Giác niệm về hơi thở
Nguyên tác: Mindfulness with Breathing
Nguyên tác Thái ngữ:
Bhikkhu Buddhadasa (Tỳ kheo Phật Lệ)-
1986
Bản dịch Anh ngữ:
Bhikkhu Santikaro (1988).
Bản dịch Việt ngữ:
Cư sĩ Thiện Nhựt
(2004).
---o0o---
Phần Pháp thoại
Bài một
Tại sao lại Pháp?
"Tại sao lại Pháp?"
Trước khi trả lời câu hỏi nầy,
chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của chữ Pháp: Dhamma. Sau
đó, mới bàn
đến các lý do tại sao chúng ta cần phải học
tập về Pháp và thực hành theo Pháp.
Pháp và các bí ẩn của
đời sống.
Lối giải thích dễ hiểu về Pháp
(Dhamma) là: "Bí ẩn của thiên nhiên cần
được hiểu rõ
để có thể phát triển đời sống đến mức lợi lạc
cao nhứt."
"Để
phát triển đời sống đến mức cao nhứt" có nghĩa là
đạt tới một giai đoạn của đời sống được giải
thoát khỏi mọi vấn đề (khó khăn) và mọi khổ sở (dukkha).
Đời sống như thế đó đã vượt thoát khỏi
những gì được xem như là "vấn
đề (khó khăn)" và "khổ sở" (dukkha).
Một sự giải thích rõ ràng thêm
về danh từ "bí ẩn" rất quan trọng cho việc thông hiểu
đề tài của chúng ta. Nếu chúng ta còn
chưa biết bí ẩn của một sự vật gì, thì chúng ta chẳng thể nào hành
động cho thành công
để đạt được các kết quả cao nhứt và
thâu được lợi lạc tối đa về sự vật đó. Thí dụ
như các tiến bộ về việc thám hiểm ngoại tầng không gian và các phát
triển về năng lực hạch tâm, cũng như ở các
điạ hạt khác, sở dĩ thực hiện được là nhờ sự thông hiểu về các bí
ẩn của các sự vật đó. Với đời sống, thì
cũng như vậy. Để có thể đạt được sự phát
triển cao nhứt về đời sống, chúng ta cần phải biết rõ các bí ẩn của
đời sống.
Đời sống, đặc biệt là
trong khung cảnh của Pháp (Dhamma), là một
đầu đề về thiên nhiên (Dhamma jàti).
Chữ Pali dhamma jàti được dịch ra là
thiên nhiên (hay bản thể) (nature )có thể còn chưa
đúng hẳn, nhưng nghĩa cũng đã khá gần.
Xin hãy xem đó như có nghĩa là cái gì
tự nó hiện hữu ở bên trong nó, tự nó sanh ra nó, và có những qui luật của
riêng nó. Cái nghĩa thiên nhiên đó
chẳng hề chống đối với con người, khác với sự suy tư của người Tây phương
thường nghĩ, mà trái lại nó bao gồm con người, và tất cả những kinh
nghiệm của con người, vào bên trong nó. Vậy, chúng ta cần phải hiểu bí ẩn
của đời sống, thì mới có thể hiểu
được Pháp.
Pháp: Bốn phương diện.
Pháp của
đời sống có bốn nghĩa:
1.- thiên nhiên,
2.- qui luật của thiên nhiên,
3.- bổn phận cần phải làm, chiếu theo qui luật đó của thiên nhiên,
4.- các thành quả hoặc lợi lạc do sự thi hành bổn phận đó mang lại.
Xin hãy luôn luôn ghi nhớ bốn
nghĩa có liên hệ hỗ tương với nhau đó.
Các bạn hãy cứu xét
đến Sư Thật ở bên trong bạn, nơi thân
tâm nầy mà bạn thường tưởng như là chính bạn. Bên trong mỗi chúng ta có
nhiều thiên nhiên kết hợp nhau thành ra tấm thân, trở nên một chúng sanh.
Kế đó, có những qui luật thiên nhiên
đang kiểm soắt các thiên nhiên
đó. Rồi lại có bổn phận liên quan
đến các qui luật thiên nhiên cần phải
được các thiên nhiên
đó thi hành
đứng đắn cho chính các thiên nhiên ấy.
Và sau cùng là các kết quả của việc thi hành bổn phận
đó. Nếu bổn phận được thi hành
đúng đắn, thì kết quả sẽ là an lạc,
tĩnh lặng và thoải mái. Tuy nhiên, nếu bổn phận
được thi hành chẳng
đúng đắn, thì kết quả sẽ là khổ sở (dukkha),
bất toại nguyện, thống khổ, đau đớn, bất mãn.
Ngay cả ở giai đoạn sơ khởi, xin các bạn hãy
quán sát thật kỹ lưỡng và thấy thật rõ ràng nơi mỗi chúng ta
đều có đủ bốn phương diện của Pháp (Dhamma)
hay thiên nhiên.
Khi chúng ta
đã cứu xét kỹ bốn nghĩa
đó của thiên nhiên, chúng ta sẽ thấy
ra đời sống chỉ được tạo thành bởi bốn
phương diện đó của thiên nhiên. Tuy
vậy, giờ đây chúng ta còn phải hiểu rõ
bốn phương diện ấy cho thật đúng đắn và
đầy đủ. Chúng ta còn chưa
đi sâu vào bí ẩn của cái mà ta gọi là
đời sống. Chúng ta còn chưa nắm vững
được bí ẩn của Pháp (Dhamma),
do vậy mà chúng ta chưa đủ khả năng để thực
tập theo một đường lối mà ta có thể thâu hoạch
được lợi lạc trọn vẹn từ nơi đời sống. Chúng
ta hãy dùng nhiều thời giờ hơn nữa để
nghiên cứu thêm về các danh từ "Pháp" (Dhamma) và "Bí ẩn của
đời sống" hầu có thể rút tiả được lợi lạc nơi
chúng.
Phát triển
đời sống vượt khỏi sự khổ (Dukkha).
Chúng ta cũng cần xét kỹ
đến từ ngữ "phát triển đời sống". Chúng ta
vẫn chưa biết được bí ẩn của sự việc nầy. Khi nói phát triển đời sống,
chúng ta chưa có một sự hiểu biết rõ ràng về cái
điều chúng ta đang muốn nói đến và còn
mờ mịt về tầm mức mà đời sống có thể phát
triển được. Chúng ta chưa nhận thức được các lợi lạc tối cao mà
nhơn loại có thể vươn lên tới, và vì thế mà chúng ta còn chưa có
đủ sự quan tâm cần thiết đến các bí ẩn của
đời sống khả dĩ giúp ta đạt đến các mức cao nhứt. Bạn cần nên hiểu
rõ đời sống có thể phát triển xa đến tận đâu,
tới các cao độ nào, và phải quan tâm
đặc biệt về sự phát triển đó.
Ngay tại giai
đoạn sơ khởi, chúng ta chỉ cần nắm vững nguyên
tắc căn bản nầy: "phát triển đời sống" có
nghĩa là "khiến cho đời sống tiến
triển đến một giai tầng cao nhứt", tức là, vượt qua khỏi tất cả mọi
vấn đề (khó khăn) và sự khổ sở (dukkha),
vượt khỏi các ý nghĩa chính yếu và tế nhị mà hai chữ ‘vấn
đề" và ‘khổ sở" có thể có
được. Với những ai, từ trước đến giờ, còn
chưa được nghe đến chữ dukkha,
khổ sở, chúng tôi xin cố dịch gượng là "đau
khổ, bất toại nguyện, tranh chấp, xao động -- tất cả những gì làm
xáo trộn đời sống". Khổ sở (dukkha)
là những gì mà chúng ta luôn luôn chạy trốn
để khỏi gặp. Nó là điều gì
đang khuấy động sự tĩnh lặng và thoải
mái của đời sống. Nó cũng là bất cứ
điều gì cản trở sự toàn thiện của tâm
linh. Khi được phát triển vượt khỏi mọi khổ
sở (dukkha), đời sống sẽ đạt
đến giai tầng cao nhứt có thể có được.
Vài người còn chưa hiểu biết về
các vấn đề (khó khăn) của chính họ. Họ chẳng
hiểu được thế nào là khổ sở (dukkha), theo nghĩa tổng quát,
hoặc chỉ liên quan đến đời sống riêng
của họ. Họ nhìn vào chính họ và thốt lên: "Ồ! Tôi chẳng có vấn
đề (khó khăn) nào cả, mọi việc
đều yên ổn cả." Họ chịu coi mọi nổi
khó khăn và lo lắng của họ như thông
thường cả. Chúng ta có giống như vậy không? Ta cần phải có một cái nhìn
đứng đắn, nhìn thật kỹ càng trong chi
tiết vào đời sống của ta để xem thật ra chúng
có điều gì đáng để gọi là một
"vấn đề (khó khăn)" chăng. Có khổ sở (dukkha)
chăng? Có điều gì chẳng
được như ý chăng, hoặc đang làm cho
đời ta bị xáo trộn? Những câu hỏi như thế rất
cần thiết khi các bạn đến viếng Suan Mokkh nầy. Nếu bạn còn chưa
nhìn thẳng vào bên trong bạn, nếu bạn còn chưa lưu ý
đến vấn đề (khó khăn) nào, nếu bạn cảm
thấy chẳng có khổ sở (dukkha) nào cả, thì bạn còn chưa biết
đúng bạn đang làm gì ở
đây hoặc bạn chưa rõ
được lý do tại sao phải học tập về Pháp (Dhamma).
Xin tha thiết mời bạn hãy nhìn cho rõ, cho kỹ về các sự vật
đó được gọi là ‘khổ sở" (dukkha),
là "vấn đề (khó khăn)", trước khi bạn tiếp
tục tiến xa hơn nữa.
Khi nói phát triển
đời sống, ta có thể phân biệt bốn phương
diện. Phương diện thứ nhứt là ngăn
chặn chẳng cho các sự vật gây nguy hiểm đến đời sống, được khởi sanh. Thứ
hai là gạt bỏ và phá hủy các sự vật nguy hại
đã sanh ra. Thứ ba là tạo dựng các sự
vật hữu dụng và có ích lợi cho đời sống. Thứ
tư là duy trì và tăng trưởng các sự
vật ích lợi đó. Tính chung lại, ta có bốn phương diện phát triển đời sống:
ngăn chặn các nguy cơ mới, diệt trừ các nguy cơ cũ, tạo thêm các sự
vật đáng mong muốn, giữ gìn và gia tăng
các sự vật hữu ích. Bốn điểm đó lập thành
điều mà chúng ta gọi là "phát triển
đời sống". Phát triển đời sống là bổn
phận của chúng ta, chúng ta phải nên nhận
định rõ đó là bổn phận của
chúng ta, nếu muốn cho sự phát triển được
thực hiện.
