải ưu tiên như vậy.
Hẳn trên thị
trường tiêu thụ, phải cần những người dùng mỹ phẩm trang điểm mới tồn
tại được. Còn giới nhà tu phải nên xét lại vai trò và cung cách để bớt
lãng phí thời giờ vào việc không cần thiết.
9- Không đồng hồ
báo thức: chiếc đồng hồ báo thức giúp ta ngủ dậy theo giờ giấc ấn định
để làm công việc nhất định như đi xa, đến sở, vào trường; người tu ở
chùa công phu, tọa thiền v.v...
Ngày xưa ở Việt
Nam người nông phu thức dậy sớm ra đồng làm việc nhờ tiếng gà gáy, tiếng
chuông chùa mà ca dao như còn nhắc nhở mọi người ở đâu đây:
Gió đưa cành
trúc la đà
Tiếng chuông
Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
Tiếng chuông
chùa Thiên Mụ (Huế) lan xa cả ngàn thước sang bên kia bờ sông Hương; gà
thôn Thọ Xương gáy rang lúc tiếng chuông chùa vừa điểm vào canh ba đầu
canh tư, báo thức dân làng chuẩn bị sẵn sàng cho công việc nông tang của
một ngày mới. Người dân quê không cần đồng hồ báo thức vẫn dậy sớm được
là nhờ tiếng chuông chùa, tiếng gà gáy. Còn người dân thành thị nhờ
tiếng reo gọi của đồng hồ đánh thức để theo đúng giờ giấc qui định cho
công việc làm. Tuy cũng có người để đồng hồ báo thức reo mà ngủ vẫn cứ
ngủ như thường, như vậy hiệu quả của nó thật cũng vô dụng như thường.
Tôi có thói quen
thức dậy đúng giờ mà không cần đồng hồ báo thức. Mới nghe vậy quý vị
không tin đâu và đã có vị thử tôi tại một ngôi chùa lạ vào giờ công phu
khuya, tôi đã tỉnh giấc trước giờ báo thức chúng 5 phút. Ðiều này làm
cho vị Thầy ấy mới tin tôi và những lời thiên hạ sự bàn tán tỏ ra thán
phục.
Như tôi đã nói,
tôi lớn lên từ đồng quê chất phác học được ở người nông phu tánh cần cù
nhẫn nại, và cũng học được cả tánh lương thiện trung thành. Mãi đến nay
gần 50 năm (47 năm) sống nơi chốn thiền môn thanh tịnh, tôi nhận thấy
cuộc đời mình gắn liền vào câu kinh tiếng kệ, nhịp mõ, tiếng chuông. Bản
chất quê trong tôi chưa bị tẩy xóa và vì thế mọi việc xử sự của tôi như
người nông dân chân lấm tay bùn mà linh động trong sự sáng tạo có suy
tư.
Việc không dùng
đồng hồ báo thức của tôi biết đâu không là đề tài để quý vị mua vui
trong chốc lát.
10- Không ăn
tối: từ vài năm nay, tôi không dùng bửa tối. Nói vậy cũng không đúng
đâu, tôi có dùng sơ trái cây hay sửa để cho bao tử dễ làm việc qua đêm.
Việc tôi 1àm
tưởng không cần biện chính. Tôi nghĩ hễ càng biện luận là càng đi xa mục
đích ban đầu, nên cũng chẳng cần ai tán đồng hoặc ủng hộ để cho công
việc thành nhẹ nhàng như chiếc lá vàng rơi ung dung tự tại dưới mặt đất
mà không bất cứ một dấu hằn nào được phủ lên trên cả.
Việc làm tôi tự
cho là thượng sách vì cũng khó thực hiện lắm đấy chứ! Tôi không phải tập
quen chi cả, đùng một cái, tôi thực hiện ngay ý định không ăn chiều làm
cho chúng trong chùa đâm khó hiểu. Mới đầu họ suy diễn đủ cách đủ kiểu,
vẫn không thuyết phục được tôi. Thậm chí, có vài Phật tử van nài tôi
phải dùng cơm tối để đủ sức làm đạo được lâu dài. Bà DC vừa thuyết phục
vừa làm ra vẽ quan trọng nói:
- Thầy không ăn
chiều, độ rày xem Thầy ôm nhom ốm nhách, tụi con bỏ không đến chùa nữa
đâu, nếu Thầy vẫn giữ lập trường.
