Đối Thoại Thiền
Giai Không
Pháp Bảo, Sydney 1997
---o0o---
11.
Is That So?
The Zen master Hakuin was
praised by his neighbours as one living a pure life.
A beautiful Japanese girl
whose parents owned a food store lived near him. Suddenly, without any
warning her parents discovered she was with child. This made her parents
angry. She would not confess who the man was, but after much harassment
at last named Hakuin.
In great anger the parents
went to the master. “Is That So?” was all he would say. After the child
was born it was brought to Hakuin. By this time he had lost his
reputation, which did not trouble him, but he took very good care of the
child. He obtained milk from his neighbours and everything else the
little one needed.
A year later the girl-mother
could stand it no longer. She told her parents the truth – that the real
father of the child was a young man who worked in the fishmarket.
The mother and father of the
girl at once went to Hakuin to ask his forgiveness, to apologize at
length, and to get the child back again.
Hakuin was willing. In
yielding the child, all he said was: “Is That So?”.
Thế À
Thiền sư Bạch Ẩn
(Hakuin-Ekaku: 1686-1769) được người láng giềng ca tụng như một người sống
đời sống thanh tịnh.
Một gia đình người Nhật, chủ
nhân cửa tiệm thực phẩm, sống gần Bạch Ẩn, có cô con gái đẹp. Bất ngờ một
hôm cha mẹ cô khám phá ra cô đã có thai. Việc này làm cha mẹ cô nổi
giận. Cô không chịu thú nhận người đàn ông cô chung đụng là ai, nhưng sau
bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Hakuin. Rất phẫn nộ, cha mẹ
cô gái đến ngay vị thầy này. Hakuin chỉ vỏn vẹn thốt lên: “Thế à?” rồi
thôi. Sau khi đứa bé sinh ra nó được mang tới trao cho Bạch Ẩn. Lúc đó,
Bạch Ẩn mất hết danh dự, nhưng việc này không làm Thiền sư buồn phiền mà
lại còn săn sóc đứa bé rất chu đáo. Ông xin sữa của những bà mẹ láng
giềng và những đồ dùng cần thiết cho đứa bé.
Một năm sau cô gái không còn
chịu đựng lâu hơn được nữa. Nàng tỏ sự thật với cha mẹ nàng rằng người
cha thật sự của đứa bé (không phải là Hakuin) chính là một thanh niên bán
cá trong chợ. Cha mẹ cô gái lập tức đến chỗ Hakuin để xin ông tha thứ,
nhận hết lỗi quấy bấy lâu, và xin đem đứa bé về.
Bạch Ẩn bằng lòng. Khi trao
lại đứa bé, Hakuin cũng chỉ thốt lên: “Thế à?”.
Câu Hỏi Gợi Ý
-
Tại sao cô gái đổ lỗi cho
một vị Thiền sư chân chánh phạm giới dâm? Thử luận tội vu oan này theo
luật pháp?
-
Nhận lỗi lầm về mình, phải
chăng Hakuin là một người nhu nhượt, hèn nhát?
-
Danh dự của một người đã
mất có thể lấy lại được không? Tại sao?
-
Bạn nghĩ sao về thái độ của
cô gái qua việc làm bất nhất kể trên?
-
Hakuin tu hạnh Bồ Tát, nên
việc nhẫn nhục là thể hiện một hạnh nguyện cứu nhân độ thế?
5 câu hỏi gợi ý vừa rồi, có
người đã than phiền rằng “không có vẻ gì Thiền cả”. Bốn câu hỏi đầu đều
có tính cách thế tục, e không thích hợp mục này chăng? Tại sao không nêu
ra những vấn đề then chốt trong đạo Thiền – thoát tục thanh tân nhẹ nhàng
- lại đưa độc giả đến bờ vực thẳm của đời sống đảo điên, hệ lụy?
-
Thiền không thể tách rời đời sống hay những sinh hoạt thường nhật
của chúng ta. Tất cả những công việc diễn ra mỗi ngày, nếu ta làm việc
trong ý thức, tức tâm tư trở nên tỉnh lặng. Như thế là sống trọn vẹn
trong sự tỉnh thức qua hơi thở và nụ cười chính mình, thì chẳng phải Thiền
là gì?
