Giả sử bạn đến Á Châu vào khoảng thập niên
80 để tìm hiểu những lời dạy sống thực của Đức Phật, để khám phá xem hiện
nay còn có những nhà sư, những ni cô sống cuộc đời đơn giản trong rừng
sâu, hàng ngày mang bát xin ăn và chuyên tâm hành thiền không? Dĩ nhiên
bạn từng xem kinh sách và biết rằng chính Đức Phật và hàng môn đệ đã du
hành khắp miền thôn dã và những khu rừng rậm Ấn Độ kêu gọi mọi người hãy
cùng Ngài trau giồi trí tuệ, mở rộng tình thương, sống đời giản dị của một
khất sĩ, hi sinh tất cả cho sự bình an tỉnh thức.
Bạn có thể tìm thấy những hình ảnh đẹp đẽ ấy sau hơn hai mươi lăm thế
kỷ biến đổi chăng? Những lời dạy xa xưa ấy có còn được áp dụng và thích
hợp với xã hội mới mẻ và bộ óc tân tiến của chúng ta không?
Bạn có thể đáp máy bay xuống một phi trường hiện đại gần Bangkok,
Colombo hay Rangoon. Bạn có thể ngồi taxi dạo qua các đường phố Á Châu tấp
nập, ngắm những vỉa hè đầy trái cây miền nhiệt đới hay nhìn những chiếc xe
buýt đầy ắp người tới lui không ngớt. Qua vài góc phố bạn lại thấy những
ngôi chùa nóc vàng đồ sộ, những ngọn tháp cao vút tân kỳ. Đó là nơi những
nhà sư, những ni cô lưu trú để học hỏi kinh điển cổ xưa. Họ thường tụng
kinh hàng ngày và giảng dạy giáo pháp cho mọi người. Nhưng đó không phải
là nơi bạn có thể tìm thấy những gì bạn muốn. Nếu bạn muốn thấy nếp sống
giản dị trong rừng, muốn tìm những người hành thiền với chiếc y vàng khiêm
nhường và chiếc bát đơn giản như Đức Phật, bạn phải rời phố thị náo nhiệt,
bỏ lại sau lưng những ngôi chùa đồ sộ, những ngọn tháp cao vút ấy. Nếu xứ
bạn đến là Thái Lan, một xứ có nhiều chùa và nhà sư nhất, bạn phải đáp xe
lửa ở gần nhà ga Hualampang đông đúc, đón chuyến xe sớm nhất đi lên miền
cực Bắc rừng nuí âm u hay xuống tận miền Nam đất bằng hoang dã.
Chỉ vài giờ sau bạn đã ra khỏi phố thị ồn ào, xa rời những khu thương
mại sầm uất và không còn nhìn thấy những căn nhà lụp xụp nằm dài hai bên
đường xe lửa. Bạn đi xuyên qua những cánh đồng lúa hình bàn cờ được phân
chia một cách đều đặn và nhịp nhàng bằng những bờ ruộng, những con lạch và
những đường dẫn nước nhỏ. Ở tận chân trời của biển lúa ấy, cứ vài ba dặm
bạn lại thấy những hòn đảo nổi, đó là khóm kè hay khóm chuối rậm rạp. Nếu
xe hỏa đến gần hơn một trong những hòn đảo nổi ấy, bạn sẽ thấy ẩn hiện
trong khóm cây um tùm một mái chùa màu cam và những ngôi nhà gỗ đơn sơ. Đó
là hình ảnh những ngôi làng Đông Nam Á.
Mỗi ngôi làng chừng năm trăm đến hai ngàn dân là đã có ít nhất một ngôi
chùa. Chùa là nơi cầu nguyện, lễ bái, hội họp, đồng thời cũng là ngôi
trường làng. Đây là nơi phần lớn thanh niên trai tráng đến tuổi hai mươi
vào xuất gia trong khoảng thời gian một năm hay ba tháng, học hỏi Đạo Pháp
hầu trở nên một thành viên trưởng thành của xã hội. Chùa được điều hành
bởi một vài nhà sư lớn tuổi, giản dị và thiện chí. Những nhà sư này học
hỏi một số kinh sách cổ, hiểu biết nghi lễ và giáo lý căn bản để đảm nhận
vai trò như một giáo sĩ của làng. Chùa là một thành phần cũng là một đơn
vị tô điểm thêm cho nét đẹp của làng. Nhưng đấy không phải là nơi mà bạn
phải tìm.
Xe hỏa của bạn phải đi thẳng mãi lên miền Bắc, đến kinh đô cũ của xứ
Auddhaya, với di tích những ngôi đền lộng lẫy đã bị sụp đổ và những lâu
đài cổ kính hoang tàn vì bị cướp phá hàng thế kỷ trước đây trong trận
chiến tranh với vương quốc lân cận. Lưu lại trong đám hoang tàn đổ nát ấy
là những ngôi tượng Phật khổng lồ, điềm nhiên qua sương gió của thời gian.
Bây giờ xe lửa của bạn rẽ về hướng Đông đến tận biên giới Lào, xuyên
qua cao nguyên Korat. Bạn phải mất vài giờ nữa để băng qua bình nguyên với
ruộng lúa và làng mạc, nhưng dần dần ruộng đồng và làng mạc trở nên thưa
thớt và nghèo nàn hơn. Ở đây bạn không còn thấy những rạch nước và những
ngôi vườn cây trái sum sê của miền Trung Thái. Cảnh vật trở nên hoang dã,
nhà cửa có vẻ nhỏ nhắn và đơn sơ hơn. Những ngôi chùa làng vẫn còn lấp ló,
nhưng cũng nhỏ bé và đơn giản hơn. Ở đây lối sống cổ xưa tự túc được duy
trì. Bạn có thể nhìn thấy những phụ nữ khóac mình bằng chiếc khăn dệt tay,
nép bên ngưỡng cửa e thẹn nhìn khách lạ, những nông dân đang chăm chỉ làm
việc ngoài đồng dưới ánh nắng thiêu đốt và bọn trẻ con chăn trâu trong
những con mương nước đục ngầu dọc theo đường xe lửa.
Vùng thôn dã ít phát triển này là nơi còn duy trì được truyền thống của
các sơn tăng. Đây là vùng giữ được vẻ thiên nhiên của rừng rậm, nuí đồi và
những vùng đất hoang chưa bị bàn tay con người sửa đổi. Nhiều thế kỷ qua
chốn quê mùa này đã hỗ trợ tích cực cho các tu viện với những nhà sư sống
bình lặng, đơn giản trong rừng. Là một khu hoang sơ ít người biết đến,
nhưng nơi đây đã đóng góp lớn lao vào việc duy trì và thể hiện sự giác
ngộ, giải thoát của Đức Phật. Phần lớn những nhà sư ở đây không đóng vài
trò của một giáo sĩ làng, không dạy học cũng không học hỏi, nghiên cứu,
duy trì kinh điển cổ xưa như những nơi khác. Chủ đích của họ là sống trọn
vẹn và thực hành việc quán xét và bình lặng tâm hồn bằng chính con tim và
khối óc của mình; đó là thực hiện những lời giáo huấn của chư Phật.
Nếu bạn rời xe lửa, dùng xe buýt hay thuê một chiếc xe riêng, rẽ sang
một con đường đất để đến một tu viện như thế, bạn sẽ tìm thấy được gì?
Những lời dạy của Đức Phật và phương pháp hành thiền có còn thích hợp với
thời đại này nữa không? Thiền Minh Sát và tỉnh thức có cần thiết cho những
người sống trong một xã hội tân tiến và phức tạp không?
Đến nơi, bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên khi biết đã có nhiều người Tây
phương tìm đến đây trước bạn. Từ năm 1965 đã có hàng trăm người Âu Mỹ như
bạn đến thăm viếng và học hỏi trong những khu rừng hoang dã này. Một số
đến học hỏi một thời gian ngắn rồi trở về, đem những gì mình đã học hỏi áp
dụng vào đời sống hàng ngày. Một số khác đến ở lâu hơn, hoặc xuất gia tu
một vài năm đến năm bẩy năm, rồi trở về. Một số khác nữa, nhận thấy đời
sống trong rừng phong phú và cần thiết nên quyết định ở lại luôn cho đến
bây giờ.
Mỗi nhóm đều nhận được những lời dạy trực tiếp qua con tim và khối óc
của mình và được cung ứng một lối sống ý thức và sáng suốt.
Mới đầu phương pháp có vẻ dễ dàng và giản dị; nhưng sau một thời gian
cố gắng thực hành lối sống của Đức Phật, họ sẽ thấy đây không phải là việc
giản dị dễ dàng. Mặc dầu ở đây đòi hỏi một sự cố gắng không ngừng nghỉ,
nhưng sau một thời gian thực hành, họ sẽ tìm được những gì mà họ muốn tìm.
Họ sẽ cảm thấy rằng trên thế gian này không có gì quí báu hơn việc tìm ra
được Pháp bảo hay chân lý trong chính cuộc sống của họ.
Ngay từ lúc bước chân đến chốn thiền lâm như chùa Wat Pah Pong này, bạn
sẽ thấy tinh hoa của pháp hành nằm ở đây. Ngoài tiếng reo của lá rừng, bạn
không còn nghe được một âm thanh nào khác nữa. Những nhà sư làm việc hay
kinh hành trong yên lặng và tỉnh thức. Thiền Viện Wat Pah Pong chiếm một
diện tích hơn trăm mẫu tây, chia làm hai khu tăng ni riêng biệt. Những mái
lều thô sơ đạm bạc dựng lên một cách khiêm nhường trong rừng cây xanh tươi
và lối mòn yên tĩnh. Trung tâm của tu viện là một thiền đường lớn, trai
đường và chánh điện. Toàn thể cơ sở trong rừng tạo nên một khung cảnh giản
đơn, thoát tục khiến người đến viếng có cảm tưởng như mình đã đến nơi giải
thoát.
Những nhà sư tụ tập ở những tu viện như thế này thường nép mình trong
khuôn khổ kỷ luật và tri túc gọi là "hạnh đầu đà." Thực hành hạnh đầu đà
là truyền thống của những nhà sư sống trong rừng. Họ tự nguyện sống khắc
khổ như thời kỳ Đức Phật, thọ trì mười ba pháp đầu đà: tiết chế trong việc
thọ nhận thức ăn, y phục, thuốc men và chỗ ở. Điều chính yếu của pháp hành
này là hạn chế tư hữu, chú tâm vào việc hành thiền, mỗi ngày đi khất thực
một lần. Lối tu hành thanh cao này còn được giữ gìn trong những khu rừng
sâu Miến Điện, Thái Lan và Lào. Đây là những khu đất hoang có nhiều hang
động, là chốn lý tưởng cho những người tích cực hành thiền. Những nhà sư
tu hạnh đầu đà có truyền thống là những vị du tăng, sống đơn độc hay từng
nhóm nhỏ, thường di chuyển đây đó, không ở hẳn một chỗ nào. Nơi tạm trú
của họ là những chiếc "lều dù" đơn sơ.
Trong cuốn sách này chúng tôi sưu tập và phiên dịch những lời dạy về
Pháp Hành của Ngài Ajahn Chah, Tăng trưởng Thiền viện Wat Pah Pong, một
trong những thiền viện trong rừng.
Ajahn Chah và thầy của Ngài là Thiền sư Ajahn Tong Rath và Ajahn Mun đã
bỏ ra nhiều năm kinh hành và ngồi thiền trong rừng sâu. Những lối dạy trực
tiếp và đầy hiệu năng đã được các ngài và những vị sơn tăng khác giảng dạy
không phải nhằm vào những người muốn tìm hiểu, học hỏi Phật giáo để thỏa
mãn tri thức hay thực hành Phật giáo bằng nghi thức thờ cúng, mà nhằm cho
những ai muốn thanh lọc tâm ý và quan kiến sai lầm của mình bằng cách thực
sự áp dụng những lời dạy của Đức Phật vào đời sống.
Những vị thiền sư nổi tiếng sống trong rừng thường được thiện tín tìm
kiếm và mời ra dạy dỗ. Để đáp lại lòng nhiệt thành của những người ham học
hỏi đạo giải thoát, những vị thiền sư phải ngưng du hành, trú lại một khu
rừng nào đó và sau đấy những thiền viện hành hạnh đầu đà được xây dựng.
Với đà gia tăng dân số trong vòng một thế kỷ trở lại đây, thật khó mà tìm
thấy những khu rừng dành cho các du sĩ; do đó, những thiền viện trong rừng
dành cho các thiền sư trước cũng như hiện nay trở thành nơi trú ngụ của
các du sĩ hay của những nhà sư thích hành thiền.
Sau một thời gian du hành đây đó để hành thiền, Ngài Ajahn Chah trở về
định cư trong một khu rừng rậm gần nơi sinh quán của mình và thiền viện
Wat Pah Pong được xây dựng nên. Đây là một khu rừng hoang vắng, được xem
là nơi đầy rắn độc, cọp beo và ma quỷ, nhưng là một nơi rất lý tưởng cho
những sơn tăng. Từ ngày Ngài Ajahn Chah đến trú ngụ ở khu rừng này, nhiều
thiền viện đã mọc lên quanh đó.
Từ những chòi tranh đơn sơ trong rừng, Wat Pah Pong đã phát triển nhanh
chóng và trở thành một trong những trung tâm thiền hoàn chỉnh ở Thái Lan.