Để làm tròn bổn phận nói
trên, chúng ta cần phải có sẵn trong tay bốn dụng cụ quan trọng, gọi là
bốn Pháp khí. Bốn khí cụ về Pháp (Dhamma)
đó là: (1) Sati, Giác niệm, tức
là sự tỉnh thức, chánh niệm; (2) Sampajanna, Trí phân biện, quán thông,
tức là sự thông hiểu thấu suốt; (3) Panna, Bát nhã, tức là trí
huệ; (4) Samàdhi, Định lực, tức
là tâm ý tập trung lại. Có sẵn đủ bốn Pháp
khí đó sẽ giúp ta phát triển được đời sống.
Sự thực tập Vipassanà, Quán
chiếu Minh sát, tức là sự phát triển tâm linh, nhắm vào việc vun bồi
và huấn luyện tâm thức, khiến cho bốn Pháp khí
đó được sung mãn hầu giúp ta phát
triển đời sống. Ta nên quan tâm nhiều
đến việc tu tập phát triển tâm linh về bốn
Pháp khí ấy.
Thứ giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati)
mà ta cần
đến.
Có rất nhiều
đường lối, hệ thống, để đào luyện tâm
linh, thường cùng được gọi là
Vipassanà, Quán chiếu Minh sát. Có rất nhiều hệ thống và kỹ thuật khác
nhau được dùng
để phát triển tâm linh. Nhưng trong số tất cả
các kỹ thuật mà chúng được biết đến,
kỹ thuật tốt nhứt được gọi là Ànàpànasati bhàvanà, Quán tưởng
Giác niệm về Hơi thở, sự tập luyên chánh niệm về hơi thở ra, hơi thở
vào. Đấy là sự thực tập mà chúng ta sẽ
bàn luận thật chi tiết trong các bài thuyết giảng nầy.
Ý nghĩa
đứng đắn và
đầy đủ của phép Quán tưởng Giác
niệm về Hơi thở (Ànàpànasati bhàvanà) là nắm lấy một sự thật,
hay là thực tế về bản thể thiên nhiên, để
quán sát, suy tầm và soi chiếu nó trong nội tâm cùng với mỗi hơi
thở vào và mỗi hơi thở ra. Như thế, giác niệm về hơi thở giúp ta suy
nghiệm về bất cứ sự thật thiên nhiên quan trọng nào trong lúc ta
đang thở vào và thở ra.
Việc nghiên cứu như thế rất là
quan trọng và có một giá trị thật to tát. Nếu ta mong muốn biết rõ một sự
thật về điều gì, ta phải nắm lấy sự
thật của điều đó để suy nghiệm, quán sát,
phân tách và nghiên cứu với nhiệt tâm mỗi khi ta
đang thở vào và thở ra. Xin cho phép
tôi nhắc lại, đối tượng (của việc quán sát)
phải được tác động đến một cách thật liên tục, bền bỉ trong nội
tâm. Ngay đây, "liên tục" có nghĩa là
"với mọi hơi thở vào và mọi hơi thở ra". Khi thở vào, biết rõ
đối tượng đó. Khi thở ra, biết rõ
đối tượng đó. Khi thở vào, hiểu rõ
đối tượng đó. Khi thở ra, hiểu rõ
đối tượng đó. Điều nầy thật hết sức cần thiết
và cũng hữu ích vô cùng, để phát triển
đầy đủ mọi kiến thức mà ta cần phải hiểu rõ. Việc nghiên cứu như
thế sẽ mang đến một sự chuyển hoá nơi tâm
trí, tức là vào ngay bên trong của đời
sống.
Thật ra, ý nghĩa của Giác niệm
về Hơi thở (Anàpànasati) rất rộng rãi và tổng quát. Giác
niệm đó có nghĩa là "chánh niệm chiếu
soi vào bất cứ điều gì ngay trong lúc
thở vào thở ra". Bạn hãy tưởng tượng rằng, trong khi thở vào thở ra, bạn
đang nghĩ đến gia đình của bạn nơi hải
ngoại, đến mẹ của bạn, đến vợ, chồng, con
cái. Điều ấy cũng gọi là Giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati).
Nhưng đó chẳng phải là
điều mà chúng ta cần làm ở
đây. Điều mà chúng tôi
đòi hỏi ở bạn là phải niệm
đến Pháp (Dhamma), tức là,
những sự thật thiên nhiên có thể giải thoát tâm trí ra khỏi sự
đau đớn của khổ sở (dukkha).
Bạn hãy nắm bắt các sự thật đó để tác động
đến tâm trí, tác động một cách hữu hiệu và
đầy đủ để có thể vứt bỏ được mọi "vấn đề (khó
khăn)", và loại trừ sự khổ sở (dukkha). Nói cách khác, bạn
hãy thâu nhận bốn Pháp khí (dụng cụ tinh thần) mà chúng tôi vừa nói qua.
Đấy mới thật là Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
hữu dụng bực nhứt.
Bốn
điều mà
chúng ta cần suy nghiệm.
Giờ
đây, đến lượt câu hỏi: "Các điều nào
thích nghi, đứng đắn và cần thiết
để được nắm lấy như các đối tượng của sự suy
nghiệm mỗi khi ta thở vào, thở ra?" Câu trả lời là: các bí ẩn của
thân (kàya), các bí ẩn của cảm thọ (vedanà),
các bí ẩn của tâm (citta) và các bí ẩn của Pháp (Dhamma).
Các bí ẩn của bốn điều đó: thân,
thọ, tâm, pháp, là những gì mà ta cần đem
vào trong tâm trí để nghiên cứu
tại đấy.
Bốn
điều đó khá quan trọng, tưởng bạn nên
ghi nhớ đến tên của chúng bằng danh từ
Pali. Để tiện thấu hiểu rõ ràng và
tham chiếu dễ dàng sau nầy, bạn nên nhớ bốn danh từ Pali nầy: kàya,
vedanà, citta, dhamma. Chớ nên quên đó là
bốn đề tài vô cùng quan trọng. Ta nên
xử dụng đến chúng nhiều hơn bất cứ đối tượng
nào để huấn luyện và phát triển
tâm trí, bởi vì bốn điều đó đã có sẵn
nơi chúng ta, và là căn nguyên của
biết bao nhiêu "vấn đề (khó khăn)" trong đời
ta. Bởi vì chúng ta còn chưa hiểu rõ
được chúng, và bởi vì chúng ta chẳng
đủ khả năng để điều chỉnh chúng, nên chúng mới trở thành những sự
việc đưa ta đến đau khổ. Vì lẽ
đó, thật là quan trọng tuyệt
đối để phân biệt rõ ràng bốn
điều đó: thân, cảm giác, tâm và các
pháp(= sự vật).
Giai
đoạn I: Thân thể và
thân hơi.
Giờ
đây, ta hãy cứu xét bốn
điều trên
đây riêng rẻ nhau ra, bắt đầu với
Kàya, Thân. Chữ Pali kàya có nghĩa là "nhóm" và có
thể được áp dụng vào bất cứ nhóm, mớ,
hay tập hợp nào gồm nhiều sự vật. Trong trường hợp nầy, chữ kàya có
nghĩa đặc biệt là một nhóm sự vật
được kết hợp với nhau thành nột tấm
thân vật chất, thân thể. Tiếng Anh body, thân, cũng có nghĩa là một
nhóm. Vậy ta nên thận trọng về ý nghĩa mà chữ thân, chữ nhóm,
có thể gợi lên.
Bạn nên nhìn kỹ vào chính bạn
để thấy rõ các thân
đó được lập thành như thế nào. Có
những cơ quan nào ở đó và có cả thảy
được bao nhiêu? Thuộc loại yếu tố nào?
Bộ phận nào của cơ quan, thành phần nào đã
kết hợp với nhau trong thân thể nầy? Sâu xa hơn nữa, có một thành phần rất
quan trọng đã nuôi dưỡng các phần còn
lại của thân thể nầy, đó là hơi thở.
Hơi thở cũng được gọi là kàya,
tức là thân, thân hơi, ở ngay trong toàn thể các yếu tố khác. Ta sẽ
nghiên cứu tấm thân thể xương thịt đó đã
an lập như thế nào và mối tương quan giữa thân thể với hơi thở.
Cái thân hơi rất quan trọng,
bởi vì ta thấy rằng nó đã duy trì và
kéo dài đời sống nơi các phần còn lại
của thân. Tấm thân tổng quát, tức là tấm thân thể xương thịt nầy, thuộc về
những sự vật mà ta chẳng thể trực tiếp điều
chỉnh được. Sự chỉnh đốn đó nằm ngoài khả năng
của ta. Tuy nhiên, có một đường lối để
kiểm soát thân thể đó, làm chủ được
nó, một cách gián tiếp, nhờ xử dụng đến hơi thở. Nếu ta tác động bằng cách
nào đó đến một thân nầy (thân hơi), thì
sẽ có một ảnh hưởng nào đó đến với một thân
kia (thân thể). Vì lẽ đó ta mới dùng
hơi thở làm một dụng cụ để huấn luyện. Hễ
canh chừng hơi thở đến một mức độ nào thì ta có thể
điều chỉnh tấm thân thể xác nầy được đến mức
độ đó. Điểm nầy sẽ được bạn nhận thấy thật rõ ràng, khi bạn
đã thực tập
đến một giai đoạn đặc biệt của Giác niệm về
Hơi thở (Ànàpànasati).
Trong các bước của
giai đoạn I, những bước
đầu có liên quan
đến thân (kàya), ta
nghiên cứu hơi thở theo một cách đặc biệt. Ta
ghi nhận mỗi loại hơi thở đến và đi, và
hình thức của mỗi hơi thở ra sao. Hơi thở dài, hơi thở ngắn, hơi thở an
tịnh, hơi thở ồn ào, hơi thở mau, hơi thở chậm: ta phải ghi nhận và biết
rõ về chúng. Với tất cả các loại hơi thở khởi lên, ta phải biết rõ bản thể
của mỗi thứ, đặc tánh và công năng
của chúng.
