Phương pháp tu trì của Thiền tông
CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC
Tác giả:
Nguyệt Khê Thiền Sư
Dịch giả:
Thích Duy Lực
---o0o---
LAI QUẢ
THIỀN SƯ
THIỀN THẤT KHAI
THỊ LỤC
Dịch
giả: THÍCH DUY LỰC
*
*
*
TIỂU SỬ THIỀN SƯ LAI QUẢ
Sư tên Diệu Thọ, tự Lai
Quả, hiệu là Tịnh Như, con nhà nông họ Lưu, quê ở huyện Hoàng Cương, tỉnh
Hồ Bắc.
Năm lên bảy, Sư nghe vị Tăng bên cạnh tụng câu “Vô trí
diệc vô đắc” trong Tâm Kinh, Sư có tỉnh ngộ.
Năm 12 tuổi, Sư có chí thoát trần, trốn đi xuất gia, bị
người anh tìm bắt trở về.
Năm 15 tuổi, Hòa Thượng Đại Trí dạy lấy niệm Phật để
liễu thoát sanh tử, Sư bèn niệm Phật thành phiến, cho đến ngủ chiêm bao
cũng vẫn lớn tiếng niệm Phật. Hòa Thượng nói: “Đây là chân thật niệm Phật.
Vật niệm Phật là người nào? Ông biết không?”. Sư không đáp được. Hòa
Thượng nói: “Đợi ông tìm ra người niệm Phật, ta sẽ nói chuyện với ông”.
Năm 18 tuổi, Sư cắt gan trị bệnh cho cha.
Năm Ất Tỵ (1905 TL), Sư 25 tuổi, đi hành hương ở núi
Phổ Đà, gặp một vị Tăng khổ hạnh, cảm kích bèn xuống tóc ở núi Bảo Hoa. Sư
bị Chư Tăng trong chùa hành hạ khổ sở chẳng xiết, trốn đến bờ sông, nhiều
ngày bị nhịn đói, cùng với chó hoang ở chung, muốn đâm đầu xuống sông tự
vận, bỗng gặp vị Tăng ở chùa Di Đà tại Kinh Khẩu cứu kịp. Sư theo vị Tăng
ấy đến chùa Kim Sơn, song vì chưa thông thuộc quy củ nên một hôm bị đánh
hơn bốn trăm hương bản.
Ngày 26 tháng 9 năm Quang Tự thứ 34 (1908 TL), Sư nghe
tiếng mõ khai tịnh sau thời khóa công phu buổi chiều tối, hoát nhiên thoát
lạc như buông gánh nặng ngàn cân, mất cái mũi mẹ sanh, khóc to chẳng nín,
hư không trên trời, nước chảy dưới đất, tất cả trở ngại hoàn toàn tiêu
hết, cơ dụng hiện tiền có hỏi liền có đáp. Hòa Thượng Ban Thủ đến tận nơi
khen ngợi.
Một hôm Từ Bản lão nhân đưa cái khăn tay ra làm thế rửa
mặt, hỏi Sư: “Là cái gì?”. Sư nói: “Đã dư chiếc khăn tay rồi”. Từ lão nhân
chẳng đáp mà lui. Sư từ đấy càng thận trọng.
Sư từng được sung chức Phạn đầu, hết sức phụng sự nhà
chùa một cách tiết kiệm. Thủ tọa khuyên Sư đảm nhiệm chức vụ Ban Thủ. Sư
tự thấy mình còn kém bèn trốn sang chùa Cao Mân, cũng bị đảm nhiệm chức vụ
Ban Thủ. Sư bỗng có ý du phương, di ẩn tu ở núi Chung nam, gặp Cư sĩ Hạc
Niên hối thúc trở về Nam.
Sư trở về chùa Cao Mân, Tố Nguyệt Lãng sai Minh Hiên
lão nhân chọn ngày truyền pháp cho Sư. Lúc lâm chung, Tổ nắm tay buộc Sư
phải phát nguyện: “Sống làm người Cao Mân, chết làm quỷ Cao Mân”.
Sau khi nhậm chức Trụ trì, khôi phục lại quy chế cũ,
lấy việc kiến thiết sửa sang năm công trình lớn Bảo tháp, Đại điện, Thiền
đường, Diên thọ đường, Như ý liêu, làm chí nguyện, song cho đến khi tịch
mà chưa viên mãn. Sư mong ước thừa nguyện lực tái lai để tiếp tục công
trình cho hoàn tất. Chỉ có Cổ Lương Đình là làm xong, phong cảnh thanh tú,
làm tăng thêm pháp hỷ cho người.
Sư thuận theo lời khẩn thiết thỉnh cầu của các nơi, y
theo lệ trước của Triệt Tổ Thiền Tuệ, soạn quyển Tự Hành Lục ghi lại đầy
đủ hành trang cả một cuộc đời khôi vĩ dị thường của Sư. Quyển sách này đã
được ấn hành phụ trong bộ Ngữ Lục.
Sư thân hình cao lón trắng trẻo, mắt nhỏ, tiếng to. Từ
50 tuổi về sau, Sư hành hạnh Đầu đà, và tự nhủ: “Nếu chí nguyện chưa toại
thì chẳng cạo bỏ râu tóc”, để đau đáu nhớ mãi chí nguyện của mình, nhưng
nghi biểu lại càng oai nghiêm. Sư tánh tình cứng cỏi chân thật, gặp việc
thì cố gắng hết sức làm, khiến cho ý không tốt của người tự tiêu tan. Cả
đời Sư chỉ lấy hoằng pháp, ngộ đạo làm nhiệm vụ, đánh hét đều dùng, chuông
trống xen nhau, chưa từng có chút lười mỏi. Đương thời, Hòa Thượng Hư Vân
là người được sự trọng vọng trong Tông Môn, tuy lớn tuổi hơn mà cùng với
Sư khế hợp không gián cách.
Có một lần, nhà chùa cần muốn hóa duyên để sửa pháp, Sư
nhóm họp đồ chúng lại luận bàn, trong số chúng có mấy người phát nguyện
lãnh trách nhiệm đi các nơi hóa duyên. Có một vị Tăng đến Vũ Hán, cảm động
sự phát tâm của thí chủ bèn tự chặt cánh ta để đền đáp, mọi người gần xa
đều kinh ngạc ngợi khen.
Sư tịch ở Thượng Hải, linh cửu đưa về chùa Cao Mân.
Làng lân cận có một bà lão Phật tử tự chặt một ngón tay sai con mang đến
trước linh cửu cúng dường. Nhờ chánh pháp cảm người vừa sâu rộng vừa lâu
dài nên người nhờ sự giáo hóa của Sư mà làm được như vậy.
Sư sanh vào giờ Dần, ngày 2 tháng 7 năm Tân Tỵ (1881
TL) nhằm năm Quang Tự thứ bảy, diệt độ giờ Dần, ngày 17 tháng 10 năm Quý
Tỵ (1953 TL). Sư thọ 73 tuổi, Tăng lạp bốn mươi chín xuân, giới lạp bốn
mươi chín hạ, pháp lạp ba mươi chín thu, trụ trì ba mươi lăm đông.
Ngày mùng một tháng 11, linh cửu từ Tịnh thất ở Thượng
Hải được đưa về chùa, mùng 8 tháng chạp trà tỳ, bốn chúng vân tập đau buồn
thương tiếc như đưa đám ma cha mẹ. Xá lợi rất nhiều, như lưu ly năm màu
chói lọi. Giờ Thìn ngày 4 tháng 4 năm sau nhập tháp rồi cất đình ở bổn tự
(Cao Mân) để thờ tháp Xá lợi.
THIỀN THẤT
KHAI THỊ LỤC
Phật lịch 2486, tức năm Dân Quốc thứ 31 (1942), âm lịch
năm Nhâm Ngọ. Khai thị thiền thất trong thời kỳ tháng mùa đông kiết chế,
khởi đầu từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 27 tháng chạp tại chùa Cao Mân, sông
Tam Xoa, đất Dương Châu, tỉnh Giang Tô.
PHÁP NGỮ
KHỞI THẤT
Sư cầm hương bảng nói rằng:
Lư Khai đại dã chính tư thời
Vạn Thánh thiên Hiền tổng tận tri
Thiết ngạch đồng đầu để hạ luyện
Hư không ngõa lịch mạc nghi trì
Trùng thiêm thán, mãnh gia truy
Thái không phá hậu mạc đình chùy
Trực đãi sinh tiền thoát lạc tận
Khoái tương tự kỷ tróc sinh hồi.
Khởi!
Tạm dịch:
Mở lò đãi luyện vàng chính là lúc này
Muôn Thánh ngàn Hiền đều biết cả.
Những kẻ cứng đầu, cứng cổ đều phải bỏ vào lò luyện
Không phân biệt hư không hay ngói bể, đều không được
chậm trễ.
Hãy thêm than, thổi cho mạnh nữa.
Mặc dù đập bể hư không rồi cũng không ngưng chùy
Cho đến sinh tiền đầu rơi thoát sạch hết
Mau mau tìm bắt cái bổn lai của mình về.
KHỞI THẤT
Hôm nay nhà chùa vì các ông khởi thất cho nên một số
người phải bận rộn: Thiền đường, ngoại liêu, thủ lĩnh, hành đơn cho đến
những người ở ngoài chùa đều rất bận rộn, vì các ông đả thất, chẳng những
người trong chùa bận rộn mà có lẽ thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ
Pháp, Long Thiên cũng bận rộn không xiết. Nói chung, ấy là vì các ông đả
thất.
Ta hỏi các ông: “Đả thất là làm việc gì sao lại lam bao
nhiêu người bận rộn như vậy? Cái đó còn chẳng kể làm gì, ngay cả thập
phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp, Long Thiên so với chúng ta lại
còn bận rộn hơn nữa, bận rộn việc gì vậy, các ông có người nào biết được
không? Đả thất làm cái việc gì?”. Có lẽ có người còn chẳng hiểu được.
Trong lòng các ông nói rằng: “Những cực khổ lúc bình thường đã quá lắm
rồi, nay lại còn phải đả thất. Thầy nói nghe thì hay đấy, vì chúng tôi đả
thất, lại nói thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Lịch Đại Tổ Sư, Hộ
Pháp Long Thiên đều vì chúng tôi mà bận rộn. Bận rộn là bận rộn việc gì,
chẳng qua chỉ đem đến thêm chút khổ nữa cho chúng tôi phải chịu đựng chứ
có việc gì khác nữa đâu!”.
Đúng, thật đáng thương xót! Thương xót không thể nói
được. Các ông tuy ngu mê như thế nhưng ta vẫn chiếu theo quy củ của nhà
chùa để làm việc. Các ông phải hiểu được là: Quy củ đả thất rất nghiêm
khắc, khác với lúc bình thường. Vậy khác ở chỗ nào? Ấy là ngày nay các ông
xin phép sanh tử ở các vị Tổ quá khứ và cũng xin phép sanh tử với ta, ta
hứa cho phép sanh tử, vậy sanh tử các ông nằm trong hai tay ta, muốn cho
các ông sống thì sống, muốn cho chết thì chết. Đúng ngay chỗ này chết. Lúc
bình thường sắc thân các ông giao nhà chùa, còn tính mệnh phó cho Long
Thiên, trong thời kỳ đả thất thì không như vậy, sắc thân, tính mệnh đều
giao trọn trong tay ta. Quy củ nghiêm khắc là như thế nào? Ta đại khái đem
ra nói cho các ông nghe. Từ nay về sau trong thời kỳ đả thất, Tăng chúng
và các vị hành đơn đều không chắp tay chào các vị Duy Na, không hỏi thăm
Ban Thủ, cũng không chắp tay hỏi thăm ta. Trong thời kỳ đả thất, Phật cũng
chẳng lạy, hương cũng chẳng đốt, thì các ông chắp tay hỏi thăm để làm gì?
Ta vì các ông nói trước thế này: Việc lớn hơn hết là bệnh nặng, việc lớn
nhất đã không có rồi, nói gọn lại là bệnh. Một khi có bệnh thì chẳng phải
là chắp tay xin Duy Na cho nghỉ sao? Vị Duy Na không dám cho nghỉ có phải
chắp tay xin Ban Thủ chăng? Không được, vị Ban Thủ lại dám cho các ông
nghỉ bệnh ư? Chẳng những là phép nghỉ bệnh, nghỉ chạy hương, nghỉ kinh
hành cho đến hết thảy các việc nghỉ phép, Ban Thủ, Duy Na đại khái đều
không dám to gan như thế đâu. Vì sao vậy? Các ông xin phép sanh tử, không
phải xin Ban Thủ, Duy Na mà phải xin ta, các vị kia dám thay ta cho phép
ư? Vậy khi nào có bệnh thì làm cách nào? Chẳng có cách nào hết, sống cũng
đả thất, chết cũng đả thất, mạnh cũng đả thất, đau cũng đả thất, chung quy
là đả thất. Ngay khi bệnh nặng, đứng cũng chẳng nổi thì làm sao chạy được?