Nhờ tài năng và tiếng tăm của Ngài Ajahn Chah, du khách và những người mộ
đạo đến với thiền viện ngày một đông. Để đáp ứng nhu cầu tu học của mọi
người, hơn năm mươi chi nhánh đã được mở ra khắp xứ Thái Lan do những
thiền sư tu học từ thiền viện Wat Pah Pong đảm nhiệm việc giảng dạy, kể cả
một chi nhánh gần Wat Pah Pong dành riêng cho những thiền sinh Tây phương
muốn đến học thiền với Ngài Ajahn Chah. Trong những năm gần đây một số chi
nhánh đã được mở ra ở các nước Tây phương. Một trong những chi nhánh nổi
tiếng là một thiền lâm lớn lao, qui mô, đó là Thiền viện Chithurst ở Anh
quốc do Thiền sư Ajahn Sumedho, một trong những học trò đầu đàn người Tây
phương của Ngày Ajahn Chah, điều hành.
Những lời giảng dạy của Ngài Ajahn Chah bao gồm những gì gọi là "Cốt
tủy của Thiền Phật Giáo", phương pháp thực hành đơn giản và trực tiếp
để an tâm và mở mang trí tuệ, đạt đến sự sáng suốt thực sự. Phương pháp
hành thiền tỉnh thức hay minh sát này là một lối thực tập thiền quán của
Phật Giáo được bành trướng nhanh chóng ở Tây phương. Những lời chỉ dẫn của
các vị sư hay các cư sĩ đã từng tu học trong những thiền viện trong rừng
hay tại những trung tâm thiền tích cực, cung ứng cho chúng ta một phương
pháp phổ thông và trực tiếp để huấn luyện thân tâm. Thiền Phật Giáo dạy
cho chúng ta làm thế nào để đối trị với tham lam, sợ hãi, lo âu, đồng thời
cũng dạy chúng ta làm thế nào để học được kiên nhẫn, trí tuệ và vị tha.
Cuốn sách này nhằm mục đích cung ứng những lời hướng dẫn và ý kiến cho
những ai muốn thực tập thiền.
Ngài Ajahn Chah bắt đầu hành thiền từ lúc còn thơ ấu. Ngài đã đi nhiều
nơi và ẩn cư nhiều năm trong rừng để hành thiền dưới sự hướng dẫn của
những vị sơn tăng đắc đạo. Ngài vui cười mà kể lại rằng, lúc còn nhỏ khi
chơi trò chơi với chúng bạn, Ngài thích làm sư trong khi các trẻ khác
thích chơi nhà cửa. Ngài đóng trò ôm bình bát đi khất thực và bảo lũ trẻ
bỏ bánh kẹo cho mình. Ngài đã hành thiền rất tích cực và kỷ luật, nhờ thế
Ngài đã thành công. Do đó Ngài đòi hỏi học trò của Ngài phải có đức tính
kiên nhẫn và chịu đựng. Lúc còn là một vị sư trẻ, một ấn tượng sâu xa đã
ảnh hưởng và hỗ trợ rất nhiều cho việc tu học của Ngài. Đó là lúc cha Ngài
sắp mất, Ngài có dịp ngồi bên giường bệnh của cha nhiều ngày trực tiếp đối
diện với sự suy tàn và sự chết. Ngài Ajahn Chah thường nói: "Khi chúng ta
không hiểu rõ sự chết thì đời sống thật nhiều rối rắm và lầm lẫn."
Kinh nghiệm này là một động cơ mạnh mẽ giúp Ngài nỗ lực hành thiền để
tìm cho ra nguyên nhân sự đau khổ của mọi người và nguồn cội của sự an lạc
giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy. Thế là Ngài rũ bỏ tất cả cho sự tìm
kiếm chân lý. Ngài đã gặp rất nhiều khó khăn và đau khổ, kể cả việc Ngài
đâm ra hoài nghi mọi chuyện và cơ thể bệnh hoạn. Nhưng Ngài vẫn kiên nhẫn
ngồi, ngồi và theo dõi, mặc dầu có nhiều ngày Ngài chỉ có khóc mà chẳng
làm được gì cả. Ngài gọi đó là sự thách thức hay liều lĩnh với việc hành
thiền của Ngài. Cuối cùng sự đương đầu đó đã đem lại trí tuệ, khóai hoạt
tinh thần và khả năng kỳ diệu để giúp đỡ người khác.
Ngài Ajahn Chah giảng dạy bằng hai ngôn ngữ Thái và Lào. Những lời dạy
trong cuốn sách này phản ảnh một tinh thần vui vẻ trong việc hành thiền.
Đây là những lời dạy nhằm vào những người đã từ bỏ đời sống thế tục theo
tu trong rừng với Ngài Ajahn Chah. Tuy thế, tinh thần giáo pháp diễn đạt ở
đây có tính cách trực tiếp và phổ thông, thích hợp cho mọi chúng ta. Ngài
nhấn mạnh đến những vấn đề căn bản của con người: tham lam, sợ hãi, sân
hận, và si mê. Ngài nhắc đi nhắc lại là chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức
trước những trạng thái phiền não này, luôn luôn tỉnh thức trước những đau
khổ mà chúng ta đã gây ra trong đời sống và trong thế giới chúng ta. Những
lời dạy này là Tứ Diệu Đế, bài pháp đầu tiên Đức Phật giảng dạy về: Khổ,
nguyên nhân khổ và con đường đi đến diệt khổ. "Phải nhìn thấy tại sao ái
dục gây ra đau khổ," đó cũng là câu mà Ngài Ajahn Chah thường xuyên nhắc
nhở. "Hãy học hỏi nơi kinh nghiệm của chính bạn. Hãy nhìn thấy sự thay đổi
bản chất liên tục của hình sắc, âm thanh, mùi vị, cảm giác và tư tưởng.
Hãy ý thức bản chất vô thường, bất toại nguyện và vô ngã của đời sống. Chỉ
khi nào chúng ta thấy và thừa nhận ba đặc tính ấy, chúng ta mới có thể
sống trong an bình." Truyền thống tu thiền trong rừng thích hợp và tác
động trực tiếp trên sự hiểu biết và sự đối kháng của chúng ta về ba chân
lý trên; truyền thống này cũng có hiệu năng trực tiếp trên nỗi sợ hãi, sân
hận và ham muốn của chúng ta. Ngài dạy chúng ta phải đối diện với những
phiền não của chúng ta và dùng pháp từ bỏ, kiên nhẫn, tỉnh thức để chế ngự
chúng. Ngài khẩn nài chúng ta cố gắng thực hành để đừng rơi vào chỗ buồn
rầu, lo lắng; hãy tự huấn luyện để thấy rõ ràng và trực tiếp bản chất thật
sự của tâm và của vạn hữu. Chúng ta sẽ cảm thấy sảng khóai, thích thú
trước sự trong sáng, vui vẻ về phương pháp thực hành trực tiếp tại sơn lâm
của Ngài Ajahn Chah. Bao quanh Ngài là sự tỉnh thức trong tinh thần tìm
hiểu, vui vẻ, ngạc nhiên, hiểu biết và bình an nội tại sâu xa. Mong rằng
những lời giới thiệu và những câu chuyện trong rừng thiền ghi lại nơi đây
phản ảnh được phần nào tinh thần ấy và khiến bạn có cảm hứng trong việc
hành thiền.
Hãy thận trọng lắng nghe Ngài Ajahn Chah và ghi khắc vào tâm những lời
dạy của Ngài, bởi vì Ngài dạy thực hành chứ không lý thuyết, và những điều
Ngài dạy liên hệ đến hạnh phúc và tự do của con người. Trong những năm đầu
tiên khi Wat Pah Pong bắt đầu hấp dẫn nhiều du khách đến viếng, một loạt
khẩu hiệu được gắn dọc lối đi: "Bạn đang ở đây, đến để thăm viếng" và "Xin
giữ yên lặng, chúng tôi đang hành thiền." Một câu khác ghi, "Thực hành
Pháp và thấy rõ chân lý là điều giá trị nhất trong đời sống. Không phải đã
đến lúc chúng ta bắt đầu sao?" Tinh thần của câu này Ngài Ajahn Chah nói
trực tiếp với chúng ta, mời gọi chúng ta hãy giữ tâm an tịnh để khám phá
chân lý trong đời sống. Không phải đã đến lúc chúng ta bắt đầu sao?
Đạo giản dị
Theo truyền thống, Bát Chánh Đạo nói đến tám chi đạo như: Chánh kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, v. v. Nhưng chân Bát Chánh Đạo ở trong chúng ta
là: Hai mắt, hai tai, hai muĩ, một lưỡi và một thân. Tám cửa này là toàn
thể Đạo (Con Đường); tâm con người đi trên con đường ấy. Biết những cửa
này và quan sát chúng thì tất cả giáo pháp sẽ hiện khởi.
Cốt tủy của Đạo rất đơn giản, chẳng cần phải giải thích dông dài: Vất
bỏ yêu ghét, thản nhiên trước mọi chuyện xẩy ra. Đó là mục tiêu chính của
việc hành thiền.
Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất cứ chuyện gì. Cũng
đừng là một thiền sinh. Đừng mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi
thì hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối gì cả. Dĩ nhiên có
hàng chục cách Thiền Định và nhiều phương pháp Thiền Minh Sát. Nhưng tất
cả đều trở về chỗ: Hãy để mọi sự tự nhiên. Thoát ra ngoài chiến trường,
đặt chân đến nơi an lành mát mẻ.
Tại sao không thử xem? Bạn dám không?
Trung Đạo
Đức Phật không muốn chúng ta đi con đường đôi. Một bên là tham ái, chìm
đắm, và bên kia là sợ hãi, ghen ghét. Ngài dạy chúng ta hãy tỉnh thức
trước mọi lạc thú. Sân hận, sợ hãi, bất mãn không phải là lối đi của thiền
sinh. Đó là lối đi của người thế tục. Người an tịnh đi trên Trung Đạo, vất
tham ái sang bên trái, và bỏ sợ hãi, ghen ghét sang bên phải. Người nào
muốn thực hành, phải theo Trung Đạo: không nghiêng về lạc thú hay đau khổ
mà chỉ đặt chúng xuống. Nhưng dĩ nhiên, thoạt đầu hơi khó. Chúng ta bị đá
sang hai bên: lúc sang trái, lúc sang phải như quả lắc đồng hồ.
Khi Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, Ngài đề cập đến hai thái cực, vì
đó là nơi cư ngụ của tham ái. Ái dục, hạnh phúc đá sang bên này, đau khổ
và bất toại nguyện đá sang bên kia. Cả hai luôn luôn gây phiền lụy và đau
khổ. Nhưng khi đi trên Trung Đạo, bạn đặt cả hai xuống.
Nếu bạn theo hai thái cực này, bạn sẽ mất hết kiên nhẫn chịu đựng và sẽ
bị hất ra ngoài khi luyến ái hay sân hận lôi cuốn bạn. Bạn còn mắc bẫy như
vậy bao lâu? Hãy xét xem: Nếu bạn thích một thứ gì đó, bạn sẽ theo sau
chúng khi yêu thích phát sinh và dĩ nhiên nó chỉ lôi kéo bạn đi tìm sự đau
khổ thôi. Tâm luyến ái thật khôn ngoan và khéo léo. Rồi nó sẽ kéo bạn đi
đâu nữa đây?
Đức Phật dạy chúng ta hãy vất bỏ mọi thái cực. Đó là con đường thực
hành chân chính, dẫn đến nơi thoát khỏi sanh tử. Không có khóai lạc và đau
khổ trên đường này, cũng không có thiện và ác, tốt và xấu. Than ôi! Con
người đầy ái dục, chỉ muốn tìm khóai lạc, không chịu đi trên con đường của
Đấng Đại Giác, con đuờng dành cho người đi tìm chân lý. Dính mắc vào hạnh
phúc và đau khổ, tốt và xấu thì không thể đi trên Trung Đạo, không thể trở
thành người trí, không thể giải thoát.
Con đường của chúng ta rất thẳng, tĩnh lặng và chánh niệm; dù phiền
muộn hay phấn khởi nẩy sinh, nó vẫn an tịnh. Nếu tâm bạn được như thế, bạn
chẳng cần nhờ ai hướng dẫn.
Bạn sẽ thấy rằng, khi tâm không luyến ái, nó sẽ nằm ở trạng thái bình
thường. Khi nó bị khuấy động bởi tư tưởng và cảm giác, tiến trình cấu tạo
nên tư tưởng sẽ diễn ra và ảo giác thành hình. Hãy học cách nhìn tiến
trình này. Khi tâm bị khuấy động, không còn ở trạng thái bình thường, nó
sẽ ra khỏi sự thực hành đúng đắn để tiến đến một trong những thái cực của
đam mê và ghen ghét, từ đó nó lại càng tạo ra nhiều ảo giác, nhiều tư
tưởng hơn nữa. Nếu bạn tiếp tục quan sát tâm, suốt đời chỉ làm vậy thôi,
tôi bảo đảm rằng bạn chẳng bao giờ buồn chán.
Chấm dứt hoài nghi
Nhiều người có trình độ đại học, có bằng cấp tốt nghiệp và thành công
trên đường đời, nhưng vẫn cảm thấy cuộc sống của họ thiếu thốn. Dầu có tư
tưởng cao xa hay thông minh hoạt bát đến đâu đi nữa, tâm của họ cũng chứa
đầy những thứ vô dụng và hoài nghi. Chim kên kên bay cao đấy, nhưng nó ăn
những thứ gì?