* Ðạo hữu Duy Học (Sydney)
-
Tại sao cô gái đổ lỗi cho
một vị thiền sư chân chính phạm giới dâm? Thử luận tội vu oan này theo
luật pháp?
-
Cô gái chửa hoang ở các nước Á Ðông là một việc xấu, khiến cha mẹ
xấu hổ, bị xóm giềng hay làng mạc chê cười. Như thế cô gái sẽ ế chồng,
không còn ai muốn lấy cô ta nữa. Vì thế, để che dấu việc lỡ lầm này, cô
ta đã nghĩ ra cách đổ tội cho một Thiền sư, hy vọng vị tu sĩ vì lòng đại
từ bi quảng đại mà tha thứ che chở. Ðây là hành động tội lỗi, vì cô đã vu
oan cho một vị tu hành trong cửa Phật. Nếu xử theo luật pháp, tội vu oan
người khác rất nặng, có thể bị phạt tiền và tù nữa.
-
Nhận lỗi lầm về mình, phải
chăng Hakuin là một người nhu nhược, hèn nhát?
-
Thiền sư Hakuin (Bạch Ẩn) nhận lỗi lầm về mình chẳng phải Ngài nhu
nhược hay hèn nhát mà chính Ngài là một vị tu hành chân chính, đạo hạnh
cao cả. Ngài là vị thiền sư đầy kinh nghiệm nên đã lấy hạnh “từ bi, vô
ngã” để đối xử với mọi người. Lòng từ bi, tâm vô ngã nên Ngài chỉ thốt
lên hai tiếng “Thế à?”, khi bị gán tội làm cô gái chửa hoang. Tiếng “Thế
à” cũng có nghĩa là: “việc xảy ra sao tôi nhận vậy, không có phản ứng chi
cả”.
-
Danh dự của một người đã
mất có thể lấy lại được không? Tại sao?
-
Ðối với một người thế gian, khi không có tội mà bị vu oan liền phản
ứng ngay, và phản ứng một cách quyết liệt. Nạn nhân có thể kiện lại người
vu khống mình để bảo toàn danh dự đã bị mất. Nếu tòa xử không có tội thì
danh dự được cứu vãn. Ðối với đạo Phật, một tu sĩ đã tu hạnh nhẫn nhục có
lòng từ bi quảng đại và tâm vô tướng thì chẳng sợ những lời đàm tiếu, thị
phi của thế gian. Vì sao? Vì tu sĩ đã phá chấp, biết rõ những lời khen
chê hay vu khống hoặc thưởng phạt đều không đáng bận tâm. Nếu cố chấp sẽ
sinh phiền não, dấy khởi tham-sân-si, tạo nghiệp luân hồi.
-
Bạn nghĩ sao về thái độ của
cô gái qua việc làm bất nhất kể trên?
-
Cô gái gây tội lỗi, thoạt đầu đổ lỗi cho thiền sư Bạch Ẩn, sau lại
nói với cha mẹ rằng anh bán cá trong chợ mới đúng là tác giả - cha của đứa
bé – mà cô đang bị thiên hạ cười chê. Thái độ bất nhất của cô ta đã nói
lên lòng hối hận vô bờ. Cô không muốn để cho một vị Thiền sư khả kính,
như ngài Bạch Ẩn phải bị tiếng oan! Cô gái đã biết sám hối một việc làm
không thể tha thứ như vậy; cũng làm cho cha mẹ cô được vui lòng và làng
xóm được hoan hỷ thấy thiền sư Bạch Ẩn là một bậc tu hành khả kính, đạo
hạnh trong sạch, biết nhẫn điều khó nhẫn, khỏi bị tiếng oan.
-
Hakuin tu hạnh Bồ Tát, nên
việc nhẫn nhục là thể hiện một hạnh nguyện cứu nhân độ thế?