Nếu các ông thực đã đến lúc chẳng còn có thể chạy được đi nữa thì phải đem
thân thể các ông quăng xuống đáy quảng đơn (giường ngủ chung của đại
chúng). Các ông bệnh cũng được, sống cũng được, chết cũng được, đợi sau
khi giải thất thì mới đưa đi chôn, dù năm người hay ba người cũng quăng
xuống đáy quảng đơn. Đây là các giải quyết kẻ có bệnh. Lại nữa, các ông
trong thời kỳ đả thất, đi hương, ngồi hương, quả đường cho đến đại tiểu
tiện mà quay đầu một cái, hoặc cười đùa, như thế thì ta bảo cho các ông
biết: Các ông phải mất mạng đó. Thế là sao? Một khi các ông đã đến thiền
đường thì hương bản của các vị Ban Thủ, Duy Na đều quay về các ông mà đập
xuống. Một, hai chục hương bảng chẳng kể đầu, mặt, tai cứ đánh hết, đánh
rồi mà không chết thì vẫn phải đả thất. Nếu như đánh các ông bị thương thì
làm cách nào? Thì cũng phải liệng các ông xuống đáy quảng đơn. Sau khi
giải thất rồi thì đem đi chôn một lượt. Chẳng phải như lúc bình thường
đánh chết rồi đem đi chôn, đánh bị thương rồi thì đưa vào liêu như ý (nhà
y tế ở tòng lâm).
Thời kỳ đả thất thì không như thế. Vậy thì chùa Cao Mân
đánh chết người chẳng coi việc đó ra gì sao? Những năm qua trong thời kỳ
đả thất cũng có mấy người bị đánh chết, đây là việc bình thường chẳng có
gì là lạ. Ta đã cảnh cáo các ông nhiều rồi: Những quy củ nào ta đã giao rõ
cho thì các ông phải làm đúng như thế, chẳng vì tình riêng tư, không được
sai chạy một chút. Ta nói gọn lại một câu: Có bệnh gần chết không được xin
nghỉ bệnh, chết rồi liền đem quăng xuống đáy quảng đơn. Ta đã dặn dò các
ông rõ ràng, mảy may không được sai chạy. Lại nữa, lúc bình thường, các
ông trong khi tịnh muốn đi ngoài thì xin phép với Duy Na, Duy Na đánh sáu
hương bảng thì có thể mở cửa đi ra được. Trong thời kỳ thiền thất chẳng
cho như vậy, vì rằng một ngày mười hai nén hương thì có thể hai mươi bốn
lần đi ra ngoài. Dù các ông có đau bụng muốn đi ra ngoài thì có ít nhiều
thì giờ để đi chăng? Bất cứ cây hương nào cũng không cho phép mở cửa. Các
ông dù có đại tiện ngay ra quần hay trên nệm ngồi thì cũng không quái lạ
gì các ông cả, đại tiện ra trên nệm thì có thể được chứ mở cửa thì không
thể được. Các ông phải lưu tâm. Đả thất là làm việc gì? Các ông phải hiểu
cho rõ ràng, không có gì hơn ngoài việc tham thiền, ngộ đạo, liễu sanh
thoát tử. Muốn tham thiền mà chẳng tham câu thoại đầu thì không được. Muốn
liễu thoát sanh tử thì cũng tham câu thoại đầu thì mới liễu được. Các ông
phải phát tâm. Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 16 tháng 10 (Thất đầu ngày đầu).
“Lương y chi môn bệnh giả đa” (Thầy thuốc giỏi nhiều
bệnh nhân đến). Người đời khi có bệnh đều phải đến thầy thuốc, ông bệnh
nào thì lương y cho ông uống thuốc nấy, ông ta theo chứng bệnh mà cấp
thuốc nhất định làm sao cho ông uống thuốc đến khi bệnh dứt được, đó là lý
lẽ nhất định của pháp thế gian, pháp xuất thế gian cũng vậy. Chúng ta từ
vô lượng kiếp cứ mắc bệnh mãi cho đến ngày nay, hết thảy người đời chỉ
biết sự đau đớn trên xác thân mình, còn một thứ đại bệnh mà chẳng biết tí
nào cả. Người thế tục chẳng biết có cái đại bệnh này thì còn nói được đi
vì họ từ mê này vào mê khác, thiện căn ít nên không thể lạ gì họ, các ông
là người dụng công tu đạo, liễu thoát sanh tử mà tại sao cũng giống họ
vậy? Các ông cứ cho là mình tốt hơn người thế tục. Ta hỏi các ông: “Có
bệnh không?”. Các ông nghe hỏi vậy trong lòng không vui, nghĩ: “Người khỏe
mạnh tại sao hỏi bệnh hay không? Từ sáng đến tối ăn mấy tô cơm, trà cũng
uống, nước cũng uống, thì có bệnh gì; có bệnh thì có chỗ nào tốt đâu?”.
Đúng đấy, thực là khổ sở lắm! Cái bệnh lón như thế thì cũng loàng xoàng mà
qua đi thôi. Ta thấy các ông như thế trong lòng thật bất nhẫn. Tỷ như: một
nhà thương lớn có giám đốc, có y sĩ, người đến, người đi đều là để khám
bệnh. Bác sĩ hỏi ông: “Có bệnh không?”. Ông nói: “Có bệnh”. Ông ta hỏi:
“Bệnh gì?”. Ông nhất định nói: “Nhức đầu, ăn cơm không được", cho đến
những thứ bệnh khác. Bác sĩ liền theo lời ông và sự bắt mạch của ông ta mà
cấp thuốc cho ông. Ông cầm lấy thuốc uống luôn không kể là cái gì chỉ mong
khỏi bệnh, thầy thuốc nhất định muốn ông phải uống, uống rồi thì chung quy
muốn khỏe mạnh.
Thiền đường của chúng ta đây cũng như bệnh viện, các
ông đến là để chữa bệnh cho nên hỏi các ông bệnh gì, các ông còn nói là
không có bệnh chăng? Các ông đương nhiên nói: “Có bệnh”. Ta lại hỏi các
ông: “Mắc bệnh gì?”. E rằng các ông không có người trả lời cho xuôi được,
có bệnh gì các ông chẳng nói ra nguyên do căn bệnh thì ta làm sao ra toa
được? Ông không nói thì ta có biện pháp gì? Một số các ông biết được chút
ít thì cứ nói chút ít thì ta cũng có thể cấp thuốc cho các ông uống, nhưng
mà một chút các ông cũng chẳng biết thì ta có biện pháp nào ? Này các Sư,
mắc cái đại bệnh này mà chẳng biết, lại quay lưng với đạo, càng chạy càng
xa. Trong lúc các ông lại còn có vài người cứ cho là: “Nói bệnh lớn với
bệnh nhỏ gì, chúng tôi lại đây là để xem nề nếp nhà chùa, đến là để tham
học, xem qua cách thức gia hương đả thất, biết được chút ít là được rồi”.
Có khá nhiều vị nghĩ như thế đó. Bởi vì các ông không triệt để biết mình
vốn có cái đại bệnh ghê gớm, cái đại bệnh không trị không được. Chỉ sau
khi các ông biết được triệt để cái đại bệnh này thì các ông mới có thể
biết cái lợi hại của bệnh không trị không được, phải uống thuốc. Giả sử
các ông không biết cái bệnh này thì còn nói gì chuyện uống thuốc. Bệnh
viện này cũng chẳng cần ở. Bởi vì các ông không biết mình có bệnh nên
chẳng quan tâm gì đến việc đau đớn, không uống thuốc hình như cũng chẳng
có việc gì, thế còn phải ở lại bệnh viện để làm chi?
Nay ta cho các ông biết: đại bệnh này là “Sanh tử đại
bệnh”. Đại bệnh này nhất định phải trị, nhất định phải uống thuốc. Các ông
phải hiểu được: Hôm nay đến được chỗ này quả không phải là dễ đâu, ấy là
do sự bồi đắp từ kiếp trước. Cái thân người này không dễ gì có được, phải
trải qua bao đại kiếp ở trong các loài khác đến nay mới có được cái thân
người này! Ta lại để thân này trôi qua, há chẳng phải là để phí phạm đi
mất sự vun trồng của đời trước sao? Phải biết rằng: Thân này không phải là
trường cửu, cho là một trăm năm mà nay chúng ta đã trải qua mấy chục năm
rồi, thời gian còn lại có được bao nhiêu ngày? Huống nữa đời người chỉ
trong hơi thở, cứ khi miệng không hít không thở ra nữa là khổ rồi! Nay
chúng ta lại gặp cơ duyên tốt này, nên lo sao cho thiết thực làm một phen
thì mới không phí phạm kiếp làm người, mới biết được sanh tử là đại bệnh
của chúng ta. Cái sanh tử đại bệnh này không giống với đại bệnh ở thế
gian, không uống thuốc câu thoại đầu thì không được. Các ông hãy đề lên
câu thoại đầu mà tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 17 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ nhì)
Đả thất để làm gì? Chẳng có gì khác hơn là tinh tiến.
Ta nói ngay ra là “chân” tinh tiến. Tại sao đả thất lại là “chân” tinh
tiến? Lúc bình thường, cho là các ông cũng có thể tinh tiến được nhưng
chung quy khó có thể lâu dài mãi được, ấy là do lúc bình thường có nhiều
công việc phiền nhiễu nên không thể trách các ông được. Bởi vì vừa đang
dụng công tinh tiến thì bảng gõ hối phải đi lên chánh điện, mới cảm thấy
công phu hơi đắc lực lại phải đi quả đường, cho đến việc tuần hương, đổi
phiên trực thiền đường đều là những việc quấy rối sự dụng công, nhưng hiện
tại đả thất thì không như vậy, không thượng điện, không quả đường cho đến
đi tiêu giấy xúc cũng không cần các ông động tay, có thể cho là chu đáo
lắm rồi! Bình thường tất cả việc quấy rối làm cho trong lòng bận hết sức,
nhưng hôm nay thì mọi việc quấy rối đều đã có người quét sạch cả rồi,
chẳng còn tí nào nữa, như vậy có thể hoàn toàn tinh tiến được, nhưng ta
muốn hỏi các ông: Tuy mọi việc quấy rối đã quét sạch rồi, chỉ lo rằng
trong lòng các ông lại quét không sạch thôi!
Các ông quét sạch chưa? Mọi người đều đứng ở đây, ta
hỏi các ông: Sạch hay chưa? Các ông hãy xét kỹ thử xem: Nếu muốn nhà chùa
giúp các ông thành tựu như vậy thì phải buông bỏ tất cả, chỉ lo dụng công
thôi; các ông còn có được cơ hội tốt này, tất cả chẳng cần chúng ta phải
làm gì hết, trống rổng cả rồi. Để thời gian trôi qua như thế lại là đả
thất sao? Để thời gian trôi qua trống rổng như thế thì thực là phụ ơn nhà
chùa mà cũng phụ ơn bản thân các ông. Nhưng hôm nay ta còn để các ông tự
phụ ơn mình sao? Các ông phải biết cái loại nhân cho thời gian bỏ trống
qua (Hư tiêu tín thí) này như đã gieo xuống, đến khi cảm quả (quả địa
ngục) thì không biết ra làm sao nữa! Ta nói như vậy nhưng trong có lẽ
trong lòng các ông lại không như vậy. Vậy thì như thế nào? việc thượng
điện, quả đường quy củ lớn nhỏ bận rộn hết sức chẳng có tí rỗi rảnh. Trước
kia đã chịu nhiều khổ sở để học được Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa cho đến
những điều thấy được, lãnh hội được còn chưa sờ mó (suy nghĩ) tới được.
Ngày nay đả thất tốt rồi; chẳng có việc gì làm, tôi ngồi xuống ôn lại
những việc tôi đã trao đổi từ lâu không muốn để quên mất.
Đúng đấy! Các ông ngồi xuống trong lòng có như thế
không? Ta thấy trong bụng các ông đầy ắp những Lăng Nghiêm, Pháp Hoa tuôn
ra như nước chảy. Nhưng hôm nay lo việc căn bản đại sự thì những Kinh giáo
các ông chứa đầy trong một bụng một chữ cũng chẳng dùng được; không những
một chữ cũng chẳng dùng xong mà ngay cả một mảy lông cũng chẳng dùng được;
các ông có tin không? Ta thiết nghĩ: Sợ rằng không dễ gì tin được. Tại sao
vậy? Các ông cho là: Trong thiền tông vì lẽ gì một chữ cũng dùng không
xong? Vậy thì lấy bảy chỗ trung tâm, mười phen hiển kiến trong Kinh Lăng
Nghiêm chẳng là công phu sao? Nhất chân pháp giới trong Kinh Hoa Nghiêm vì
sao Thiền Tông một chữ càng dùng không được? Thế chẳng phải là làm các ông
khó tin sao? Đúng đấy! Vậy thì ta muốn hỏi các ông: Có tham câu thoại đầu
không? Các ông không cần hỏi câu thoại đầu là pháp lớn hay pháp nhỏ, cứ
cho nó là cây củi mục vô dụng đi. Các ông hãy nhai nó xem có mùi vị gì
không? Bảo các ông nhai thì cứ nhai thử xem! Chúng ta mắt thì thấy giống
nhau, thí dụ câu thoại đầu viết lên tờ giấy đỏ dán trên cột, các ông thấy,
ta cũng thấy, có thể cho cùng một nhãn kiến đi. Ta nói các ông thấy đỏ, ta
thấy xanh, các ông có tin không? Ta không những thấy được không phải là đỏ
mà lại là xanh, mà ngay cả xanh cũng bất khả đắc, các ông lại càng khó
tin. Ta muốn hỏi các ông cái câu thoại đầu như củi mục này các ông nhai
có được tí mùi vị nào không? Giả sử đã nhai ra được tí mùi vị thì tự nhiên
sẽ thấy không phải là đỏ mà là xanh. Lại thêm cái tinh tiến này trong thời
kỳ đả thất thì chẳng phải là ngay cả đến cái xanh cũng bất khả đắc sao?
