Sống Thiền
(THE METHOD OF ZEN)
Tác giả: E.
HERRIGEL
Dịch giả: TRÍ
HẢI
---o0o---
Phần 4
Mặc dù
với sự tạo dựng táo bạo nhất của tư tưởng, trí năng không thể nào quan
niệm nổi, một điều chỉ được ban phát và lĩnh hội ngay nhờ kinh nghiệm
huyền mật nguyên bản. Chỉ sau đó, theo đuôi kinh nghiệm, người Phật
tử Zen mới nhận rằng nội dung thần bí đó trở thành khả đạt đối với trí
năng. Nhưng những lập ngôn xuất hiện lúc đó chỉ có ích lợi cho một người
đã có cái kinh nghiệm ấy rồi, và y có thể không cần đến chúng. Thiếu điều
này, bất cứ người nào cố chiếm đoạt chúng sẽ bị sa vào hoang mang thất
vọng, và đối với y, những lập ngôn ấy có tác dụng như thuốc độc.
Như thế,
sự đối đãi giữa nhiều và một, dị và đồng, tương phản và không tương phản,
cũng sẽ có một ý nghĩa vững chắc và chính đáng đối với người Phật tử phái
Thiền. Nhưng, vì những kinh nghiệm của y, y không được xem cái Một là
nguyên thủy hơn cái Nhiều và do đó phủ lên nó đầy những danh dự thần bí.
Ðối với y, cái không tương phản cũng vượt ngoài mọi tương phản có thể quan
niệm, tuy nhiên, chính vì thế mà nó vẫn còn là cực điểm của một căng
thẳng, và tình trạng không- tương-phản được lựa chọn cũng sẽ không dẫn ra
khỏi sự căng thẳng đó. Nếu y cần diễn đạt một quan niệm về không đối
đãi, có lẽ y sẽ nói : “Tâm của vạn pháp là ở ngoài mọi đối đãi
chính vì nó nằm ở trong chúng, và nó ở trong mọi đối đãi chỉ vì nó
“là” ở ngoài chúng. Nó không có mâu thuẫn nhưng lại tràn đầy mâu thuẫn.
Hoặc nói một cách khác : Một và Nhiều, bất dị và dị, không đối đãi và đối
đãi đều gần Tâm như nhau và xa Tâm như nhau, chúng là trọng tâm của vạn
pháp và đồng thời cũng không phải là trọng tâm của vạn pháp.
Những
lập ngôn như trên thật không thể hiểu thấu, vô nghĩa đối với người nào đi
tìm giải thoát trên con đường độc nhất là con đường của tư duy. Nhưng bất
cứ ai đã thân chứng được tâm của vạn pháp đều có thể dò tận đáy sâu của nó
trong khoảng thời gian một hơi thở và không còn ngạc nhiên vì sao một sự
việc giản dị và rõ rệt như thế chỉ có thể truyền đạt được bằng những công
thức khó hiểu. Y sẽ hiểu vì sao những vị Thiền sư không những tránh mọi
cách lập ngôn mà còn xem là nguy hiểm và thay vì thế, họ thúc đầy môn đệ
đến những kinh nghiệm gay gắt để giải mọi ẩn ngữ ngay tức thời.
Mặc dù
sự hoán cải tâm linh mà người môn đệ kinh nghiệm qua satori có tính
chất cách mạng đến đâu, điều trước tiên cần nói là không phải toàn thể con
người của y đều được bao gồm trong sự biến đổi này. Dầu y đã giải thoát
trên phương diện tâm linh, y vẫn chưa giải thoát hoàn toàn, trong nghĩa có
thể sống bằng chân lý, và chỉ bằng chân lý thôi. Bởi chân lý này - nếu ta
có thể gọi “Nó” - chưa hiện ra trước mắt, y chỉ đang tiến về phía nó. Y
thấy rõ cái gì nằm bên dưới mọi sự vật, kể cả y, nhưng y luôn luôn là một
cái gì khác với cái mà y thấy : y chưa là một với nền tảng của chính tự
thân mình hay đúng hơn, với chiều sâu khôn dò của nền tảng ấy.