-
Hakuin tức thiền sư Bạch Ẩn tu hạnh Bồ Tát, nên sẵn sàng chấp nhận
tất cả mọi sai trái, nhầm lẫn của thế gian, vì thường bị tham, sân, si gây
nên đủ thứ tội lỗi. Một vị Bồ Tát đã tu lục độ luôn thực hành hạnh “nhẫn
nhục ba la mật” hay nhẫn nhục vô tướng để làm gương cho mọi người. Hạnh
Bồ Tát là để cứu độ mọi chúng sanh, hoặc khuyến tấn chúng sanh nên bỏ “cái
ta” quá lớn để cư xử với mọi người bình đẳng; được khen không mừng, bị chê
không giận buồn, tức giữ cái Tâm bình đẳng rồi vậy.
* Ông Trần H. Hải (Nam Úc)
-
Có ba lý do cô gái đổ lỗi
cho một vị thiền sư chân chánh phạm trọng giới:
a)
cùng đường, bí lối không biết phải làm sao hơn.
b)
sự xấu hổ đến cùng cực, nạn nhân muốn có bóng mát che chở.
c)
người tu hành dễ tha thứ hơn người khác
Tội vu oan theo luật pháp,
nội vụ khi được tòa xử xong:
-
đương đơn phải trả tất cả các án phí (phí tổn tòa án) từ khi bắt
đầu cho đến kết thúc.
-
có thể bị án tù treo tùy trường hợp gia trọng.
-
bồi thường một đồng bạc ($1.00) danh dự cho bị cáo.
-
Người tầm thường khi phạm
lỗi lầm xấu ác hay tìm cách che dấu, đổ lỗi kẻ khác. Như thế cái lỗi
trước chưa xong, lại tạo thêm tội lỗi khác. Ðây chính là kẻ hèn nhát,
đê tiện đáng khinh bỉ, vì dám làm mà không dám nhận chịu trách nhiệm.
-
Kẻ không làm điều xấu ác mà nhận chịu thay người khác là anh hùng,
người có một sức mạnh tinh thần dũng kiện vững bền mới đương đầu nổi bao
nhiêu chuyện phức tạp, khó khăn. Kẻ đáng được ca tụng, xứng đáng nêu
gương cho người khác.
-
Danh dự hay tiếng thơm sạch
ở đời chẳng qua là bức màn che, lớp áo mới màu mè. Thực chất của một
người sống có đạo đức không cần nước sơn vẽ màu mè bên ngoài ấy. Vì
thiếu đạo đức tối thiểu, người ta sống trên danh dự, khi danh dự bị mất
như trận cuồng phong quét sạch tất cả những gai gốc lởm chởm. Cũng như
bát nước đầy bị đổ thì cũng khó hốt lại được như trước.
-
Con người thường có lúc
phải hồi tâm hướng thiện. Ðó là những lúc lương tâm dày vò cắn rứt
không cho phép nói hay làm điều tội lỗi xấu ác. Thái độ cô gái hành xử
bất nhất cũng là tâm trạng tự hối mà chính lương tâm cô phản tỉnh phải
đi theo con đường đúng, theo lẽ phải.
-
Thực hành hạnh nguyện Bồ
Tát có hai khía cạnh:
-
Những việc do chính mình đề ra và theo đuổi một cách tích cực trong
nghĩa tinh tấn, dù gặp chướng ngại vẫn cố gắng vượt qua;
-
Việc không đâu do ngoại cảnh đưa tới buộc phải đương đầu, đối phó.
Trường hợp nhẫn nhục chịu
đựng của Bạch Ần nằm trong khía cạnh thứ hai này. Tuy nhiên, mức độ của
sự việc như ta theo dõi thì, đây cũng chỉ là một khía cạnh trong những
hạnh nguyện của Bồ Tát mà thôi.
* Bạn Minh Giác (Vic)
1. Thường thường người ta ưa
làm ác hay kéo lôi người khác làm việc ác. Mục đích là để có thêm đồng
minh với mình. Trong trường hợp cô gái thiếu nết na và vị thiền sư đức
hạnh như trong câu chuyện là một ngoại lệ. Cô gái muốn chạy tội bằng cách
đổ tội cho một người khác thường - một Thiền sư - để chứng tỏ rằng cô bị
ép buộc, do một sức mạnh nào đó lôi cuốn vào con đường sai quấy tội lỗi.
Nhưng cô đã rơi vào một trọng tội khác: tội vu oan cho người tu hành chân
chánh. Luật pháp thế gian thì luôn luôn có kẽ hở mà kẻ có tiền và có thế
lực thường hay thắng thế, cho dù sự việc xảy ra lớn hay nhỏ.