Đến lúc đó ta sẽ hỏi ông: Lăng Nghiêm có còn không? Pháp Hoa có dùng được
không? Cho đến tất cả kiến, văn, giác, tri có còn không? Các ông thử
nghiên cứu xem? Có phải như thế hay không? Cho nên ta bảo các ông đem tất
cả cái học, cái thấy, cái nghe, cái hiểu chứa đầy trong bụng quăng hết đi,
quăng bỏ cho thật sạch hết, một chút cũng không cho còn, có lẽ các ông còn
chưa chịu quăng bỏ, dù cho có bỏ cũng chưa chịu quăng bỏ cho sạch trơn.
Mặc dầu đã quăng bỏ cho sạch trơn rồi thì trong Thiền Tông cũng chưa cho
là xong việc đâu. Vậy các ông lại phải đem cả cái da bụng mà quăng tuốt đi
luôn thì có thể cho là xong việc chưa? Chưa xong đâu! Việc trong Thiền
Tông còn phải đem quăng luôn cả cái bụng đi mới kể là xong việc. Nếu chẳng
quăng bỏ luôn cái bụng thì lâu về sau nó vẫn còn chứa đựng cái khác. Các
ngươi hãy phát tâm tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 18 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ ba).
Dụng công thiên nhật, ngộ tại nhất thì (dụng công ngàn
ngày chỉ ngộ trong nhất thời). Giả sử công phu các ông được không tí nào
gián đoạn, dụng công được ngàn ngày thì đối với sự khai ngộ ta dám bảo
đảm. Giả sử công phu chưa đến được chỗ đó thì ta không dám bảo đảm. Trong
các ông có người đã ở đây được năm ba năm, cũng có người ở chùa Kim Sơn
được năm ba năm, tính chung là ở chùa Kim Sơn Cao Mân mười năm, hai mươi
năm khổ hạnh tại làm sao không có được công phu ngàn ngày? Đã có công phu
ngàn ngày thì không phải nhất định ở trong thời kỳ đả thất này sẽ khai ngộ
sao? Trong thời kỳ đả thất là chuyên môn để nắm chắc công phu khai ngộ, vì
sao mà không khai ngộ được? Bởi vì đáng tiếc cho các ông quá, tuy nói
không có năm năm, mười năm hai mươi năm công phu mà ngàn ngày công phu đã
có rồi, nếu các ông không có được công phu ngàn ngày thì đối với sự khai
ngộ hãy còn chưa làm đến được. Ta nói như vậy trong lòng các ông cho rằng:
“Mùa hè khí trời nóng bức quá lại còn lên chánh điện, quả đưòng, làm công
phu thì chưa được xứng đáng, đợi đến thời kỳ thay đổi chức sự cần phải
phép tắc lớn nhỏ làm cho hết sức bận rộn, cho đến “gia hương” đều không
phải là lúc dụng công phu. Đả thất mới là chân thật dụng công phu. Đả thất
mới là chân thật dụng công phu, không được lại bỏ qua nữa”. Đại khái các
ông đều như thế cả. Ta thấy cái tư tưởng này của các ông cứ cho là một
năm chỉ có đả thất mới dụng công phu, mùa hạ thì kiết hạ, lúc thay đổi
chức sự thì cũng là thay đổi chức sự, gia hương còn phải lên chánh điện,
quả đường, đả thất thì mới cần dụng công, loại người như vậy là tệ hại
nhất. Tại sao vậy? Đả thất là phải định kỳ thủ chứng, là cái lúc nhất văn
thiên ngộ chứ đâu phải là thời kỳ để dụng công phu. Dụng công phu phải ở
ngay trong lúc bình thường, ngày thường không chịu dụng công phu đợi đến
đả thất mới dụng công, thì đến lúc nào mới có thể khai ngộ được?
Ta nói đến chữ ngộ thì còn có phần của các ông không?
Ta cho các ông một thí dụ: Trước đời Mãn Thanh, người đi học được mười năm
rồi hễ gặp kỳ thi thì đi thi phải không? Nếu đến trường thi mà còn chưa
biết viết chữ, nhìn mặt chữ không ra, trong khi thi mới tập viết, như vậy
phỏng có được không? Ra làm quan có phần các ông không? Trong thời kỳ mười
năm học hành các ông không đi học, chỉ mang cái tên là người đi học, đến
trường thi thì chỉ muốn được đậu làm quan, sợ là không xong rồi. Chúng ta
hôm nay đả thất cũng giống như ở trường thi, khổ công ba năm đã đủ tư cách
rồi, khi nhà Chùa mở Thiền thất thì phải khai ngộ liền mới đúng. Các ông
bình thường mang tiếng dụng công mà thực ra chẳng có dụng công gì cả, đến
lúc đả thất thì làm sao khai ngộ được? Cũng như không đi học mà đi thi,
các ông sai lầm như vậy đã lâu lắm rồi không phải mới hôm nay. Xem như thế
thì còn phải đả thất không? Có phải là không đả thất cũng được chăng? Bởi
vì các ông không có một người có tư cách đả thất, các ông như vậy là rất
phụ ơn nhà chùa, nhà chùa chỗ nào cũng vì các ông mà lo lắng, có một tí
trái ngược với đạo thì mau mau sửa đổi cho tốt, như thế ta dám nói nhà
chùa đã hết bổn phận đối với thiên hạ, chỉ có thể nói các ông phụ ơn Nhà
chùa chứ nhà chùa quyết không hề cô phụ các ông. Nếu có người dụng công
phu được năm ba năm, mặc quần áo, ăn cơm, lên chánh điện quả đường, đi
cầu, ngủ nghỉ đã dụng công đến cực điểm, hôm nay đến chùa Cao Mân dự tính
tham gia đả thất lại muốn được thủ chứng ngay, không ngờ nhà chùa không
cho các ông đả thất, vậy thì nhà chùa cô phụ các ông rồi. Ta hỏi các ông
còn có một người như vậy không? Ta lại hỏi các ông nữa: Đừng nói quá khứ
ba năm, năm năm, không dụng công phu cũng đã bỏ luống qua rồi, cả mùa hè
cũng chưa đề lên một câu thoại đầu, cho đến vào thiền đuờng gia hương cũng
không biết đề lên câu thoại đầu, bây giờ đang thời kỳ đả thất từng cây
hương một, từng thất một, ngồi hương đi hương đề được mấy câu thoại đầu.
Các ông xét lòng tự hỏi xem có làm đủ bổn phận đối với người đời không?
Đối với bất cứ việc học nào cũng vậy đều cần phải nói đến tiến bộ. Cái
tiến bộ ở trong thiền tông các ông có biết ở chỗ nào không? Lên chánh điện
có tiến bộ, quả đường có tiến bộ, đi cầu có tiến bộ cho đến nơi nơi đều có
tiến bộ cả. Các ông có biết lên chánh điện tiến bộ ở chỗ nào không? Đứng
trên chánh điện đầu không có chút nghiêng, thân cũng không tí nhúc nhích,
như thế là tiến bộ. Tại sao vậy? Công phu dụng đến chỗ đắc lực, đầu làm
sao nghiêng được, thân làm sao nhúc nhích được? Đầu hễ nghiêng, không thấy
sắc thì nghe tiếng, thân cử động không nhúc nhích thì ngứa, đâu còn công
phu nữa. Trong lúc quả đường, lên chánh điện, cho đến mọi nơi, ngay cả đi
vào nhà tiêu đậy nắp cầu không ra tiếng, thậm chí nhướng mày, nháy mắt,
đi, đứng, nằm, ngồi đều dụng công phu. Các ông cần nhận thức chỗ quý trọng
lúc bình thường của thiền tông, cái chỗ tốt của thiền thất. Các ông hãy
phát tâm. Tham đi!.
KHAI THỊ
Ngày 19 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ tư).
Pháp của thiền tông vốn là bất lập văn tự, không mượn
ngôn ngữ. Bất lập văn tự thì không có lời để nói, không mượn ngôn ngữ thì
không có gì để mở miệng. Cứ như thế mà nói thì không cần phải nói chuyện
sao? Tại sao mỗi ngày có vài lần khai thị? Phải hiểu là: Trong thiền tông,
nói chuyện vốn là bất đắc dĩ vì tâm các ông mỗi mỗi đều khác nhau, cái bất
lập văn tự không mượn ngôn ngữ của thiền tông là cần phải đạt đến chỗ hành
đồng nhất; mười phương Chư Phật, lịch đại Tổ Sư hành như vậy, hiện nay các
ông cũng có thể hành như vậy mới có thể nói không mượn ngôn ngữ. Nay vì
các ông tâm hạnh khác nhau, trăm người trăm hạnh. Muốn cả trăm người các
ông đều quy về một tâm hạnh thôi, cho nên phải nói là vậy, nhưng lời nói
là lời nói của thiền tông, trong thiền tông bất cứ là người nào cũng không
cho giảng kinh điển, ngũ lục, công án. Các ông nghe vậy đương nhiên có mối
hoài nghi: “Kinh điển Chư Phật thuyết không được giảng, tại sao ngữ lục,
công án của Tổ Sư lại cũng không được giảng?”. Bởi vì giảng rồi đối với
các ông cũng vô ích, lại thêm cho các ông tâm của trăm người lại phân
thành mấy ngàn cái tâm.
Đây là lẽ gì vậy? Cái hạnh của các ông đều phải đi con
đường hướng thượng, lấy câu thoại đầu làm miếng ngói gõ cửa, bia chỉ
đường. Người xưa tuy co những công án “Lúc cha mẹ chưa sanh ra”, “Con chó
không có Phật tánh” cho đến một ngàn tám trăm công án, nhưng bất cứ chư Tổ
nào cũng đều phải ở một công án mà thâm nhập, cho nên thiền đường Hòa
Thượng, vị Ban Thủ cứ mở miệng là thoại đầu, ngậm miệng lại cũng thoại
đầu, nói chuyện cũng thoại đầu, chẳng nói chuyện cũng thoại đầu. Cái này
là rất cần yếu trong thiền tông. Trong bụng các ông cứ cho là tham thiền
cũng như đi chơi ở Thượng Hải, hôm nay Tân Thế Giới, ngày mai Đại Vũ Đài,
ngày kia Tiên Thi Công Ty mới tương ứng tâm của các ông. “Nhưng hôm nay
đến Thiền đường tại sao từ sáng đến tối, từ đầu năm đến cuối năm đều chỉ
có một câu thoại đầu? Một tí mùi vị cũng chẳng có, làm cho người ta buồn
muốn chết đi”. Đúng đấy! Lại nữa, lời khai thị không có trình tự gì hết,
không có hình ảnh văn chương gì hết, thực là làm cho người ta chẳng muốn
nghe, chẳng lạ gì khi người ta nói: “Thông thiền mà không thông giáo cứ mở
miệng thì nói bậy”. Đúng! Thật đáng thương cho các ông. Ta nói: Ấy là các
ông không hiểu đạo, giả sử như các ông thật biết nói bậy, thế thì tốt đấy.
Tại sao vậy? Ông không hợp cơ thì ông không chịu nghe, người khác nghe thì
thấy hứng thú lắm, ông nghe thấy tốt người khác lại nghe không tốt, bởi vì
tâm hạnh mọi người đều khác nhau, thì nói chuyện làm sao nhất trí được?
Cho đến việc làm văn chương cũng không có luôn, các ông lại hiểu sai rồi;
ở đây không cho các ông làm văn chương, cũng không phải giáo môn giảng
kinh, y văn thích nghĩa, phân khoa phán giáo. Trong thiền tông cũng như
hôm nay ta nói chuyện này chuyện kia, cũng có người nghe rồi nói tốt, lại
lúc Sư Ban Thủ giảng huyền giảng diệu cũng có người nghe rồi thấy tốt; cái
này tức là “Thô ngôn cập tế ngữ, khái quy đệ nhất nghĩa” (Lời nói thô và
tế đều quy vào đệ nhất nghĩa) cốt là ở nơi các ông biết nghe. Các ông phải
hiểu được cái khổ tâm của người nói chuyện, vì các ông có tâm hạnh khác
nhau, cái bất đồng ấy đều là: “Vọng tưởng chấp trước” của các ông cho nên
các ông có trăm cái tâm, người nói chuyện nói ra trăm cái pháp, muốn dạy
cho các ông trăm cái tâm này quy thành một tâm, quả là chẳng dễ gì. Hôm
nay ta giảng cái đường lối công phu, người các ông biết nghe giảng, nghe
rồi trong bụng cảm thấy tốt lắm tựa hồ còn cái nghi tình thì chưa giảng
đến, vậy ngày mai ta sẽ giảng làm sao để khởi nghi tình lên. Các ông nghe
rõ nghi tình biết khởi lên rồi nhưng lại không kéo dài được, hôm sau sẽ
giảng đến nguyên do gì làm cho nghi tình không phát khởi được. Từng bước
từng bước giảng tới, cho đến từng thất từng thất một nói chuyện khác nhau.
Thất thứ nhất giảng về việc không hiểu dụng công phu, thất thứ hai giảng
về con đường dụng công phu, thất thứ ba giảng về tiến bộ của công phu,
thất thứ tư giảng về tin tức của công phu, thất thứ năm thì giảng về chỗ
thấy của công phu, cho đến thất thứ mười từ cạn vào sâu, từ xa đến gần.
Hôm nay nói chuyện trình tự cho các ông biết rồi, các ông trong lòng có
cái nắm được rồi. Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 20 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ năm).
Các ông đều là mộ đạo mà đến đây vì chùa Cao Mân có đạo
để tu, các ông người nào cũng đều như vậy cả. Nhưng nói câu mộ đạo nghe ra
thì thấy dễ nghe lắm, mà nói đến sự thực hành: đạo tại sao cần phải mộ?