Chân lý là sự hiểu biết vượt ra ngoài tính cách điều kiện, tổng hợp và
giới hạn của khoa học thế gian. Dĩ nhiên trí tuệ thế gian có thể dùng vào
những mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trí tuệ của thế gian có thể đi ngược lại với
tôn giáo và giáo dục. Cái hay cái đẹp của trí tuệ siêu thế là có thể sử
dụng kỹ thuật của trí tuệ thế gian mà không bị dính mắc vào chúng.
Phải học phần căn bản trước. Đó là căn bản đạo đức, giới luật, thấy
được sự giả tạm của cuộc sống, thấy được hiện tượng già và chết. Đó là nơi
chúng ta bắt đầu. Cũng như trước khi biết đi, bạn phải biết lật, biết bò,
rồi biết... lái xe, và sau đó, có thể lái máy bay du hành quanh trái đất.
Nghiên cứu sách vở không quan trọng lắm. Dĩ nhiên kinh điển là đúng,
nhưng không diễn đạt hết chân lý. Kinh điển chỉ là ngôn từ, chữ viết, mà
ngôn từ và chữ viết chỉ có khả năng diễn đạt giới hạn. Chẳng hạn như danh
từ "sân hận" không thể diễn tả được trạng thái nóng nảy, giận hờn, cũng
như nghe nêu tên một người nào đó, khác với gặp người ấy. Chỉ có kinh
nghiệm của chính bạn mới đem lại đức tin thật sự.
Có hai loại đức tin. Loại thứ nhất là tin tưởng một cách mù quáng vào
Phật, Pháp và vị thầy -- thông thường là người đầu tiên hướng dẫn mình
hành thiền hay cho mình xuất gia. Loại thứ hai là Chánh Tín -- đức tin
chắc chắn, không lay chuyển, phát sinh từ sự hiểu biết của chính mình. Mặc
dầu vẫn còn những phiền não khác cần vượt qua, người thấy một cách rõ ràng
sự vật bên trong chính mình, có thể dứt được hoài nghi, đạt được đức tin
trong việc thực hành.
Bỏ hết ngôn từ sách vở, và tự mình nhận thức
Việc thực hành của tôi không đặt nặng ở học hỏi hay nghiên cứu. Tôi lấy
những lời dạy của Đức Phật làm căn bản và bắt đầu nghiên cứu tâm mình một
cách tự nhiên. Khi thực hành, bạn hãy tự quan sát mình, cứ thế dần dần trí
tuệ và tri kiến sẽ tự phát sinh. Nếu bạn ngồi thiền mà muốn được thế này,
thế kia thì tốt hơn nên dẹp đi đừng ngồi thiền nữa. Đừng kỳ vọng hay mang
thêm một ý tưởng gì vào việc thực hành của bạn. Hãy xếp vào kho mọi ý niệm
hay tư kiến của mình.
Khi thực hành bạn dẹp bỏ tất cả ngôn từ, biểu tượng, dự định, kế hoạch,
v.v. Có thế bạn mới tự mình thấy được chân lý, vì chân lý không ở đâu xa,
nó khởi sinh ngay tại đây. Tôi đã học giáo pháp qua kinh điển trong những
năm đầu tiên. Lúc ấy, khi có thì giờ tôi thường đến nghe những học giả,
những bậc thầy thuyết giảng, cho đến khi sự học hỏi này biến thành chướng
ngại nhiều hơn là hỗ trợ, tôi mới ngưng học. Thực ra tôi đã không biết
cách nghe giáo pháp, vì tôi không nhìn vào bên trong.
Các bậc thiền sư này đã nói đến chân lý bên trong chính mình. Khi thực
hành tôi bắt đầu hiểu rõ là nó nằm ngay trong chính tôi. Một thời gian
sau, tôi thấy rằng các thiền sư này đã thực sự thấy rõ chân lý, và nếu tôi
đi theo con đường của các ngài, tôi sẽ gặp những gì mà các ngài đã nói
đến; và lúc đó tôi sẽ có thể nói, "Vâng, các ngài nói đúng. Còn gì nữa
đâu?" Khi tôi kiên trì thực hành, tôi thấy quả đúng như vậy.
Nếu bạn thích ở trong Giáo Pháp thì hãy xả bỏ, hãy để mọi chuyện diễn
biến tự nhiên theo nó. Chỉ thuần học lý thuyết mà không thực hành thì
chẳng khác nào "bỏ hình bắt bóng." Không cần học hỏi nghiên cứu nhiều. Nếu
bạn dựa vào những điều căn bản và thực hành theo, bạn sẽ tự mình thấy giáo
pháp.
Tâm lý học Phật Giáo
Một hôm có một nữ giảng sư về môn Siêu Hình Phật Giáo đến thăm Ngài
Ajahn Chah. Bà giảng sư này dạy định kỳ ở Bangkok về Vi Diệu Pháp
(Abhidhamma) và Tâm Lý Học Phật Giáo. Trong lúc nói chuyện với Ngài Ajahn
Chah, bà giải thích cặn kẽ tầm quan trọng của sự hiểu biết Tâm Lý Học Phật
Giáo đối với mọi người. Bà cũng cho biết là những học sinh của bà đã gặt
hái được nhiều lợi ích khi học hỏi với bà. Bà hỏi Ngài Ajahn Chah có đồng
ý với bà về tầm quan trọng của một kiến thức như thế không?
Ngài Ajahn Chah gật đầu đồng ý:
-- Vâng, rất quan trọng.
Hết sức hân hoan, bà hỏi tiếp là Ngài có chịu để cho học trò của Ngài
học Vi Diệu Pháp không?
-- Vâng, dĩ nhiên.
Bà lại hỏi là Ngài muốn học trò Ngài học ở đâu và cuốn sách nào tốt
nhất.
Ajahn Chah đưa tay chỉ vào quả tim mình, nói:
-- Ở đây. Chỉ chỗ này thôi.
Học hỏi và kinh nghiệm
Chúng ta hãy nói đến sự khác biệt giữa việc Nghiên Cứu Giáo Pháp và Áp
Dụng Giáo Pháp Vào Thực Hành. Chân Giáo Pháp phải học hỏi là: Tìm một con
đường để thoát khỏi sự bất xứng ý của đời sống và đạt được hạnh phúc, bình
an cho chính mình cùng tất cả chúng sinh.
Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện bình thường. Khi tâm
di động thì tư tưởng hình thành. Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm
hoạt động này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như thế. Nếu bạn
không hiểu rõ chuyển động này, bạn sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình
thành mãi, và trở thành nạn nhân của nó.
Thế nên Đức Phật dạy chúng ta hãy quan sát hoạt động của tâm. Theo dõi
tâm di chuyển, chúng ta có thể thấy được những đặc tính căn bản của nó. Đó
là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Bạn nên tỉnh thức và quan sát
những hiện tượng tâm lý này. Bằng cách này bạn có thể học được tiến trình
của nhân duyên. Đức Phật dạy rằng: Vô minh là nhân phát sinh ra hành
nghiệp và mọi hiện tượng. Hành nghiệp hay sự "chủ ý" này phát sinh ra Thức
và Thức lại là nhân của Thân và Tâm. Đó là tiến trình của Nhân duyên.
Khi bắt đầu nghiên cứu Phật Giáo, chúng ta thấy lối dạy theo truyền
thống kinh điển đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Nhưng khi tiến trình
đã diễn ra bên trong chúng ta, chúng ta mới thấy rõ tầm quan trọng của sự
thực hành. Những kẻ chỉ học pháp học mà không thực hành không thể nào theo
kịp sự mau lẹ của tiến trình này.
Dĩ nhiên tiến trình của tâm được kinh điển hệ thống hóa và mô tả rõ
ràng, nhưng kinh nghiệm vượt ra ngoài sách vở học hỏi. Sách vở không thể
cho bạn biết "đây" là kinh nghiệm của si mê phát sinh, "đây" là những cảm
giác phát sinh từ tác ý, "đây" là một loại tâm đặc biệt, "đây" là những
cảm giác về sự khác biệt của thân và tâm. Cũng như khi bạn trèo cây và bị
rơi xuống đất. Bạn không thể nào biết được là bạn đã rơi bao nhiêu thước,
bao nhiêu tấc. Bạn chỉ biết bạn rơi xuống đất và thấy đau mà thôi. Không
sách vở nào mô tả điều này.
Sách vở nghiên cứu Giáo Pháp được hệ thống hóa và làm cho rõ ràng,
nhưng thực tế không chỉ đi theo một lối đi đơn giản. Bởi thế, chúng ta
phải dùng trí tuệ sâu xa của chúng ta để nghiệm xem cái gì đã khởi sinh
trong tâm kẻ giác ngộ. Kẻ giác ngộ hiểu biết qua kinh nghiệm của họ rằng
tâm không phải là Ta, của Ta, không phải là Tự Ngã của ta. Khi nói cho
chúng ta biết tên của các loại Tâm và Tâm Sở, Đức Phật không muốn chúng ta
dính mắc vào ngôn từ. Ngài chỉ muốn chúng ta thấy tất cả đều vô thường,
khổ và vô ngã. Ngài dạy hãy buông bỏ tất cả. Khi các pháp phát sinh ra hãy
chánh niệm, biết chúng. Tâm thực hiện được sự ghi nhận, giác tỉnh này mới
là tâm được huấn luyện đúng cách.
Khi Tâm bị khuấy động thì nhiều loại tâm, tâm sở: tư tưởng, phản ứng,
v.v., được hình thành và nẩy nở liên tục. Chỉ để chúng thế, tốt cũng như
xấu. Đức Phật chỉ dạy đơn giản: "Vất bỏ hết." Nhưng đối với chúng ta thì
cần phải nghiên cứu tâm mình để biết làm thế nào để có thể vất bỏ chúng.
Nếu nhìn những yếu tố của tâm, chúng ta sẽ thấy tâm đi theo một tiến
trình nhân quả tự nhiên: tâm sở như vậy, tâm sinh và diệt như vậy, v.v.
Chúng ta có thể thấy ngay trong sự thực hành của chúng ta: Khi chúng ta có
Chánh Kiến và Chánh Niệm thì Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh
Mạng, theo sau. Người Giác Ngộ thấy rõ từng yếu tố của Tâm. Người Giác Ngộ
chẳng khác nào một ngọn đèn. Nếu có Chánh Kiến, tức là có sự hiểu biết
đúng thì tư tưởng và những yếu tố khác cũng đúng, chẳng khác nào khi thắp
đèn thì ánh sáng sẽ phát sinh. Nhờ nhìn sự vật với Chánh Niệm, Chánh Kiến
sẽ phát triển.
Khi quan sát cái mà ta gọi là Tâm, chúng ta chỉ thấy sự kết hợp của các
yếu tố tâm khác nhau mà không có Tự Ngã. Vậy thì ta ở đâu? Cảm giác, ký
ức, tất cả năm uẩn của Thân và Tâm đang dời chỗ như lá cuốn theo cơn
gió... Chúng ta sẽ khám phá ra điều này khi chúng ta hành thiền.
Thiền chẳng khác nào một khúc gỗ: Minh sát và suy xét ở một đầu, an
tịnh và định tâm ở đầu kia. Nhặt khúc gỗ lên cả hai đầu đều lên cùng một
lúc. Đầu nào là Thiền Minh Sát (Thiền quán)? Đầu nào là Thiền Định (Thiền
chỉ)? Chỉ có tâm mà thôi!
Bạn không thể nào tách rời Định Tâm và Minh Sát. Chúng chẳng khác nào
một trái xoài, lúc còn xanh thì chua, rồi chín thì ngọt, nhưng vẫn là trái
xoài. Cái này sinh trong cái kia. Không có cái đầu tiên thì không có cái
thứ hai. Những từ ngữ như vậy chỉ là sự chế định để thông đạt. Chúng ta
đừng dính mắc vào danh từ. Nguồn gốc của chân trí tuệ là thấy những gì ở
bên trong chúng ta. Chỉ có loại học hỏi này có điểm cuối và là loại học
hỏi về chân giá trị.
Sự an tịnh ở giai đoạn đầu tiên của Định Tâm phát sinh từ sự thực hành
"Nhất Tâm." Nhưng khi sự an tịnh ra đi, chúng ta lại đau khổ, vì chúng ta
đã dính mắc vào nó. Đạt được sự định tâm không phải là điểm cuối vì pháp
hành cấu tạo và đau khổ vẫn còn hiện hữu.
Thế nên, Đức Phật lấy sự Định Tâm, sự an tịnh này để quán xét thêm nữa.
Ngài đi tìm sự thật của vấn đề cho đến khi không còn dính mắc vào sự an
tịnh nữa. An tịnh chỉ là một trong vô số những hình thành của tâm, nó chỉ
là một chặng trên con đường. Còn dính mắc vào sự an tịnh tức là còn dính
mắc vào sự sinh thành và hiện hữu. Bởi vì khi an tịnh chấm dứt, dao động
lại bắt đầu khởi lên và bạn sẽ bị dính mắc nhiều hơn nữa.