Thiền sư là người tu hành đạo
hạnh không dựa vào hai sức mạnh vật chất thế gian: tiền tài và thế lực.
“Luật pháp là những màn nhện mà những con ruồi to thì chui lọt, còn những
con nhỏ thì mắc lưới” (Les lois sont des toiles d’araignées à travers
lesquels passent les grosses mouches et où restent les petites), như một
văn sĩ Pháp đã nói, thật là chí lý ở mọi thời và mọi quốc độ. Thế thì
luật pháp có gì công bằng đáng tin tưởng?
2. Câu nói lững lờ “Thế à”
của Hakuin chưa chắc Thiền sư nhận lỗi hay không nhận lỗi. Như con dao
hai lưỡi, hãy coi chừng. Nếu ai lầm tưởng sẽ bị cái hại vào thân. Hakuin
là một người kiên cường dũng mãnh, không là kẻ nhu nhược, hèn nhát như ta
tưởng.
3. Danh dự của một người
cũng chỉ là lớp vỏ bọc đường, lớp nước sơn màu mè dễ tróc thì gặp nước hay
lửa đụng vào. Nước luôn luôn chảy xuôi dòng, thể nguội; lửa thường bốc
khói, thể nóng. Dòng nước dụ cho dòng đời, lửa chỉ lòng sân hận bừng bốc,
làm thiêu đốt tất cả những công trình sáng tạo của một đời khổ công tạo
dựng. Hai trạng thái nóng lạnh đều làm cho danh dự con người dễ tan hoại
như chiều lá thu rơi rụng. Lá vàng khi lìa cành rơi xuống đất thì không
thể trở lại thân cây được nữa; cũng như danh dự một khi đã bị xúc phạm, bị
mất cũng khó mà lấy lại được.
4. Con người lúc ở trạng
thái tinh thần hốt hoảng thường hay sợ sệt, dễ gây ra bất cứ điều lầm lỗi
xấu ác nào. Nhưng sau khi nghĩ lại, người ta ăn năn tỉnh ngộ. Trường hợp
của cô gái trong câu chuyện là một điển hình.
5. Pháp nhẫn nhục là phương
pháp tương đối khó thực hành đối với mọi người, nhưng không vì thế mà
không ai làm được. Nhẫn được điều khó nhẫn là thành tựu được một hạnh
nguyện trong sự nghiệp tu hành. Việc cứu đời, giúp người của Hakuin nếu
có, là hoàn toàn do người đời ban tặng, còn Thiền sư thì không vướng bận
việc gì…
Nhận Xét Góp Ý
1) Câu tục ngữ “cận đâu xâu
đó” ở thời nào cũng vẫn đúng. Câu này có nghĩa là ở gần đâu thì nương tựa
đó hay thường thân cận tiếp xúc người nào, kẻ đó phải chia xẻ một phần với
ta trong đời sống, nhất là trong đời sống tâm linh. Cô gái lẳng lơ để
phải mang bầu, lại đem đổ tội cho vị Thiền sư, vì nhà cô ở gần thiền
viện. Do quen biết hay có thể cô ta thường gặp mặt Hakuin, và sự việc vu
khống đã xảy ra cho một người tu hành, không sự nghiệp, không truyền nối
kế thừa.
Theo luật pháp thế gian, tội
vu cáo oan người là một trọng tội không thể tha thứ, vì làm nhục danh dự
kẻ khác, cũng tương đương tội giết người không cần vũ khí, gươm dao. Tuy
nhiên, sự việc nghiêm trọng hay không còn tùy tâm trạng của quan tòa lúc
xét xử mà bị can bị kết tội nặng hay nhẹ. Riêng Thiền sư thì không muốn
cho ai phải chịu khổ, cho dù đó là kẻ thù của mình đi nữa. Việc vu oan
của cô gái đối với Hakuin không thành vấn đề. Việc đó đối với tâm tư của
Thiền sư coi như nước chảy qua cầu, không lưu lại dấu vết gì.