Hãy quan sát kỹ các loại hơi
thở đã có ảnh hưởng nào
đến tâm thân thể chất nầy. Hơi thở ảnh hưởng
to tát đến phần còn lại của tâm thân thể chất, và ảnh hưởng
đó cần phải được thấy ra cho thật rõ
ràng. Quán sát cả hai mặt của mối tương quan ấy cho
đến khi nào thấy
được chúng liên hệ hỗ tương với nhau
và chẳng thể tách rời nhau ra. Thấy rõ rằng cái thân hơi nầy gây ảnh hưởng
và "pha chế" (chuyển biến) được cái thân thể
kia. Đấy là bước thứ nhứt. Hãy
đặc biệt nghiên cứu hơi thở. Hãy biết rõ các
đặc tánh của tất cả các loại hơi thở. Rồi
thấu hiểu rằng hơi thở liên quan mật thiết với tấm thân thể chất
nữa. Nhờ đường lối nầy, ta có thể điều chỉnh
thân thể được bằng cách điều chỉnh hơi thở.
Ý nghĩa của các bước
đầu trong việc thực tập nầy là hiểu
biết được các bí ẩn của kàya,
của thân. Ta biết rằng thân hơi, tức là sự hô hấp bằng hơi thở, là
một tác viên gây ảnh hưởng đến tấm thân thể
chất. Điều bí ẩn quan trọng nầy có thể được dùng
để mở khoá các bí ẩn khác trong cơ thể ta,
thí dụ như sự kiện dùng hơi thở để làm
chủ được thân thể. Chẳng ai ngồi đó mà
có thể thư giãn trực tiếp được tấm thân thể
chất nầy, nhưng ta đã khám phá ra được
rằng, ta có thể làm thư giãn tấm thân thể chất nầy bằng cách làm
cho hơi thở trở nên êm dịu. Nếu hơi thở êm dịu thì thân thể cũng êm dịu
theo. Đó là cách ta dùng
để kiểm soát gián tiếp tấm thân nầy. Về sau.
ta còn biết được thêm, nỗi mừng
và niềm vui với tất cả các lợi lạc có giá trị khác cùng
đi theo với sự lắng dịu hơi thở và sự
an tịnh thân tâm.
Giai
đoạn II: Cảm thọ là
chủ nhơn của ta
Sau khi
đã hiểu biết rõ các bí ẩn của Kàya,
Thân, ta quay sang các bí ẩn về Vedanà, Cảm thọ. Các cảm thọ (Vedanà)
có một năng lực rất mãnh liệt
để ảnh hưởng đến con người và các sanh
vật khác. Lời tôi nói có thể làm bạn ngạc nhiên, nhưng toàn thể thế gian,
người thú, và các loại sanh vật khác, đều tùy
thuộc vào các cảm thọ (vedanà). Họ đều
sống dưới sự ngự trị của các cảm thọ. Điều nầy có vẻ buồn cười và
khó tin, nhưng xin bạn hãy quán sát kỹ lấy mà xem.
Đây là một sự kiện thực tế: chúng ta,
và cả muôn loài, đều bị bó buộc phải hành
động theo lịnh của các cảm thọ. Khi có
lạc thọ (sukha vedanà) (cảm giác sướng), chúng ta cố
tìm cách có thêm lạc thọ nữa. Các lạc thọ thường
đẩy tâm trí theo một hướng nào
đó và gây ảnh hưởng
đến một loại hành
động nào
đó. Khổ thọ (dukkha vedanà) (cảm giác
đau khổ, chẳng vừa ý) ảnh hưởng đến tâm trí và
đời sống của ta, theo một chiều hướng ngược
lại, nhưng vẫn dẫn dắt ta đến các phản ứng quen thuộc. Tâm trí phấn đấu
chống lại chúng và khiến chúng trở thành các "vấn
đề (khó khăn)" để đưa đến sự khổ sở (dukkha).
Các cảm thọ có ảnh hưởng rất lớn mạnh đối với
các hành động của chúng ta. Toàn
thể thế giới đặt dưới quyền chỉ huy của các
cảm thọ, mặc dầu cũng có những yếu tố khác xen vào. Thí dụ, như sự
khát ái (tanha) (ham muốn quá mức) có thể kiểm soát tâm trí,
nhưng chính sự khát ái cũng chịu ảnh hưởng của các cảm thọ. Vì thế,
đã biết rõ các cảm thọ có ảnh hưởng
mãnh liệt đến tâm trí, ta cần phải nên
thấu hiểu các bí ẩn của chúng.
Tôi sắp nói
đến một điều mà có lẽ bạn sẽ bật cười,
nếu bạn muốn. "Nếu ta làm chủ nổi các cảm thọ (vedanà), ta sẽ nắm
lấy được chủ quyền trên toàn thế
giới." Ta sẽ đủ sức để kiểm soát toàn
thế giới khi ta có thể kiểm soát được các cảm
thọ như chúng ta thường đòi hỏi. Rồi ta sẽ canh chừng cả thế giới
nầy như hiện nó đang ở vào tình trạng
cần được kiểm soát thật cấp bách. Nay, vì
có chẳng ai lưu tâm đến việc chế ngự các cảm
thọ, cho nên thế giới mới vượt ra ngoài sự kiểm soát
đứng đắn. Bạn còn chưa thấy các cuộc
khủng hoảng, các vấn nạn khởi lên luôn luôn ư? Chiến tranh, nạn
đói, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, các sự
việc nầy đều là những hành vi bắt nguồn từ sự thất bại trong việc
kiểm soát các cảm thọ của chúng ta ngay tự buổi
đầu. Nếu ta kiểm soát được các cảm thọ, ta sẽ
kiểm soát được toàn thể thế giới. Đấy
là điều mà bạn cần phải nên cứu
xét đến.
Nếu ta biết nói
đúng theo các lời của Đức Phật, ta sẽ nói
rằng nguyên nhân của tất cả mọi việc trên thế giới
đều đặt tâm điểm nơi các cảm thọ. Hằng hà
sa số hành vi đã xảy ra trên thế giới
cũng bởi vì các cảm thọ đã thúc
đẩy chúng ta đi đến sự ham muốn, và
rồi lại hành động theo đúng các sự ham muốn
đó. Ngay cả các sự tin tưởng như đầu thai, tái sanh đều chịu ảnh hưởng của
các cảm thọ. Nếu ta đã tin tưởng, ta sẽ ngao du khắp cõi Luân hồi,
theo vòng lẩn quẩn của sanh và tử, của thiên
đường và điạ ngục. Mọi việc đều bắt
nguồn từ các cảm thọ. Kiểm soát được cảm thọ là kiểm soát
được nguồn gốc, căn nguyên, sanh quán
của muôn việc. Đó cho thấy sự cần thiết phải
thông hiểu các cảm thọ một cách đứng đắn và tổng hợp. Và nhờ
đó mà ta sẽ có khả năng
kiểm soát nổi các cảm thọ để rồi các bí ẩn của chúng chẳng thể nào
lừa gạt được ta phải có các hành
động điên rồ nữa trong tương lai.
Có ba
điểm chánh cần nhận thức về các cảm thọ (vedanà).
Thứ nhứt, thông hiểu chính các cảm thọ, sự vật nào
đã làm khởi sanh các cảm thọ nơi tâm,
và làm tâm bị giao động. Thứ hai,
hiểu rõ bằng cách nào các cảm thọ đã
ảnh hưởng đến tâm (citta).
Cảm thọ đã khơi dậy các tư tưởng, ký
ức, lời nói và hành động. Phải nên
biết rõ các chuyển biến đó của tâm.
Thứ ba, khám phá ra rằng ta có thể kiểm soát tâm tư bằng cách kiểm
soát các cảm thọ, cũng giống như cách tấm thân thể chất nầy chịu ảnh hưởng
của việc điều hoà hơi thở vậy. Rồi ta
mới có đủ khả năng làm chủ tâm ta,
bằng cách làm chủ được, một cách đúng đắn,
các cảm thọ đang gây ảnh hưởng đến tâm tư. Bí ẩn của các cảm thọ chính là
ba điểm chánh yếu nầy:
1.- Hiểu rõ chính các cảm thọ.
2.- Biết các điều gây ảnh hưởng đến các cảm
thọ.
3.- Rồi, phải biết cách kiểm soát các điều đã gây ảnh hưởng
đến các cảm thọ; cách nầy cũng giống như cách
kiểm soát chính các cảm thọ.
Vì hai giai
đoạn I và II vừa qua của sự
thực tập đều tuân theo một nguyên tắc
chung, nên sự so sánh giữa đôi bên sẽ
có ích lợi thêm. Trong giai đoạn I, liên
quan đến thân, ta thấy
được sự việc gì
đã gây ảnh hưởng
đến cho tấm thân thể chất, và ta
nghiên cứu sự việc đó rất kỹ lưởng từng chi
tiết. Ta thấy rõ sự việc ấy đã
gây ảnh hưởng đến thân thể; và do
điều chỉnh sự việc ấy mà ta có thể
kiểm soát được tấm thân thể chất nầy. Đó là
đường lối ấy (điều hoà hơi thở) mà ta
noi theo để khiến cho thân thể được tĩnh lặng
và an hoà. Đối với tâm tư, sự việc gây
ảnh hưởng đến các tâm trạng chính là các cảm thọ. Do kiểm soát
được các cảm thọ để khiến chúng, chẳng khuấy
động được đến các tâm trạng, mà trái lại, gây ảnh hưởng tốt
đến tâm tư, ta mới có thể khiến cho tâm trí
ta trở nên an tịnh. Thế nên, giai đoạn
I liên quan đến Kàya,
đến thân thể, và giai
đoạn II liên quan
đến Vedanà,
đến cảm thọ, cả hai đều cùng tuân theo
chung một nguyên tắc và song hành với nhau trong phương pháp thực tập.
Giai
đoạn III: cái tâm tế nhị.
Trước tiên, ta thực tập
để biết các bí ẩn của Thân (Kàya).