Người
nào đã kinh nghiệm satori đều khổ sở nhận ra điều này vừa khi y bỏ
thiền đường lại sau lưng để trở lại với nghề nghiệp, hay khởi sự làm một
công việc nào đó. Dĩ nhiên, trong một tu viện cũng có những bất hòa : lòng
ganh tị của người tham vọng, những trình độ khác nhau về khả năng và sự
chứng đắc. Nhưng hiện diện của vị Thầy gây lại thế quân bình, cho nên bầu
không khí nổi bật vẫn là một bầu không khí của hòa điệu và nhẫn nhục. Bên
ngoài tu viện, đời sống bắt đầu gay cấn, tấn công những giác quan bây giờ
đã trở nên nhạy cảm gấp đôi. Một lần nữa, ta lại ở trong một thế giới của
mục đích và ý định. Trí năng, bấy lâu bị dập tắt, bây giờ kiêu hãnh chiếm
lại vị trí và được xử dụng như một dụng cụ.
Ngay cả
nghệ sĩ, mặc dù ông có thể giải thoát, không nhắm mục đích nào nữa, trong
lãnh vực riêng ông, ông cũng không tránh khỏi sự động chạm với đời - huống
chi là bất cứ hạng người nào khác ? Ngay cả những tu sĩ ở thế tục (tân
tăng) cũng bị lôi kéo vào trong đó. Họ cưới vợ, và do đó - nhất là ở Viễn
Ðông - tự dấn mình vào một mớ bổn phận đè nặng lên người họ. Còn đâu là
hiện hữu “không mục đích” trong mái chở che của tu viện ! Một vực thẳm mở
ra giữa đời sống hàng ngày và đời sống ẩn dật. Tất cả đều gặp những hoàn
cảnh họ thấy rất chán chường, mặc dù họ bằng lòng ở lại trong những địa vị
đã được dành cho họ, và không có tham vọng tự tiến cử hay đóng một vai trò
trong đời công. Họ không hô hào những cải cách gượng ép ; họ kiên nhẫn chờ
đợi với niềm tin chắc rằng trong thế giới có đủ chỗ cho cái cũ và cái mới,
rằng cái cũ sẽ biến mất khi đến thời, và cái mới không đến một cách đột
ngột như được chế tạo sẵn, mà chính là tăng trưởng từ những hạt giống của
cái cũ. Bởi thế, họ cố phục vụ không phê bình, một cách vô ngã, không cố
làm cho mọi sự thích nghi với mình mà tự thích nghi mình với mọi sự, và để
ý đến cách làm việc của mình hơn là công việc.
Trong
lặng lẽ, họ tự đào luyện mình. Với những người khác, họ khoan hồng, nhưng
với chính họ thì không. Họ bắt đầu một cách khiêm tốn, từ việc nhỏ nhặt
nhất, biết rằng chỉ cách ấy họ mới có thể làm chủ những khó khăn lớn lao.
Sự huấn luyện
ở tu viện đã in dấu trên tâm hồn họ và định đoạt thái độ của họ đối với
những người khác : không phàn nàn về người và hoàn cảnh, không thay đổi
chúng mà thay đổi chính mình và phát triển những năng lực gây thế quân
bình. Một ý thức bén nhạy cũng được phát triển : họ trở nên thành thực một
cách tế nhị với chính họ. Ðiều này không đưa đến sự tự phụ và tự cho mình
đúng. Họ biết họ có phần thắng lợi hơn những kẻ khác, nhưng không lấy đó
làm điều. Họ cám ơn định mệnh, và khiêm tốn đối diện con đường trước mắt.
Nếu có những cuộc xung đột, họ tìm đến vị Thầy. Khi có thể, họ theo học
những khóa thiền định cao để tri kiến thêm sâu rộng. Sự thiền định hàng
ngày là chuyện dĩ nhiên. Những luyện tập này phải được tiếp tục suốt đời.
Thật là một điều lầm lẫn nếu nghĩ rằng chúng chỉ ích lợi trong giai đoạn
huấn luyện và sau đó có thể bỏ hẳn. Chính vị Thầy cũng luôn luôn luyện tập
để những sở đắc của ông thêm vững vàng. Như thế, Thiền định có tầm quan
trọng chủ chốt tuyệt đối. Mọi sự đã hoàn thành được chỉ là một tập luyện
tiên khởi cho những thành tích về sau, và không ai có thể nói mình đã đến
cùng đích, kể cả người điêu luyện nhất.
Ðối với
người tu sĩ trẻ, tình trạng thật là nan giải. Y ý thức rõ rệt con đường
dài và gian truân trước mặt, và muốn tiến đến chỗ tột cùng của khả năng
mình. Tất cả năng lực y đều tập trung vào mục tiêu ấy. Thế mà bây giờ,
thay vì nỗ lực kiện toàn đời sống riêng mình, y phải nghĩ đến việc cứu độ
kẻ khác ! Y sẽ sẵn sàng làm thế khi chính y đã hoàn tất việc tự độ. Nhưng
dường như còn quá sớm. Y cũng chỉ là một người vừa mới nhập môn.