Các ông từ ngàn muôn dặm muốn ngộ cái đạo của chùa Cao Mân, vậy không phải
là hướng ngoại mộ đạo sao? Mộ đạo như vậy không phải là hướng ngoại tìm
cầu sao? Đâu cứ đều nhất định phải đến chùa Cao Mân mới có đạo? Đạo vốn
không có đông, tây, nam, bắc cũng không có ông có tôi, cứ trực hạ thừa
đương (ngộ ngay lúc đó) thì được rồi. Hai chữ “thừa đương” cũng là lời
thừa, vốn không thiếu không thừa sẵn sàng đầy đủ. Tiếc thay chúng ta vô
lượng kiếp trước với Chư Phật cũng đã đồng diện mục, không những đồng diện
mục mà sợ còn có chỗ siêu việt hơn hơn cả thập phương Chư Phật, bỗng đâu
được cái thân huyễn hóa này, rồi không chịu cái này bèn đổi lấy cái khác,
không chịu nữa thì đổi lấy cái khác nữa. Từ cái này thay đổi qua cái kia
mà thay đổi mãi cho tới ngày nay. Cứ mỗi lần thay đổi thì lại thêm một dấu
vết làm cho bản lai diện mục của chúng ta bị che lấp kín mít, một tí hơi
cũng không thấu được. Mặc dầu bị che lấp kín mít nhưng nói chung không
thiếu sót tí nào. Mười phương Chư Phật cũng như vậy, Bồ Tát Tổ Sư cho đến
côn trùng nhỏ xíu cũng như vậy, sơn hà đại địa cũng như vậy, thảo mộc tòng
lâm, cho đến trong hư không, ngoài hư không cũng như vậy, trong một hư
không cho đến vô lượng vô số hư không đều như vậy cả. Ông không thiếu sót,
ta cũng không thiếu sót, chỉ tiếc một là không dám “thừa đương”. Giả sử
chúng ta thừa đương được thì e rằng không phải là người giống như thế này
đâu. May mắn cho chúng ta ngày nay được cái thân xác làm người này, trong
thời kỳ “làm người" này phải nghĩ ra cách thế nào có thể “thừa đương”
được! Đối với cách thừa đương được của mình, cần các ông phải có “lòng
tin”, nhưng lòng tin trước hết phải tin rằng cái thân xác này chẳng bao
lâu sẽ tan hoại, hoại rồi thì đường đi nhiều lắm, không hiểu kiếp nào mới
được thành người nữa, đường trước mắt thì mênh mông không biết ra thế nào.
Phải triệt để tin tuởng cái mặt mũi bổn lai của mình, phải hết sức tin
tưởng mình như thế, không thừa đương thì không được, không hiểu cái ta của
chúng ta thì không được.
Tự tin được mình thì tiếp tục phải tin phương pháp của
câu thoại đầu, câu thoại đầu là thừa đương mình, câu thoại đầu là phương
tiện để hiểu mình, không phải chỉ nói câu thoại đầu có bao nhiêu cái tốt
mà còn muốn các ông tự mình thấy đến được là câu thoại đầu xác thực không
sai. Nhưng dạy các ông dụng công phu các ông lại cho rằng: “Câu thoại đầu
này dùng được gì đâu? Niệm Phật là ai? Niệm Phật là tôi, còn có người khác
niệm Phật cho tôi sao?”. Không những các ông sơ tham mới có tình hình như
vậy thôi đâu. Lúc ta còn tham học, đến các Chùa thấy dán câu niệm Phật là
ai? Thấy qua rồi thì cảm thấy hình như không giống với tất cả học vấn thế
gian. Học vấn thế gian hễ học thì thông liền, còn câu thoại đầu thì không
dễ gì thông, nghiên cứu như vậy niệm Phật là ai? Là tôi chăng? Suy nghĩ
một hồi thì cảm thấy không phải là tôi. Vậy lấy gì làm tôi? Hơn nữa, tôi
nói niệm Phật là tôi, tôi hôm nay sửa tấm giấy đỏ lại, niệm Phật là tôi,
thế có thể được không? nếu không sửa được tức là không phải tôi. Vậy không
phải tôi thì là Phật sao? Không phải, tất cả đều là không phải, như vậy
suy nghĩ phân biệt một lúc, quày đầu lại biết mình đã sai lầm rồi, ai dạy
ông ở trong phân biệt suy nghĩ mà dụng công phu? Ông phải biết đề lên câu
thoại đầu cảm thấy không hiểu thì ở chỗ không hiểu rõ mà đi tìm cứu cánh,
ấy tức là nghi tình. Ở trong, nghi tình này dụng công phu lâu đi rồi, dụng
đến quày đầu trở lại lúc ấy ông mới triệt để nhận thức được chính mình.
Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 21 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ sáu).
Lúc Phật còn tại thế, có một người ngoại đạo đem hoa
cúng Phật, lạy xong, Phật nói: “Bỏ hoa xuống”. Người ngoại đạo bèn bỏ hoa
xuống, Phật lại nói: “Buông tay xuống”. Người ngoại đạo buông tay xuống.
Phật lại nói nữa: “Buông thân người xuống, người ngoại đạo đứng ngơ ngác
cả nửa ngày, thân làm sao buông xuống được? Bèn hỏi: “Thưa Thế Tôn, thân
làm sao buông xuống được?”, Phật nói: “Không buông xuống được thì gánh lên
đi”. Người ngoại đạo liền ngộ. Các ông thử nghĩ xem: hai chữ “buông xuống”
còn cái gì quý hơn đâu? Cho nên ta thường dạy các ông buông xuống, thân
cũng buông xuống, thế giới cũng buông xuống, hai chữ “buông xuống” cũng
buông xuống luôn. Các ông không những không chịu buông xuống mà hình như
còn muốn nhiều thêm nữa mới vừa lòng. Bởi vì trước kia đã có cái thói quen
lấy được sự nhiều cho là tiến bộ được ít là không tiến bộ, cho nên hôm nay
học kinh Lăng Nghiêm, ngày mai học kinh Pháp Hoa, ngày mốt học kinh Hoa
Nghiêm càng nhiều càng tốt, các ông nghe nói hôm nay giảng câu thoại đầu
này, ngày mai giảng “Trước khi cha mẹ chưa sanh ra”, ngày mốt giảng “Con
chó không có Phật tánh”, mỗi ngày đổi một câu thoại đầu như thế thì mới
vừa lòng các ông, nghe cho nhiều lắm thì mới thấy phải. Hôm nay ta bảo các
ông buông xuống cho đến không còn cái gì để buông nữa. Cái chỗ không có
cái gì để buông ấy cũng còn phải buông luôn nữa. Nếu không lãnh hội được
đích chỉ thiền tông ở chỗ này, không chịu tin cái từ tâm tha thiết của
thiền tông thì các ông sanh ra sự hiểu lầm, đã có sự hiểu làm này rồi thì
gieo cái nhân phỉ báng, tương lai sẽ chiêu cảm cái quả phỉ báng, lúc ấy
thì khổ chết thôi. Cái hiểu lầm của các ông là ở chỗ nào? Thứ nhứt là bảo
các ông buông xuống thì buông xuống, buông xuống rồi thì trong tư tưởng
mình suy nghĩ này nọ như ở trong cái động đen tối. Thứ hai bảo ngươi lấy
cái nghe được, học được, lãnh hội được tất cả đều buông xuống, các ngươi
không chịu buông xuống mà trái lại còn nổi tâm sân lên nói rằng: “Thiền
tông mở miệng không nói cái không đúng của giáo môn thì nói cái không đúng
của Tịnh Độ, đó không phải là chuyên môn phỉ báng giáo môn, phỉ báng Tịnh
Độ sao?”. Các ông hiểu lầm như vậy ấy là “sai một mảy may mất đi một ngàn
dặm” rồi. Bởi vì các ông không hiểu cửa thiền tông là cái cửa gì, ấy là
cái cửa tuyệt tướng, siêu tông, ly danh, ly tướng, cũng không phải bảo ông
hủy bỏ kinh điển, vứt bỏ Tịnh Độ, không có sự như vậy đâu! Chỉ bảo các ông
trong thời kỳ tham thiền này phải buông bỏ tất cả tức là bảo các ông nghỉ
ngơi cái tâm, cho nên nói: “nghỉ ngơi tức là Bồ Đề", muốn bảo các ông nghỉ
ngơi cho đến một mảy lông cũng không có mới được, nêu còn một mảy lông
cũng nào thì sẽ che khuất cả hư không. Ta lại cho một thí dụ: Như người đi
học nghề thợ mộc, học được năm ba năm cho là học thành nghề rồi, cưa cũng
biết cưa, bào cũng biết bào; vì kiếm tiền không được nhiều liền đổi nghề
may vá, học may thì phải cầm kéo phải không? Ông đến tiệm may mà còn đem
búa đem cưa sao? Búa với cưa còn có chỗ dùng chăng? Không những búa, cưa
đều không dùng được mà cũng không cho cả cái tâm làm thợ mộc tồn tại, bởi
vì tay ông cầm kim mà trong tâm lại là thợ mộc thì cái việc may vá của ông
làm sao học thành được! Hôm nay các ông tham thiền đương nhiên phải lo
việc tham thiền, tham thiền thì cần phải buông xuống, cần phải nghỉ ngơi,
các ông đem sự học được, nghe được, lãnh hội được đựng trong bụng, thế còn
có chỗ dùng gì được đâu? Thiền còn tham được chăng? Cũng như học thợ may
đem búa đục đựng trong túi đeo trong người vậy. Các ông suy nghĩ cẩn thận
xem có phải không? Không phải cứ nghe ta nói là xong việc đâu, cần phải
trong tâm các ông lãnh hội triệt để mà nói: “Đúng thế” mới được. Tham
thiền cần phải buông bỏ muôn niệm, nếu có một tí không buông bỏ thì cái
một tí này sẽ che khuất cả hư không. Các ông lãnh hội được chưa? Chúng
sanh từ vô lượng kiếp đến nay chỉ vì cái không buông bỏ, lớn là thế giới,
nhỏ là thân tâm, một đời, một kiếp đến nay tương lai lại chẳng sẽ là nối
tiếp một đời một đời sao? Chúng ta muốn làm người phản bổn quy nguyên mà
không đem thân tâm, thế giới vứt bỏ hết thì phản bổn quy nguyên chỉ là nói
suông thôi, thực sự thì làm không đến được. Nếu muốn danh và thực phù hợp
nhau, thì trước hết cần phải biết: thế giới từ đâu mà đến, thân từ đâu mà
có? Tâm lấy gì mà có? Nếu biết được thân tâm, thế giới từ đâu mà có thì
mới có thể từ căn bản mà cắt đứt được, một hết thì tất cả đều hết, mới là
rút củi dưới đáy nồi ra (để nước ngưng sôi). Nếu không giải quyết từ căn
bản thì chỉ là múc canh để nước ngưng sôi mà thôi. Thế giới lấy gì mà có?
Phải hiểu: thế giới lấy thân mà có, thân lấy tâm mà có, tâm lấy mê hoặc mà
có. Muốn quét sạch thân tâm, thế giới thì trước tiên trên căn bản phải
quét sạch cái mê hoặc, mê hoặc được quét sạch rồi thì tâm sẽ sạch, tâm
sạch rồi thì thân phải sạch, thân sạch rồi thì thế giới đương nhiên sẽ
sạch luôn.Như vậy phương pháp quét mê là đề lên câu thoại đầu, phương pháp
này quét mê rất triệt để, mê nếu không có câu thoại đầu thì không thể quét
sạch từ căn bản được. Các ông sau khi có thể lấy câu thoại đầu mà khổ công
tham cho thông rồi thì hành cái hạnh đại bi cứu thế. Cái hạnh nào lại
không được đâu! Sợ cái học cả đời các ông không đủ dùng. muốn các ông đều
đầy đủ chánh tri, chánh kiến để tránh cái hảo tâm vì đạo mà lại chịu lấy
cái quả ác. Phải nhanh chóng lên, hãy phát tâm. Tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 22 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ bảy).
Thật tội nghiệp cho người đời nay, người nào mở miệng
cũng biết nói liễu sinh ,ngậm miệng nói thoát tử, nhưng còn sợ chưa biết
cái gì gọi là sinh, làm sao gọi là tử. Không những người thế gian như vậy
là ngay cả người tu hành chúng ta cũng như vậy luôn. Lấy chuyện người xuất
gia ngày nay của chúng ta mà nói, tối ngày dụng công phu sợ còn chưa biết
dụng công phu làm gì, hiện tại tu nhân gì, tương lai cảm quả gì, chắc các
ông chưa có một người hiểu được. Tối ngày chỉ là trống rỗng trôi qua thôi,
cũng chẳng hiểu trời bao cao, đất bao dày, thế nào là Tứ Thánh, thế nào là
lục phàm, chúng ta hôm nay ở thiền đường, tu là tu nhân gì, tương lai cảm
được quả gì, chắc không có người hiểu được. Các ông nếu có người hiểu được
thì e rằng ta không bảo các ông dụng công phu các ông còn chịu không dụng
chăng? Các ông phải biết: hôm nay ở thiền đường gieo cái nhân thành Phật,
tương lai nhất định cảm được cái quả thành Phật. Người xưa nói: “Nhân nào
quả nấy”, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Chúng ta người dụng công
phu chỉ cần quyết tâm triệt để mà dụng đi bất kể ba, năm, tám, mười năm
cũng được, ba mươi năm, năm mươi năm cũng được, nói tóm lại: Lấy đại ngộ
làm cứu cánh triệt để. Cổ nhân đã nói: “Treo cao túi bát, lấy ngộ làm kỳ
hạn”. Cứ ngay thẳng mà dụng công đi, quyết định lấy câu thoại đầu làm
chính hạnh của ta, dù kiếp này không ngộ, thì phát nguyện kiếp sau, không
hỏi ba kiếp, năm kiếp hay ba mươi kiếp, quyết định không tu pháp môn nào
khác. Các ông muốn được cái chí nguyện kiên cố như vậy mà hành thì ta dám
bảo đảm nhất định sẽ được khai ngộ. Hành như vậy mà không khai ngộ thì Chư
Phật, Tổ Sư há lại chẳng rơi vào vọng ngữ sao? Tổ Triệu Châu nói: “Các
ngươi hành như vậy mà không khai ngộ thì chặt cái đầu của lão Tăng đi”.