Tôi nhìn bà mỉm
cười rồi nói:
- Bà đừng can dự
vào tự do của người khác quá đáng như vậy. Giá như bà muốn thực hiện một
ý định đúng mà bị con bà cản đà, bà phản ứng ra sao? Tại sao bà ngang
quá vậy? Nghe tôi nói thẳng như vậy, từ đó bà ta không dám can dự việc
tôi làm nữa mà đã tỏ ra hiểu biết, tôn trọng. Biết đâu, một việc nhỏ như
thế cũng rút tỉa ra được bài học xử thế đích thực, phải không thưa quý
vị?
Chùa Pháp Bảo
hiện có ba thầy trò không ăn cơm tối từ hai năm nay. Có thể người trên
40 tuổi chịu đựng cho cơ thể nhẹ, còn ai chưa tới tuổi đó không hiểu ảnh
hưởng tới sức khỏe ra sao. Thật ra, việc tôi làm tôi không thuyết phục
ai theo mình cả, ngay cả đệ tử cũng vậy. Nếu có ai theo sách lược ấy là
do tự nguyện mỗi người thôi.
Nêu ra những
điều trên là tất cả sự thành thật để tự kiểm điểm và học hỏi hơn là gì
khác. Khi đã mang tâm trạng không hài lòng về bất cứ một việc gì dù nhỏ
hay lớn hay đối với bất cứ ai, người ta có những phản ứng vô hình chung
rất sống sượng rất thô, để lộ liễu ra hết chân tướng không thể dấu diếm
được.
Hơn nữa, những
việc tôi đang áp dụng là việc làm cụ thể không phải trên lý thuyết
suông. Công việc có tính cách liên tục kéo dài qua nhiều năm tháng không
hề bị ngăn ngại bởi bất cứ một động lực tâm lý hay vật lý nào hoặc nói
chung là không bị chi phối bởi nội tâm và ngoại cảnh. Nói như thế, không
có nghĩa những việc tôi làm luôn thuận buồm xuôi gió cả đâu mà có lúc có
trường hợp cũng bị phản đối ngăn cản ra mặt hoặc âm thầm giận dỗi, bỏ
mặc không hợp tác v.v... Dù vậy, tôi vẫn theo đuổi lập trường ban đầu,
vì xét thấy nó không phương hại tới quyền lợi và tự do người khác. Kết
quả sau bao nhiêu năm tôi luyện giúp cho tôi có một ý chí dũng kiện, một
tâm chất dung dị, một cái nhìn quán chiếu để rút tỉa bài học tu thân xử
thế đích thực. Ðây là số vốn liếng tôi đã đổ vào đầu tư trong nửa thế kỷ
bằng sức lực và tâm huyết để xây dựng và tự tồn.
Nhờ học được bài
học sống của tiền nhân như thế này:"giáo đa thành oán" (Giáo dục
mà thái quá cũng thành có hại). Nên thiên tiểu luận này có tính cách tự
truyện hơn, mong quý độc giả đọc, suy nghĩ nhưng mong không thành kiến,
không phán xét. Ðọc với tâm lượng như thế, tác giả vô vàn thâm tạ và vô
cùng tán dương lòng nhiệt thành của quý vị,
Sydney những
ngày Tết Giáp Thân năm 2004.
BÀI THAM KHẢO
The Giver should
be thankful
While Seisetsu
was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since
those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seiber, a
merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called
ryo toward the construction of a more commodious school. This money he
brought to the teacher. Seisetsu said : All right. I will take it".
Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was disatisfied with the
attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and
the merchant had not even been thanked for five hundred.
'In that sack
are five hundred ryo", hinted Umezu.
" You told me
that before", replied Seisetsu.
Even if I am a
wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money ", said Umezu.
"Do you want me
to thank you for it?" asked Seisetsu.
" You ought to "
replied Umezu.
"Why should I?
inquired Seisetsu. The giver should be thankful".
Dịch nghĩa
Người cho phải cám ơn
Seisetsu là một
thiền sư ở chùa Viên Giác vùng Kamakura (Kiêm Thương ) cần xây thêm cơ
sở rộng hơn. Vì nơi ông đang dạy quá chật chội do đông người.