Kế đó, ta thực tập để biết các bí ẩn của Cảm
thọ (Vedanà). Sau khi đã
thực tập hai giai đoạn I và II xong,
ta sẽ thực tập để biết rõ các bí ẩn
của Tâm (Citta). Tâm tư là vị giám đốc
và bực lãnh tụ của đời sống. Tâm tư
hướng dẫn, còn thân thể chỉ giản dị là một dụng cụ
đang bị hướng dẫn. Nếu muốn đời sống được
hướng dẫn theo con đường đúng đắn, ta cần phải thông hiểu rõ ràng
và chính xác về tâm (citta) cho đến
mức mà ta có đủ khả năng để kiểm soát
được tâm. Điều nầy đòi hỏi một sự nghiên cứu
đặc biệt, bởi vì các sự việc mà ta gọi
là tâm trí đó rất là tế nhị,
phức tạp, và sâu xa. Ta đâu có thể nhìn
tâm bằng mắt thịt, ta cần có một cái gì đặc
biệt để "thấy" được tâm. Với giác niệm được huấn luyện tốt, việc nghiên
cứu đặc biệt về tâm có thể thực hiện được,
nhưng đòi hỏi nơi ta một sự cố gắng vượt bực. Xin bạn chớ vội ngã
lòng mà bỏ dở. Mọi người trong chúng ta, ai cũng
đủ khả năng để học hỏi, nghiên cứu về
tâm, hầu thông hiểu các bí ẩn của nó.
Chẳng thể nào biết trực tiếp
được tâm (citta). Ta chẳng thể
sờ, chẳng thể xúc chạm trực tiếp đến nó. Tuy
nhiên, cũng có thể biết được tâm, qua
các tư tưởng. Nếu ta biết được các tư tưởng là như thế nào, ta cũng
sẽ biết được tâm là như thế nào. Trên
điạ hạt vật chất, để tiện so sánh, ta chẳng
thể nào biết trực tiếp thế nào là điện
khí, ta chỉ biết điện khí qua các đặc tánh của nó như dòng
điện, điện thế, điện lực, v.v. Về tâm, thì
cũng như vậy. Ta chẳng thể thể nghiệm trực tiếp về tâm, nhưng ta có thể
thể nghiệm về các đặc tánh của tâm, các loại
tư tưởng khác nhau. Mỗi ngày, có bao nhiêu loại tư tưởng khởi lên,
có bao nhiêu trình độ tư tưởng diễn ra? Bạn hãy
quan sát các loại tư tưởng đó. Đó là
cách mà ta tìm hiểu trước nhứt về tâm.
Ta khởi
đầu nghiên cứu về tâm bằng cách quan
sát các loại tư tưởng đang diễn ra trong tâm.
Tư tưởng đứng đắn của tâm diễn ra sao, còn các tư tưởng chẳng thích
đáng hiện ra cách nào? Các tư tưởng
đó có bị cấu nhiễm hay chẳng bị cấu nhiễm?
Tâm đang nghĩ theo chiều hướng đứng đắn hay bất chánh, thiện lành
hay dữ ác? Hãy quán sát cho đến khi nào
tìm biết được rõ tâm qua các loại tư
tưởng mà tâm có thể tư duy được. Thế thôi!
Bạn chỉ biết sự thật đó đến chừng ấy, rằng bản thể (dhamma jàti)
của tâm (citta) là như thế. Đến giai
đoạn nầy, nhờ sự tập luyện về thân, kàya, và về cảm thọ,
vedanà, (gây ảnh hưởng đến tâm), ta đủ
khả năng để hướng tâm theo điều ta mong muốn. Ta có thể khiến tâm suy tư
theo nhiều cách, hoặc dừng yên lại. Ta có thể khiến tâm trở nên mãn
nguyện, hoặc bất mãn nữa, nếu ta muốn. Tâm có thể thể nghiệm các giai tầng
của nỗi mừng và niềm vui. Tâm có thể an trụ, lắng yên, và
định tĩnh theo nhiều cách và nhiều
trình độ. Cuối cùng, tâm có thể
được giải thoát. Ta khiến cho tâm buông bỏ
những sự việc mà tâm đã mến
yêu, oán ghét và bấu níu vào. Tâm được giải
thoát khỏi tất cả các sự việc đó. Đấy là bài học về các bí ẩn của
tâm mà ta cần phải thực tập trong giai
đoạn III nầy của việc Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati
bhàvanà).
Bạn hãy học biết rõ tất cả các
trạng thái của tâm. Bạn nên có đủ khả năng để
làm cho tâm trở nên thỏa thích và bằng lòng. Rồi bạn hãy buộc tâm
dừng lại và trụ yên đó. Sau hết, bạn hãy
thúc dục tâm buông bỏ hết mọi sự ràng buộc, tríu mến. Hãy ép buộc tâm phải
buông bỏ. Tâm buông bỏ các sự việc đã
ràng buộc tâm, và các sự việc đã ràng
buộc cũng buông bỏ tâm ra. Đó là những
gì cần phải làm để trở nên thiện xảo,
lão luyện về đề tài tâm, nơi
bài học thứ ba của Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati).
Giai
đoạn IV: Thành
tựu Pháp tối cao (dhamma).
Sau khi
đã học các bí ẩn của thân, cảm thọ, và
tâm, ta đến giai
đoạn thứ tư bàn về Pháp (Dhamma).
Như đã có nói trước
đây, Pháp, Dhamma, là Thiên
nhiên trong mọi ý nghĩa của chữ nầy. Giờ đây,
ta nắm lấy sự thật về tất cả các sự vật đó, cái Chơn Lý Tối hậu của tất cả
mọi thiên nhiên, mọi bản thể, để nghiên
cứu. Đây là
điều mà ta thường gọi là "học Pháp".
Học nghiên cứu cả sự thật lẫn sự kiện nào là cái bí ẩn tối cao của thiên
nhiên. Với sự thông hiểu đó, ta có thể nhìn
đời sống theo một chiều hướng tốt nhứt. Ta
phải nên học tập về bí ẩn của sự thật
đang kiểm soát đời sống, sự thật về vô thường, khổ, vô ngã,
không và như thị (aniccam, dukkham, anattà, sunnatà, tathatà).
Vô thường (Aniccam):
biết tất cả pháp hữu vi (= sự vật bị điều
kiện hoá) đều chẳng thường hằng, và thăng
trầm luân lưu.
Khổ (Dukkham): biết
tất cả pháp hữu vi, nơi tự thân chúng, chẳng có
đủ khả năng đáp ứng được nguyện vọng của
chúng ta.
Vô ngã (Anattà):
biết tất cả muôn pháp chẳng có tự ngã, chẳng có linh hồn.
Không (Sunnatà):
biết tất cả đều rỗng vắng, chẳng có tự thể,
chẳng có cái "Ta", hoặc chẳng có cái gì là "của Ta".
Như thị (Tathatà):
biết đúng như thế, biết muôn
pháp là như thế đó.
Chung nhau lại. Các
đặc tánh đó hợp thành Chơn Lý Tối hậu.
Ta phải quán sát các sự việc đó mãi
cho đến khi nào chúng
được hoàn toàn nhận thức, hầu tâm trí
chẳng còn bao giờ lạc mất hướng đi. Khi đã
thông suốt chơn lý của mọi thực tế rồi thì tâm trí chẳng còn lầm lẫn nữa
và luôn luôn biết theo đúng con đường chánh
đạo.
Bạn có thể thấy hơi buồn cười,
nếu bảo rằng tất cả Chơn lý -- vô thường, khổ, vô ngã, không, như thị
-- đều qui kết về như thị (tathatà)(=
như thế đó). Có lẽ bạn cũng thấy ngộ nghỉnh
khi bảo rằng Chơn Lý Tối hậu của muôn pháp trên hoàn vũ nầy
đều rốt ráo quay về với sự "như thế
đó". (...) Toàn thể Chơn Lý gom
gọn lại thành câu nói hằng ngày, rất tầm thường nầy: "mọi sự việc là như
thế đó". Chẳng có gì
được xem như: tốt hay xấu, đúng hay sai, lời
hay lỗ, chiến bại hay chiến thắng, phước báu hay tội ác, tích cực hay tiêu
cực, khi ta nhìn đến Pháp tối cao nhứt. Pháp
ấy lại ở ngay tại đây, nơi câu nói "giản dị là như thế", bởi vì sự
"như thế đó" nó cao hơn và vươn lên
khỏi mọi ý nghĩa về tích cực và tiêu cực, lạc quan hay bi quan, vượt qua
cả mọi luận cứ nhị nguyên. Đấy là nét
chấm phá sau cùng. Chơn lý cần phải biết đến
ở giai đoạn IV nầy chính
là sự bí ẩn của thiên nhiên được diễn đạt thành
một câu nói hết sức giản dị: "muôn sự vật đều
như thế đó, chỉ giản dị là như thế
đó".
Giai
đoạn đầu là thấy
được Pháp đầy đủ. Giờ đây, ta sẽ thấy tâm trí
bắt đầu buông bỏ, bắt đầu nới lỏng các sự bấu níu của nó. Các chỗ bấu níu
đó sẽ tan biến đi. Điều nầy sẽ được thể nghiệm khi bước vào thực
tập về các sự bấu níu. Một khi các sự bấu níu
đã được dẹp xong, bước chót là
thể nghiệm được điều mà "tâm trí
được giải thoát, mọi việc đều được giải
thoát". Tuy nhiên, văn kinh lại dùng
đến từ ngữ "quẳng trả lại". Đức Phật có nói
rằng, đến lúc cuối cùng, ta sẽ quẳng bỏ trả lại tất cả". Ý nghĩa
của lời nói đó là, bấy lâu nay, suốt
đời, chúng ta đều là phường trộm cắp,
vì đã ăn
cắp những sự vật của thiên nhiên, lấy
đó làm "của Ta", xem đó là
"Ta". Chúng ta đã ngu khờ và vì thế mà
phải chịu đau khổ. Giờ đây, chúng ta trở nên
khôn ngoan hơn nên mới biết từ bỏ hết mọi sự vật. Chúng ta trả chúng lại
hết cho thiên nhiên, và kể từ nay chẳng bao giờ lại
đi trộm cắp nữa. Đến bước cuối cùng
nầy, chúng ta mới nhận thức được ra rằng, "Ồ!
Đó là của thiên nhiên, đâu phải của
Ta." Và lúc ấy chúng ta mới có thể quẳng trả lại hết về cho thiên
nhiên.