Cái phương pháp tham thoại đầu này là phương pháp chân thật bất hư, là cái
pháp căn bản của tất cả loài hữu tình, vô tình, chỉ cần dụng công phu
không hỏi khai ngộ hay không khai ngộ: công phu dụng đến nơi tự nhiên sẽ
ngộ, không cần ông lo nghĩ đến ngộ, nếu chỉ muốn khai ngộ mà không chịu
dụng công phu thì làm sao ngộ được? Cổ nhân nói: “Không cần cầu ngộ, chỉ
cần đề lên câu thoại đầu thẳng tay mà tham, tham đến sơn cùng thủy tận.
“Ồ” lên một tiếng, được đến chỗ này rồi “như người uống nước nóng lạnh tự
biết”. Trong quá khứ có một vị tham thiền ở thiền đường ba năm chê trong
thiền đường người đông làm lộn xộn, tự thấy công phu không được thâm nhập
bèn bỏ đi vào núi ở. Ở trên núi cất một cái nhà tranh, trồng một ít cải,
ban ngày trông chừng không cho chim ăn cải, ban đêm hổ sói tranh giành
ngày đêm chẳng yên, đối với công phu mình cũng bị lộn xộn, ở núi ba năm
rồi công phu mình cũng không thâm nhập được bèn không muốn ở nữa, muốn tìm
một căn nhà để nhập thất, như thế mới tương ứng với công phu. Đi khất thực
được hai, ba năm gặp một cụ già tại gia đã kiến tánh, Bà ấy thấy người
tham thiền này rất có đạo đức hạnh trì bèn thỉnh đến nhà mời dùng cơm chay
và nói chuyện về tâm rất là tương đắc. Bà ấy nói: Thưa Đại Sư, tôi muốn
thành tựu cho sự nhập thất của người. Người tham thiền nghe rồi nói: “Rất
tốt! Tôi đang muốn nhập thất đây”. Bà ấy bèn đưa Sư nhập thất. Bà cụ trong
nhà không có ai ngoài cô con gái mới 16 tuổi cũng đã khai ngộ, bà sai cô
con gái mỗi ngày đem cơm xuống cho Sư ăn, được ba năm sau bà bảo cô gái:
“Con đã đưa cơm được ba năm rồi, hôm nay lúc đưa cơm đợi thầy ấy ăn xong
thì con đến ôm cứng lại và bảo ông nói”. Người con gái nghe rồi nhớ kỹ và
cũng làm theo lời dặn, lên ôm chặt rồi bảo rằng: “Nói đi”. Người tham
thiền nói: Khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí (cây khô dựa trên núi
tuyết, mùa đông không chút hơi ấm), người con gái buông tay về nhà kể cho
mẹ nghe, bà ấy nghe xong rồi mắng người tham thiền đuổi đi, đốt luôn cái
am tranh và nói rằng: “Tôi cúng dường ba năm mà chỉ cúng dường một thằng
chết”. Người tham thiền nghe cảm thấy mắc cở bèn cầm bồ đoàn lên mà đi
khất thực nữa, tự trách mình được người ta cúng dường ba năm mà chưa khai
ngộ được, bị họ chửi mắng rất là tủi hổ, bèn ra sức dụng công phu. Khất
thực ba năm lại đến chỗ bà nọ, cùng nói chuyện công phu yêu cầu bà cho
nhập thất một lần nữa. Lại nhập thất thêm ba năm và bà ấy cũng bảo con gái
đưa cơm như trước. Tròn ba năm, cô gái cũng y theo lời mẹ dặn trước lại
lên ôm chặt người tham thiền bảo: “Nói đi, nói đi”, kỳ này người tham
thiền mở miệng đáp lại: “Trời biết, đất biết, ngươi biết, ta biết, đừng
cho bà già ngươi biết”. Cô gái về nhà kể lại cho mẹ nghe, bà mẹ nghe rồi
trong lòng hoan hỷ nói với người tham thiền: “Tốt lắm rồi! Tốt lắm! Tốt
lắm! Mừng người đã khai ngộ rồi”. Các ông đến nghe chuyện này rồi thì hãy
tưởng tượng xem ngươi biết, ta biết, đừng cho bà già ngươi biết, nếu là
người thế gian nói vậy thì có còn là chuyện tốt không? Đại khái các ông
cùng có một cách lãnh hội như vậy, nếu lãnh hội như vậy là sai lầm rồi.
Bảo các ông ở trên bổn phận mà lãnh hội, các ông tưởng tượng xem có lãnh
hội được hay không? Nếu không lãnh hội được thì cứ tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 23 tháng 10 (Thất thứ nhì ngày đầu).
Liễu sanh, thoát tử, minh tâm, kiến tánh, pháp tham
thiền rất là đương cơ, cũng có thể nói là trùm khắp tam căn. Ta thật tin
tưởng pháp này, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn không pháp nào sánh cùng
pháp này. Nhưng mà trong các ông còn nhiều người không cho như vậy, cứ
nghĩ rằng tham câu thoại đầu làm sao có thể vượt hẳn lên tám vạn bốn ngàn
pháp môn được! Dù ông không tin thế cũng được, chúng ta hãy bỏ qua câu
thoại đầu, các ông nói pháp nào được liễu sanh thoát tử trực tiếp nhất,
triệt để nhất? Có cái nào khỏi cần tham, cũng khỏi cần dụng công phu mà có
thể minh tâm kiến tánh được không? Các ông nghĩ thử xem, nếu thực có một
pháp nào so với tham thiền còn mau hơn thì ta cũng muốn theo các ông mà
học. Bởi vì ngã kiến các ông quá sâu, thiện căn quá cạn, muốn trừ cái chấp
kiến của các ông quy về một con đường lớn này nên cần phải chỉ ra cho các
ông biết, các ông suy nghĩ cẩn thận xem: xem Kinh có thể liễu thoát sanh
tử không? Niệm Phật trì chú có thể liễu thoát sanh tử không? Các ông đến
nơi đây là vì sanh tử mà đến, đương nhiên cần phải nghiên cứu, không phải
là việc nhỏ đâu, các ông thảo luận thử xem; coi Kinh chỉ có thể gieo trồng
một chút thiện căn, biết được chút ý nghĩa, muốn nói liễu thoát sanh tử
thì làm không xong. Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật cũng các ông thể liễu
thoát sanh tử, mà muốn bảo đạt đến đỉnh núi Niết Bàn thì làm không được,
trì chú thì thân tâm được thanh tịnh, có thể được một tí thần thông, liễu
sanh thoát tử thì không thể được, bởi vì xem Kinh, niệm Phật, trì chú đều
là hướng ngoại tìm cầu, sanh tử của các ông không phải từ ngoài mà được,
không dựa vào cái khác mà có, đều từ trong nhà mình mà ra, chạy ra ngoài
càng chạy càng xa. Ông cần phải biết: Tham câu thoại đầu tức là hưóng vào
trong nhà mà chạy. Tại sao vậy? Ta nói một ví dụ: như con cháu đi học, đọc
quyển Bá Gia Tính: từ Triệu, Tiền, Tôn, Lý, Châu, Ngô, Trịnh, Vương cứ đọc
thẳng một mạch bất quá mấy ngày thì thuộc lòng rồi, giả sử đọc câu Triệu,
Tiền, Tôn, Lý rồi hỏi đó là lý lẽ gì thì làm sao giải thích, cứ hỏi như
vậy không phải là ngớ ngẩn sao? Chỉ trong câu Triệu, Tôn, Lý, mà nghiên
cứu thì câu Châu, Ngô, Trịnh, Vương không phải mất rồi sao? Đạt đến chỗ
thâm nhập của việc nghiên cứu thì Triệu, Tiền, Tôn, Lý cũng phải mất tiêu
luôn. Các ông hãy nghĩ: Hai chữ niệm Phật, không phải A Di Đà Phật, A Di
Đà Phật từng câu mà thẳng tay niệm. Hôm nay hỏi ông: Niệm Phật là người
nào? Đứng ngay chỗ này không phải quày đầu lại sao? Cũng giống như đọc câu
Triệu, Tiền, Tôn, Lý các ông suy xét cẩn thận thử một chút xem có đúng
không? Niệm Phật là ai không phải là quày đầu vào trong nhà mà chạy sao?
Hướng vào trong nhà là gì? Không có sanh cũng không có tử, nói minh tâm
kiến tánh cũng là lời nói dư, đến nhà tâm không đợi nói minh, bổn lai đã
minh, tánh không cần kiến, đã sẵn sàng hiện tiền. Cái câu thoại đầu này
bước một chân thì đưa ông đến nhà, chỉ cần có một câu mà có thể về nhà
ngơi nghỉ yên ổn. Tại các ông không biết câu thoại đầu có chỗ tốt như vậy.
Các ông tưởng rằng: “Tối ngày cứ đề câu thoại đầu lên thì vọng tưởng cũng
nổi lên nhưng lại không kéo dài được, vậy thì làm sao lại nói tham câu
thoại đầu thì đến nhà được? Thực là làm cho tôi khó hiểu”. Đúng thế! Các
ông phải hiểu được: biết có vọng tưởng đó là công phu đã tiến bộ, đề khởi
lên được mà kéo không dài, lại càng tiến bộ thêm. Các ông phải hiểu: bất
cứ một pháp môn nào cũng ở trong vọng tưởng mà sinh hoạt. Làm sao biết
được có vọng tưởng? Sở dĩ biết được có vọng tưởng cảm thấy không kéo dài
được đều là tin tức tốt. Thực tại các ông tu đạo là đáng thương. Chúng ta
đứng ở đây là người mấy chục tuổi cả, nói đến sanh tử thì không kể xiết,
nên muốn tu đạo, truy cứu câu niệm Phật là ai không được thông, ba năm,
năm năm cũng còn chưa thông, tình huống nhu vậy thì nói làm sao tu đạo?
Nói sanh tử làm sao cho xiết? Chỉ để cho ngày tháng trôi qua thôi. Câu
thoại đầu này tham không được thông còn kể được là người tu hành sao? Chỗ
nào cũng cần thể diện, câu thoại đầu không thông thì không cần thể diện gì
cả. Người có chút tri thức thì phải biết làm sao cho đúng bổn phận. Các
ông còn có người nào chảy nước mắt không? Thật là tội nghiệp. Tất cả đều ở
trong chỗ đen tối.
Ngày nay bảo các ông nhắm mắt lại, các ông đều nhắm mắt
lại. Ta lại hỏi các ông: Mắt mở ra rồi có thấy được ta chăng? Mắt nhắm lại
rồi ông còn tự mình thấy được mình không? Các ông nhắm mắt lại thì thấy
tối um, một tí gì cũng chẳng thấy. Ta hỏi các ông nữa: Đang lúc nhắm mắt
lại rồi, bước thêm bước nữa thì đến chỗ nào? Các ông còn có ai nắm chắc
được không? Các ông có hiểu được bước một bước này, thì đi đến chỗ nào
không? Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 24 tháng 10 (Thất nhì ngày thứ hai).
Người mới phát tâm tham thiền dụng công sợ vọng tưởng,
ngồi lâu sợ hôn trầm. Ta nói loại người như các ông thì dụng công không
được, liễu thoát sanh tử không có phần các ông. Tại sao vậy? Bỏi vì các
ông không biết phạm vi của vọng tưởng cũng như hôn ttrầm từ đâu ra? Các
ông cần phải hiểu: Từ vô lượng kiếp đến nay lên thiên đường cũng nó, xuống
địa ngục cũng nó, biến thành trâu ngựa cũng nó, hôm nay tu hành cũng là
nó, muốn liễu thoát sanh tử cũng là nó, muốn thành Phật, làm Tổ cũng là
nó. Cần phải hiểu rằng: Trên từ thành Phật dưới đến địa ngục tất cả mọi
cái đều do nó làm chủ. Lực lượng của nó lớn lắm, ông muốn sợ nó thì phải
lìa xa nó, ông muốn lìa xa nó phỏng ông có lực lượng bao nhiêu? Lực lượng
của vọng tưởng có tưới bao nhiêu cũng không vào được, còn lực lượng của
ông chỉ cần một giọt trong số đó cũng đã thấm vào rồi. Các ông tưởng tượng
xem sức lực các ông nhỏ bé như vậy thì làm sao mà lìa nổi cái sức của vọng
tưởng lớn dường ấy được?