Ðối với
y thật khó ghi tạc nơi lòng lời phát nguyện cứu độ kẻ khác. Y bị buộc phải
rời ngôi nhà của sự cô đơn phong phú và hòa mình vào cuộc sống cuồng loạn
y đã khước từ. Bởi vì, không giống như những người khác rời tu viện để trở
lại đời sau khi đã chứng nghiệm satori, người tu sĩ trẻ không thể
chỉ tu tại chùa nơi y đã đến theo tiếng gọi. Y phải đi vào những vùng xa
lạ và trà trộn với những người mà ai cũng mong tránh chung đụng.
Ở đây, y
bị đặt vào một thử thách cam go, va chạm với bất cứ gì từ vẻ lãnh đạm,
lịch sự, tẩy chay, khinh miệt và nhạo báng ra mặt. Y còn gặp phải sự thù
ghét nữa - thù ghét do lòng ganh tị mà ra. Một cách vô tâm, y phải tự hỏi
mình có quyền gì quấy rối những người ít may mắn hơn ? Y có gì để hiến
tặng ? Y có cần phải tuyên bố cái tri kiến tràn đầy ân sủng như người nghệ
sĩ thực hiện trong bức họa của họ chăng ? Giảng rằng con người sẽ không
bao giờ được tự do dưới ách của dục vọng ? Nhưng thuyết giảng có nghĩa là
“lập thành ngôn từ” và điều ấy đi trái với tinh thần của Thiền. Ngoài sự
giúp đỡ trong mọi hình thức với tư cách một người bạn và láng giềng tốt,
điều độc nhất y có thể làm là chứng tỏ rằng cái ách của dục vọng có thể bị
bẻ gãy. Những người khác cũng có thể thấy, nếu họ chịu mở mắt, rằng chính
y đã bẻ gãy gông cùm. Và bởi vì sự khiêm cung của y đã làm kẻ khác phải hạ
khí giới, họ không còn khép chặt tâm hồn trước y nữa. Kết quả là y bắt
buộc phải sống một đời gương mẫu, nêu lên cho mọi người thấy đức tính độc
nhất mà y vượt bực : sự tự đào luyện không ngừng của y. Người tu sĩ phái
Thiền không thể trốn tránh bổn phận mình bằng cách nói suông ngoài cửa
miệng. Y không thể thuyết giảng kêu gọi kẻ khác phải khoan hồng, kiên
nhẫn, từ bi, nếu y không đích thân hoàn thành những đức tính ấy. Môn hùng
biện không quan trọng trong chương trình Thiền.
Bởi thế,
người tu sĩ phái Thiền phải thực thi tính tự chủ khắt khe nhất. Y không
thể biện hộ : “Ồ, chỉ vì tôi mất bình tĩnh” . Y cũng không đợi đến khi
người khác nhắc rằng y vẫn còn ở dưới sự thao túng của dục vọng và đam mê.
Ngay khi ý thức nhược điểm này, y tự ý gián đoạn nhiệm vụ và rút lui để
thiền định nhiều hơn, trong cô độc, cho đến khi có thể trở lại nhìn mặt
người ta, và nhất là có thể nhìn chính mình. Quả thế, mặc dù điều này có
nghĩa là xao lãng những luyện tập có thể đưa y tiến xa hơn trên đường
Thiền, y vẫn xem điều quan trọng hơn chính là thanh lọc những nguồn suối
của bản thể y.
Sự thành
công bên ngoài không phải chờ đợi lâu : bây giờ y dễ dàng được chấp nhận
hơn. Sự tựu thành của y làm mọi người chú ý ; Thiền không có vẻ là một cái
gì bí truyền, đi đôi với mùi mốc meo của những nhà chứa và những tập luyện
thần bí ở đấy. Ðúng hơn, y giống như một lực sĩ mà ai cũng có thể trở
thành, miễn là y có ý muốn và tuân theo những luyện tập cần thiết. Chức vụ
của y không còn đáng ngờ vực và y dễ dàng tiếp xúc mọi người hơn. Kết quả
là y có được địa vị của một vị Thầy ở thế tục để giúp người qua khỏi những
cơn đau khổ nhất của họ. Nhưng - há chẳng phải y đang phản bội thiên chức
mình ? Có phải satori, con đường dài cam go y đã đi qua, chỉ cần
thiết cho việc này thôi ? Có phải y làm một ông thầy tu Thiền để làm việc
này chăng ? Thỉnh thoảng, bởi thế, ngoài việc giúp đỡ khuyến khích mọi
người, y sẽ nói đến con đường đưa đến sự giải thoát khỏi dục vọng và giá
trị của nó. Y có thể tìm được một vài người nghe, nhưng thường thường chỉ
có thế. Bây giờ y mới thấy công việc của mình khó khăn làm sao.