Umezu Seibei,
một thương gia ở Giang Hộ (tên cũ Tokyo ngày nay), quyết định cúng 500
lượng vàng cho Seisetsu xây thêm phòng ốc (lớp học). Umezu mang tiền đến
Seisetsu.
Seisetsu nói:
"Ðược, tôi nhận số tiền này!"
Umezu biếu
Seisetsu gói tiền, vàng, nhưng không hài lòng thái độ của Seisetsu. Với
chỉ ba lượng vàng người ta có thể sống được trong một năm. Ðằng này ông
thương gia tặng những 500 lượng vàng vẫn không được Seisetsu cám ơn!
- Umezu nhắc
khéo: trong túi đó có 500 lượng vàng đa!
- Ông đã nói với
tôi rồi !
- Umezu nói: mặc
dù tôi là một thương gia giàu có, nhưng 500 lượng vàng là một số tiền
lớn!
- Seisetsu hỏi:
"Ông muốn tôi cám ơn ông?"
- Umezu đáp:
"vâng, đúng vậy!"
- Seisetsu hỏi:
Sao lại tôi? Người cho phải cám ơn chứ?
Câu hỏi gợi ý
1. Qua câu chuyện trên ta
thấy có gì bất thường không?
2. Việc bố thí 500 lượng
vàng của Umezu ra sao?
3.
Tại sao chủ nhân nhắc đi nhắc lại mà người nhận của vẫn không
chịu nói lời cám ơn? Thái độ đó có đáng chê trách?
4.
Seisetsu nhấn mạnh: "Ông muốn tôi cám ơn ông?" Có phải người nhận
có ý khiêu khích người cho tức giận đòi lại số vàng?
5.
Trong trường hợp bạn cho quà người ta mà không được cám ơn. Bạn
nghĩ sao?
* Thiện Sanh
(Brisbane)
1.
Qua câu chuyện trên ta thấy có gì bất thường không?
- Không
2.
Việc bố thí 500 lượng vàng của Umezu ra sao?
- Tốt nhưng chưa
rốt ráo.
3.
Tại sao chủ nhân nhắc đi nhắc lại mà người nhận của vẫn không
chịu nói lời cảm ơn? Thái độ đó có đáng chê trách?
- Thái độ của
thiền sư không thể chê trách; Phật dạy “Bồ Tát khi bố thí phải tam luân
không tịch”
4. Seitsetsu
nhấn mạnh: “Ông muốn tôi cám ơn ông?” Có phải người nhận cố ý khiêu
khích người cho tức giận đòi lại số vàng?”
- Không,
Seitsetsu chỉ cho Umezu lời dạy của Ðức Phật.
5. Trong trường
hợp bạn cho quà người ta mà không được cảm ơn. Bạn nghĩ sao?
- Không nghĩ,
quên rồi.
* Quốc Vinh
(Vic.)
1) Xưa nay lẽ thường giữa
người cho và người nhận vật, hẳn người nhận phải cảm ơn là điều lịch sự
tối thiểu, cũng là cách xử thế đẹp lòng nhau trong các lãnh vực của đời
sống. Ðàng này ngược lại, Seisetsu nhận tiền cúng dường của người tín
chủ thay vì cảm ơn, ông lại nói ngược lại gây một ấn tượng nghi ngờ nơi
người ấy. Ðiều này ta ít thấy xảy ra với hầu hết mọi người mà chỉ ở chốn
thiền gia như qua câu truyện trên đây là một bằng chứng điển hình.
2) Umezu là một người
giàu lòng hảo tâm không tham tiếc của, sẵn sàng giúp đỡ theo nhu cầu đối
tượng chùa cần. Nếu suy tính, số 500 lạng vàng không dễ được bỏ ra mà
không có dụng ý. Tuy nhiên, việc bố thí ở đây vẫn còn bị kẹt trong vòng
danh tướng. Vì chưa vượt khỏi thói thường, nên gặp thiền sư là người phá
chấp, làm cho đối tượng đâm ra lúng túng khó chịu.
3) Chủ nhân có chủ tâm
nhắc khéo người nhận quà không những chỉ một lần mà có tới ba lần như:
- trong túi đó
có tới 500 lượng vàng đa!