Ông nhất định là sợ nó rồi, xa lìa nó không được, mà
lìa không được lại càng sợ, còn một ngày lìa không được thì chỉ có sợ nó
thôi, càng sợ lại càng lìa không được, ba năm, năm năm, muốn lìa muốn sợ
như vậy cho đến suốt đời cũng chỉ muốn lìa nó, sợ nó thôi. Các ông tưởng
tượng xem còn dụng công phu được không? Nếu đã dụng công phu không được
thì còn làm sao liễu thoát sanh tử được? Cho nên các ông sợ vọng tưởng, sợ
hôn trầm là việc không đúng rồi. Lại nữa, vọng tưởng là làm sao mà lìa? Cả
thân tâm các ông vốn là ở trong vọng tưởng. Bởi vì tâm các ông là tâm vọng
tưởng, thân các ông cũng là thân vọng tưởng, thân các ông cũng là thân
vọng tưởng, thế giới cũng là vọng tưởng, trong hư không là vọng tưởng,
ngoài hư không cũng là vọng tưởng, cử tâm, động niệm, đi, đứng, nằm, ngồi
làm việc đều ở trong vọng tưởng. Ta hỏi các ông: lìa vọng tưởng rồi ông ở
chỗ nào? Lìa vọng tưởng rồi ông là người gì? Các ông hãy nghiên cứu cẩn
thận xem còn có thể lãnh hội một tí nào không? Vậy thì làm thế nào mới có
thể dụng công phu được? Vọng tưởng có nhiều chừng nào đi nữa cũng đừng sợ
nó, vậy không sợ nó thì phải yêu nó sao? Cũng không được yêu nó, không sợ
nó, không lấy nó làm bạn ác, không yêu nó, không lấy nó làm bạn tốt. Giả
sử ông yêu nó vậy thì đến phải xuống địa ngục rồi, vì ông yêu nó thì phải
tùy thuận nó, thuận nó thì phá giới, phá giới thì không phải xuống địa
ngục sao? Cho nên, sợ cũng không được, yêu cũng không được, chỉ cần đề lên
câu thoại đầu là cái gì? Khởi nghi tình để tham vấn truy cứu, nhưng mà hai
chữ truy cứu chỉ cho ông truy cứu câu thoại đầu niệm Phật là ai? Rốt ráo
là ai? Cứu kính là ai? Nếu mà cứ truy cứu cái đề khởi câu thoại đầu “Niệm
Phật là ai?”, là ai? Người biết truy cứu lại là ai? Làm như thế thì không
những không phải là truy cứu mà trái lại chỉ là ngược trở lại thôi, đây là
việc bên thức thần không gọi là tham thiền, không thể liễu sanh thoát tử
được! Vậy thì tham làm sao đây? Hôm nay ta cho các ông rõ: Cái đường lối
trực tiếp là ở niệm Phật là ai, là người nào, không hiểu được, cứu kính là
ai cũng không rõ ràng. Ngoài ra một tí suy nghĩ, đoán này đoán nọ cũng
không có. Các ông ở chỗ này thẩm định sâu sắc một tí xem có vọng tưởng
không? Còn hôn trầm không? Hãy nghiên cứu cẩn thận, không phải chuyện nhỏ
nhặt đâu. Các ông lúc tham thiền đi tiêu đi tiểu xong ngồi xuống, ngồi
xuống rồi chưa nghe đánh bảng chỉ tịnh còn phải đợi thêm một chút xíu nữa,
đánh ba lần bảng, một lần chuông chỉ tịnh rồi mới suy nghĩ đề lên câu
thoại đầu thì vọng tưởng cũng đến luôn, chán quá! Muốn lìa bỏ vọng tưởng;
một lìa, lìa không được, lại lìa nữa thì hôn trầm đến luôn. Đuổi vọng
tưởng hôn trầm không được thì mặc kệ nó. Đến giờ khai tịnh thì cũng hết
chuyện rồi, chạy hương thì chạy, đại khái đều như thế. Tiếc thay! Cứ như
thế mãi thì cho đến tận vị lai cũng không có khi nào dứt được. các ông
muốn thấy rõ cái khổ của việc sanh tử, cái khổ của tam ác đạo, trong nháy
mắt đã bị lôi kéo đi, thực đáng sợ, đáng sợ lắm! Chỉ mong các ông triệt để
nhận thức mau chóng đề lên câu thoại đầu tham cho thông rồi thì sanh tử sẽ
không có phần của các ông, lục đạo luân hồi còn ở đâu lại được nữa! Các
ông hãy phát tâm. Tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 25 tháng 10 (Thất nhì ngày thứ ba).
Mở mắt thì không chiêm bao, tâm không khởi ý thì không
có đối đãi. Ý nghĩa hai câu này ta giảng sơ qua: Mắt mở thì cứ mở cho lớn
thì không chiêm bao, mắt nhắm lại thì nằm chiêm bao, đại khái là như vậy.
Nhưng ta nói: Mắt nhắm nằm chiêm bao, mắt mở rộng lại còn nằm chiêm bao
hơn, các ông tin hay không? Các ông nghĩ rằng mắt nhắm thì ngủ nằm chiêm
bao, tại sao mắt mở rộng cũng còn nằm chiêm bao. Tôi có chỗ không tin.
Đúng đấy! Nhưng ta nói các ông đứng ngay đây đang nằm chiêm bao, suốt ngày
suốt đêm chiêm bao, mắt nhắm lại nằm chiêm bao còn có thể mau chóng tỉnh
lại được, các ông mở mắt mà chiêm bao thì chẳng có lúc nào tỉnh, còn biết
cái chiêm bao này sẽ kéo dài tới thời gian nào mới có thể tỉnh được? Tội
nghiệp quá! Người chưa liễu ngộ đều là mở mắt nằm chiêm bao mà không hiểu
được đang nằm chiêm bao. Muốn biết cái chiêm bao này lúc nào mới tỉnh lại
được thì nhất thiết phải khai ngộ, khai ngộ rồi cũng như ngủ nằm chiêm bao
thình lình tỉnh dậy. Ta hỏi các ông cái chiêm bao này còn có kỳ hạn tỉnh
dậy không? Còn nói về cái tâm không khởi, ý tức là niệm, tâm có thể khởi
thiện niệm, khởi ác niệm, nếu tất cả niệm đều không khởi ấy tức là không
có đối đãi, đại khái ý nghĩa là như vậy đó. Kỳ thực không phải thế, cần
phải Thánh bất khả đắc, phàm bất khả đắc, niệm bất khả đắc, tâm cũng bất
khả đắc, nói không rơi vào hai (có đối đãi) thì đã rơi vào ba, luôn cái
nhất cũng bất khả đắc mới cho là có một tí tương ứng trong thiền tông.
Trong thiền tông chính yếu là phá cái mở mắt chiêm bao, quét sạch mọi tà
niệm.Chiêm bao không tỉnh được thì sanh tử không liễu được, tà niệm không
trừ thì vọng sinh ra chi tiết, chi tiết vọng rồi thì thiện nhân chiêu ác
quả. Ông tưởng là không sai: Kỳ thật là báng Phật, phỉ Tổ, phỉ báng thiền
đường, phỉ báng đại pháp luân, cái nhân này đã gieo xuống rồi thì khỏi nói
nữa, phải đọa địa ngục A tỳ. Mỗi khi có người nói: “Trong thiền tông nói
nghe thì tốt lắm, có huyền có diệu, nhưng làm thì có chỗ như không đúng.
Mỗi khi ngồi xuống lại buồn ngủ mà còn ngáy nữa”, thế thì tâm ông sanh hột
giống khinh mạn, ông làm như vậy thì cái nhân phỉ báng đã gieo xuống rồi.
Tại sao vậy? Người xưa có câu chuyện tương tợ nay ta kể ra một câu chuyện
xưa cho nghe: Ngày trước Tứ Tổ đến núi Ngưu Đầu ở Nam Kinh thấy có tử khí
(hơi màu đỏ). Tổ nói: “Trong núi nhất định có người tu đạo”. Tổ bèn trèo
lên, thì gặp Thiền Sư Pháp Dung, có con cọp ở một bên, Tứ Tổ làm ra vẻ
hoảng sợ, Dung nói: “Ông còn cái này tồn tại sao?. Tứ Tổ nói thầm trong
bụng: “Đây là bậc Đạo nhân” rồi chạy đến chỗ ngồi bằng cỏ của Pháp Dung và
vẽ một chữ Phật lên trên đó. Dung thấy có chữ Phật thì không dám ngồi, Tứ
Tổ bèn hỏi: “Ông còn cái này tồn tại sao?”. Biết được đồng là có đạo. Đêm
đó Dung nhường chỗ cho Tổ ngủ, trên giường suốt đêm Tổ cứ ngáy. Sáng ngày
hôm sau, Dung nói: “Ông thực không biết mắc cở, ngáy suốt đêm làm tôi ngồi
không yên”. Tứ Tổ nói: “Ông còn làm phiền tôi, ông làm con rệp rớt xuống
đất té gãy chân vừa kêu vừa nhảy không thôi suốt đêm làm tôi ngủ không
yên”. Người đời sau có hai câu nói: “Pháp Dung khi chưa gặp Tứ Tổ thì như
thế nào? Sau khi gặp rồi thì thế nào? Khi chưa gặp thì Trời, người đều
cúng dường, vượn khỉ dâng trái cây, sau khi gặp Tổ chẳng còn ai cúng
dường, quả chẳng ai dâng”. Các ông tham xem tại sao như vậy? Lúc ta ở chùa
Kim Sơn khi dụng công phu đắc lực nằm trên quảng đơn nghe tiếng ồn ào, ta
đi xuống xem thì không thấy ai, tất cả đại chúng đều ngủ không một người
nào nói chuyện, ta nhìn dưới đáy quảng đơn mới thấy hai con rệp cắn lộn
nhau, ta mới đưa chúng tới liêu như ý, cho ít đồ ăn để chúng nó ăn. Các
ông thử tưởng tượng xem, còn có thể lấy cái vọng tưởng của mình mà phân
biệt được không? Điều ta nói chính là bản thân ta làm đến. Hôm nay ta nói
cái chỗ hành của ta, sợ các ông còn có điểm hoài nghi, đợi khi công phu
của các ông đến chỗ này rồi thì các ông sẽ được biết. Nhưng đợi đến các
ông biết để ăn năn cái nhân phỉ báng đã tạo lúc trước thì đã trễ rồi, cho
nên ta hôm nay đặc biệt chỉ ra các ông các ông, ấy là việc rất cần, cần
lắm. Các ông hãy phát tâm, tham đi!
KHAI THI
Ngày 26 tháng 10 (Thất nhì ngày thứ tư).
Tham thiền dụng công quý ở chỗ hành. Hành được mới gọi
là tham thiền, không hành, miệng nói tham thiền cũng như không. Chữ hành
trong thiền tông, rất quan trọng. Không những đời nay hiểu sai lầm cái chữ
hành này mà ngày xưa người hiểu sai lầm cũng không ít; tất cả đều cho thấy
được là xong, hoặc lãnh hội được sự kiện này người xưa nay đều vốn có,
không cần tu chứng, hoàn toàn là vậy rồi, vậy còn hành cái gì? Cứ cho hành
dư thừa, kỳ thực thiền tông rất quý chữ hành, ấy là sự thực hành, chớ nên
lầm tưởng. Phải biết cửa thiền tông là cửa vô thượng, cái hành của thiền
tông là hành vô thượng. Muốn đạt đến mục đích trước tiên phải biết: Chúng
ta từ vô lượng kiếp đến nay là do hành mà đến, tuyệt không phải khi không
mà có được, cũng không phải người ta đưa ông đến; lên thiên đường cũng do
ông đi, xuống địa ngục cũng do ông đến, thai trâu bụng ngựa cũng do ông đi
đến, này làm người như thế này cũng do ông hành tới, đại khái đều như vậy
cả. Chẳng thấy người ta đưa ông lên Thiên đàng, cũng chẳng thấy người ta
lôi ông xuống địa ngục. Từ đó suy ra phàm chúng sanh có sanh tử thì cũng
từ lý này. Chúng ta dĩ nhiên đều biết tất cả đều do tự ta hành đến, vậy
ngày nay muốn phản bổn quy nguyên đâu phải cứ nói ra là đến nhà được đâu,
là lãnh hội được đâu? Thời gian đã phải trải qua biết bao niên đại mới đến
nơi xa như thế này, nay muốn phản bổn quy nguyên tất phải theo lối cũ mà
về thôi. Hơn nữa, trên tâm hạnh các ông đều biết phiền não không tốt, vọng
tưởng xấu xa, nghiệp chướng không được nổi lên, nhưng mà tuy biết phiền
não là không tốt, phải vứt đi, vọng tưởng là cái xấu phải bỏ đi, sự thật
thì có thể bỏ được chăng? Giả sử vứt được thì vứt ngay bây giờ xem nào, dù
ông bản lĩnh to bằng trời sợ không làm được như lời đâu, đã không làm được
thì không được như thế, theo thế mà nghiên cứu thì chữ hành tất nhiên
không được thiếu sót, nhưng đối với người trung hạ căn mà nói thì hành này
cũng giống như đi đường từ bao xa đến, khi trở về cũng phải đi từng ấy xa
thì mới trở về được nguyên xứ. Ví dụ từ ngoài nghìn dặm đến hôm nay trở về
cũng phải trrải qua nghìn dặm, mỗi ngày đi trăm dặm thì phải đi mất mười
ngày mới đi hết. Giả sử thiếu một ngày hay thiếu một dặm cũng không đến
nhà được, lý do này thì nhất định. Nhưng đối với các ông, người có chút
căn cơ lại thêm vào đích chỉ thiền tông của chúng ta thì không cần phải đi
như vậy. Chỗ hành của thiền tông thì như thế nào? Ông từ ngàn dặm đến
đây, hôm nay không những không cần ông đi ngàn dặm mới đến được quê nhà mà
luôn cả danh từ ngàn dặm đường cũng bất khả đắc, danh từ đã bất khả đắc mà
còn muốn ông đi sao? Quày đầu lại là đúng rồi, gót chân không cần nhúc
nhích hễ cử động là phải rồi. Các ông thử nghĩ xem: cái pháp tham thiền
này có trực tiếp không? Người căn cơ thượng đẳng phải hiểu được rằng không
phải sinh ra là đã được thượng căn rồi mà cũng là do ở chúng ta từ làm
người hạ căn đạt đến trung cann, rồi từ trung căn thành thượng căn, đến
thượng căn rồi thì nhất văn thiên ngộ (một nghe ngàn ngộ). Tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 27 tháng 10 (Thất nhì ngày thứ năm).