Dục vọng
ăn sâu gốc rễ nơi phần lớn người ta, chiếm chỗ quá lớn trong lòng họ, đến
nỗi công việc của y quả thật dường như hoàn toàn vô vọng. Tệ hơn nữa,
không những đâu đâu cũng gặp chỉ dục vọng, mà còn tà tâm, sự tàn bạo, xấu
xa, bất lương. Những người ham dục lạc chất phác ít nhất cũng không rắc
rối, dễ gần ; khác xa hạng này là những tâm hồn hiểm độc đã biết phân biệt
thiện ác nhưng lại dụng tâm chối bỏ điều thiện, lại còn thù ghét nó ! Ðối
với thầy tu mới tập sự thì đây là một kinh nghiệm có tác dụng tàn phá.
Y đã
nghe nói đến Phật tính nguyên thủy nơi mọi sự vật, và đã thoáng thấy nó
xung quanh y : trong cây, đá, núi, sông, hoa, cỏ, bụi bờ. Há nó lại không
được tìm thấy trong con người sao ? Nhưng ở đây tri kiến của y làm y thất
bại. Y đang đối diện với một cái gì không có trong lãnh vực của cây cỏ và
thú vật : tính gian dối khó lường của con người. Thú vật không giả vờ,
không đóng kịch, không mang mặt nạ. Thế thì Phật tính trong người đã ra
sao rồi ? Không phải hiển nhiên là bản tính nguyên sơ của con người đã sai
hỏng đó sao ?
Những hồ
nghi này kết thúc trong tình trạng hoài nghi và thúc đẩy vị thầy tu tập sự
trở về bên cạnh Thầy để có những cuộc đàm luận làm sáng tỏ vấn đề, những
cuộc đàm luận bây giờ thành ra hoàn toàn thích hợp vì họ đang bận tâm đến
những nỗi khó khăn cần giải thích. Một khóa học tập mới bắt đầu, kéo dài
vô hạn định - không phải luôn luôn trong hình thức những cuộc đàm đạo,
diễn giảng, tập luyện mà thường thay đổi phương pháp để thích hợp với cá
tính của người môn đệ, được trợ giúp bởi những công án chọn lọc khiến y có
thể tự tìm kiếm ra giải đáp cho vấn đề. Dầu thế nào mặc lòng, sự giáo huấn
đó sẽ hướng dẫn y trong phạm vi liên quan đến thiên chức và giới hạnh tu
sĩ, và đề cập thẳng đến ngõ bí của y : những khó khăn của một thầy tu tập
sự đang có cảm tưởng rằng phải cứu độ kẻ khác là cả một vi phạm, gần như
một sự phản bội đối với bản tính mình, một thầy tu chưa được một động lực
nội tại thúc đẩy để xem độ tha là việc hoàn toàn tự nhiên, một thầy tu
đang cảm thấy mình vụng về như một y sĩ mới được huấn luyện nửa chừng đã
được thả ra trước những con bệnh.
Bây giờ
y thấy rõ rằng hiện tại, y không thể không cảm thấy lạc lõng. Khuyết điểm
không ở nơi thế gian xấu xa, mà ở nơi chính y và sự thiếu bình an của
riêng y. Trong tâm, y còn bị “chuyển” bởi bộ mặt mà thế gian bày cho y
thấy. Thất bại và buồn nản phải làm y ý thức sự kiện này. Chính con người
y, y phải ổn định lại trước hết ; thất bại vì thế có một hiệu năng giải
cứu y. Bổn phận y bây giờ là phải giữ tâm luôn luôn vững vàng không bị
“chuyển”. Tập luyện điều ấy trong cách cư xử của y đối với người và sự vật
chính là điều kiện tiên quyết để cứu độ kẻ khác, một việc chỉ có thể làm
được sau một thời gian thử thách lâu dài.