Đức Phật tiếp tục xem xét sự sinh thành và hiện hữu để tìm ra nơi chúng
phát sinh. Khi chưa tìm ra được sự thật của vấn đề, Ngài dùng tâm mình
quán xét thêm, xem xét mọi yếu tố của tâm, tìm xem chúng đã phát khởi như
thế nào. Dầu có an tịnh hay không, Ngài vẫn tiếp tục xem xét cho đến khi
Ngài hiểu rõ rằng: tất cả những gì Ngài thấy, tất cả năm uẩn của Thân và
Tâm, giống như một thỏi sắt nóng đỏ. Khi thỏi sắt còn đang nóng đỏ, bạn có
thể tìm được điểm nguội nào trên đó để sờ tay vào chăng? Năm uẩn cũng như
vậy -- nắm chỗ nào cũng bị phỏng cả. Bởi thế, không nên dính mắc, dù đó là
sự an tịnh hay định tâm đi nữa. Không nên nói rằng sự bình an tĩnh lặng là
"Tôi" hay "Của Tôi". Nghĩ rằng "Tôi" hay "Của Tôi" sẽ phát sinh ảo tưởng
đau thương về Tự Ngã -- thế giới của Tham Ái và Si Mê, tức là một miếng
sắt nóng đỏ khác. Trong lúc thực hành chúng ta thường có khuynh hướng nắm
giữ (chấp thủ), coi những kinh nghiệm đạt được là "Tôi" hay "Của Tôi." Và
bạn nghĩ "Tôi an tịnh" hay "Tôi dao động", "Tôi tốt" hay "Tôi xấu", "Tôi
hạnh phúc" hay "Tôi đau khổ". Sự dính mắc này là nguyên nhân của "Sinh
thành" và "Hiện hữu". Khi hạnh phúc chấm dứt, đau khổ xuất hiện. Khi đau
khổ chấm dứt, hạnh phúc xuất hiện. Bạn sẽ thấy chính mình không ngừng phân
vân giữa thiên đàng và địa ngục. Đức Phật thấy rõ điều kiện của Tâm là
vậy, và Ngài hiểu đó là nguyên nhân sinh thành và hiện hữu. Tâm ở trong
điều kiện đó nên sự giải thoát không hoàn thành được. Ngài bèn lấy những
kinh nghiệm đó và quán xét chân tướng của chúng: Do có nắm giữ (chấp
thủ) nên có Sanh và Tử. Trở nên hân hoan là sanh; trở nên thóai
chí là tử. Có chết nên có sống. Sinh và Tử từ thời điểm này đến thời điểm
kia, kế tục nhau không dứt, như một guồng bánh xe kéo chỉ quay không
ngừng.
Đức Phật thấy rõ cái gì do tâm sinh ra cũng đều tạm bợ, là những hiện
tượng có nhân duyên, thực sự trống rỗng. Khi ánh sáng trí tuệ này phát
sinh, Ngài xả bỏ tất cả, không nắm giữ gì nữa và chấm dứt đau khổ. Bạn
cũng vậy, phải hiểu những vấn đề này đúng theo chân lý. Khi hiểu rõ sự vật
đúng theo chân tướng của nó, bạn sẽ thấy rằng những yếu tố tạo thành tâm
thường đánh lừa bạn. Tâm chẳng có gì cả, không sinh ra cũng không chết đi.
Nó tự do, chiếu sáng, chói lọi, rực rỡ, và không gì làm bận rộn nó cả. Tâm
trở thành bận rộn chỉ vì nó hiểu sai và bị mê mờ bởi những hiện tượng có
điều kiện này -- đó là ý tưởng sai lầm về Tự Ngã. Thế nên, Đức Phật muốn
chúng ta nhìn vào tâm mình xem thử lúc đầu có cái gì. Thật ra chẳng có gì
cả. Sự trống rỗng này không sinh và diệt theo hiện tượng. Khi chứa đựng
điều tốt, nó không trở nên tốt. Khi tiếp xúc việc xấu nó cũng không trở
nên xấu. Tâm trong sạch biết những đối tượng này một cách rõ ràng--biết
rằng chúng không có bản chất.
Khi tâm của thiền sinh an trụ như vậy, sẽ không có hoài nghi nữa: Có
trở thành không? Có sinh không? Khỏi cần hỏi ai! Quan sát những yếu tố của
Tâm, Đức Phật để chúng tự nhiên và trở thành người tỉnh thức trước chúng.
Ngài chỉ nhìn với tâm xả. Những điều kiện dẫn đến Sinh không còn hiện hữu
ở Ngài. Với trí tuệ hoàn toàn của Ngài, Ngài gọi chúng là Vô thường, Khổ
và Vô ngã. Bởi thế nên Ngài trở thành người hiểu biết chắc chắn. Người
hiểu biết chắc chắn hay giác ngộ thấy sự vật theo chân lý, không hạnh phúc
hay đau khổ theo những đổi thay của điều kiện. Đó là chân bình an, vô
sinh, vô lão, vô bệnh, vô tử, không tùy thuộc vào nhân quả hay điều kiện,
vượt ra ngoài hạnh phúc và khổ đau, thiện và ác. Không còn cái gì để nói
đến, không còn điều kiện nào để cải thiện nữa.
Do đó, hãy phát triển tâm định, an tịnh và minh sát, hãy học cách làm
cho nó khởi dậy trong tâm bạn và thật sự dùng nó. Nếu không, bạn chỉ biết
Phật giáo qua ngôn ngữ, danh từ. Mặc dầu khi hiểu rành pháp học, bạn có
thể đi khắp nơi giảng giải cho mọi người biết giáo pháp, những đặc tính
của cuộc đời; bạn có thể thông thái, hoạt bát, nhưng khi sự vật hiện khởi
trong tâm, bạn có theo được chúng không? Khi tiếp xúc với vật ưa thích,
bạn có tức khắc dính mắc vào nó không? Khi gặp chuyện bực mình, người giác
ngộ có giữ sự bực mình trong tâm hay họ để nó ra đi? Nếu bạn thấy những
điều bạn không thích mà vẫn nắm giữ hay kết án nó thì bạn nên suy tư như
sau: Như vậy không đúng đâu, không cao thượng đâu. Nếu bạn quan sát tâm
như vậy, bạn sẽ thật sự hiểu chính mình.
Tôi không dùng từ ngữ trong kinh điển để thực hành. Tôi chỉ nhìn vào kẻ
giác ngộ. Nếu tôi ghét người nào, tôi hỏi tại sao? Nếu tôi không thương
một người nào, tôi hỏi tại sao? Những gì khởi sinh hãy dò đến tận cội
nguồn của nó thì bạn có thể giải quyết được vấn đề yêu ghét và khiến chúng
để bạn ở yên một mình. Tất cả đều trở về và khởi sinh trong kẻ giác ngộ.
Nhưng không phải chỉ nghe suông là đủ đâu, phải liên tục và quyết liệt
thực hành mới được.
Gà hay trứng?
Giáo pháp dạy chúng ta hãy buông bỏ, nhưng thoạt đầu chúng ta tự nhiên
bị dính mắc vào phần lý thuyết của giáo pháp. Người trí biết sử dụng lý
thuyết làm công cụ để khám phá phần tinh hoa của cuộc sống.
Suốt thời gian viếng thăm Anh quốc lần đầu tiên, Ngài Ajahn Chah đã đến
giảng dạy cho nhiều nhóm Phật tử. Một buổi tối nọ, sau phần thuyết giảng,
Ngài nhận được một câu hỏi từ một mệnh phụ. Bà là người đã nhiều năm
nghiên cứu sự phức tạp của tâm theo Vi Diệu Pháp. Bà hỏi ý Ngài có thuận
giải thích cho bà một vài điểm khó khăn trong môn học này để bà có thể
tiếp tục nghiên cứu một cách dễ dàng hơn không.
Thấy bà bị dính mắc vào sự hiểu biết lý thuyết và ngôn từ chế định mà
không nhận ra được lợi ích của sự thực hành nơi chính tâm mình, nên Ngài
Ajahn Chah trả lời bà một cách trực tiếp và mạnh bạo:
-- Bà chẳng khác nào người nuôi gà trong sân, thay vì nhặt trứng bà lại
đi quanh sân để nhặt phân gà.
Những tên trộm trong tâm bạn
Mục đích của thiền là nắm sự vật lên và đưa vào phòng thử nghiệm để rõ
thực chất của chúng. Chẳng hạn, khi nhìn hình dáng của một vật, ta thấy nó
xinh đẹp, trong khi đó Đức Phật dạy chúng ta: nó là bất tịnh, vô thường,
và chất chứa đau khổ. Vậy quan niệm nào đúng theo chân lý?
Chúng ta như du khách đến viếng một xứ lạ. Không hiểu ngôn ngữ bản xứ
nên chúng ta chẳng thấy thú vị. Nhưng một khi đã học nói, học nghe ta có
thể cười và nói đùa với người bản xứ.
Quan điểm thông thường cho rằng những yếu tố của đời sống chúng ta, bắt
đầu từ cơ thể, là ổn cố. Một đứa bé chơi bong bóng. Quả bóng vướng phải
gai hay một vật nhọn, nổ tung; cậu bé khóc lóc tiếc nuối. Một cậu bé khác,
khôn ngoan hơn, biết rằng bong bóng rất dễ vỡ nên không buồn rầu khi bong
bóng vỡ. Con người đi vào cuộc sống như kẻ mù. Họ quên cái chết như người
tham ăn, ngốn vào bụng thật nhiều thức ăn khóai khẩu mà chẳng nghĩ rằng
mình phải bài tiết. Đến khi đau bụng, vì không dự liệu trước, nên chẳng
biết phải chạy đi đâu.
Thế gian đầy hiểm nguy, hiểm nguy từ những yếu tố của cuộc sống, hiểm
nguy từ những tên trộm. Trong chùa chiền cũng có những mối hiểm nguy như
vậy. Đức Phật dạy chúng ta truy tầm những mối hiểm nguy này và đặt tên
"Bhikkhu" cho người xuất gia. Bhikkhu có hai nghĩa: người đi xin, và người
thấy được hiểm nguy tham ái trong luân hồi. Chúng sanh đầy tham lam, sân
hận, si mê. Bị ba loại phiền não này chế ngự nên họ phải nhận lấy quả, gia
tăng thói xấu, tạo thêm nghiệp, và lại bị ngã quỵ trước phiền não.
Tại sao không thể loại bỏ tham, sân, si ? Nếu bạn có tư tưởng xấu, bạn
sẽ đau khổ. Nếu bạn có sự hiểu biết đúng, bạn có thể chấm dứt đau khổ.
Phải biết hiệu lực và sự tác động của nghiệp, của nhân và quả. Dính mắc
vào khóai lạc sẽ nhận lấy quả khổ. Ăn quá độ thức ăn ngon thì dạ dày và
ruột sẽ phản ứng và bạn sẽ nhận lấy hậu quả sau đó. Bạn vui mừng khi lấy
trộm của ai vật gì; nhưng sau đó cảnh sát sẽ còng tay bạn. Khi quan sát
theo dõi, bạn sẽ biết cách hành động, sẽ biết cách chấm dứt sự nắm giữ và
phiền muộn. Đức Phật thấy được điều này nên cương quyết thoát khỏi mọi
hiểm nguy thực sự của thế gian.
Muốn thoát khỏi mối nguy hiểm của thế gian này, phải chế ngự những mối
hiểm nguy bên trong chúng ta. Hiểm nguy bên ngoài không đáng sợ bằng hiểm
nguy bên trong. Những hiểm nguy bên trong gồm: Gió, Lửa, Nước, và Những
Tên Trộm.
Gió: Gió đến từ giác quan của chúng ta, thúc ép tham lam, sân hận
và si mê khởi dậy, hủy diệt phần bên trong tốt đẹp của chúng ta. Thông
thường chúng ta chỉ thấy gió khi gió thổi lá cây, không thấy được gió của
giác quan. Gió giác quan này nếu không được theo dõi sẽ gây ra bão tố tham
muốn.
Lửa: Chùa chúng ta có thể chẳng bao giờ bị hỏa hoạn. Nhưng tham
lam, sân hận, si mê đốt cháy chúng ta luôn khi. Tham ái và sân hận khiến
chúng ta có ngôn ngữ sai lầm. Si mê khiến chúng ta thấy thiện ra ác, ác ra
thiện, xấu thành tốt, không có giá trị thành có giá trị. Những người không
hành thiền thì không thấy được nên bị lửa đốt cháy.
Nước: Mối hiểm nguy ở đây là lũ lụt phiền não trong tâm chúng ta,
nhận chìm bản tính thực sự của chúng ta.
Trộm: Những tên trộm chính tông không ở ngoài chúng ta. Chùa chúng
ta trong vòng hai mươi năm nay chỉ bị trộm một lần. Nhưng năm nhóm đạo
chích của tham ái, ngũ uẩn, đã luôn luôn trộm cắp, đánh đập ta, hành hạ ta
đủ điều.
Năm uẩn này gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.
1. Sắc: (hay Thân) là mồi của bệnh hoạn và đau nhức. Khi nó không
hợp với ý muốn của chúng ta, chúng ta sẽ sân hận và phiền muộn. Không hiểu
được bản chất già và bản chất suy tàn của cơ thể nên chúng ta bị đau khổ.
Chúng ta cảm thấy bị lôi cuốn bởi cơ thể kẻ khác hay có ác cảm với cơ thể
của họ là ta đã bị cướp mất sự an lạc thật sự.