Pháp tham thiền là một chính pháp cứu thế, cứu thân và
diệu pháp cứu tâm. Chữ thiền này là cái cửa ngõ tất yếu mà làm người cần
phải đi qua, người tham thiền không phải đã tham được thiền là xong đâu,
thực ra phải có một tí mùi vị gì của tham thiền; vậy thì ông phải bận rộn
hết sức, có bảo các ông dừng nghỉ một chút các ông cũng không chịu. Nếu
chân thực đạt được mục đích của thiền thì việc thành Phật sẵn sàng trước
mắt. Phật đây không có quốc độ này quốc độ nọ, không có chúng sanh chư
Phật. Muốn thành Phật trải qua A Tăng Kỳ kiếp, cần phải xả đầu mắt, xả óc
tủy tim gan, ngũ tạng, kết duyên phải với chúng sanh cõi đại địa, kết
duyên cho đầy đủ rồi, nhân duyên thành thục thị hiện giáng sanh, khổ hạnh
thành Phật tọa đạo tràng, một đời hoằng dương thánh giáo. Nhưng quả địa
Phật này lại do nhân địa Phật tạo ra quả địa Phật, khi thành thì làm giáo
chủ cả đại thiên thế giới. Mỗi người tham thiền các ông cần đạt đến mục
đích của thiền, không những các ông ở tại thiền đường này mà cả Tăng lẫn
tục ở khắp nơi, nam hoặc nữ đều cần phải đạt đến mục đích của thiền, muốn
đạt đến mục đích đương nhiên phải có một phen sự việc, còn mong các ông dư
ra được mấy người không chỗ làm việc, ở đó mà ngủ gục, tại sao vậy? Mỗi
thế giới có một giáo chủ, vậy vô lượng thế giới cho đến vi trần trong hư
không đều có giáo chủ. Người thành Phật quá đông còn dư ra mấy người không
có thế giới để làm giáo chủ giáo hóa chúng sanh, đây là điều tôi hy vọng
đối với các ông, không những ta hy vọng các ông như vậy, cả đến thập
phương Chư Phật thấy các ông có cái tri thức tham thiền được như vậy cũng
phải vui vẻ cười to, chư Đại Bồ Tát cho đến Hộ Pháp Long Thiên đều phải
chắp tay hoan hỷ hộ trì các ông, không những hộ trì mà lễ bái cũng còn
được nữa. Vì vậy ở trong đạo tràng này, thêm vào thời kỳ thiền thất được
định định kỳ thủ chứng, nên cần phải thiết tha nổ lực, mọi cái đều phải
buông bỏ hết, buông đến sạch sành sanh. Tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 28 tháng 10 (Thất nhì ngày thứ sáu).
Người trong thiền tông phải làm việc trong thiền tông.
Các ông cần phải hiểu cái hành trong thiền tông là cái gì? Nếu không hiểu
rõ thì cho ông có suốt đời ở thiền đường thì vẫn còn đứng ở ngoài cửa
thôi. Hôm nay ta nói cho ông biết qua, ấy là việc ở thiền tông không có gì
khác ngoài việc tham thiền ngộ đạo, liễu thoát sanh tử nhưng tham thiền là
tham ở nơi mình, liễu sanh thoát tử là liễu thoát sanh tử của mình chứ
không phải là thay cho người khác, dù cho ông có bản lĩnh lớn bằng trời
cũng không thể làm thay cho người khác được. Còn có người ở thiền đường
tưởng rằng là ở thay cho người khác, cho đến làm mọi việc là làm thay cho
người khác. Các ông phải biết rằng tất cả mọi việc, việc nào không phải
việc của mình đâu? Các ông nếu là người có chút tri thức không đợi ta nói
ra mà đã biết quay về với chính mình rồi. Lại có một số người tưởng ở
thiền đường chùa Cao Mân, dụng công là dụng công cho chùa Cao Mân. Trong
các ông nếu có người như vậy thì còn xứng đáng là người làm cái việc trong
thiền tông không? Tham thiền ngộ đạo, liễu sanh thoát tử còn có phần của
các ông không? Vì vậy muốn các ông mở mắt thấy cho rõ. Nhưng tham thiền
ngộ đạo liễu sanh thoát tử, hai câu nói đó gom lại chỉ là hai chữ tham
thiền. Do tham thiền mà ngộ được đạo, ngộ đạo rồi sanh tử lý nào không
liễu? Tóm lại là tham thiền. Đối với việc tham thiền thì thế nào là thiền?
Thế nào là tham? Các ông cần phải biết rõ ý nghĩa tham thiền rất rộng. Ta
sơ lược chỉ cho các ông một chỗ hạ thủ rất xác thực, mong các ông cứ nghe
thì lãnh hội ngay và một mạch mà hành thì sẽ đến nhà. Trước nhất phải
biết: từ vô lượng kiếp do một niệm bất giác nên đều hướng ngoại mà chạy
cho đến nay vẫn còn tri bất giác, thậm chí đều không biết nhà, vì thế nên
gọi là chúng sanh. Phải biết hướng ngoại là gì? Hướng nội là gì? Hướng
ngoại là lục đạo luân hồi sanh tử bất định; hướng nội là bổn lai diện mục
cùng đồng một thể với chư Phật. Dạy các ông tham thoại đầu là dạy các ông
hướng nội, tham thoại đầu tức là tham thiền, là hướng nội. Tóm lại, muốn
thấy bổn lai diện mục mà không hướng nội là không được; không hướng nội ấy
là sanh tử. Vì sao tham thoại đầu là hướng nội? Có lẽ các ông không rõ
ràng, ta giảng một thí dụ cho các ông nghe: các ông đang ngồi đây ta hỏi
các ông: “Có thấy bàn thờ Phật không?”. Các ông đương nhiên trả lời là
thấy, ta hỏi thêm: “Trên bàn thờ có gì?”. Nhất định các ông sẽ trả lời là:
“Bên trong có Phật Tỳ Lô và những thứ khác”. Ta lại hỏi “Người thấy bàn
thờ Phật là ai?”. Các ông hãy quay đầu hướng vào chính mình xem! Trong lúc
đó không thấy có Phật, ngay cả bàn thờ Phật cũng không có luôn, các đồ vật
khác còn có không? Không những không còn mà còn phải quay đầu lại tham vấn
trên cái niệm của chính mình đi. Các ông thử nghĩ xem thấy bàn thờ là
hướng ngoại, không thấy là hướng nội; không thấy bàn thờ Phật trên niệm
này mà “truy” ấy là hướng nội. Theo như thí dụ mà thấy thì tham thoại đầu
cũng vậy. Niệm Phật, có Phật, để niệm được là hướng ngoại; tham “niệm Phật
là ai” thì cứ trên niệm ấy tham vấn, ấy là hướng nội, hướng nội tức là
tham thiền. Hôm nay ta đem ví dụ về sự tham thiền giảng cho các ông nghe
qua rồi các ông không được nói là không biết tham thiền, không hiểu được
tham câu thoại đầu nữa. Ta hôm nay giao hẹn rõ ràng cho các ông rồi, hãy
phát tâm. Tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 29 tháng 10 (Thất thứ nhì ngày thứ bảy).
Người có một tí lợi căn thì dụng công không lấy gì làm
khó. Không nhờ ở tu chứng, đương thể bổn lai chân tánh không dư, không
thiếu, thanh tịnh quang minh không do người khác mà được, đều tự mình sẵn
có, chỉ vì các ông không thể hành như vậy thôi. Bệnh ở đâu? Bệnh ở nơi chữ
“chướng”. Chúng ta vốn không có mê, vì chướng mà có mê, chướng lìa thì
ngộ, sanh tử vì chướng mà có, nếu không có chướng thì sanh tử cũng không.
Nếu bỏ chướng đi thì bổn lai diện mục chúng ta đương nhiên hiện ra. Như
vậy phải biết chướng là cái cửa ngõ trọng yếu của người dụng công phu, các
ông có biết không? Nếu biết được cái chướng này thì các ông sẽ có biện
pháp để trừ nó. Nếu không biết chướng là cái gì, lấy cái gì làm chướng thì
còn nói làm sao trừ chướng được? Làm sao lo cho xong? Đối với người thông
thường thì cho là” “Sanh tử là chướng, sanh tử bên bờ này là chướng, bên
bờ kia là Niết Bàn, Niết Bàn không phải là chướng, mê là chướng, ngộ tức
không phải là chướng, trần lao là chướng, thanh tịnh là cứu cánh, chúng
sanh là chướng, Phật là rất tốt”. Đại khái là thế. Thiền tông thì không
vậy, sanh tử là chướng, Niết Bàn cũng là chướng, mê là chướng, ngộ cũng là
chướng, chúng sanh là chướng, Phật cũng là chướng, thân là chướng, tâm
cũng là chướng, sơn hà đại địa là chướng, hư không cũng là chướng. Các ông
còn tin chăng? Có người cho rằng: Sanh tử là khổ đương nhiên là chướng
rồi, Niết Bàn là lạc làm sao lại là chướng được? Chúng sanh là chướng, sao
Phật cũng là chướng? Nói như vậy thì tôi cần dụng công làm cái gì? Việc
trong thiền tông thật là khó tu quá! Đúng đấy! Các ông hồ nghi như vậy nên
ta muốn chỉ ra cho các ông muốn dẫn các ông đi trên đường đi của thiền
tông. Nhưng ta chỉ vẽ cho các ông, dẫn đường cho các ông là muốn các ông
tự đi, chứ nếu ông không tự mình đi thì ta không đi thay cho được đâu. Tại
sao trong thiền tông muốn nói sanh tử Niết Bàn, chúng sanh Chư Phật, bờ
này bờ kia, thanh tịnh phiền não, mê ngộ, thân tâm, hư không đại địa đều
là chướng? Phải biết rằng tất cả chướng không rời tâm, sanh tử làm tâm,
chứng Niết Bàn cũng là tâm, cho đến hết thảy hư không đại địa cũng đều là
tâm cả. Cái tâm này là cái chướng căn bản, căn bản đã chướng thì còn chỗ
nào không phải là chướng nữa? Các ông muốn lìa cái chướng này thì có phải
có cách nào? Nếu nói: sanh tử khổ là chướng, thì lìa bỏ nó, lạc của Niết
Bàn cũng là chướng thì cũng bỏ luôn lạc đi; bờ này không trụ, bờ kia không
trụ, phiền não không trụ, thanh tịnh không trụ, cho đến hư không cũng
không trụ. Tóm lại, tất cả trần lao thế giới bên ngoài thân đều bỏ sạch,
nhức ngứa trên thân cũng bỏ, vọng tưởng nhiều như cát trong tâm cũng bỏ.
Phương pháp trừ bỏ như vậy sai hay không sai? Nhưng trong thiền tông không
như vậy. Tại sao như thế? Nếu bỏ từng món một thì chẳng lúc nào hết được;
bên này dứt thì bên kia sanh, chôn hồ lô trên nước thì không dễ gì được
đâu. Đến nhà rồi thì mới có thể đem gốc của nó mà bỏ đi hết được. Thí dụ
như mặt trời, mặt trăng, sơn hà đại địa v.v... Tuy là sắc tướng, nhiều lắm
nhưng đều ở trong một cái hư không, nếu ta muốn bỏ mặt trời mặt trăng, sơn
hà đại địa không phải là nhiều lắm sao? Nếu muốn bỏ lần lượt từng món vật
cho hết thì e rằng không có bản lĩnh to như thế? Nếu ta có sức lực một tay
đập bể hư không thì còn cái gì nữa? Liễu chướng cũng như vậy thôi. Mặt
trăng mặt trời và mọi cái khác cũng giống như những cái chướng này nọ của
chúng ta, hư không thì cũng như tâm của chúng ta, nếu có thể đem tâm mà
liễu được, thế không phải là trừ bỏ hết tất cả chướng hay sao? Pháp liễu
tâm tức là tham thoại đầu; pháp này để trên niệm mình mà truy cứu, lâu
ngày rồi thì tâm sẽ hết, vọng tưởng cũng sẽ hết, nhân pháp đều mất. Lúc
bấy giờ thì các ông mới nhận thức chùa Cao Mân, mới hiểu được lợi ích của
câu thoại đầu ở thiền đường! Nhưng sự dụng công ngay bây giờ của các ông
cần phải đề lên câu thoại đầu từng giây, từng phút mà truy cứu, chẳng hỏi
động tịnh nằm ngồi đi đứng, niệm niệm không gián đoạn, có ngày các ông sẽ
đập bể được hư không. Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 30 tháng 10 (Thất thứ ba ngày đầu).
Pháp luân chưa chuyển thực luân phải chuyển trước.