- mặc dù tôi là
một thương gia giàu có, nhưng 500 lượng vàng là một số tiền lớn!
- khi được hỏi
muốn được người nhận cảm ơn? Liền đáp: Vâng, đúng vậy.
Cuối cùng vẫn
không được đáp ứng theo lời yêu cầu. Ðây là thái độ tỏ ra bất mãn nhưng
chưa trầm trọng mấy. Nếu Umezu rút lại số vàng không cúng như ý định ban
đầu, mới là việc đáng trách.
4) Người nhận
quà đã tỏ thái độ ngay từ đầu, sao người cho không chịu hiểu mà phải
nhắc đi nhắc lại những ba lần. Ðể cuối cùng bị tấn công tới tấp, cũng
may qua thái độ từ tốn của thiền sư, câu hỏi gằn mạnh không vì thế làm
cho đối tượng điên tiết lồng lộn lên như có một vài trường hợp ngoài ý
muốn mà ta đã chứng kiến
5) Có nhiều phức
tạp trong trường hợp giữa người cho đối với người nhận. Ði từ thấp tới
cao mà có những phản ứng không giống nhau: riêng người viết gặp phải
trường hợp như thế hẳn buồn năm phút. Vì nghĩ rằng đối tượng chưa học
kinh nghiệm sống nên hành xử thiếu lịch sự tối thiểu. Ðó là chưa nói có
khi ta nuôi giận hờn trong tâm nhiều năm không giải tỏa. Ngòi bom hơi
này có cơ hội sẽ nổ chậm mà ta cứ nghĩ là sẽ bắn vào mặt đối phương cho
bỏ ghét, hay ít ra cũng chứng tỏ mình là người không đến nổi hèn. Ðôi
khi ta lại nghĩ quấy cho người nhận nhiều điều tệ hại, vì y không đáp
ứng được như mong muốn của ta. Những phản ứng hết sức người của chúng ta
trong đời này hầu như đều như thế cả. Thế còn ở đây, trong phạm vi
thiền hoàn toàn có khác. Thiền phá không những ngã chấp vĩ đại của ta mà
còn phá luôn cả pháp chấp nữa. Cái ngã đã diệt thì mọi pháp khác diệt
hết, không còn gì quan trọng đáng lưu tâm cả.
* Duy Học,
Sydney
1. Qua câu
chuyện trên ta thấy có gì bất thường không?
- Trong đời, ít
có thương gia nào dám cúng dường Tam Bảo tới 500 lượng vàng. Nếu có chỉ
có hai loại, loại thứ nhất vì háo danh, háo lợi, mượn thế cúng dường để
mưu cầu cái gì đó, còn loại thứ hai là loại có tu Phật, hiểu rõ thật
tướng các pháp, rồi phát tâm từ, cúng dường với tâm vô lậu, không mong
gì hết, cho nên dám mang hết tài sản, có khi cả tính mạng để cúng dường
Tam Bảo.
2. Việc bố thí
500 lượng vàng của Umezu ra sao?
- Thương gia
Umezu cúng dường 500 lượng vàng cho thiền sư Seisetsu với mong ước
đươcï thiền sư cảm ơn. Phàm phu khi cúng dường luôn có tâm như vậy, còn
một Phật tử hiểu rõ cúng dường hơn, nên chẳng bao giờ mong đợi cám ơn
như trên, vì cúng dường mà mong được cám ơn là cúng dường để cầu lợi,
không hợp với Phật Pháp. Học Phật phải rõ cúng dường là phát tâm từ, là
gột sạch thân tâm, hành mà vô hành, nhiên hậu mới mong tiến qua bờ giác.
3. Tại sao chủ
nhân nhắc đi nhắc lại mà người nhận của vẫn không chịu nói lời cảm ơn?
Thái độ đó có đáng chê trách?
- Thương gia
Umezu không rõ Phật pháp, hành xử tầm thường, nên chỉ mong đợi thiền sư
cảm ơn mình về số 500 lượng vàng anh đã cúng vào chùa. Trong khi đó,
thiền sư không muốn cám ơn thương gia, có thể vì thuơng xót anh ta, muốn
anh ta thức tỉnh và nghĩ ra rằng cúng dường Tam Bảo là một phật sự tự
nhiên, không cần phải cảm ơn. Ðã tu học Phật pháp, ta chẳng nên cố chấp
vào hình tướng, dù là tiền hay vàng bạc hay gì chăng nữa, chẳng qua chỉ
là pháp hữu vi, duyên hợp, vô thường, tán tụ bất thường, dính mắc vào đó
vẫn chỉ là chuyện bên lề sinh tử mà thôi! Nghĩ vậy chúng ta chẳng thể
chê trách thiền sư mà còn phải kính phục ông nữa.