Bước cuối cùng
được kết thúc ở chỗ đáng buồn cười nầy. Nó
chấm dứt với việc chúng ta hết còn là phường trộm cắp nữa, với sự
giải thoát khỏi bất cứ hậu quả và ảnh hưởng nào của sự bấu níu, ràng buộc.
Bước cuối cùng của sự tập luyện phát triển Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati)
chấm dứt tại đây. Học được bí ẩn của Pháp là
học được sự hiểu biết rằng chẳng có gì
đáng để chấp thủ và rồi cũng chẳng
chấp thủ vào bất cứ gì. Tất cả đều được giải
thoát. Vấn đề nay đã vào chung cuộc rồi và chấm dứt ở
đây.
Nếu chúng ta muốn lựa một tên
để đặt, ta sẽ nói đó là sự "giải
phóng", sự "cứu rỗi". Dường như tất cả mọi tôn giáo
đồng có một mục đích và gọi
đó bằng một tên chung. Với chúng tôi,
ý nghĩa của điều vừa được mô tả ở trên
-- chấm dứt sự bấu níu và quẳng trả lại tất cả về cho thiên nhiên -- là sự
thông hiểu của chúng tôi về giải phóng. Có lẽ các tôn giáo khác cũng gán
cho sự giải phóng các ý nghĩa nào khác nữa, nào ai
đã biết chắc? Trong Phật giáo, giải
phóng có nghĩa là giải thoát ra khỏi mọi loại và mọi hình thức của sự bám
chặt (chấp thủ) để chúng ta có thể sống cuộc
đời vượt lên trên thế gian nầy. Mặc dầu thân thể chúng ta còn nương
tựa vào thế gian nầy, nhưng tâm trí chúng ta vượt thoát lên khỏi
đó. Như thế, tất cả "vấn đề (khó khăn)" của
chúng đều biến mất. Đấy là thể thức phát triển tiềm năng
cao nhứt của đời sống, bằng đường lối bốn giai đoạn của sự thực tập. Còn
nhiều chi tiết khác cần được cứu xét, nhưng
tôi xin dành lại vào các buổi pháp thoại sau nầy.
Hôm nay, tôi chỉ
đưa ra một đại cương tổng quát về những gì
cần làm khi thực tập. Với các dữ kiện bối cảnh
đó, việc thực tập sẽ được dễ dàng hơn
ở mỗi bước, mỗi giai đoạn. Giờ đây, tôi xin
kết thúc buổi pháp thoại nầy.
Bài 2
Bắt đầu dấn bước
Trong bài pháp thoại hôm nay,
chúng tôi sẽ nói đến sự thực tập ở giai đoạn
I của sự Quán tưởng Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) liên
quan đến Thân (Kàya).
Nhưng tôi xin được báo trước với các bạn, có
đến bốn nhóm sự việc mà ta cần phải quán sát. Mỗi nhóm lại bao gồm
bốn pháp (dhamma). Như thế, có tất cả là mười sáu pháp.
Trong mười sáu pháp đó, chỉ có hai pháp
liên hệ đến chính hơi thở thôi. Hơi
thở chỉ được quán tưởng trong hai bước. Mười bốn pháp còn
lại qui chiếu về các pháp khác. Tổng cộng, có tất cả bốn phần, gọi
là bốn bộ bốn (tetrads), mỗi bộ bốn chia ra bốn
bước. Hôm nay, tôi sẽ nói về hai bước
đầu tiên của bộ bốn thứ nhứt.
Đó là sự thực tập quán tưởng về
Thân (Kàya).
Các chuẩn bị về vật chất .
Ta khởi sự ngay tại chỗ bắt
đầu việc thực tập Quán tưởng Giác niệm về Hơi
thở (Ànàpànasati). Trước hết, ta cần phải chọn một nơi thích
hợp cho việc thực tập. Ta lựa một chỗ nào khá nhứt, biết rằng chẳng làm
sao mà có được một nơi thật hoàn hảo.
Ta cố lựa một nơi nào yên tịnh và an ổn, đủ
điều kiện, thời tiết khá tốt, và chẳng hề bị khuấy rầy. Thế nhưng,
khi các điều kiện chẳng được như ý mong muốn,
ta cũng nên tạm vui lòng với những gì ta
đang có. Thế nào rồi ta cũng phải chọn
một nơi nào đó, ở chốn nào
đó. Ta phải nên có
đủ sức để ngồi quán tưởng ngay cả trên
chuyến xe lửa đến từ Bangkok. Đôi khi, ta có
thể chú tâm đến hơi thở cho đến lúc chẳng còn nghe tiếng xe lửa
đang lăn bánh và chẳng cảm thấy lắc lư
khi xe di chuyển.
Điều đó cho thấy rằng ta có thể
chọn một điạ điểm v
à lợi dụng các điều
kiện có sẵn theo cách nào tốt nhứt cho ta.
Ta chớ nên
để mình bị bất cứ hoàn cảnh nào
đánh bại, ngay cả khi ngồi trên xe
lửa. Cho dầu ta có đủ các điều kiện hoàn
hảo hay không chăng nữa, ta cũng cố gắng lợi
dụng chúng đến mức tối đa và thực hành những gì ta có thể làm
được. Khi muốn thực tập, ta có thể lợi dụng
tiếng xe lửa chạy làm một đề tài
quán tưởng. Tiếng "xình xịt xình xịt" của xe lửa lăn
bánh trên đường rầy có thể là
đề tài quán tưởng, thay vì hơi thở.
Như thế ta cũng chẳng từ chối bất cứ điạ điểm
nào trên thế giới, cho dầu điạ điểm ấy
có thích hợp cùng không. Ta chẳng nên vịn vào cớ nào khác
để đòi hỏi phải có cho
được một điạ điểm lý tưởng.
Bước chuẩn bị thứ hai tiếp theo
là sự dọn mình. Thân thể cần phải được bình
thường, chẳng bịnh tật, và chẳng vướng các khó khăn
về hô hấp hay tiêu hoá. Đặc biệt hơn
nữa, ta cần "sửa soạn" cái lỗ mũi để nó có thể làm tròn nhiệm vụ
một cách êm ái và đúng đắn. Vào thời
xưa, người ta rót nước trong sạch vào lòng bàn tay,
đưa mũi hít vào rồi thổi hắt mạnh ra.
Nếu ta làm như thế đôi ba lần, thì mũi
trở nên sạch sẽ và hơi thở được thông. Như
thế, mũi sẽ nhạy cảm hơn mỗi khi hơi thở ra vào.
Đây là một thí dụ làm thế nào
để chuẩn bị cho thân thể sẵn sàng.
Thời gian và thầy dạy.
Kế
đến, tôi muốn nói đến thời gian và cách chuẩn bị thời gian
để thực tập. Một khi quyết tâm thực tập thật
sự đàng hoàng, ta cần nên chọn lấy một khoảng thời gian thật thích
nghi mà ta có thể tìm thấy được. Bằng không,
ta hãy chấp nhận bất cứ thời gian nào ta có thể xử dụng
được. Ta đâu cần phải lệ thuộc vào một
thời cố định trong ngày. Nếu có thể,
ta nên chọn khoảng thời gian nào chẳng bị khuấy rối hay xao lãng. Nếu
chẳng có thời gian được như thế, thì
ta hãy dùng ngay thời gian khi rảnh rỗi nhứt. Rồi thì tâm trí sẽ học lấy
cách giữ sao cho khỏi bị xao lãng dầu có bao nhiêu sự khuấy rối
đến làm rộn. Thật ra, ta
đang luyện tâm để khỏi bị xao lãng,
cho dầu có việc gì đang xảy ra ở chung quanh
ta. Tâm sẽ tự học lấy cách khiến tâm trở nên an tịnh. Bạn
đừng tự hạn chế mình vào một thời nào
khi mọi việc đều êm xuôi cả, làm sao
mà tìm ra được một thời như thế? Nhiều người
cứ chờ tìm mãi cho đến lúc họ chẳng
thấy có thời giờ nào để thực tập quán
tưởng. Điều đó chẳng đúng. Bạn hãy luôn luôn mềm dẻo và
đủ sức để thực tập vào ngay bất cứ lúc
nào.
Điều cần cứu xét tiếp theo l
à
điều mà người ta thường gọi là
đi tìm kiếm một vị sư phụ, àcàriya,
một bực thầy. Nhưng thật ra, ngay cả trong các hệ thống huấn luyện cổ
truyền, người ta cũng ít khi nói đến một vị
sư phụ, mà thường gọi vị ấy là một người bạn tốt, một thiện hữu
tri thức, (kalyàna mitta) hay là thiện tri thức. Bảo
rằng đó là một "người bạn" -- một vị
cố vấn có thể giúp đỡ ta được -- thì
đúng. Tuy nhiên, ta chớ nên quên
nguyên tắc căn bản là chẳng có một ai
có thể giúp trực tiếp một ai cả. Thế mà ngày nay, lắm kẻ lại muốn có một
vị giáo sư để trông nom canh chừng cho họ!
Một người bạn tốt là kẻ nào có sự hiểu biết và kinh nghiệm bổn thân
rộng rãi về sự thực tập quán tưởng, hay về bất cứ
điều gì mà chúng ta
đang nỗ lực thực hành. Mặc dầu người
ấy có đủ khả năng để giải đáp các câu hỏi
thắc mắc và giải quyết vài khó khăn,
nhưng cũng chẳng cần thiết để người ấy phải ngồi bên cạnh ta canh
chừng mỗi hơi thở. Một người bạn tốt sẵn sàng giải
đáp các câu hỏi và giúp ta vượt qua
vài trở ngại, như thế cũng đã quá
đủ rồi. Có được một bực thiện trí thức như
vậy là một điều chuẩn bị nữa mà
ta cần lo thu xếp.
Tư thế ngồi.