Trên con
đường này có nhiều nguy hiểm và cám dỗ mới. Ðiều dĩ nhiên là khi đã chọn
con đường của chân lý tối thượng, y phải nỗ lực sống bằng chân lý theo như
y thấy và hiểu. Y sống theo những nguyên tắc của chân lý ấy và cẩn thận
trong việc ăn ở, suy nghĩ và hành động cho phù hợp với nó. Y đã quyết định
theo lẽ thiện và chân, và đối mặt chống lại ác và ngụy, mà quên nhận thức
rằng với quyết định này y đã tự đưa mình vào một ngõ bí. Khi phân biệt
giữa tốt lành thánh thiện một mặt và xấu xa phàm tục mặt khác, y đã tự đặt
mình hẳn vào một phản đề. Nhưng Tín Tâm Minh nói :
Ðạo
lớn không có gì khó
Chỉ
tránh lọc lừa chọn lựa.
Sự “lọc lừa chọn
lựa” này rõ trong sự kiện rằng : muốn nắm một vật y phải liệng bỏ vật kia.
Như thế y giữ một thái độ luôn luôn một chiều. Mặc dù y đã quyết định theo
lẽ thiện, cái đối nghịch với thiện cũng còn mãnh lực trên tâm hồn y. Khi
bám chặt lấy điều thiện (lý tưởng, giá trị) y cũng bị trói buộc không thua
gì con người đang bị dục vọng thao túng. Bất cứ người nào khước từ sự tham
muốn đối với thế tục mà còn bị vướng mắc vào sự ham muốn đối với lý tưởng,
kẻ đó vẫn chưa tiến xa được, trong ý nghĩa căn để nhất. Dĩ nhiên, y tiến
bộ hơn con người ham dục lạc không suy nghĩ, bởi vì y ý thức được cả hai
mặt và hiểu rõ mối căng thẳng không thể dung hòa giữa hai bên. Song y vẫn
chưa tiến xa đủ : y vẫn chưa ở ngoài những đối đãi, vì y sống bằng một
chân lý thay thế. Bởi thế, y gặp phải sự phản đối. Người tu sĩ nào ác cảm
trước sự phản đối sẽ đâm ra càng ngày càng khó tính, tự cho mình cao vượt
và không ngớt trách cứ kẻ xấu xa, không biết khoan dung, và như thế y chưa
thoát khỏi ước muốn được công nhận, danh dự, và ngay cả lòng tôn kính.
Trong y có một đà thúc đẩy của ý muốn quyền lực đang hoạt động, mặc dù
không được y công nhận, và sự “chữa trị linh hồn” của y phần lớn là một
biểu hiện của sự thúc đẩy này ngụy trang dưới lòng nhiệt thành thánh thiện
và sự cao cả tinh thần. Quả thật y đã được kêu gọi để lãnh đạo trong ý
nghĩa cao nhất, nhưng sự lãnh đạo mà y chưa đủ khả năng thực ấy, hiện bắt
nguồn từ một bình diện khác : nó cũng là một quyền năng, mặc dù thuộc về
một loại khác hẳn không thể so sánh. Lòng “nhiệt thành thánh thiện” không
thể được biện minh ngay cả khi những con người tội lỗi phỉ báng Ðức Phật
và chân lý tối thượng. Người tu sĩ không phải là kẻ tuyên dương chân lý
này, vậy nên y phải cẩn thận không nói nhiều về Phật hay Thiền
Còn về
những kẻ ác tâm thì sao ? Bị lầm lạc, họ tự cho mình là trung tâm điểm của
mọi sự. Tính tự kỷ ngoan cố này khiến cho Phật tính trong họ bị hoàn toàn
lu mờ. Tri kiến sáng suốt không còn có lợi ích gì ở đây ; sự ngoan cố
dường như là bản tính nguyên thủy của con người. Người tu sĩ không có chọn
lựa nào khác hơn là tin lời Phật và những bậc Thầy khi họ nói rằng : Phật
tính có ở ngay cả trong một người trọng tội. Y phải tin điều này cho đến
khi y tự mình thấy được nó và trở thành không còn lệ thuộc vào Phật và
Thầy. Muốn đạt đến tri giác này, giống như một satori mạnh mẽ nhất,
cần phải có những luyện tập thêm. Cũng hệt như những luyện tập hơi thở và
tập trung tâm trí là cần thiết cho satori, bây giờ y phải thực hiện
những luyện tập bao gồm cả toàn thể con người y - không những tâm thức mà
còn cả linh hồn và thể xác y nữa. Y phải vượt ra ngoài những đối đãi trong
đó y đang còn vướng, xem như điều kiện dẫn đến một cuộc biến đổi không còn
do chính y nữa, mà là một cái gì “xảy đến” cho y. Những kinh nghiệm bất
hạnh của riêng y đã chuẩn bị đưa người tu sĩ đến chỗ này. Ðiều cốt yếu đối
với y là phải trở thành vô ngã trong một ý nghĩa căn để, sao cho ngã không
còn hiện hữu nữa, như một danh từ hay một cảm thức mà trở thành một số
lượng vô danh. Ngã chấp, cho đến bây giờ vẫn là điểm quy chiếu thầm kín
hay hữu thức trong mọi kinh nghiệm hàng ngày, phải tan biến.