2. Thọ: (hay Cảm giác) Khi đau nhức hay thích thú phát sinh, chúng
ta quên rằng chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Chúng ta đồng hóa mình với
những xúc động của mình và như vậy là chúng ta bị hành hạ bởi sự hiểu biết
sai lầm của chúng ta.
3. Tưởng: (hay Trí nhớ, tri giác) Đồng hóa mình với những gì mình ý
thức và nhớ tưởng đến chuyện đã qua khiến tham, sân, si phát sinh. Sự hiểu
biết sai lầm của chúng ta trở thành thói quen chất chứa tiềm thức chúng
ta.
4. Hành: (tác ý, chú ý và những yếu tố khác của tâm) Không hiểu rõ
bản chất của các trạng thái tâm (tâm, sở), chúng ta phản ứng, suy nghĩ và
cảm giác, yêu ghét, hạnh phúc và phiền muộn phát sinh. Quên rằng chúng là
vô thường, khổ và vô ngã nên chúng ta mắc vào chúng.
5. Thức: Chúng ta chấp giữ các hiểu biết về bốn uẩn kia. Chúng ta
nghĩ rằng: "Tôi biết, tôi là, tôi cảm thấy" và bị giới hạn bởi ảo tưởng về
tự ngã, về sự phân ly giữa năm uẩn cho rằng Thức chính là Tự Ngã.
Tất cả những tên trộm ấy -- sự hiểu biết sai lầm -- đưa ta đến hành
động sai lầm. Đức Phật không có ham muốn điều này. Ngài thấy không thể tìm
được chân hạnh phúc ở đây. Thế nên Ngài đã ban danh từ "Bhikkhu" cho những
ai thấy được mối hiểm nguy và tìm đường tránh thoát.
Đức Phật dạy chư tăng bản chất của năm uẩn và cách buông bỏ chúng.
Không dính mắc vào chúng, không xem chúng là ta hay của ta. Khi hiểu bản
chất của chúng, chúng ta sẽ thấy chúng có tiềm năng làm hại lớn lao, có
giá trị lớn lao. Chúng không biến mất, nhưng chúng ta không còn nắm giữ
chúng như của riêng của mình nữa. Sau khi thành đạo, Đức Phật vẫn còn có
thân, bệnh, có cảm giác đau khổ hay khóai lạc, có trí nhớ, có suy nghĩ, có
tâm. Nhưng Ngài không dính mắc vào chúng, không xem chúng là tự ngã, là
ta, là của ta. Ngài biết, Ngài hiểu chúng theo đúng bản chất của chúng.
Cái hiểu biết đó cũng không phải là ta, là tự ngã.
Tách rời ngũ uẩn khỏi phiền não và tham ái chẳng khác nào phát quang
những buị cây nhỏ trong rừng mà không làm hại đến cây lớn. Chỉ có sự sinh
và diệt tồn tại, phiền não không còn chỗ đứng. Chúng ta sinh ra và chết đi
với ngũ uẩn. Ngũ uẩn đến và đi theo bản chất tự nhiên của chúng.
Khi có ai nguyền rủa ta, và nếu ta không có cảm giác về tự ngã, thì
chuyện xẩy ra chấm dứt theo với lời nói và ta không đau khổ. Nếu cảm giác
không vừa lòng phát sinh, hãy chấm dứt chúng ngay tại chỗ và hiểu rằng cảm
giác không phải là chúng ta.
"Nó hại tôi, nó quấy rầy tôi, nó là kẻ thù của tôi," một vị tỳ khưu
không nghĩ như thế. Vị tỳ khưu cũng không nắm giữ sự kiêu căng hay ngã
mạn. Nếu chúng ta không đứng trong tầm đạn, chúng ta sẽ không bị bắn. Nếu
thư không có người nhận thì sẽ được trả lại người gởi. Thong thả đi vào
cuộc đời không bị dính mắc vào việc đánh giá các việc xẩy ra, thầy tỳ khưu
an nhiên tự tại. Đó là con đường Niết Bàn, trống rỗng và giải thoát.
Theo dõi năm uẩn và làm sạch khu rừng, bạn sẽ là một người khác hẳn
trước đây. Rất ít người hiểu được sự trống rỗng và thực hành theo, nhưng
ai làm được điều này sẽ có niềm vui lớn lao. Tại sao không thử xem? Bạn có
thể trừ khử những tên trộm trong tâm và xếp đặt mọi chuyện hoàn hảo mà!
Chánh kiến
Người phát triển chánh kiến bằng cách nhìn mọi vật dưới ánh sáng vô
thường, khổ và vô ngã, sẽ chấm dứt được luyến ái và mê lầm. Không luyến ái
không có nghĩa là ghét bỏ. Ghét bỏ thứ gì mà bạn đã có và ưa thích trước
đây thì chỉ là sự ghét bỏ tạm thời, vì sự luyến ái sẽ trở về với bạn.
Không phải chúng ta đi tìm một cuộc sống khóai lạc, nhưng đi tìm sự
bình an. Bình an nằm ngay trong chúng ta, được tìm thấy cùng chỗ với dao
động và đau khổ. Không thể tìm thấy bình an trong rừng sâu hay trên đồi
cao. Bình an cũng không thể được ban phát bởi một vị thầy quyền uy tối
thượng. Chỗ bạn bị đau khổ, bạn có thể tìm ra con đường để thoát khỏi khổ
đau. Cố gắng trốn chạy đau khổ, thấy nguyên nhân của nó và chấm dứt nó
ngay bây giờ tốt hơn là chỉ đương đầu với kết quả của nó.
Bỏ đói phiền não
Những người mới bắt đầu hành thiền thường phân vân không biết hành
thiền là gì. Hành thiền là cố gắng đối diện với phiền não, không nuôi
dưỡng thói quen cũ. Nơi nào bất hòa và khó khăn, nơi đó là chỗ để hành
thiền.
Khi hái nấm về ăn, không phải đụng thứ nấm nào bạn cũng hái. Phải hiểu
loại nào ăn được, loại nào là nấm độc. Việc hành thiền cũng vậy, chúng ta
phải biết mối nguy hiểm phải đương đầu khi hành thiền là phiền não. Phiền
não chẳng khác nào rắn độc, phải biết nó để tránh nó.
Phiền não -- tham, sân, si -- nằm ở gốc rễ của sự đau khổ và tâm ích
kỷ. Chúng ta phải học cách chế ngự chúng, chiến thắng và thoát khỏi sự
kiểm soát và điều khiển của chúng, để làm chủ tâm mình. Dĩ nhiên cuộc
chiến đấu này thật khó khăn. Khó khăn như phải xa rời người bạn thân đã
sống với nhau từ thời thơ ấu.
Phiền não chẳng khác nào một con mèo. Nếu cho nó ăn, nó sẽ quanh quẩn
bên ta. Đừng cho nó ăn, nó sẽ không quấy rầy nữa.
Lúc mới bắt đầu hành thiền không thể nào tránh khỏi nóng nực và buồn
chán. Nhưng hãy nhớ rằng chỉ có phiền não nóng. Nhiều người nghĩ: "Tôi
chưa bao giờ gặp phải sự khó khăn như vầy trước đây. Chắc có cái gì xẩy ra
đây?" Chuyện này chẳng có gì lạ, vì trước đây khi nuôi dưỡng phiền não,
bạn đã đối xử nhẹ nhàng với chúng, vuốt ve, nuông chiều chúng. Như người
bị thương bên trong mà chỉ đắp thuốc bên ngoài nên chẳng có cảm giác gì.
Bây giờ mổ ra để trị tận gốc thì chắc chắn không tránh khỏi đau đớn.
Muốn đề kháng lại phiền não thì bạn đừng cho chúng ăn, ngủ theo ý muốn
của chúng. Nhiều người cho làm như thế là tự hành hạ mình thái quá. Nhưng
đó là điều cần thiết để có sức mạnh bên trong. Bạn phải tự mình ý thức về
mình. Luôn luôn theo dõi tâm, bạn có thể nghĩ rằng bạn chỉ nhìn vào kết
quả mà không biết đến nguyên nhân. Giả sử cha mẹ có một đứa con, lớn lên
nó không biết kính trọng cha mẹ. Cha mẹ rất đau buồn và tự hỏi, "Không
biết thằng này từ đâu đến đây?" Thực ra, đau khổ của chúng ta đến từ sự
hiểu biết sai lầm, từ sự dính mắc vào những hoạt động của tâm. Chúng ta
phải huấn luyện tâm như huấn luyện một con trâu. Trâu là tư tưởng của
chúng ta, và người chăn trâu là thiền sinh. Nuôi trâu và huấn luyện trâu
là hành thiền. Với một con trâu được huấn luyện thuần thục, chúng ta có
thể thấy chân lý, chúng ta có thể hiểu nguyên nhân của "tự ngã" của chúng
ta và chỗ chấm dứt của nó, chỗ chấm dứt mọi sầu muộn. Nó không phức tạp
đâu!
Mọi người đều có phiền não trong lúc hành thiền. Chúng ta phải hiểu
chúng. Chiến đấu với chúng khi chúng hiện khởi. Đây không phải là chuyện
suy nghĩ mà là chuyện thực hành. Cần phải có nhiều kiên nhẫn. Dần dần
chúng ta sẽ thay đổi lối suy nghĩ và cảm giác theo thói quen của chúng ta.
Chúng ta sẽ thấy biết bao đau khổ sinh ra khi chúng ta nghĩ đến danh từ Ta
và Của Ta. Lúc ấy chúng ta sẽ không còn chấp nữa.
Hạnh phúc và Đau khổ
Một thanh niên Tây phương vừa mới đến một trong những tu viện trong
rừng của Ngài Ajahn Chah xin ở lại hành thiền.
Câu trả lời đầu tiên của Ngài là:
-- Tôi hy vọng anh không sợ đau khổ.
Hơi bất ngờ và sửng sốt một chút trước câu nói, chàng thanh niên giải
thích rằng anh ta không phải đến đây để đau khổ mà muốn đến đây để học
thiền và sống trong yên tĩnh trong rừng.
Ajahn Chah giải thích:
-- Có hai loại đau khổ: đau khổ dẫn đến đau khổ hơn, và đau khổ dẫn đến
chấm dứt đau khổ. Nếu anh không muốn gặp loại đau khổ thứ hai thì anh chắc
chắn sẽ gặp loại đau khổ đầu tiên.
Lối dạy của Ajahn Chah thường thẳng thắn và trực tiếp. Khi gặp các vị
sư học trò của Ngài trong khuôn viên thiền viện, Ngài thường hỏi, "Hôm nay
sư có đau khổ nhiều không?" Nếu có vị sư nào trả lời "Có," Ngài sẽ nói,
"Tốt lắm, sư phải mừng và mong muốn được như ngày hôm nay" và Ngài cười
với nhà sư về chuyện này.
Bạn đã từng có hạnh phúc chưa? Bạn đã từng gặp đau khổ chưa? Bạn có
từng xét xem hai loại trên, loại nào thực sự có giá trị hơn chưa? Nếu đúng
là hạnh phúc thì nó sẽ không bao giờ mất. Có thể như vậy được không? Bạn
phải nghiên cứu điểm này để thấy sự chân xác và thực tế. Sự nghiên cứu
này, sự hành thiền này dẫn đến Chánh Kiến.
Tâm phân biệt
Nghĩa rốt ráo của Chánh Kiến là không phân biệt. Thấy mọi người như
nhau, không tốt cũng không xấu, không thông minh cũng không ngu dốt. Đừng
nghĩ rằng mật ong ngọt và tốt, còn một số thực phẩm khác thì đắng và xấu.
Mặc dầu bạn có thể ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, nhưng khi cơ thể hấp
thụ và bài tiết ra ngoài chúng đều giống nhau. Một cái ly được xem là lớn
khi so sánh với một cái chén nhỏ. Nhưng khi đặt cạnh cái bình thì ly không
còn lớn nữa.
Tâm phân biệt phát xuất từ tham muốn và si mê, nó nhuộm màu mọi vật
bằng lối này. Đó là thế giới do chính chúng ta tạo ra. Như vậy cái ly vốn
không lớn không nhỏ. Cảm thấy lớn hay nhỏ do tâm phân biệt của chúng ta.
Chúng ta dùng tham ái và si mê để so sánh với cái khác nên có sự phân biệt
lớn nhỏ.
Luôn luôn có sự bất đồng trên thế giới này. Xem xét sự bất đồng của
chúng, đồng thời tìm hiểu luôn sự tương đồng nữa. Những người đến đây khác
biệt nhau về văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng đừng nghĩ rằng: "Đây là người
Thái, đây là người Lào, đây là người Tây phương." Hãy có sự hiểu biết hỗ
tương và tôn trọng lối sống của nhau. Học thấy những điểm tương đồng bên
trong mọi vật, tất cả đều thật sự tương đồng, đều trống rỗng. Khi đã học
được, biết được sự tương đồng bên trong mọi vật, lúc bấy giờ bạn sẽ biết
cách cư xử và đối diện với những bất đồng bên ngoài một cách khôn ngoan và
hiểu biết. Nhưng cũng đừng dính mắc với sự tương đồng nữa.