4. Seitsetsu
nhấn mạnh: “Ông muốn tôi cám ơn ông?” Có phải người nhận cố ý khiêu
khích người cho tức giận đòi lại số vàng?”
- Câu hỏi của
thiền sư thật từ bi, từ bi ở chỗ nhắc lại người thuơng gia lần cuối xem
anh đã tỉnh ngộ chưa? Thế nhưng anh thương gia vẫn ngu si, nên mới đáp
thiền sư "vâng, đúng vậy!" chứng tỏ anh vẫn còn thích được cám ơn, vì lẽ
bệnh chấp ngã, chấp tướng của anh còn quá nặng!
5. Trong trường
hợp bạn cho quà người ta mà không được cảm ơn. Bạn nghĩ sao?
- Có hai cách
giải câu này, tùy ở người cho có thấu Phật pháp hay không mà thôi. Hễ
chưa thấu, tức còn chấp ngã, chấp tướng, thường mong được cám ơn. Hễ
thấm tương chao rồi thì cúng dường cũng như mọi Phật sự khác, có gì phải
cảm ơn. Tại sao vậy? Chỉ vì hành giả đã thấu rõ lẽ không trong tam giới,
rõ tướng các pháp là duyên hợp giả có, nên không còn vướng mắc bất cứ
một thứ gì trên đời này, nên họ luôn giữ tâm xả trong mọi việc kể cả bố
thí, cúng dường, nên có khi cúng hết cả tài sản lẫn thân xác cũng không
hối tiếc chi hết.
NHẬN XÉT GÓP
Ý
1) Thiền hẳn có
nhiều chuyện trái nghịch đáng để ý. Thiền sư có khi là ông thiện, cũng
có khi là ông ác, tùy đối tượng khai hóa giúp khai thông một vài lãnh
vực nào đó. Chúng ta không lấy làm lạ qua nhiều chuyện ngược đời trong
chốn thiền gia, nhằm đưa người đạt tới mục đích cuối cùng, giải thoát.
Tất cả những chước khéo chỉ là phương tiện độ sanh. Kẻ mê thấy như ngược
ngạo, khó chịu không thể tưởng tượng nổi. Người ngộ xem đó như bài học
vô giá giúp tôi luyện thân tâm thêm vững chắc. Những điều vượt thường,
với họ, là những việc hay giúp quán chiếu sâu đi ngược dòng đời làm gia
tăng định lực, giữ tâm thanh tịnh.
2) Bố thí số
nhiều, 500 lượng vàng là một việc ít có, trên đời không dễ mấy người
nghĩ tới huống nữa đích thân thực hiện. Umezu đã giàu lại rộng lượng, vì
thế đã giàu lại càng giàu thêm. Ở đời hiếm người giàu lại biết phát tâm
làm thiện bố thí rộng rãi, nên cái giàu hiện tại là nhân của nghèo mai
sau. Umezu phát tâm cúng dường cho thiền sư một số tiền lớn xây trườøng
học, nhưng đó chưa phải tâm Bồ Ðề rộng lớn. Tâm Bồ Ðề thì không mong
cầu, dù một móng niệm muốn được lời cám ơn từ người nhận cũng còn bị kẹt
trong vòng đối đãi, tức chưa hẳn kẻ thi ân bất cầu báo, như ta nghĩ.
3) Còn trong
vòng đối đãi, chúng ta hay phản ứng theo lối tự nhiên, cũng có nghĩa
xuôi dòng, tức theo con đường sanh tử, nên mãi bềnh bồng trôi nổi hụp
lặn trong kiếp luân hồi. Trong khi thiền sư là người đi ngược dòng sông,
và muốn mọi người cũng lội ngược dòng như thế để đạt mục đích. Gặp đối
phương quắc thước già dặn, xem đó là một bài học sống động tuyệt vời,
bằng ngược lại, gây ra sự tai hại không ít như qua câu chuyện thiền sư
Seisetsu xử với Umezu là bằng chứng cụ thể.