Ðiều này
không có nghĩa là “tôi” phải bị bỏ và thay thế bằng một “chúng ta” mơ hồ,
vì kinh nghiệm đoàn nhóm vẫn còn tác động trên cá nhân như một cái ngã, dù
y không phản ứng lại nó với tư cách cá nhân mà trong tinh thần của tập
đoàn. “Tôi” đúng hơn nên được thay thế bằng “nó” (“it”
trong Anh ngữ, có ý nghĩa trung tính rõ rệt hơn – Lời người dịch).
Những
luyện tập tiếp theo những tập luyện trước, phải có kết quả là trạng thái
an tĩnh hoàn toàn của tự tâm. Mọi sự xảy đến, và nhất là những gì xảy đến
cho tôi, phải được quan sát một cách vô tư, như thể nó không dính líu gì
đến tôi cả. Ðiều này có nghĩa là vui mừng khi một việc gì xảy đến cho
tôi, hệt như tôi sẽ vui mừng nếu nó xảy đến cho một người nào khác ;
và buồn rầu vì nỗi buồn của một người khác, không khác như thể nó xảy đến
cho tôi. Quả thế, tôi phải có thể vui mừng vì niềm vui của một kẻ khác,
cho dù nó đem lại cho tôi sự buồn khổ (khi, chẳng hạn, một người khác được
ưa thích hơn tôi), và phải xao xuyến vì nỗi buồn khổ của một người khác,
ngay cả khi nguyên nhân sự buồn khổ của y đem lại nguồn vui cho tôi.
Ðiều dĩ
nhiên là một Phật tử không được thù ghét, và chung quy y cũng không thể
thù ghét. Cũng thế, y không được yêu thương trong nghĩa thông thường của
danh từ, và quả thật y cũng không thể si ái. Tuy nhiên, không phải y trở
thành vô cảm giác và dửng dưng. Y để cho mọi sự vật và mọi người có một
phần trong khả năng yêu thương dồi dào của y, mà không nhằm một tình
thương nào đáp lại. Y yêu thương một cách vô tư, vô ngã, như thể yêu để mà
yêu. Và điều này không phải bởi vì nó đem lại cho y khoái lạc riêng tư hay
làm thỏa mãn một dục vọng riêng, mà vì y phải làm thế do một lòng yêu
thương dào dạt. Tình yêu này, nếu ta có thể gọi là yêu, vượt cả yêu ghét
vì nó không thể chuyển thành sự ghét bỏ. Nó không như một ngọn lửa đang
bừng cháy có thể hạ xuống bất cứ lúc nào, mà nó giống như một ánh sáng
trường tồn. Tình yêu này, một tình yêu không thể bị thất vọng, cũng như
không thể được khuyến khích từ bên ngoài, một tình yêu trong đó sự tử tế,
lòng lân mẫn và biết ơn hòa lẫn, một tình yêu không khuyến dụ, không cố
nài ép, đòi hỏi, quấy rầy hay bám riết, một tình yêu không cho ra để mà
nhận lại - tình yêu ấy có một mãnh lực phi thường, chính bởi nó tránh hết
mọi mãnh lực. Nó ôn hòa, từ tốn, nhưng cuối cùng không thể bị phản kháng
lại. Ngay cả những vật gọi là trơ lì cũng mở lòng ra trước tình thương ấy,
và loài vật, trong trường hợp khác đã rụt rè và nghi ngờ, cũng tín cẩn
trước một tình yêu như thế.