Tại sao đường thì ngọt mà nước lã thì chẳng có vị gì cả? Bởi vì bản
chất của chúng là vậy. Suy nghĩ hay tĩnh lặng, đau khổ hay khoái lạc cũng
thế -- muốn đừng suy nghĩ nữa là một chuyện sai lầm. Đôi lúc suy nghĩ, đôi
lúc yên tịnh. Chúng ta phải thấy cả hai đều có cùng bản chất vô thường,
bất toại nguyện và đều không đem lại hạnh phúc vĩnh cửu. Nhưng nếu chúng
ta băn khoăn lo lắng và suy nghĩ xa hơn: "Tôi đau khổ, tôi muốn không suy
nghĩ," thì chúng ta đã làm mọi chuyện trở nên phức tạp bởi quan kiến sai
lầm của mình.
Vào lúc chúng ta cảm thấy suy nghĩ là đau khổ, chẳng khác nào chúng ta
đang bị cướp. Chúng ta phải làm thế nào để chấm dứt sự suy nghĩ đây? Ban
ngày, trời sáng. Ban đêm, trời tối. Phải chăng đau khổ nằm trong sự sáng
hay tối này? Chỉ khi chúng ta so sánh sự vật hiện tại với những gì mà ta
đã gặp trước đây, hoặc chúng ta mong mỏi chúng xẩy ra trong chiều hướng mà
chúng ta mong đợi, chúng ta mới đau khổ. Một cách rốt ráo thì sự vật là
như vậy, như vậy -- chỉ vì chúng ta so sánh nên mới nhận lấy đau khổ.
Khi thấy Tâm làm việc, bạn có xem nó là chính bạn hay là cái của bạn
không? Bạn sẽ trả lời: "Tôi không biết nó có phải là tôi hay của tôi
không, nhưng chắc chắn là tôi không kiểm soát được nó." Nó như một con khỉ
nhẩy nhót vô ý thức. Nó chạy lên lầu, thấy chán nó lại chạy xuống lầu; mệt
mỏi, đi xem chớp bóng, lại chán nữa; đi ăn, cũng chán nữa. Những hành động
này được điều khiển bởi những hình thức khác nhau của chán ghét và sợ hãi.
Bạn phải học cách kiểm soát. Đừng lo cho con khỉ nữa mà hãy lo cho chân
lý của cuộc sống. Hãy nhìn bản chất thật sự của tâm: vô thường, bất toại
nguyện và trống rỗng. Phải học cách làm chủ nó. Nếu cần thì xích nó lại.
Hãy để nó tự làm mệt nhoài rồi chết. Thế rồi, bạn có con khỉ chết. Hãy để
cho xác khỉ chết thối rữa ra, bạn sẽ có xương khỉ.
Giác ngộ không có nghĩa là chết và bất động như một pho tượng Phật.
Người giác ngộ cũng suy nghĩ, nhưng biết tiến trình suy nghĩ đó là vô
thường, bất toại nguyện, và không có tự ngã. Người hành thiền sẽ thấy
những điều này một cách rõ ràng. Chúng ta cần phải truy tầm đau khổ và
chận đứng nguyên nhân gây ra khổ đau. Nếu không thấy được điều đó thì trí
tuệ sẽ không bao giờ nẩy sinh. Không nên đoán mò mà phải thấy sự vật một
cách rõ ràng và chính xác, đúng theo thực tướng của nó -- cảm giác chỉ là
cảm giác; suy nghĩ chỉ là suy nghĩ. Đó là cách thức chấm dứt mọi vấn đề
của chúng ta.
Chúng ta có thể xem tâm như một đóa sen. Một số sen vẫn còn nằm trong
bùn; một số vượt ra khỏi bùn nhưng vẫn còn ở dưới mặt nước; một số khác đã
vươn đến mặt nước; và một số khác nữa đã nở rộ và toả hương thơm dưới ánh
nắng mặt trời. Bạn muốn mình là loại hoa nào đây? Nếu bạn thấy mình còn
nằm dưới mặt nước thì phải coi chừng lũ cá và bày rùa!
Theo thầy
Muốn hành thiền tiến bộ, bạn phải có một vị thầy để dạy dỗ và hướng dẫn
bạn. Có nhiều hiểu biết sai lầm về sự tập trung tâm ý, nhiều hiện tượng
bất thường sẽ xẩy ra trong lúc bạn hành thiền. Lúc chúng xẩy ra, vị thầy
sẽ kịp thời hướng dẫn và đặc biệt điều chỉnh những sai lầm của bạn. Những
điểm thầy sửa chữa thường là những điểm mà bạn đinh ninh là mình đúng.
Trong những tư tưởng phức tạp của bạn, một quan điểm phát sinh có thể đối
nghịch với những quan điểm khác làm bạn bối rối. Kính trọng thầy và tuân
theo những qui định và hệ thống mà thầy đã đưa ra. Thầy dạy làm gì phải
làm theo. Thầy khuyên không nên làm điều gì phải nghe theo lời thầy. Những
lời thầy dạy thường giúp bạn tinh tấn khiến tri kiến phát khởi trong tâm
bạn. Nếu bạn làm đúng theo lời khuyên của tôi, bạn sẽ thấy và hiểu rõ.
Vị chân sư thường chỉ dạy những cách hành thiền khó khăn đòi hỏi nhiều
nỗ lực của bạn để loại bỏ tự ngã. Dầu có gì xẩy ra cũng đừng bỏ thầy. Hãy
để thầy hướng dẫn vì bạn rất dễ quên đường thực hành.
Than ôi, rất ít người nghiên cứu Phật giáo thật sự muốn hành thiền. Tôi
khẩn khoản khuyên họ hành thiền, nhưng họ chỉ có thể học hỏi nghiên cứu
theo lối thuần lý mà thôi.
Cái gì còn mới thì đều tốt đẹp
Ngài Ajahn Chah đến thăm một trung tâm thiền ở Hoa kỳ. Các thiền sinh ở
đây rất hân hoan thích thú trước những lời dạy của Ngài.
Ngài dùng lời lẽ rõ ràng, trực tiếp, dí dỏm và đầy tình thương khi đề
cập đến sự luyến ái và nỗi sợ hãi của con người.
Còn gì sung sướng và thích thú hơn khi được một vị thiền sư tài ba và
nổi tiếng như Ngài Ajahn Chah đến thăm.
Được thưởng thức những câu chuyện ý nhị, được nhìn những nhà sư với
chiếc y vàng khiêm nhường, được nghe giáo pháp qua lối diễn đạt mới mẻ nên
các thiền sinh rất thích thú yêu cầu Ngài:
-- Xin Ngài hãy ở lại đây thêm một thời gian, đừng về sớm như chương
trình đã định. Chúng tôi rất sung sướng được học hỏi với Ngài.
Ngài cười nói:
-- Cái gì mới thì đều tốt đẹp. Nhưng nếu tôi ở đây dạy các bạn và bắt
các bạn thực hành, các bạn sẽ mệt mỏi vì chán tôi. Phải vậy không? Việc
thực hành của các bạn sẽ ra sao khi niềm hân hoan phấn khởi tan biến?
Chẳng bao lâu các bạn sẽ ngấy tôi thôi. Làm thế nào để tâm bất an và tâm
mong mỏi này chấm dứt? Ai có thể dạy bạn điều này? Bạn chỉ có thể học từ
nơi Chân Pháp mà thôi.
Hãy để cho cây mọc tự nhiên
Đức Phật dạy rằng sự vật diễn biến theo đường lối riêng của nó. Một khi
bạn đã làm điều gì, bạn chẳng cần phải nhọc công theo dõi kết quả của nó,
hãy phó mặc cho thiên nhiên, để cho nghiệp lực tự vận hành và tích lũy. Nỗ
lực tinh tấn không ngừng, đó là việc của bạn. Còn chuyện trí tuệ đến nhanh
hay chậm chẳng cần để ý làm gì. Bạn không thể thúc ép nó được. Chẳng khác
nào khi trồng cây bạn không thể thúc ép cây mọc nhanh hơn. Cây có bước
tiến của nó. Nhiệm vụ của bạn là đào lỗ, trồng cây, tưới nước, bón phân,
trừ sâu, v. v. Nhưng cây mọc thế nào là chuyện của cây. Việc hành thiền
của bạn cũng vậy. Bạn hãy vững tin là mọi chuyện sẽ tốt đẹp: cây của bạn
sẽ mọc tốt.
Thế nên bạn phải biết việc làm của bạn khác với việc làm của cây. Hãy
để cho cây lo cho cây và bạn làm bổn phận của bạn. Nếu tâm không biết làm
việc gì nó cần phải làm thì nó sẽ thúc ép cây mọc nhanh, đơm hoa kết trái
trong vòng một ngày. Đó là quan kiến sai lầm, nguyên nhân của đau khổ. Cứ
hành thiền đúng và để phần còn lại cho nghiệp lực của bạn. Và, dầu cho nó
có trải qua một đời, trăm đời hay ngàn đời đi nữa cũng chẳng ăn nhằm gì,
việc hành thiền của bạn sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp.
Tại sao phải hành thiền?
Một nhóm người hành hương đến thăm Ngài Ajahn Chah, hỏi Ngài ba câu hỏi
lớn:
1. Tại sao Ngài hành thiền?
2. Ngài hành thiền như thế nào?
3. Kết quả việc hành thiền của Ngài ra sao?
Nhóm người hành hương này là những vị đại diện cho một tổ chức tôn giáo
Âu Châu đã đến gặp nhiều thiền sư ở Á Châu để hỏi những câu hỏi trên.
Nghe ba câu hỏi này, Ngài Ajahn Chah nhắm mắt, trầm ngâm một lát, rồi
trả lời bằng cách hỏi lại ba câu hỏi khác:
1. Tại sao quí vị ăn?
2. Quí vị ăn như thế nào?
3. Sau khi ăn xong quí vị cảm thấy ra sao?
Nói xong Ngài cười.
Về sau Ngài giải thích rằng: Những lời dạy của Đức Phật nhằm mục đích
hướng dẫn mọi người hãy trở về với Trí Tuệ nội tại của mình, trở về với
Giáo Pháp tự nhiên của mình. Bởi thế nên Ngài muốn nhắc nhở những vị hành
hương này không cần phải đi khắp Á Châu tìm kiếm lời giải đáp mà hãy trở
về tìm hiểu phần bên trong của mình.
Thiền trong mọi tác động
Chánh tinh tấn không phải là cố gắng làm cho một điều gì đặc biệt phát
sinh. Đó là cố gắng ý thức và tỉnh thức trong mọi lúc, cố gắng chế ngự sự
lười biếng và phiền não, cố gắng thực hiện trong tỉnh thức mọi tác động
hàng ngày của chúng ta.
Giữ rắn trong tay
Ngài Ajahn Chah nói với một nhà sư mới:
-- Việc hành thiền ở đây là không nắm giữ một thứ gì.
Nhà sư mới phát biểu:
-- Nhưng có vài thứ đôi khi cần nắm giữ chứ!
Ngài trả lời:
-- Đúng thế, nhưng bằng tay chứ không phải bằng tâm. Khi tâm nắm giữ sự
đau khổ thì chẳng khác nào bị rắn cắn. Và thích thú nắm giữ cái gì với tâm
tham ái chẳng khác nào nắm lấy đuôi rắn: ta chỉ nắm được một thời gian
ngắn thôi, vì sau đó không lâu, rắn sẽ quay đầu lại cắn ta.
Lấy chánh niệm và không luyến ái làm người canh giữ tâm mình, như cha
mẹ giữ con cái. Rồi thì yêu và ghét sẽ đến gọi tâm bạn như con cái đến gọi
cha mẹ: "Má ơi! Con không thích cái này!" "Ba ơi! Con muốn nhiều hơn,"
"Được!" "Nhưng má ơi! Con thích có một con voi!" "Được!" "Con muốn ăn kẹo!
Con muốn đi máy bay!" Tất cả đều chẳng có gì quan trọng nếu bạn để cho mọi
sự vật đến và đi, một cách tự nhiên mà không nắm giữ.
Khi giác quan tiếp xúc với sự vật thì yêu và ghét phát sinh, và si mê
đi liền theo đó. Nhưng với chánh niệm thì cũng với sự tiếp xúc đó, nhưng
trí tuệ phát sinh.
Khi bạn bị bắt buộc phải có mặt tại một nơi có nhiều chuyện quấy rầy
giác quan bạn, bạn đừng ngại, hãy tự nhiên, vì Giác Ngộ không có nghĩa là
điếc và mù. Chỉ cần chú tâm chánh niệm là đủ. Đừng khờ dại nghe theo kẻ
khác một cách mù quáng. Khi nghe ai nói "Cái này đẹp," hãy tự nhủ "Không
phải thế." Khi nghe ai nói "Cái này tuyệt diệu," hãy tự nhủ "Không phải
thế." Đừng để dính mắc vào tham ái của thế gian. Đừng để dính mắc vào
những phán đoán của thiên hạ. Hãy để mọi chuyện trôi qua một cách tự
nhiên.
Một số người sợ sự bố thí. Họ cảm thấy sẽ bị bóc lột hay bị áp chế khi
phải cho ai một cái gì. Họ nghĩ họ cần phải lo cho chính họ. Muốn phát
triển tâm bố thí, chúng ta cần phải đè nén tính tham ái và dính mắc. Nhờ
thế bản chất thực sự của chúng ta sẽ tự hiển lộ, trở nên nhẹ nhàng hơn và
giải thoát hơn.