4) Hoàn toàn đi
ngược lại ý muốn người cho, thay vì được cám ơn, lại nhận những lời như
châm chọc trách cứ. Song thiền sư hoàn toàn không nhằm ý khiêu khích đó,
mà chỉ muốn giúp ân nhân vượt qua sự khó khăn nhỏ để hoàn thành tâm
nguyện cúng dường mang ý nghĩa vô vụ lợi, hay không mong cầu đền đáp. Cả
đôi bên thiền sư và thí chủ đều bị mắc lầm ngoại chướng duyên, thật cũng
khó mà tránh khỏi.
5) Thật quả đó
là một việc ngoài ý muốn, nghĩ theo thông thường, chẳng làm ta hài lòng
chút nào cả, khi ta tặng quà mà không được người nhận cám ơn. Song ở đây
câu chuyện hoàn toàn trái ngược. Thiền đạt đến vắng lặng. Cả người cho,
kẻ nhận và vật cho đều quên luôn.
BÀI THAM KHẢO
RIGHT AND
WRONG
When Bankei
held his seclusion weeks of meditation, pupils from many parts of Japan
came to attend. During one of these gatherings a pupil was caught
stealing . The matter was reported to Bankei with the request that the
culprit be expelled. Bankei ignored the case.
Later the
pupil was caught in the similar act, and again Bankei disregarded the
matter. This angered the other pupils, who drew up a petition asking for
the dismissal of the thief, stating that otherwise they would leave in a
body. When Bankei had read the petition he called everyone before him.
"You know what is right and what is not right". You may go somewhere
else to study if you wish, but this poor brother does not even know
right from wrong. Who will teach him if I do not? I am going to keep him
here even if all the rest of you leave".
A torrent of
tears cleansed the face of the brother who has stolen. All desire to
steal has vanished.
Dịch nghĩa
ÐÚNG VÀ SAI
Thiền sư Bankei
tổ chức khóa thiền nhiều tuần lễ, thiền sinh khắp mọi miền đất nước
Nhật Bản đều đến học. Trong thời gian tu tập, một thiền sinh bị bắt vì
tội trộm cắp. Sự việc được trình lên thiền sư Bankei với lời yêu cầu
phải trục xuất tội phạm, Bankei vẫn tảng lờ bỏ qua vụ này. Sau đó thiền
sinh này lại bị bắt vì hành vi tương tự và một lần nữa Bankei cũng bỏ
qua luôn. Việc này làm chúng thiền sinh nổi giận muốn làm ra lẽ bằng một
thư khiếu nại hành động xấu của kẻ ăn cắp, tuyên bố rằng nếu không giải
quyết họ sẽ bỏ đi nơi khác.
Bankei đọc bức
thư khiếu nại xong, nhóm họp đại chúng lại và nói: "Này các huynh đệ
khôn ngoan, hẳn huynh đệ biết việc nào là đúng và việc nào không đúng.
Các con có thể đến nơi khác để học nếu các con muốn. Nhưng đối với huynh
đáng thương này không biết phân biệt đúng sai. Ai sẽ là người dạy dỗ,
nếu Thầy không dạy. Thầy sẽ giữ huynh này lại đây, dù các con có rời
khỏi hết nơi này.
Một dòng nước
mắt len nhẹ trên má người huynh đệ trộm cắp. Và tất cả lòng ham muốn
biến mất.
Câu hỏi
gợi ý
1)
Hãy cho biết điều đúng, sai theo bạn nghĩ?
2)
Thiền sinh đã học thiền tại sao còn phạm trộm cắp?
3)
Thái độ bỏ qua không trừng phạt kẻ phạm tội của thiền sư Bankei là quá
đáng, gây cho đại chúng buồn phiền, bạn nghĩ sao?
4) Vì
lý do nào khiến cho nạn nhân phải rơi nước mắt giữa đại chúng?
5)
Nếu bạn là một trong số các thiền sinh ấy, phản ứng của bạn ra sao khi
chứng kiến một vụ trộm cắp như thế? Bỏ qua cho xong chuyện? Làm lớn
chuyện? Ðồng loạt bỏ thầy đi tìm thầy khác?