2) Không tạo điều sai quấy
tội lỗi mà gặp trường hợp bất đắc dĩ phải nhận tội công khai trước mọi
người, là một người phi thường, chứng tỏ phải có một tinh thần đại lượng
bao dung, nhận tội thay kẻ đã “ném đá dấu tay” trước búa rìu thị phi công
luận. Một người nhu nhược hèn nhát thì không đủ can đảm làm nghĩa cử cao
đẹp như thế.
3) Danh dự của một người
thường không được xây dựng trên căn bản đạo đức. Việc được mất, hơn thua
là lẽ thường tình thế gian. Việc đời có muôn mặt, danh dự là một khía
cạnh cao quí của đời sống mà ai cũng ưa đắm, tranh giành. Ðược danh dự có
nhiều lúc còn quí hơn vàng – tùy theo quan niệm mỗi người – theo sự cảm
thọ dĩ nhiên không ai giống ai cả. Theo đó một khi danh dự đã mất không
bao giờ lấy lại được. Vì nó không được xây trên nền tảng căn bản của đạo
đức mà trên những ý niệm tầm thường thế nhân.
4) Cô gái tỏ ra khôn ngoan
và có suy tính kỹ. Ðối tượng mà cô nhắm tới là một vị Thiền sư danh đức,
như bóng cây cổ thụ che rợp bóng mát rộng lớn, lợi lạc nhiều người và mọi
vật. Việc làm của cô không phải bất nhất mà do tình thế đã thay đổi, đã
đến lúc thuận duyên buộc cô phải nói ra hết sự thật u ẩn chấp chứa trong
lòng bấy lâu nay.
5) Như tích truyện Quan Âm
Thị Kính, trong một kiếp trước tiểu Kính Tâm mắc tội hàm oan do Thị Mầu vu
oan giá họa. Nhờ biến cố đau thương đó trong đời tu niệm mà cô gái cải
dạng nam trang dốc lòng tu tập đến đạt thành chánh quả, tức là thành Phật
Quan Âm. Hakuin chọn đúng con đường theo hạnh nguyện - nếu phải gọi đó là
hạnh nguyện - Bồ Tát.
12. Gudo And The Emperor
The emperor Goyozei was
studying Zen under Gudo. He inquired: “In Zen this very mind is Buddha.
Is this correct?”
Gudo answered: “If I say yes,
you will think that you understand without understanding. If I say no, I
would be contradicting a fact which many understand quite well”.
On another day the emperor
asked Gudo: “Where does the enlightened man go when he dies?”.
-
Gudo answered: “I know not”.
-
Why don’t you know? Asked the emperor.
-
Because I have not died yet, replied Gudo.
The emperor hesitated to
inquire further about these things his mind could not grasp. So Gudo beat
the floor with his hand as if to awake him, and the emperor was
enlightened!
The emperor respected Zen and
old Gudo more than ever after his enlightenment, and he even permitted
Gudo to wear his hat in the palace in winter. When Gudo was over eighty
he used to fall asleep in the midst of his lecture, and the emperor would
quietly retire to another room, so his beloved teacher might enjoy the
rest his ageing body required.
Gudo Và Thiên
Hoàng
Thiên Hoàng Goyozei (2) học
thiền với Thiền sư Gudo. Vua thắc mắc: “Trong Thiền, chính cái Tâm này là
Phật, có đúng thế không?”, bạch Thầy.
Gudo đáp: Nếu tôi trả lời
đúng thì Ngài sẽ cho rằng Ngài hiểu mà không hiểu; còn trả lời không thì
đi ngược lại với thực tế mà nhiều người hiểu.
Một hôm khác Thiên Hoàng hỏi
Gudo: “Một người giác ngộ sẽ đi về đâu sau khi chết?”
-
Tôi không biết, Gudo trả lời.
-
Tại sao Thầy không biết? Vua hỏi.
-
Vì tôi chưa chết, Gudo trả lời.
Thiên Hoàng còn phân vân muốn
hỏi thêm nhiều việc mà tâm mình chưa nắm vững. Vì thế Gudo lấy tay đập
lên sàn nhà như để thức tỉnh vua, và Thiên Hoàng giác ngộ.