Giới hạnh
Có hai trình độ thực hành giáo pháp. Gìn giữ giới luật là phần căn bản
đầu tiên. Giới luật đem lại hạnh phúc, thoải mái và hòa hợp. Thứ đến --
tích cực hơn, không liên quan đến sự thoải mái -- đó là thực hành giáo
pháp của Đức Phật để tỉnh thức và giải thoát tâm mình ra khỏi mọi ràng
buộc. Những lời giáo huấn của Đức Phật đều nhắm đến mục tiêu này. Muốn
thực hành đúng đắn giáo pháp của Đức Phật, phải hiểu rõ giới luật và pháp
hành.
Giới hạnh là cha mẹ của giáo pháp nẩy nở trong chúng ta. Giới hạnh cung
cấp thức ăn bổ dưỡng và chỉ cho chúng ta hướng đi đích thực.
Giới hạnh là điều kiện căn bản để tạo nên một thế giới hài hòa, trong
đó con người thực sự sống như một con người, chứ không phải như loài cầm
thú.
Giữ giới luật là điều chính yếu trong việc hành thiền. Giới rất đơn
giản. Chỉ có năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh,
không nói dối và không dùng chất say làm mất chánh niệm. Suốt đời trau
giồi tâm nhân ái, trọng tha nhân. Thận trọng trong ngôn ngữ và hành động,
đó là của cải của bạn. Nếu dùng giới luật làm căn bản cho mọi hành động,
tâm bạn sẽ hiền hòa, trong sáng và yên tĩnh. Thiền sẽ dễ dàng phát triển
trên mảnh đất này.
Đức Phật dạy: "Làm điều lành, lánh xa điều ác, giữ tâm trong sạch."
Việc hành thiền của chúng ta cũng vậy: "Lánh xa điều xấu và giữ gìn điều
tốt." Những điều xấu xa có còn tồn tại trong tâm bạn không? Dĩ nhiên là
còn! Tại sao không quét dọn nhà cửa sạch sẽ?
Trong việc thực hành đúng đắn, làm điều lành lánh xa điều ác là một
việc tốt, nhưng nó có hạn chế, vì cuối cùng chúng ta phải bước qua cái tốt
lẫn cái xấu. Giải thoát bao gồm tất cả và không dính mắc gì cả. Từ sự
không dính mắc này, tình thương và trí tuệ lưu chuyển một cách tự nhiên.
Chánh tinh tấn và trí tuệ không phải là vấn đề bên ngoài mà là sự bền
tâm tỉnh thức và tự chế bên trong. Như vậy, sự bố thí, nếu làm với ý tốt
có thể đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng đức hạnh phải là gốc
rễ thì lòng từ thiện này mới hoàn toàn trong sáng.
Người không hiểu giáo pháp, khi làm điều gì sai quấy, thường nhìn trước
nhìn sau xem thử có ai thấy không. Thật khờ dại làm sao! Phật, Pháp và
Nghiệp luôn luôn theo dõi họ. Bạn có nghĩ rằng Đức Phật không thể thấy xa
như vậy chăng? Không có gì kín đáo trên cõi đời này!
Săn sóc và giữ gìn giới luật như người làm vườn săn sóc giữ gìn cấy
cối. Không bị dính mắc vào cây lớn, cây nhỏ, cây quan trọng và cây không
quan trọng. Một số người muốn đi đường tắt -- họ nói "Bỏ qua Thiền Định,
ta đi ngay vô Thiền Quán; bỏ qua giới luật, ta đi ngay vào Thiền Định."
Chúng ta có nhiều lý do để bào chữa cho lòng tham ái của chúng ta.
Chúng ta phải bắt đầu ngay nơi chúng ta hiện đang có mặt, trực tiếp và
đơn giản. Hai bước đầu tiên là hoàn thành giới luật và chánh kiến. Rồi
bước thứ ba là nhổ gốc rễ phiền não, sẽ tự nhiên xuất hiện. Cũng như lúc
đèn được thắp lên, chúng ta chẳng cần phải lo lắng đến việc xóa tan bóng
tối. Chẳng cần thắc mắc bóng tối đã đi phương nào. Chúng ta chỉ biết có
ánh sáng.
Có ba mức độ giữ giới. Đầu tiên là thọ giới từ vị thầy. Thứ đến là giữ
giới và sống trong giới. Ở mức cao nhất, cỡ các bậc thánh nhân, các Ngài
chẳng cần nghĩ đến giới luật, đến đúng sai. Chân giới đến từ trí tuệ, hiểu
thấu đáo Tứ Diệu Đế. Hành động của các Ngài phát xuất một cách tự nhiên từ
sự chứng ngộ này.
Giới, Định, và Tuệ
Đức Phật chỉ dạy con đường thoát khổ -- nguyên nhân khổ đau và con
đường thực hành. Trong việc thực hành của tôi, tôi chỉ biết có con đường
đơn giản này thôi. Con đường thoát khổ, tốt đẹp ở giai đoạn đầu: Giới; tốt
đẹp ở giai đoạn giữa: Định; và tốt đẹp ở giai đoạn cuối: Tuệ. Nếu xem xét
một cách kỹ càng, chúng ta sẽ thấy cả ba nhập một. Chúng ta thử xét xem ba
yếu tố tương quan này.
Thực hành giới như thế nào? Thực ra muốn thực hành giới ta phải bắt đầu
bằng trí tuệ. Thói thường ta nói giữ giới hay trì giới trước. Nhưng muốn
cho giới thành tựu trọn vẹn, ta phải có trí tuệ để hiểu rõ những gì bao
hàm trong giới. Khởi đầu, chúng ta phải xem xét thân thể và ngôn ngữ của
chúng ta, tìm hiểu tiến trình nhân quả. Khi quan sát thân thể và lời nói
để thấy phương cách chúng ta gây ra tai hại, bạn sẽ bắt đầu hiểu, kiểm
soát và trong sạch hóa nhân quả.
Nếu bạn biết được thế nào là hành động và ngôn ngữ bất thiện, thế nào
là hành động và ngôn ngữ thiện, bạn đã biết được cách thực hành để "khử ác
vi thiện" (bỏ ác làm lành). Khi bạn bỏ ác làm lành, tâm bạn sẽ ổn định và
tập trung. Sự định tâm này chế ngự được dao động và hoài nghi. Với tâm
tĩnh lặng này, bạn có thể quan sát và thấy rõ hình sắc và âm thanh khi
chúng xuất hiện. Nhờ không để tâm phóng đi nơi khác, bạn sẽ thấy rõ bản
chất của mọi diễn biến đúng theo chân lý. Khi sự hiểu biết này trực tiếp,
trí tuệ sẽ phát sinh.
Lúc bấy giờ Giới, Định và Tuệ có thể biến thành một. Khi chúng chín mùi
là Bát Chánh Đạo. Khi Tham, Sân, Si xuất hiện, chỉ có Bát Chánh Đạo mới đủ
khả năng tiêu diệt chúng.
Giới, Định, Tuệ phải được phát triển để hỗ trợ lẫn nhau. Bất kỳ đối
tượng gì hiện ra ở sáu căn, Đạo đều kiểm soát được. Nếu Đạo mạnh thì có
thể tiêu diệt được phiền não -- Tham, Sân, Si. Nếu Đạo yếu, phiền não sẽ
nắm quyền kiểm soát và giết chết tâm chúng ta. Vì không hiểu rõ chân tướng
của lục trần nên khi lục trần xuất hiện, ta để nó tự do tàn phá, hủy hoại
chúng ta.
Đạo và phiền não hoạt động song hành. Người học giáo pháp phải luôn
luôn hài lòng với cả hai. Giống như trường hợp hai người đánh nhau. Khi
Đạo nắm quyền điều khiển thì Đạo sẽ giúp sức cho chánh niệm. Nếu bạn duy
trì được chánh niệm thì phiền não sẽ nhận phần thất bại khi nó muốn tái
chiến. Nếu sự tinh tấn của bạn đi theo đường Đạo, nó sẽ tiếp tục diệt trừ
phiền não. Nếu Đạo yếu, phiền não sẽ chiếm ưu thế, lúc ấy tham ái, si mê
và lo âu sẽ hiện khởi. Đau khổ chỉ phát sinh khi Giới, Định, Tuệ yếu.
Khi đau khổ phát sinh thì khả năng để tiêu diệt lo âu biến mất. Chỉ có
Giới, Định, Tuệ mới giúp cho Đạo hồi sinh. Khi Giới, Định, Tuệ khai triển,
Đạo sẽ bắt đầu khôi phục chức năng và liên tục hoạt động để hủy diệt
nguyên nhân phát sinh đau khổ trong mọi lúc và mọi nơi.
Cuộc chiến đấu này sẽ kéo dài cho đến lúc một bên chiến thắng và vấn đề
sẽ được ngã ngũ. Như thế đấy! Vậy các bạn hãy kiên trì thực hành không
ngừng nghỉ.
Việc hành đạo bất đầu tại đây và ngay bây giờ. Đau khổ và giải thoát
hay Đạo ở tại đây và ngay bây giờ. Những lời dạy của Đức Phật như giới
luật và trí tuệ trực chỉ hướng đến tâm. Nhưng hai yếu tố Đạo và Phiền Não
này tranh nhau cho đến cùng. Bởi thế phải dùng khí cụ thực hành thật khó
khăn, nặng nề. Bạn cần phải kiên nhẫn, chịu đựng và tinh tấn đúng mức. Sau
đó chân trí tuệ sẽ tự đến.
Giới, Định, Tuệ tạo nên Đạo. Nhưng Đạo không phải là Chân Pháp, không
phải là mục tiêu. Đạo chỉ là con đường dẫn đến mục tiêu. Như bạn muốn đi
từ Bangkok đến thiền viện Wat Pah Pong chẳng hạn. Con đường rất cần thiết
cho hành trình của bạn, nhưng mục tiêu của bạn là thiền viện, chứ không
phải con đường. Cũng thế ấy, chúng ta có thể nói rằng Giới, Định, Tuệ ở
ngoài giáo pháp của Đức Phật, nhưng là con đường dẫn đến chân lý này. Khi
bạn phát triển ba yếu tố này, kết quả sẽ là sự bình an kỳ diệu nhất. Trong
sự bình an này, hình sắc và âm thanh không còn đủ sức mạnh để quấy nhiễu
tâm bạn. Bạn không còn gì phải làm nữa. Bởi vậy, Đức Phật dạy chúng ta
phải vất bỏ hết những gì đang nắm giữ không chút ngần ngại. Được thế, bạn
sẽ tự mình hiểu được sự bình an này và không còn phải dựa vào một ai khác.
Tuy nhiên, không nên vội đo lường sức tiến bộ của mình. Chỉ cần thực
hành mà thôi. Ngoài ra, nếu mỗi khi tâm bạn an tịnh, bạn lại hỏi: "Phải
đây không?" thì mọi nỗ lực đều tiêu tan. Không có dấu hiệu gì để nhận thật
sự tiến bộ của bạn, như dấu hiệu, "Đây là con đường đên Thiền viện Wat Pah
Pong." Hãy vứt bỏ mọi tham ái và kỳ vọng, hãy nhìn thẳng vào hướng đi của
tâm.
Đừng bắt chước
Người ta thường có khuynh hướng bắt chước theo thầy của mình. Họ trở
thành bản sao, hình chụp hay rập khuôn theo thầy. Chẳng khác nào chuyện
người huấn luyện ngựa cho nhà vua sau đây.
Người huấn luyện ngựa cho nhà vua chết, nhà vua thuê một người huấn
luyện mới. Bất hạnh thay người mới này bị kiễng chân. Những con ngựa mới
và chọn lọc kỹ càng được mang đến cho y. Và y đã huấn luyện chúng thuần
thục: chạy, phi nước kiệu, kéo xe, v. v., nhưng tất cả những con ngựa nhỏ
đều có bước đi khập khiễng. Thấy lạ, nhà vua cho gọi người huấn luyện đến
hỏi. Khi thấy y khập khiễng bước vào chầu, nhà vua hiểu ra mọi lẽ và tức
khắc mướn một người huấn luyện ngựa khác.
Là những vị thầy, quí sư phải ý thức đến sức mạnh của những cử chỉ và
lối sống, lối tu hành của mình. Và quan trọng hơn, là học trò, các bạn
không nên bắt chước theo hình ảnh, tư thái bên ngoài của thầy mình. Vị
thầy chỉ muốn bạn kiện toàn phần nội tâm của bạn. Hãy lấy trí tuệ nội tại
của bạn làm mô mẫu, đừng bắt chước dáng đi khập khiễng của thầy.
Thế nào là tự nhiên
Nhiều người muốn hành đạo một cách "tự nhiên." Họ than phiền rằng lối
sống ở đây không hợp tự nhiên.
Tự nhiên là cây trong rừng. Nhưng nếu bạn cất một ngôi nhà trong đó,
phải chăng sự tự nhiên không còn nữa? Nếu bạn biết cách sử dụng cây, xẻ gỗ
và cất nhà, cây sẽ có giá trị với bạn nhiều hơn. Hoặc giả như con chó tự
nhiên chạy đây chạy đó theo sau cái mũi của nó. Ném một khúc xương thì cả
đám chó chạy đến cấu xé nhau. Phải chăng đó là tự nhiên mà bạn muốn?