Giờ
đây, chúng ta xét đến các động tác thực sự
của chính việc quán tưởng. Việc đầu tiên phải bàn luận là tư thế
ngồi. Thật là cần thiết phải ngồi thế nào cho vững vàng và an toàn,
để khi nơi tâm tư, sự tỉnh giác chỉ còn
nửa phần, ta chẳng phải ngã té. Bạn hãy có đủ
sức để ngồi vững như một ngọn kim tự tháp. Các kim tự tháp chẳng thể nào
ngã đổ xuống, vì chúng
được xây dựng trên một nền rất vững
chãi và bốn sườn xung quanh vươn lên ngay giữa
đỉnh. Chẳng cách nào
để chúng có thể đổ xuống cả. Bạn hãy
nghĩ đến các ngọn kim tự tháp bên Ai
cập, đã
đứng vững rất lâu đời. Cách tốt nhứt để làm giống như thế là hãy
ngồi xếp bằng lại. Duỗi hai chơn ra phía trước, rồi kéo chơn mặt gát lên
đùi trái, và chơn trái gát lên
đùi mặt. Những ai còn chưa ngồi theo
lối ấy lần nào, những ai còn chưa từng ngồi bẹp trên sàn nhà, có lẽ họ cần
một thời gian để tập cho thân thể ngồi trong
tư thế vừa nói; nhưng mà tư thế đó
cũng rất đáng công để tập cho được. Bạn có thể bền chí, từ từ tập luyện
thân bạn ráng ngồi như thế đó. Và rồi bạn chẳng bao giờ té ngồi
nữa. Chẳng thể nào ngã tới trước, ngã ra sau, hay ngã nghiêng bên hông
được. Vào thời xưa, tư thế ngồi như
vậy được gọi là thế ngồi kiết già,
hay là tư thế hoa sen (padmàsana).
Ngồi thẳng lưng rất quan trọng,
với các xương sườn và cột xương sống ngay hàng nhau, chẳng cong vẹo. Các
xương sườn cần được nằm chồng vừa vặn lên
nhau để ăn khớp với nhau một cách thích hợp.
Đó là thế ngồi đúng cách bình
thường của thân thể. Cột xương sống làm nơi nương tựa thiết yếu cho hệ
thống thần kinh, cho nên ta phải ngồi thẳng
đứng lên để cho nó được ngay ngắn. Đây
là tư thế ngồi tốt.
Buổi ban sơ, có thể vài bạn còn
chưa bao giờ ngồi như thế. Tuy vậy, tôi yêu cầu các bạn nên cố gắng thử
tập. Lần đầu tiên, có lẽ bạn xếp
được hai chơn phía trước nhưng chưa tréo nhau
lại được. Nhưng như thế cũng đủ khi mới bắt đầu. Về sau, bạn kéo được một
chơn gát lên đùi bên kia và
tréo được một chơn. Sau cùng, bạn sẽ
tréo cả hai chơn trong tư thế kiết già, ngồi thế hoa sen. Tư thế
ngồi nầy thật vững chắc như một ngọn kim tự tháp và chẳng hề ngả nghiêng
khi tâm bắt đầu nhập định, hay vừa đến mức
cận định. Cột xương sống thẳng đứng rất là cần thiết, vì có nhiều
loại hơi thở khác nhau: khi xương sống cong xuống, có một loại hơi thở;
khi xương sống thẳng lên, lại có một loại hơi thở khác hơn hơi thở trước.
Vì lẽ đó, bạn phải cố gắng giữ xương sống
thật thẳng, dẫu rằng có sự khó khăn ở buổi ban đầu.
Kế
đến là hai bàn tay. Cách thoải mái và dễ nhứt là buông thỏng hai
bàn tay đặt trên hai
đầu gối. Một cách khác là
đặt bàn tay nầy vào lòng bàn tay kia.
Cách nầy có vẻ hơi thiếu tiện nghi với vài người, vì hai bàn tay sẽ trở
nên hâm nóng. Nếu được đặt trên gối,
chúng sẽ bớt nóng. Vài nhóm thực tập khuyên nên xếp hai bàn tay (bàn tay
nầy lên trên bàn tay kia) với hai ngón tay cái chạm vào nhau,
để có được hai bàn tay "nhập
định". Áp chặt hai bàn tay vào nhau
cũng giúp cho định lực, điều đó cũng tốt. Ở
Trung Hoa người ta thường làm như thế. Bạn hãy chọn lấy lối nào bạn
thấy thích hợp với bạn: hoặc đặt trên
đầu gối ít nóng hơn, hoặc để trên
đùi nếu thấy thoải mái, hoặc áp mạnh
vào nhau để tăng định lực. (...)
Mắt dịu mát và chú tâm.
Giờ
đến cặp mắt. Ta phải nên
để mắt mở hay nhắm lại? Nhiều người tin rằng
họ phải nhắm mắt lại, vì họ chẳng thể nào quán tưởng
được khi mở mắt. Nếu bạn nghiêm chỉnh
trong khi thi hành các điều bạn đang thực tập
và có đầy đủ dõng tâm thì chẳng
thấy có khó khăn chi khi thực tập với đôi mắt
mở rộng. Bạn hãy bắt đầu với mắt mở.
Mở mắt với quyết tâm nhìn vào chót mũi.
Điều nầy chẳng phải là chẳng thể
được. Chỉ cần một chút cố gắng là làm
được. Nhìn vào chót mũi
để cho mắt đừng nhìn lảng sang các sự
vật khác. Khi mắt nhắm, ta thường có khuynh hướng thiu thỉu ngủ, vậy nên
thận trọng về việc nhắm mắt. Lại nữa, khi nhắm lại thì mắt sẽ trở nên nóng
và khô. Quán tưởng với đôi mắt mở sẽ giúp ta
giữ được sự tỉnh táo và duy trì được
sự dịu mát và thoải mái cho mắt. Hơn nữa,
điều nầy sẽ trợ lực cho tâm được tập trung
lại và thúc đẩy sự phát triển của
định lực (samàdhi, phiên âm: tam ma
đề, nghĩa:
định lực). Khi
định lực được phát triển tới nửa đường, thì
tự nhiên đôi mắt tự động nhắm lại. Mí mắt
được thư giãn và tất nhiên sẽ khép lại. Chẳng có chi phải lo lắng
về điều nầy cả. Kỹ thuật trọn vẹn là
bắt đầu với đôi mắt mở, nhìn vào chót
mũi cho đến khi nào
định lực (samadhi) phát
triển, bấy giờ mắt sẽ tự động nhắm lại. Đó là
cách săn sóc về mắt.
Thực tập với
đôi mắt mở ra, nhìn vào chót mũi là
một giai tầng đáng lưu ý về định lực. Nếu ta
an lập được tâm tư chăm chú đến chót mũi, ta sẽ chẳng nhìn thấy
đến các sự vật khác. Nếu làm
được như vậy, thì
đó đã là một loại
định lực (samadhi) rồi. Ta có
được lợi điểm ngay vào lúc mới khởi
tập, bằng cách giản dị hướng tâm trụ lại trên chót mũi chẳng nhìn thấy gì
khác nữa. Nếu toàn thể tâm tư, nếu tất cả các mối quan tâm,
đều gom lại trong việc nhìn lên chót
mũi, thế là chẳng còn gì để nhìn thấy
ra nữa. Đó là
định lực (samadhi), một
thứ định lực chẳng phải là không
đáng kể. Vì lẽ
đó, bạn nên cố gắng thử khởi sự bằng
đôi mắt mở ra.
Xin bạn hãy quan sát
điều nầy mà bất cứ ai cũng làm
được. Ta chú tâm nhìn
đến chót mũi, vừa có cảm giác ở mũi lại vừa
có cảm giác ở hơi thở. Cả hai việc đó có thể cùng làm một lúc.
Dường như cả hai cùng xảy ra đúng vào
một lúc, nhưng thật sự thì không như vậy. Sự kiện nầy cũng chẳng có gì
khác thường, hay siêu nhiên cả. Do vì tốc lực rất nhanh của tâm, cho nên
trong khi mắt nhìn vào chót mũi, hành giả vẫn hay biết
đến hơi thở ra, hơi thở vào.
Điều đó, chính bạn sẽ tự mình nhận
thấy ra như thế.
Theo dõi hơi thở với giác niệm.
Rốt cuộc rồi ta cũng
đi đến việc ghi nhận, việc quán tưởng về hơi
thở. Để khởi đầu, ta cần phải có giác niệm (Sati),
tức là sự hay biết hoặc sự tỉnh giác. Ta bắt
đầu xử dụng giác niệm bằng cách chú tâm vào mỗi hơi thở vào,
mỗi hơi thở ra. Ta huấn luyện giác niệm bằng cách ghi nhận rằng ta
sắp thở vào hoặc sắp thở ra. Hãy để hơi thở
tiếp tục một cách thoải mái và bình thường. Hãy
để cho hơi thở được tư nhiên.
Đừng can thiệp chút nào vào hơi thở.
Rồi thì quán sát kỹ mỗi hơi thở với giác niệm. Ta thở vào như thế nào? Hơi
thở ra ra làm sao? Hãy dùng giác niệm
để ghi nhận hơi thở bình thường. Trong buổi
đầu, ta tập luyện và phát triển
giác niệm với kỹ thuật thường được gọi là
"theo dõi" hay "đuổi theo". Hơi thở vào,
bắt đầu từ chót mũi và ta tưởng tượng
như nó tận cùng nơi rún. Hơi thở ra, ta tưởng tượng như bắt
đầu nơi rún và chấm dứt ở chót mũi. Ở
giữa chừng là khoảng không gian mà hơi thở di chuyển vào và ra. Giác
niệm quan sát các đặc tánh của sự di
chuyển vào và ra đó, từ nơi chót mũi
cho đến rún, và rồi tới lui, tới lui...
Đừng để cho có kẽ hở, cũng đứng để cho có đứt
khoảng. Đây là bài học thứ nhứt: quán sát hơi thở với giác niệm
(sati).
Ta chẳng phải là nhà giải phẩu,
nhưng ta cũng biết rằng hơi thở chỉ đi vào
phổi, và hơi thở chẳng đi xuống trọn con
đường cho đến rún. Ta chỉ tưởng tượng rằng hơi thở chấm dứt ở rún, và
chẳng cho đấy là sự thật
đâu. Đó chỉ là một sự giả
định căn cứ trên cảm giác của ta cùng
với sức nhạy cảm đang ứng với sự di chuyển
của hơi thở. Khi thở, ta "cảm thấy" sự di chuyển xuống đến tận rún. Ta dùng
cảm giác đó làm căn
bản cho việc thực tập của chúng ta và theo dõi hơi thở ở khoảng
giữa từ chót mũi đến rún.
Sự phân biệt giữa việc có phải
chính giác niệm đã theo dõi hơi
thở vào và hơi thở ra, cùng với việc có phải giác niệm
đã thúc dục tâm phải theo dõi hơi thở
vào và hơi thở ra, ngay trong lúc nầy, còn chưa mấy quan trọng.