Thiên Hoàng cũng để Gudo đội
mão của vua trong hoàng cung vào mùa đông. Khi Gudo trên 80 tuổi, Thiền
sư thường ngủ ngay trong lúc đang giảng pháp; vì thế Thiên Hoàng yên lặng
rút lui sang một phòng khác để bậc thầy yêu kính của mình di dưỡng tấm
thân lúc tuổi già.
Chú thích
(1)
Thiên Hoàng (Ten nô), danh từ riêng Nhật dùng chỉ vua của họ, đồng
nghĩa như Hoàng đế hay Tổng thống ngày nay.
(2)
Goyozei (Hậu Dương Thành thiên hoàng: 1586-1611) ở vào thời Chiến
Quốc trong lịch sử Nhật Bản.
Câu Hỏi Gợi Ý
1)
Bạn hiểu sao thái độ của Gudo khi trả lời nhà vua như không rõ
ràng, không dứt khoát như thế?
2)
Cùng một vấn đề được lập đi lập lại nhiều lần có lợi hay hại. Tại
sao?
3)
Gudo trong cung nội dạy đạo Thiền cho Thiên Hoàng, có phải là một
bậc quốc sư đương thời của triều đình tại Nhật Bản?
4)
Gudo làm cho Thiên Hoàng giác ngộ, phải chăng chính Thiền sư giác
ngộ?
5)
Khi nào thì một người được giác ngộ?
* Ðạo hữu Duy Học (Sydney)
có cái nhìn như sau:
1)
Bạn nghĩ sao thái độ của Gudo khi trả lời nhà vua như không rõ
ràng, không dứt khoát như thế?
-
Xin mạn phép ghi lại câu trả lời của Thiền sư Gudo. Thiền sư đáp:
“Nếu tôi trả lời đúng thì Ngài sẽ cho rằng Ngài hiểu mà không hiểu; còn
trả lời không thì đi ngược lại với thực tế mà nhiều người hiểu”. Thoạt
tiên đọc qua câu trên, chúng ta có cảm tưởng bình thường là không rõ ràng,
không dứt khoát, nhưng thực ra với lối quán xét, quán chiếu của Thiền, câu
trả lời của Thiền sư Gudo rất là rõ ràng, dứt khoát, sâu sắc xuất phát từ
tâm của bậc đã giác ngộ, đã đạt được “bình đẳng tánh trí” hay “vô phân
biệt trí” của chư Phật. Trở lại câu trên, chữ “Nếu” cho hay Thiền sư
không nói rõ, không xác định rằng ý của vua là đúng hay không đúng. Chữ
Nếu là không có thật. Thiền sư còn tiếp: “… còn trả lời không…” câu xác
định này Ngài cũng chẳng trả lời khẳng định ý vua là không đúng. Thiền sư
Gudo dứt khoát chẳng muốn trả lời vua là đúng, là không đúng. Vì nếu trả
lời ngay ý vua là đúng hay không đúng, đương nhiên Thiền sư bị mắc kẹt vào
“Phân Biệt”. Vậy câu trả lời của Thiền sư chứng tỏ Ngài biết “khế cơ và
khế lý” hợp với lẽ đạo, lễ độ với vua, đúng với tinh thần “vô phân biệt”
của các bậc giác ngộ.
2)
Cùng một vấn đề được lặp đi lặp lại nhiều lần có lợi hay hại. Tại
sao?
-
Một vấn đề được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ đập vào tai, vào mắt,
vào các căn thức, tàng thức của con người có sức lôi cuốn, biến thành hành
động và gây nên nghiệp thiện hay ác. Nếu con người chịu khó học hỏi, tu
tập, thực hành, chứng nghiệm những gì đã lãnh thọ thì sẽ hoán chuyển
nghiệp, biến tham-sân-si thành Bồ Ðề. Ngược lại, không sửa đổi, không tu,
không hành, đương nhiên phải bị ngụp lặn trong vòng sanh tử luân hồi.
3)
Gudo trong cung nội dạy đạo Thiền cho Thiên Hoàng, có phải là một
bậc quốc sư đương thời của triều đình tại Nhật Bản?