Nghĩa đúng thực của tự nhiên có thể khám phá ra bằng giới luật và sự
hành thiền. Sự tự nhiên này vượt qua thói quen, điều kiện và nỗi sợ hãi
của chúng ta. Nếu để tâm con người tự do tiến đến cái gọi là tự nhiên theo
cảm tính, không cần rèn luyện -- cảm xúc thế nào thì làm theo thế ấy, thì
tâm sẽ dẫy đầy tham lam, sân hận, si mê. Và đau khổ cũng phát sinh từ đấy.
Qua thực hành chúng ta có thể cho phép cây trí tuệ và tình thương
trưởng thành một cách tự nhiên, bất kỳ nơi đâu, cho đến khi nó đơm hoa kết
trái.
Điều hòa
Ba điểm căn bản thực hành là Thu Thúc Lục Căn (nghĩa là không chìm đắm
và dính mắc trong dục lạc ngũ trần), Ăn Uống Tiết Độ và Tỉnh Thức.
1. Thu Thúc Lục Căn: Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một cơ thể bất
bình thường: mù, điếc, vẹo, v. v., nhưng rất khó khăn nhận ra một tâm hồn
bất thường. Khi bắt đầu hành thiền, bạn sẽ thấy mọi sự khác hẳn. Bạn sẽ
thấy một tâm hồn "méo mó" mà trước đây bạn thấy có vẻ bình thường. Bạn sẽ
thấy nguy hiểm ở nơi mà trước đây bạn không thấy. Điều này giúp bạn thu
thúc. Bạn trở nên nhạy cảm, như người đi vào rừng sâu ý thức được mối nguy
hiểm của thú dữ, rắn độc, gai nhọn, v. v. Người có vết thương mới, rất
thận trọng trước sự nguy hiểm của ruồi và muỗi độc. Cũng vậy, đối với
người hành thiền, mối nguy hiểm phát xuất từ các đối tượng của giác quan
(lục trần). Bởi thế, thu thúc lục căn là loại đức hạnh cao nhất.
2. Tiết Độ Ăn Uống: Ăn chay thì dễ, nhưng ăn ít và tiết độ như một
thiền sinh thì thật khó khăn. Thay vì ăn chay thường xuyên, hãy học cách
ăn trong chánh niệm. Ý thức được nhu cầu thực sự của mình; học cách phân
biệt giữa muốn và cần.
Đào luyện cơ thể không phải là tự hành hạ mình. Không ngủ, không ăn đôi
lúc có vẻ cực đoan, nhưng nó có giá trị của nó. Bạn phải thực sự muốn
chống lại sự biếng nhác và phiền não. Khuấy động chúng lên và quan sát
chúng. Một khi hiểu được chúng thì những sự thực hành có vẻ cực đoan trên
sẽ không cần thiết nữa. Đó là lý do tại sao chúng ta phải ăn, ngủ, nói ít
lại -- nhằm đè nén tâm luyến ái và khiến chúng tự lộ diện.
3. Tỉnh Thức: Muốn có chánh niệm thì phải có nỗ lực liên tục, chứ
không phải chỉ siêng năng một lúc rồi thôi. Dầu bạn hành thiền suốt đêm,
nhưng những lúc khác bạn để cho lười biếng ngự trị thì cũng không phải là
hành thiền đúng. Phải luôn luôn quan sát, theo dõi tâm như cha mẹ theo dõi
con cái, bảo vệ chúng không để chúng làm bậy, dạy cho chúng biết điều
đúng.
Thật là sai lầm khi nghĩ rằng có đôi lúc bạn không có cơ hội để hành
thiền. Bạn phải luôn luôn nỗ lực để hiểu chính mình, điều này cũng cần
thiết như sự hô hấp của bạn, bạn phải tiếp tục thở bất kỳ trong hoàn cảnh
nào. Nếu bạn không thích một vài hoạt động nào đó, như tụng kinh hay làm
việc chẳng hạn, và bạn đã vất bỏ chúng để hành thiền, như thế thì bạn
chẳng bao giờ được Tỉnh thức.
Hãy nương tựa vào mình
Đức Phật dạy người nào muốn hiểu biết thì phải tự mình thấy rõ chân lý.
Thế nên không có chút khác biệt nào giữa những lời tán dương và câu chỉ
trích. Dầu người ta nói thế nào cũng không quấy rầy được bạn. Một người
không tự tin sẽ cảm thấy mình xấu khi bị kẻ khác chê xấu. Hãy tự xét. Nếu
họ nói sai, hãy quên đi; nếu họ nói đúng, hãy học theo họ. Bất kỳ trường
hợp nào xẩy ra cũng chẳng có gì. Tại sao phải giận dữ? Nếu bạn có thể nhìn
sự vật như vậy, bạn sẽ thật sự bình an. Chẳng có cái gì là sai cả; tất cả
đều là Pháp. Nếu bạn thật sự sử dụng khí cụ mà Đức Phật đã ban cho bạn,
bạn sẽ không cần phải ganh tị với người khác nữa. Trong khi những kẻ lười
biếng chỉ muốn nghe và tin, bạn có tự tín và có thể kiếm sống bằng sự nỗ
lực của chính mình.
Tuy thế, nếu khi thực hành bạn chỉ sử dụng những gì bạn có thì cũng
phiền toái bởi vì chúng là của bạn. Ban đầu, có lúc bạn nghĩ việc hành
thiền thật khó khăn và bạn đã khư khư nắm giữ những cái tốt của kẻ khác.
Thế rồi, Đức Phật dạy bạn phải làm với những gì bạn có và bạn nghĩ rằng
mọi chuyện đều êm xuôi tốt đẹp. Nhưng rồi bạn lại thấy khó khăn nữa, Đức
Phật lại dạy thêm: Nếu bạn dính mắc và nắm giữ điều gì, dầu của chính bạn
hay của ai đi nữa, bạn cũng gặp phiền toái. Nếu bạn chạy vào bếp nhà hàng
xóm nắm một cục lửa, bạn sẽ bị phỏng tay. Nếu bạn nắm cục lửa nhà bạn, bạn
cũng bị phỏng tay như thường. Vậy thì đừng nắm giữ gì cả.
Đó là lối thực tập áp dụng ở đây -- phương pháp trực tiếp. Tôi không
bằng lòng với ai. Nếu bạn đem kinh điển hay tâm lý học tranh cãi với tôi,
tôi sẽ không tranh cãi. Tôi chỉ trình bày cho thấy nhân và quả, để bạn
hiểu chân lý của pháp hành. Chúng ta tất cả đều phải nương tựa nơi chính
mình.
Biết mình, biết người
Hãy tìm hiểu chính thân tâm của bạn, bạn sẽ hiểu người khác. Gương mặt,
cử chỉ, hành động của một người phát xuất từ trạng thái tâm của người ấy.
Đức Phật có thể đọc được chúng bởi vì Ngài có kinh nghiệm và nhìn thấy với
trí tuệ trạng thái tâm làm căn bản cho những biểu lộ ấy. Cũng như một
người già lão luyện đã trải qua thời thơ ấu hiểu rõ tâm lý trẻ con.
Sự "tự tri" này khác với trí nhớ. Người già có thể bên trong rất sáng,
nhưng bên ngoài có vẻ lờ đờ. Đọc sách để học hỏi đối với họ rất khó khăn
vì họ quên tên, quên mặt, v. v. Có thể họ biết rõ ràng họ cần một cái
thau, nhưng vì trí nhớ kém, họ nói lấy cho họ một cái ly.
Nếu bạn thấy tình trạng sinh diệt trong tâm và không dính mắc vào tiến
trình, để trôi qua cả hạnh phúc lẫn đau khổ thì sự tái sinh của tâm sẽ
ngắn dần, ngắn dần. Để cho chúng trôi qua, dù bạn có rơi vào địa ngục đi
nữa cũng đừng lo lắng thái quá, bởi vì bạn biết rằng địa ngục cũng vô
thường. Hành thiền đúng đắn thì bạn sẽ thản nhiên nhìn nghiệp cũ diễn ra
và tiêu dần. Hiểu biết cách sinh diệt của sự vật, bạn chỉ cần tỉnh thức,
chánh niệm rồi để chúng tự nhiên trôi chảy theo dòng của chúng. Cũng như
trường hợp có hai cội cây. Nếu bạn vun phân tưới nước cho một cây và bỏ
mặc cây kia thì chẳng cần thắc mắc tại sao một cây lên tốt, còn một cây
thì èo uột.
Để mặc người ta
Đừng tìm lỗi người. Nếu cách cư xử của họ sai lầm, bạn cũng chẳng cần
làm khổ mình mà chi. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn
không sửa đổi, hãy để yên như thế.
Đức Phật đã từng theo học với nhiều thầy. Ngài thấy phương pháp của
thầy thiếu sót, nhưng Ngài không dèm pha hay làm thầy mất thể diện. Nhờ
học hỏi với thái độ khiêm nhường và tôn trọng nên Ngài thâu thập lợi ích
trong khi sống với các thầy. Thật vậy, học với họ Ngài mới biết hệ thống
của họ chưa hoàn hảo. Lại nữa, khi Ngài thành đạo, Ngài không chỉ trích
hay tìm cách dạy lại họ. Sau khi giác ngộ, Ngài kính cẩn nhớ lại những vị
thầy Ngài đã theo học và muốn chia xẻ với họ sự hiểu biết mà Ngài mới tìm
ra.
Tình yêu thật sự
Tình yêu thật sự là trí tuệ. Tình yêu như phần lớn mọi người nghĩ chỉ
là một cảm giác tạm. Có một món ăn thật ngon, nhưng nếu mỗi ngày bạn đều
ăn như thế, chẳng bao lâu bạn sẽ chán lên tận cổ. Cũng thế, tình yêu đó
cuối cùng đi đến thù hận và phiền muộn. Hạnh phúc thế gian bao gồm tham ái
và luôn luôn dính liền với đau khổ. Thật vậy, đau khổ theo sau hạnh phúc
thế gian như cảnh sát theo sau tên trộm.
Tuy thế, chúng ta không thể loại bỏ hay ngăn trở loại cảm giác này.
Chúng ta không nên dính mắc hay đồng hóa với chúng mà chỉ cần biết chúng
là gì, sau đó Pháp sẽ có mặt. Một người yêu một người khác rồi cuối cùng
người yêu ra đi hay lìa đời. Than khóc hay nhớ tưởng lâu dài, nắm giữ cái
đã thay đổi là đau khổ chứ không phải là tình yêu. Khi chúng ta thể nhập
chân lý, không còn cần hay muốn nữa, trí tuệ và tình yêu thật sự sẽ lấn át
tham ái và tràn ngập thế gian.
Học hỏi qua cuộc sống
Buồn chán không phải là chuyện thật. Nếu nhìn gần, chúng ta sẽ thấy tâm
luôn luôn hoạt động. Như vậy ta luôn luôn có việc để làm. Hãy nương tựa
vào chính mình để làm công việc lặt vặt trong nhà như dọn dẹp sạch sẽ sau
khi ăn, làm công việc trong nhà một cách thận trọng và chánh niệm, không
khua chén bát, không đóng sầm cửa. Những việc lặt vặt này giúp bạn tiến
hành định tâm và khiến cho việc hành thiền dễ dàng hơn. Chúng cũng có thể
chứng tỏ rằng bạn thật sự có chánh niệm hay vẫn còn lạc lối trong phiền
não.
Bạn, những người Tây phương, hay vội vã. Bởi thế bạn cũng sẽ có hạnh
phúc, đau khổ và phiền não cực lớn. Nếu bạn hành thiền đúng đắn, việc
đương đầu với nhiều vấn đề của bạn sẽ là nguồn gốc của trí tuệ thâm sâu
sau này.
Xả bỏ
Làm bất cứ việc gì cũng với tâm xả bỏ. Đừng kỳ vọng sự đền đáp hay tán
dương. Nếu xả bỏ một ít sẽ có một ít bình an. Nếu xả bỏ nhiều sẽ được
nhiều bình an. Nếu xả bỏ hoàn toàn sẽ được bình an hoàn toàn và cuộc tranh
đấu với thế gian này đi đến chỗ chấm dứt.
Đương đầu với tâm mình
Đạo, Quả và Niết Bàn không phải là chuyện ngẫu nhiên đạt được. Đạo,
Quả, Niết Bàn phát sinh từ sự thực hành đúng, từ chánh tinh tấn, từ can
đảm, dám tập luyện, suy nghĩ và bắt tay vào việc. Nỗ lực này bao gồm cả
việc đối kháng hay đương đầu với chính tâm bạn.
Đức Phật dạy chúng ta đừng tin vào tâm vì nó phiền não, bất tịnh, không
thể hiện Giới hạnh hay Pháp. Trong tất cả mọi cách thực hành khác nhau mà
chúng ta chú tâm nỗ lực, chúng ta phải đối kháng lại con tâm này. Khi tâm
bị đối kháng, nó trở nên nóng và âu sầu, lúc ấy chúng ta sẽ phân vân chẳng
biết ta đi có đúng đường không. Vì sự thực hành bị phiền não tham ái xâm
nhập nên chúng ta đau khổ đến nỗi có thể quyết định ngưng hành thiền nữa.
Nhưng Đức Phật dạy chính đó là sự thực hành đúng đắn; phiền não này chớ
không phải bạn, đang bùng cháy. Đương nhiên là việc hành thiền khó khăn
chứ không phải dễ.