Ðiều này
sẽ giải thích tại sao lòng yêu thiên nhiên của người Nhật được liên kết
với Thiền. Ðấy là hình thức trong sáng nhất của một tình yêu hướng về sự
vật một cách tự nhiên và không thể bị đổi thành thù ghét. Ta có thể kể
nhiều điển hình về tình yêu này : người ta nghĩ đến thái độ của người Nhật
đối với hoa. Ðây là tỉ dụ về tình yêu trong sáng nhất không cần đền đáp :
Tôi yêu hoa không phải nó nở cho tôi, mà bởi vì nó nở hoàn toàn không “lý”
gì đến tôi, và tôi vui mừng trong hiện hữu của nó không phải như thể nó là
sở hữu của tôi.
Nếu bạn
đã trải qua sự học tập này, nếu bạn có cố gắng nào tương tự để đạt đến một
vị trí vượt ngoài đối đãi, tức bạn đã hoàn tất những điều kiện cho một
cuộc gặp gỡ tốt đẹp với cái “khác” ; bạn có thể lĩnh hội nó “trong tự
thân” bằng một thoáng trực giác, như một y sĩ kinh nghiệm nói ngay được
bệnh trạng của bệnh nhân. Từ điểm thuận lợi này, một con người có thể được
nhìn thấy đúng như hiện thể của y với tất cả những gì bị bóp méo hay quái
dị trong y, bây giờ không còn bị khinh rẻ nữa, mà được chấp nhận một cách
bình tĩnh. Và khi “từ lực” của người tu sĩ càng mạnh, thì người kia càng
không thể lừa dối ông, không thể đặt ra hàng rào của sự giả tạo vờ vĩnh.
Mãnh lực ấy trở thành môi trường, trong đó người kia tự nhiên cảm thấy
thoải mái trải lòng mình ra, một môi trường mời mọc kẻ kia đến hàng phục,
chịu sự lãnh đạo.
Người tu
sĩ không cảm thấy cái ngã của mình tăng thêm trong mối xúc tiếp với người
kia, mà chỉ tăng cường cái “Nó” trong ông. Ông cảm thấy đang tiến lên với
những sức mạnh khác hơn là chính ông.
Sự giúp
đỡ của ông đối với kẻ khác chỉ ở chỗ đó, trong một tình trạng vô hành, một
thái độ tâm linh vượt bực và sáng tạo độc đáo. Thân xác, linh hồn và tâm
linh ở đây được tan hòa vào nhất thể.
Ông tác
động trên kẻ khác bằng gương mẫu của chính mình, chỉ chờ đợi đến khi họ
không biết phải làm sao và mong muốn một lời khuyên. Khi ấy có lẽ ông sẽ
khuyên họ làm tròn nhiệm vụ một cách ý thức, trung thành và vô ngã. Ông sẽ
không nói về Thiền hay mong đặt họ lên con đường nếu nền móng chưa được
chuẩn bị. Chỉ khi đó ông mới giải thích sự sai lầm căn để của việc tự xem
mình như trung tâm điểm của mọi sự, nhấn mạnh vào ý muốn riêng, và như thế
đi ngược lại định luật phổ cập khi muốn thích nghi sự vật theo mình, thay
vì tự mình thích nghi theo sự vật. Sau đó, dần dần ông sẽ nhập môn họ vào
những tập luyện mà chính ông đã trải qua, dè dặt đưa họ lên con đường đem
lại giải thoát khỏi tánh ngoan cố và dục vọng.
Ngã tính
thuộc vào chính bản chất của con người, như đôi cánh của một con chim hay
lá của cành. Trong tự nó, ngã tính ấy không có gì khả nghi, không có gì để
phát sinh tình trạng ly tâm của hiện hữu con người. Tuy nhiên một sự dời
xa, một sự ly khai khỏi tâm, tiềm ẩn trong ngã tính ấy. Khi càng phân biệt
mình với mọi sự gì không phải là mình, không thuộc về mình, con người kinh
nghiệm sự căng thẳng giữa ngã và phi ngã như một đối lập. Khi đối diện
những gì không phải chính mình, càng ý thức nó như một đối tượng bao
nhiêu, thì cái ngã càng tự đặt nó ra ngoài - ngoài những gì “đối nghịch”
với nó. Kết quả là một sự chia cắt liên miên của hữu thể thành ra hai lãnh
vực là chủ thể và khách thể, đến nỗi nghệ thuật phân biệt càng tiến, người
ta càng thấy khó hiểu : Làm thế nào Thực thể độc nhất lại có thể tự chia
thành hai lãnh vực khác nhau đến thế ?