Trong sự khó khăn vô vàn của nhà chùa, dù cho khó khăn đến đâu cũng phải
ra sức duy trì cho nên phát khởi thiền thất cho các sư được chuyên tâm tu
hành. Cũng vì đạo tâm của các sư thành khẩn cảm động đến Hộ Pháp Long
Thiên và được nhiều vị trưởng lão ở các nơi phát đại từ bi, thấy nhà chùa
đời sống thanh bần mà quan tâm đến đạo niệm của các ông, vì thế đặc biệt
cung cấp dầu, muối, gạo, củi, để nhà chùa khỏi phải lo lắng, các sư được
an tâm tu đạo. Các vị Trưởng lão này trước kia hoặc là Thủ tọa Hòa thượng,
Tây đường Sư phụ, hoặc Đường chủ Sư phụ, lâu nay vẫn thường quan tâm đến
sự thanh bần của đạo tràng. Nhưng các sư đó không thể so sánh với người
đại phú được, đều tiện tặn, ăn xài bỏn xẻn, tích tụ tiền bạc do y bát khất
thực không dễ gì có được. Không thể nói là cứ ngồi ngồi, đi đi mà trai
thực tiêu đi được đâu. Nếu các ông cứ cho như thế mà không có công việc gì
khác thì làm sao có thể trang trải được nợ cơm! Người xưa đã nói: “Thốn
hương năng tiêu đấu kim” (một tấc hương có thể tiêu được đấu vàng). Tại
sao suốt ngày tọa hương mà không đủ trả được nợ cơm? Thật đúng lắm! Ta
muốn hỏi các ông: Từ sáng đến tối, tấc hương nào tiêu được đấu vàng? Và
tấc hương nào không tiêu được đấu vàng? Các ông hãy nghiên cứu thử xem!
Không phải là việc nhỏ đâu! Ta thấy các ông đối với “tấc hương tiêu đấu
vàng” đại khái còn chưa làm được. Đối với việc trang trải nợ cơm, ta không
những có thể hứa với các ông mà còn có thể bảo đảm nữa. Ta bảo đảm ở chỗ
nào? Là ở chỗ muốn cho các ông đối với câu thoại đầu không biết là ai, cứu
cánh là ai, điều đó không hiểu được, rốt ráo là ai cũng còn không hiểu
được; suốt ngày tiền niệm là câu thoại đầu, mà hậu niệm cũng là câu thoại
đầu. Các ông tự mình đi như vậy thì ta bảo đảm các ông tiêu được cái nợ
cơm. Ta muốn hỏi các ông có tham thiền hay không? Các ông đương nhiên trả
lời: “Suốt ngày tôi tham câu thoại đầu không mảy may gián đoạn”, ta hỏi
thêm các ông: Câu thoại đầu không gián đoạn thì trên thân các ông có áo
mặc không, quả đường còn ăn cơm không? Các ông trả lời ta cách nào? Nếu
biết sự mặc là áo quần, sự ăn là cơm gạo thì không đúng rồi, tôi không dám
bảo đảm đâu! Ngoài ra các ông còn trả lời ra sao nữa, hãy nghiên cứu thử
xem! Mặc áo không phải mặc áo, ăn cơm không phải ăn cơm; cũng như người
xưa nói mặc áo suốt ngày không dính một sợi chỉ, suốt ngày ăn cơm không
cắn một hạt gạo. Nếu các ông tham thiền được như thế thì đây là bằng chứng
ta có thể bảo đảm. Trái lại, ta không những không dám bảo đảm mà ngay cả
Phật Thích Ca cũng chẳng dám. Các ông phát tâm, hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 1 tháng 11 (Thất thứ ba ngày thứ hai).
Tham thiền không phải là việc hưởng nhàn. Hôm nay là
trong thời kỳ đả thất không cần phải nói lại con đường công phu làm chi
nữa, nếu cần phải nói thì không còn đả thất nữa. Vì sao vậy? Vì lúc bình
thường cần phải dụng công cho tốt, kịp đến lúc đả thất cần thêm tinh tiến
thời ngộ ngay thôi. Nếu muốn nói đường đi trong thời kỳ thất vậy thì,
đường đã nhiều lại thêm lắm: vọng tưởng, hôn trầm, chẳng biết đến tham
thiền. Không biết đến việc phát khởi nghi tình, phiền não, vô minh v.v...
lại càng thêm lắm. Cứ theo như thế mà vẫn còn được gọi là đả thất hay sao?
Đả thất cần ở sự khai ngộ cũng như theo đuổi việc thi cử vậy. Kỳ thi không
phải là lúc đi học, lúc bình thường cần phải học hành cho tốt. Một khi đã
đến nơi trường thi rồi thì chỉ còn lo việc công danh. Giả sử vô trường thì
chữ không biết lại còn đi tìm lấy người để hỏi, điều này có được không? Đả
thất cũng như thế. Trong thời kỳ đả thất còn không hiểu được sự dụng công,
lại cũng chẳng hiểu vọng tưởng và tham thiền có như nhau hay không, đầu
mối sự phát nghi tình là như thế nào, như thế mà đả thất hay sao? Thật
tiếc cho các ông không thể nói được. Nếu mà không nói thì không những chỗ
sâu xa không thấy đến mà chỗ nông cạn cũng chẳng nhìn ra, cho nên ta nay
vì các ông mà nói, tham thiền khởi nghi tình là như thế nào? Phải biết câu
thoại đầu là như thế nào? Không rõ cứu cánh là ai? Chẳng hiểu được là ai,
rốt ráo là ai? Cũng chẳng biết là ai, không rõ không biết, mơ mơ hồ hồ tức
là nghi tình vậy. Vọng tưởng với tham thiền đều là một vọng tưởng, cùng
một con đường. Ta nói như thế các ông nghe lại cho là: “Tham thiền cũng là
vọng tưởng, vậy còn phải tham thiền làm gì? Vọng tưởng hóa ra là lục đạo
luân hồi, tham thiền cũng là vọng tưởng vậy tham thiền không phải là luân
hồi sao?”. Cần phải hiểu được là chỗ khác nhau giữa vọng tưởng của sự tham
thiền với vọng tưởng của vọng tưởng là thế nào? Vọng tưởng thì tùy nghiệp
chuyển, tham thiền thì tùy tâm chuyển, tùy nghiệp chuyển là nghiệp đi
trước, mình đi sau, tùy tâm chuyển thì tâm đi trước các ông đi theo sau
tâm. Nghiệp thì chuyển hướng về nẻo luân hồi mà đi, cho nên vọng tưởng là
theo nghiệp chuyển, tùy nghiệp thì tất cả là sanh tử. Tham thiền thì tùy
tâm chuyển. Tâm là cái gì vậy? Có phải quả tim bằng thịt của các ông
không? Thế lấy gì làm tâm của các ông? Tâm vậy thì ở đâu? Ở trong chăng? Ở
ngoài chăng? Hay là ở khoảng giữa hay nơi nào nữa? Thật đáng tiếc! Các ông
thật chẳng biết gì? Ta nói đưa chân lên, để chân xuống, đi đứng nằm ngồi,
ra vào tới lui, tất cả chỗ nào cũng chẳng mảy may rời tâm cả, vậy có chỗ
nào không phải tâm đâu? Ấy chỉ là mình thừa nhận không được thôi. Hôm nay
ta hai tay mang đến trước mặt các ông sợ rằng các ông cũng chẳng biết ra
được. Thế còn người nào có thể thừa nhận được chăng? Ta dám nói với các
ông một người cũng chẳng có. Vậy thì câu thoại đầu đợi các ông tham cứu
cho đến chỗ đắc lực, muốn các ông tự mình nhận thức một tí. Ta nói cái gì
các ông cũng có thể tin lấy được, nếu công phu không đến được nơi này thì
dù ta có nói tốt nữa cũng không dễ gì tin được đâu. Nhưng câu thoại đầu
này nói là chân như cũng được, nói là Phật tính cũng được, nói là Pháp
thân cũng được, nói là tâm cũng xong, phạm vi của nó rất rộng lớn vậy.
Thật đáng tiếc cho các ông! Đối với tâm thì tuyệt không biết gì. Hôm nay
ta dạy cho các ông hãy lấy câu thoại đầu làm tâm đấy. Câu thoại đầu đến
nơi đâu các ông đến nơi đó, câu thoại đầu đi trước các ông đi theo sau.
Nói tóm lại, lấy câu thoại đầu để xét tâm ta, hỏi tâm ta, truy cứu tâm ta,
lâu ngày đi rồi cũng có thể làm sáng được tâm ta. Đây là tất cả sẽ là:
vọng tưởng tùy nghiệp chuyển tức là sanh tử, vọng tưởng tùy tâm chuyển tức
là minh tâm. Các ông phải thấu đáo thấy được là lời ta có đúng không, việc
ta nói là việc của ta, không liên can gì đến các ông, muốn cho các ông
dụng công phu đến nới ấy thì các ông tự mình sẽ thấy thôi, và các ông mới
có được sự thụ dụng. Giả sử như lời của ta nói mà các ông đối với bổn phận
mình lại không nghe không hỏi, thế thực là đáng tiếc! Đáng buồn! Phải hiểu
được là: cái xác thân này, thời giờ thì hữu hạn, một khi đã ngã xuống rồi
thì không còn gì để truy xét nữa. Tiền đồ thật không kham nghĩ đến. Cần
phải nhanh chóng lên. Hãy tham đi!
KHAI THỊ
Ngày 2 tháng 11 (Thất thứ ba ngày thứ ba).
Về người dụng công, có câu rằng: “Một người địch với
muôn người", câu nói này đối với người xưa thì thật là đúng, nhưng đối với
người nay thì không hợp. Tại sao vậy? Vì đạo tâm người xưa sung mãn, trăm
lần gãy đổ chẳng trở lui, một lần bạo gan nhảy tới có thể vượt qua được
ngay, người nay đạo tâm không vững, cứ một lần gãy đổ thì phải lùi lại
ngay, nhiều lần bạo gan nhảy tới cũng chẳng vượt qua được, mà không bạo
gan đối địch thì còn tốt chứ bạo gan đối địch thì trái lại phải đầu hàng.
Như vậy là lẽ làm sao? Đó là vì một người chúng ta sức lực thì hữu hạn,
muôn người khác mỗi mỗi đều có sức lực rất lớn. Muôn người là ai? Là tham,
sân, si, mạn, nghi, và các thứ phiền não vô minh. Muôn niệm này thì đã
quen thuộc từ lâu không cần các ông đến gần nó, nó cũng tự nhiên tùy thuận
các ông. Cái niệm tùy thuận tự nhiên này có sức lực vô lượng, muôn niệm
thì sức lực lại càng lớn không kể được. Hôm nay một niệm dụng công tham
thoại đầu từ lâu chẳng thấy qua cũng như chưa từng làm qua, như vậy làm
sao nó tùy thuận các ông được. Không những nó không tùy thuận các ông mà
lại còn muốn các ông đi tìm nó, thuận nó nữa. Rõ ràng cái niệm tìm nó cực
nhỏ mà cực lạ, sức lực rất nhỏ. Thí dụ như một gia đình trai gái, cháu con
cùng với quyến thuộc đều tự nhiên đoàn kết nhất trí, bỗng nhiên có người
lạ mặt ở đâu bên ngoài đến nói rằng: “Các người hãy đi ra, nhà này là của
ta”. Các ông xem đấy, thế gia đình đó có chịu nhường người ấy không? Hay
là muốn địch lại người ấy? Một mình ông có muốn đuổi họ như thế thì cả gia
đình họ sẽ địch lại ông, thế liệu ông có địch lại họ không? Chúng ta một
niệm địch muôn niệm cũng như vậy. Muôn niệm vọng tưởng đã quen thuộc là
trong nhà sẵn sàng. Một niệm dụng công phu này là còn lạ còn mới, với muôn
niệm thì nó không đồng lõa. Các ông nghĩ xem, như một người cùng với cả
gia đình đấu tranh thì làm sao một người địch được cả gia đình người ta.?
Đó cũng là một lý cả. Vậy nếu địch không nổi thì phải có cách nào lo liệu?
Không tùy thuận nó được thì bỏ sao? Biện pháp thì có, trước hết cần các
ông thấy rõ được là nguyên nhân không địch lại họ được là nguyên nhân ở
đâu? Rõ được nơi đó thì đương nhiên mới có biện pháp. Nhân vì một người
các ông muốn địch lại muôn người, các ông có niệm địch lại thì ở ngoài mặt
tự nhiên sẽ có trạng thái muốn địch lại. Các ông đã có trạng thái muốn
địch lại biểu thị ra đương nhiên đó là vì có địch nhân mới có. Kẻ địch
thấy ông muốn địch lại họ thì đương nhiên họ muốn địch lại ông. Tỷ như một
người dự bị cùng người khác đánh nhau, nhất định trên tay phải mang dao,
đầu đội nón sắt, mình mặc giáp, đứng chỗ đất rộng. Các ông đã có dự định
này thì đối phương cả vạn người cũng muốn đến để đánh nhau. Bọn họ cũng
cần phải cầm dao, cầm súng xúm lại, các ông một khi đã thấy vậy thì còn có
dám đánh nữa không? Có phải khi thấy đã muốn đầu hàng rồi không? Thứ nữa,
các ông có dự bị cầm dao cầm súng đánh người, không những muôn người muốn
đến đánh các ông mà một người hai người thấy được cũng muốn đánh ông nữa.
Tại sao vậy? Ông đương đầu với họ thì đương nhiên họ cũng xem ông là đối
phương, há có lý nào lại không đánh nhau? Đúng không? Tất cả lời nói trên
đều là ví dụ, chúng ta hãy học các ví dụ. Các ông ng