Điều quan trọng duy nhứt là hiện nay
là phải quan sát hơi thở như thể là đang rượt
đuổi theo hơi thở mà chẳng để bị lạc
mất nó. Hơi thở vào trong và ngưng lại một chốc. Kế
đó, hơi thở ấy đi ra rồi ngưng một chốc. Vào
và ra, vào và ra, với nhiều hơi thở ngắn hơn xen vào ở giữa. Hãy ghi nhận
tất cả và đừng bỏ sót để bất cứ gì
thoát khỏi được. Đừng để có khoảng trống mà
tâm có thể đi lang bang. Hãy giữ chặt
tâm luôn luôn cắm sâu vào hơi thở vào và ra.
Đấy l
à bài học thứ nhứt
cần được tập luyện. Có thể chẳng dễ gì
đâu nhé. Có thể nó đòi hỏi ba ngày, ba
tuần, hay ba tháng cho đến khi nào bạn
đã đủ sức
làm được như thế. Đó là sự việc
mà ta cần làm ngay trong bước thứ nhứt. Ở
đây, tôi chỉ giản dị giải thích phương pháp
tập luyện thôi. Các bạn có thể chẳng tiến được xa bao nhiêu trong
một khoá tu học mười ngày như thế nầy, nhưng
điều quan trọng là biết rõ những gì cần phải làm và bắt
đầu dấn bước. Một khi các bạn đã thông
hiểu đúng đắn phương pháp rồi, thì các
bạn có thể thực tập lấy cho đến khi các bạn
thành công. Vậy, hãy bắt đầu quán sát
hơi thở giữa hai tiêu điểm đó mà
chẳng để cho tâm có được cơ hội chạy lang
bang theo việc gì khác.
Nhiều loại hơi thở.
Trong việc thực tập sự theo dõi
hơi thở, ta có dịp quán sát nhiều đặc điểm
khác nhau của hơi thở. Ta có thể cảm nhận được nhiều sư việc. Thí dụ như,
ta cảm được chiều dài và chiều ngắn của hơi thở. Ta học một cách tự
nhiên về hơi thở dài và hơi thở ngắn. Rồi ta lại học
được hơi thở thô và hơi thở tế. Lại
nữa, ta quan sát được hơi thở êm dịu
với hơi thở khó khăn. Về sau, ta sẽ quan sát
sự phản ứng đối với các đặc tánh đó. Trong bước thứ nhứt, bạn hãy
quán sát các loại hơi thở nầy: dài và ngắn, thô và tế, nhẹ nhàng và nặng
nề. Hãy bắt đầu quán sát các loại hơi thở đó
bằng cách dùng giác niệm (Sati) mà cảm nhận
được chúng.
Ta còn cần học tập cách quán
sát trong chi tiết kỹ hơn, tức là, quán sát phản ứng hay ảnh hưởng của các
loại hơi thở. Chúng đã gây ra những
phản ứng nào? Chúng ảnh hưởng ra sao đến sự
hay biết của ta? Thí dụ như, hơi thở dài ảnh hưởng như thế nào
đến sự tỉnh giác của ta? Phản ứng nào
xảy ra khi thở hơi ngắn? Hơi thở thô phù và hơi thở tế nhị, hơi thở êm dịu
và hơi thở khó khăn, đã có những ảnh
hưởng nào? Ta quán sát các loại hơi thở khác nhau và các ảnh hưởng dị biệt
của chúng cho đến khi nào ta có thể
phân biệt rõ ràng thế nào là hơi thở dài chẳng giống với hơi thở ngắn, hơi
thở thô khác với hơi thở tế, hơi thở êm dịu bất
đồng với hơi thở khó khăn. Ta phải nên
thấu biết rõ về các đặc tánh của các hơi thở,
các loại ảnh hưởng của chúng đã tạo nên, và các phản ứng về cảm
tính, về tỉnh giác của tâm trí ta đối với
chúng.
Song hành với sự quán sát vừa
kể, ta còn cần tìm nếm đến các hương vị của
các loại hơi thở. Hương vị của chúng chính là sự khởi lên các loại
cảm thọ như hỉ lạc, ưu bi, khổ sở, phiền muộn, và mãn nguyện. Hãy quán sát
và thể nghiệm các hương vị, tức là hậu quả đã
được gây nên,
đặc biệt là hơi thở dài, hơi thở ngắn,
thô và tế, êm dịu và khó khăn. Hãy
khám phá ra tại sao chúng lại có hương vị khác nhau. Thí dụ như, ta sẽ
thấy hơi thở dài thường mang đến một cảm quan
lớn lao về an hoà và phước lạc, nó có một hương vị vui sướng nhiều
hơn một hơi thở ngắn. Mỗi loại hơi thở mang
đến một loại hương vị vui sướng khác nhau. Ta học tập được cách phân tách
và phân biệt hương vị bất đồng của các
loại hơi thở khi ta quan sát chúng.
Sau cùng, ta sẽ khám phá ra các
loại nguyên nhân đã khiến cho hơi thở
trở nên dài, ngắn khác nhau. Tự mình, ta từ từ khám phá ra
được các nguyên nhân
đó. Điều nào
đã khiến cho hơi thở dài ra? Hơi thở
dài đem lại một khí sắc như thế nào?
Còn hơi thở ngắn thì sao? Như thế, ta nhờ đó
mà biết được những nguyên nhân
và điều kiện gây ra hơi thở dài, ngắn
khác nhau.
Có một cách giúp ta
điều chỉnh được hơi thở dài hay ngắn
ngay trong các bước đầu tiên. Nếu ta
muốn học cách đó, thì ta có một kỹ
thuật gọi là "đếm". Thí dụ như, trong thời
gian của một hơi thở vào, ta đếm đến
năm, bắt đầu từ một cho đến năm. Nếu trong thời gian đó, ta đếm được đến
mười, từ một đến mười, thì hơi thở theo
đó đã dài ra chừng ấy. Trong thời gian
một hơi thở thường, ta chỉ đếm được đến năm.
Trong thời gian một hơi thở ngắn, có thể ta chỉ đếm tới ba thôi và
lúc ấy thì đổi hơi thở, nếu ta muốn. Lúc nào
cũng nên đếm cùng một nhịp
độ, vì nhịp
độ nhanh chậm nếu bị thay đổi thì ảnh
hưởng của sự đếm nhiều hơn hay ít hơn sẽ bị
huỷ mất. Nhờ sự đếm mà bề dài của thời gian hơi thở
được điều chỉnh lại. Ta có thể kéo dài,
hoặc rút ngắn các thời gian đó lại với kỹ
thuật đặc biệt nầy. Nhưng ta chẳng cần phải dùng
đến kỹ thuật ấy luôn. Đấy chỉ là một
cuộc thử nghiệm nhỏ, để lâu lâu ta điều chỉnh
lại hơi thở hoặc để tìm biết về hơi thở kỹ lưỡng hơn. Bạn có thể
làm thử như thế, nếu bạn muốn.
Bước một: Hơi thở dài .
Đến đây, ta đ
ã phát
triển được một sự hiểu biết sơ khởi thích hợp
về hơi thở. Ta biết được các loại đặc tánh của hơi thở: dài, ngắn,
thô, tế, êm dịu, khó khăn. Sự hiểu biết của
ta nới rộng đến các sự việc có liên hệ với hơi thở, các phản ứng
cùng ảnh hưởng của các đặc tánh đến tâm tư
ta. Ta cũng biết cả cách kiểm soát chiều dài của mỗi hơi thở. Việc
kế tiếp phải làm là bước vào sự luyện tập với chúng. Giờ
đây, ta đã hiểu biết rõ tất cả mọi sự
việc đó, ta bắt đầu sự tập luyện với hơi thở
dài.
Ta
đang đi đến bài học thứ nhứt, bước một, tức là sự quán tưởng
về hơi thở dài. Ta có thể thở dài hơi bất cứ lúc nào ta cần
đến. Ta đã học cách kéo dài hơi thở ra
và giữ nó như thế. Trong bài học thứ nhứt nầy, ta sẽ chỉ khảo sát riêng về
hơi thở dài mà thôi. Ta nghiên cứu bản thể của hơi thở dài và tất cả các
sự kiện liên quan đến nó. Khi có hơi thở dài,
hơi thở đó có thích thú không? Hơi thở đó tự
nhiên và tầm thường như thế nào? Tình trạng êm ả và hoan lạc nào
đã có mặt? Hơi thở dài khác với hơi
thở ngắn ở những điểm nào?
Đây là cách ta
đang học tập nghiên cứu về hơi thở
dài, ứng dụng theo phương pháp vừa được mô tả
ở trên, để khám phá ra các đặc tánh,
ảnh hưởng và hương vị của hơi thở dài. Ở
đây, chỉ học tập về hơi thở dài mà
thôi. Bạn hãy ngồi yên và điều nghiên
kỹ chỉ riêng về hơi thở dài. Đó là bài
học thứ nhứt: hiểu biết được tất cả những gì
có liên quan đến hơi thở dài.
Sau cùng, ta cần quan sát thân
thể tác động liên quan như thế nào với
hơi thở dài. Khi hít vào một hơi thở dài, thân thể chuyển
động ra làm sao? Ở chỗ nào có sự nở
rộng ra? Ở nơi nào thân thể thu rút lại? Khi có một hơi thở thật dài và
sâu, ngực có nở ra hay rút lại không? Còn bụng, có phình lên hay xẹp xuống
không? Đấy là những sự việc mà ta cần
quan sát. Khi quan sát như thế, rất có thể bạn học
được, thân thể đã chuyển
động một cách khác hơn bạn đã tưởng.
Phần đông người ta thường nghĩ quá giản dị
rằng khi thở vào thì ngực nở ra và khi thở ra thì ngực thu rút lại.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu hơi thở thật kỹ lưỡng, ta thấy khi hít vào một
hơi thở thật dài thì bụng co lại và ngực nở ra. Với một hơi thở dài
đến mức tối đa, thì bụng lại nở ra và
ngực lại xẹp xuống. Ta thấy nó khác hẳn với sự tin tưởng thông thường. Ta
đừng bao giờ nên xem bất cứ việc gì
như là một sự thật đã
được có sẵn từ trước. Bạn cũng còn cần
phải tìm hiểu cho rõ ràng ngay cả về các sự kiện thiên nhiên căn
bản nhứt nữa.