Bây giờ,
dù sự đối đãi có chính xác như một định lý, giữa đồng và dị, một và nhiều,
bất dị và dị, bất đối và đối, thì vẫn không có sự cao siêu huyền bí nào về
những cặp đối lập ấy. Sự kiện trí năng không thể quan niệm sự đồng thể và
nhất thể, chỉ trừ trong môi trường nhị nguyên, không có nghĩa rằng nhị
nguyên ấy phải là đối tượng và đề tài của giác tánh huyền bí.
Ðối với
người Phật tử phái Thiền, kẻ không để mình rối loạn vì những bay bổng của
tư duy thuần lý, sự huyền bí đích thực không những chỉ vượt ngoài mọi đa
nguyên, đối đãi và phân biệt, mà còn vượt ngoài những cặp đối đãi “một,
nhiều” , “đồng, dị” , “đối, bất đối” . Và ngay điều này cũng có thể cãi
được, vì nó đi ngược lại một vài kinh nghiệm thần bí rất xác định.
Nếu
người Phật tử ấy nhận thấy cần diễn đạt một quan niệm về vấn đề này theo
những từ ngữ chúng ta đã dùng ở đây, y sẽ chỉ nói thế này : “Tâm của vạn
pháp cũng vượt ngoài một và nhiều, đồng và dị, và không vượt ngoài”
. Và bởi vì, vượt ngoài và không vượt ngoài cũng lại đối đãi nhau, nên y
phải nói thêm rằng : “Tâm ấy không phải là cái này, cũng không phải cái
khác, cũng không phải vừa cái này vừa cái khác, và tư tưởng không thể diễn
tả được, dù chỉ ám chỉ đến nó. Bất cứ người nào muốn biết đấy là gì, đều
phải theo con đường của Thiền, không có cách nào khác” .
Sự sa
đọa của con người phát sinh như thế nào ? Nó bắt đầu bằng sự bỏ qua hay
hiểu lầm mục đích sâu xa nhất của hiện hữu mình. Không một sinh vật nào
khác ngoài con người được thiên nhiên cấu tạo không những để sống một cách
tự nhiên từ nơi tâm vạn pháp mà còn để khải thị bí mật của tất cả cuộc tồn
sinh. Y đã được ban phát khả năng phá vỡ những xiềng xích của cá tính để
đi vào trong mối xúc tiếp thân mật với mọi hiện hữu, để gặp khắp nơi trong
thế giới bên ngoài một cái gì gần gũi với y, hay thể nhận chính mình trong
mối gần gũi ấy, và trong cái ngã này, y trở nên ý thức được tâm của vạn
pháp, đến độ y sống cũng như bị sống (không để cái ngã của
mình tác động lên mọi sự) .
Không có
loài nào ngoài và dưới loài người, đã sống : chúng bị sống. Với sự
chắc chắn của những người mộng du, chúng sống một cuộc đời quay vào chính
mình, và không một mối liên lạc nào chúng gặp đã từng đi vào ý thức chúng.
Chúng không có cách nào để mở lòng ra và cứ để mở như thế, để tự hiển lộ
mình và bị hiển lộ. Bất cứ cái gì chúng làm hay chịu đựng đều không có ý
nghĩa gì với chúng. Chỉ có mặt một cách vô danh trên đời, chúng được bao
bọc một cách hạnh phúc trong chính chúng, nhưng chúng không đạt đến sự vui
hưởng một cách ý thức hiện hữu của mình.
Tuy
nhiên đối với con người, một định luật mới không tiền khoáng hậu đã được
ban phát cho y : y phải hoàn thành những gì được hứa khả trong bản tính
mình bằng cách kính trọng mọi sự, và bao bọc chúng trong tình thương yêu
bất cứ khi nào và ở đâu y gặp chúng ; trong một tình yêu thương không tính
toán, mà tung rải nó ra và chỉ càng phong phú thêm trong khi tung rải. Chỉ
cách đó, y mới có thể thành công trong việc giải thoát dần dần khỏi ngục
tù chật hẹp của cá thể, trong đó giống như súc vật và cỏ cây, y đã bị nhốt
kín. Cuối cùng y được khôi phục để trở thành chính mình : là tâm của vạn
pháp, trong đó Bản thể được hiển lộ. Sự kính trọng đối với toàn thể sự
sống là công thức của Phật giáo Thiền, và bí quyết của Thiền chính ở chỗ
đó.
---o0o---
[ Mục Lục ] [
Phần 1] [
Phần 2] [ Phần 3] [
Phần 4]
[Phần 5]
---o0o---
Vi tính: Nguyên Tịnh
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01- 7 -2004