Ta nghiên cứu mọi sự việc liên
quan đến hơi thở dài và học tập các bí
ẩn của nó để biết rõ
được về bản thể. Ta đủ khả năng để quán tưởng
chiều dài hơi thở. Ta đủ sức để duy trì
và bảo vệ hơi thở dài. Đìều
đó có nghĩa là ta trở nên thiện xảo về
các vấn đề có liên quan
đến hơi thở dài. Vậy, thực tập thở hơi
thở dài là bài học thứ nhứt.
Một
điều vô cùng quan trọng cần phải học
là mối liên hệ hỗ tương giữa hơi thở và thân thể. Cả hai kết nối với nhau
thật chặt chẽ. Bạn hãy khám phá ra các hiệu quả của hơi thở dài lên trên
thân thể, và phát hiện ra các niềm vui sướng và an lạc
được mang đến. Về sau nầy, bạn sẽ biết được
điều bí ẩn nầy: có hai thân: thân thể và thân hơi, tức là,
tấm thân vật chất nầy với các luồng hơi thở. Ngay ở giai
đoạn sơ khởi nầy, bạn cũng nên quan
sát điều đó cho thật cẩn thận, mặc dầu chúng
ta sẽ nghiên cứu thêm về điều đó, đặc
biệt là ở bước thứ ba. Ngay tại bài
đang học đây, ta nên nhận thức rõ rằng
thân thể với hơi thở liên kết với nhau như thế nào. Do
đó, xin bạn hãy quán sát kỹ lưỡng hơi
thở khi dài khác với hơi thở khi ngắn ra làm sao, và ảnh hưởng của chúng
đã gây ra cho thân thể. Ta càng vững
niềm xác tín thêm -- qua kinh nghiệm bản thân, chớ chẳng phải qua suy tư,
lý luận -- rằng hơi thở kết hợp thật mật thiết với tấm thân vật chất.
Bước hai: Hơi thở ngắn.
Bài thứ nhứt về hơi thở dài
đã được
học xong. Ta có thể bước sang bài thứ hai về hơi thở ngắn. Thật ra,
ta chẳng có chi nhiều để nói về sự thực tập ở
bước nầy, vì cách hành trì cũng giống với bước thứ nhứt.
Điểm sai biệt duy nhứt giữa hai
bước là ở bài thứ hai ta xử dụng đến
loại hơi thở ngắn. Những gì đã
học về hơi thở dài, ta cũng học tương đương
như thế với hơi thở ngắn.
Thí dụ như, ta quan sát và cảm
nhận ngay rằng hơi thở dài mang đến sự
êm dịu và thoải mái, trong khi đó hơi thở
ngắn đưa tới sự bất bình thường tức là, sự bất an, xao
động và thiếu thoải mái. Với sự thông
hiểu đó, ta biết cách làm thế nào cho
thân thể trở nên thoải mái, hoặc chẳng thoải mái, bằng phương pháp
điều chỉnh hơi thở. Ta cần hiểu rõ sự
sai biệt bổ túc cho nhau giữa hai loại hơi thở nầy, càng rõ ràng càng tốt.
Vậy, trong bài thứ hai nầy, ta quan tâm đặc
biệt đến hơi thở ngắn. Hãy nghiên cứu mọi khía cạnh, mọi
đặc tánh của hơi thở ngắn cho đến khi bạn
hiểu thật rộng rãi về nó cũng như bạn
đã hiểu về hơi thở dài. Mặc dầu hai loại hơi thở có bản thể
đối ngược nhau, nhưng phuơng pháp nghiên
cứu cả hai cũng đồng nhất.
Điểm chú tâm thật đặc biệt ở
đây là sự quan sát khi ta thở hơi dài thì hơi thở
đó trở nên tế nhị. Còn khi ta thở hơi
ngắn, hơi ấy lại thô phù. Khi ta đã
học được cách làm cho hơi thở trở nên
tế nhị hay thô phù theo ý ta muốn, thì ta có thể ứng dụng sự hiểu biết
đó để đem phần lợi lạc về cho ta. Lợi lạc đó
là hơi thở tế nhị làm lắng dịu thân thể ta.
Hơi thở ấy trở nên mát dịu. Khi
ta muốn thân thể ta trở nên thanh lương, thì ta thở hơi thở tế nhị. Và khi
muốn hơi thở trở nên tế nhị, ta chỉ cần thở hơi thở dài ra.
Đây là một
điều mà ta rất cần học và cần tập.
Một thí dụ khác là khi ta giận
thì hơi thở trở nên ngắn. Khi có hơi thở ngắn, thì thân thể trở nên bị xáo
trộn và bị phiền rộn. Nếu ta có thể thở hơi dài hơn thì cơn giận chẳng thể
nào tiếp tục lâu được nữa. Khi ta giận, hơi
thở sẽ ngắn và thô phù, và rồi thân thể cũng trở nên thô phù theo.
Ta có thể đẩy cơn giận đi ra xa bằng cách thở
hơi dài và nhẹ. Thân thể sẽ được thư
giãn và cơn giận kia sẽ biến mất. Đây
là một trong các thí dụ của sự liên hệ hỗ tương mật thiết giữa hơi
thở, thân thể và tâm tư. Đấy là
điều mà ta cần thông hiểu về sự liên
hệ và dị biệt giữa hai loại hơi thở dài và ngắn. Ta cần nên thể nghiệm
điều đó, tự mình cảm nhận lấy
điều đó, thực tập điều ấy cho tinh chuyên
và thiện xảo.
Thổi bay
đi các tình
cảm.
Để tóm tắt hai
bước
đầu: ta có thể điều chỉnh, kiểm soát,
giới hạn và chế ngự các tình cảm bằng cách vận dụng hơi thở. Ta có
thể khiến cho tình cảm trở nên đứng đắn, hữu
dụng và lợi ích, qua hơi thở. Xuyên qua sự thông hiểu về hơi thở,
ta phát triển được khả năng kiểm soát chính
hơi thở. Nếu ta luyện tập được hơi thở, thì ta cũng kiểm soát
được các tình cảm, tức là, thích ứng
được với niềm hoan lạc và sự thống khổ
của đời ta. Hãy thực tập cho
đến khi nào bạn cảm nhận
được điều đó. Sự luyện tập sẽ còn dở
dang, nếu ta còn chưa thấy rõ điều đó.
Khi bạn
đang ngồi quán tưởng, có một con muỗi chích
bạn, tâm bạn khởi lên một tư tưởng bất thiện. Làm cách nào
đuổi đi được tư tưởng xấu đó? Đuổi nó đi bằng
cách cải thiện hơi thở: khiến hơi thở trở nên dài hơn, tế nhị hơn
và đủ sức thổi bay đi cái tình cảm
chẳng lành đó. Đó là cách tốt nhứt
để giải quyết một vấn đề như thế. Đấy lại là
một thí dụ khác nữa về sự ích lợi của việc thông hiểu và về các khả năng
mà chúng ta hiện đang thực tập để phát
triển.
Các
đề tài cùng các quan
điểm cần được học tập nơi bài thứ nhứt
về hơi thở dài và bài thứ hai về hơi thở ngắn,
đều giống nhau. Điểm sai biệt duy nhứt là
mọi sự việc đều bổ túc cho nhau. Số lượng và
chủng loại các sự việc cần học tập đều bằng
nhau. Nhưng chỗ khác nhau giữa hơi thở dài và hơi thở ngắn
đã đưa
đến nhiều loạt sự kiện bổ sung cho nhau.
Vâng, thời gian dành cho buổi
pháp thoại hôm nay đã chấm dứt. Chúng
ta chỉ có thời giờ để bàn luận bước
một và bước hai thôi. Ta sẽ xét đến các
bước khác trong bộ bốn thứ nhứt vào ngày mai. Hôm nay
xin ngưng tại đây.
Bài 3
An tịnh thân hành
Hôm nay, tôi xin nói về các
bước thứ ba và thứ tư trong bộ bốn thứ nhứt (1st tetrad), tức
là các bước còn lại có liên quan đến
Thân (Kàya).
Bước thứ ba: Thể nghiệm mọi
thân.
Trong bước thứ ba, mục
tiêu là sự thể nghiệm tất cả các Thân (Kàya). Cốt lõi của
bước nầy là trong khi thở vào, thở ra, hành giả cảm nhận
đến tất cả thân (Kàya,
nhóm, tập hợp). Ta đã bắt
đầu quan sát, trong khi thực tập hai
bước đầu tiên, rằng hơi thở là
một tác viên gây điều kiện đến tấm thân vật
chất bằng xương bằng thịt của chúng ta. Và bước thứ ba nầy
cũng chẳng có gì mới mẻ, ta sẽ giản dị quan sát thêm cho sâu xa, rõ ràng,
và thận trọng hơn trong hai bước trước. Ta quán tưởng một cách phân
biệt rõ ràng hơn về sự kiện là ta có hai thân (Kàya). Liên
tục, chẳng gián đoạn, bạn hãy quan sát
điều đó trong khi thở vào và thở ra.
Hành giả phải nên nhớ lại một
cuộc quan sát mà ta đã thể nghiệm
trước đây, nhớ lại sự kiện là hơi thở
là động lực tạo nên
điều kiện, gây ảnh hưởng đến tấm thân xác
thịt. Ta sẽ phân biện rõ giữa hai sự vật (thân và hơi thở), nhưng
ta lại gọi cả hai là thân, là kàya. Hơi thở là một thân,
với nghĩa, đó là một sự tập họp, một
nhóm. Thân thể chất cũng là một thân, một kàya, vì
đó cũng là một sự tập họp (nhiều cơ
quan, bộ phận). Có hai nhóm, hay là hai thân: một nhóm là hơi thở
gây ảnh hưởng đến nhóm kia là tấm thân
thể chất. Bạn hãy phân tách kinh nghiệm nầy
để thấy thật rõ ràng rằng hiện có hai nhóm, hay hai thân. Và
hãy xem cho rõ hai thân đó đã ảnh
hưởng lẫn nhau như thế nào. Hãy quán tưởng
đến chúng, một cách càng ngày càng nhấn mạnh, cho
đến khi nào thấy
được thật hiển nhiên.
Khi nghe nói
đến từ ngữ "thân" (Kàya<