-
Câu này đã có trả lời sẵn trong bài với phép lễ độ, trí sáng suốt
“vô phân biệt” của một Thiền sư giác ngộ. Gudo đã rất xứng đáng là bậc
thầy của vua và của tất cả dân chúng. Bằng chứng Gudo đã làm cho nhà vua
trở nên giác ngộ đạo vô thượng. Vua lại càng kính trọng và phụng dưỡng
Ngài trong lúc tuổi già, để đáp đền thâm ân giáo huấn.
4)
Gudo làm cho Thiên Hoàng giác ngộ, phải chăng chính Thiền sư giác
ngộ?
-
Ðương nhiên Thiền sư giác ngộ, vì qua câu trả lời câu hỏi của vua,
Thiền sư đã chứng tỏ Ngài đạt “bình đẳng tánh trí” hay “vô phân biệt” của
chư Phật.
5)
Khi nào thì một người được giác ngộ?
-
Trong đời mạt pháp này, con người còn đam mê, tham đắm vật chất,
còn vướng quá nhiều phiền não, tham, sân, si, nên tìm ra một người giác
ngộ thật là khó! Có lẽ chúng ta sẽ thấy những tia sáng của một số ít tâm
thức trở nên trong sáng qua việc tu hành cần mẫn, bền chí lâu dài qua
pháp “lục độ ba la mật”. Ðó là con người tuy sống trong cảnh động mà tâm
vẫn tịnh, hành mà vô hành, lúc nào cũng từ bi bình đẳng, vô ngại. Qua sự
tu học, chúng ta thấy các vị đã giác ngộ như Lục Tổ Huệ Năng. Ngài đã
sống trong đám thợ săn mà tâm Ngài chẳng động, không sát sanh hại vật, như
Ngài Duy Ma Cật sống với vợ con mà tâm vẫn thanh tịnh. Sơ Tổ phái thiền
Trúc Lâm tại Việt Nam là vua Trần Nhân Tông, một vị vua chay tịnh tu
thiền. Ngài bỏ cả ngôi vị đế vương vào tu ở núi Yên Tử, dạy cho dân bỏ mê
tín, tu thập thiện, thọ Bồ Tát giới v.v… Thiền sư Vạn Hạnh xem thường công
danh phú quí. Ngài thông cả tam giáo, bách luận, giúp vua Lê Ðại Hành
đánh bại giặc Tàu, cứu dân, cứu nước. Vua Trần Thái Tông dạy dân “Thiền -
Tịnh song tu”, và là một vị Thiền sư nổi tiếng vào thế kỷ thứ mười ba, dạy
pháp môn niệm Phật, hành theo Giới - Ðịnh - Huệ để dứt trừ phiền não, là
trở về với chân tâm, Phật tánh sẵn có nơi tâm mỗi người.
* Bạn Minh Giác (Vic)
Bạn Minh Giác có cái nhìn
quán chiếu đi vào chiều sâu của vấn đề, đưa ra nhận xét như sau:
1) Câu trả lời không dứt
khoát, không rõ ràng mà phân hai, có nhiều lúc lại cần thiết cho người đối
thoại, nhất là trong quan niệm Thiền. Qua ba lần hỏi đáp, giữa Gudo và
thiên hoàng Goyozei thì cả ba lần vua đều thất vọng, vì những câu trả lời
cộc lốc của Thiền sư, khiến nhà vua vô cùng bối rối. Cũng chính nhờ tâm
trạng bối rối ngơ ngác của nhà vua mà Thiền sư có dịp khai ngộ và Hoàng đế
bừng tỉnh cơn mê truyền kiếp của mình.
2) Cũng như cơm, nước, đại
tiện, tiểu tiện mỗi ngày ta nhập vào, thải ra để nuôi dưỡng cơ thể. Ai
bảo điều này là vô dụng, không cần thiết? Hoặc như dòng hải triều mỗi
ngày hai bận xuống lên, đâu phải là không cần thiết? Tuy nhiên, có những
sự việc nếu tái diễn nhiều lần sẽ là mối nguy hại cho chính mình và người,
như các thói xấu thì cần phải tìm cách ngăn chặn, trừ diệt. Nói khác đi,
những việc lợi theo nghĩa thông thường, nếu cũng nên lặp đi lặp lại nhiều
lần, những việc có hại, thì nên giảm thiểu càng ít càng hay.
3) Quốc sư là bậc thầy của
cả một nước, được vua tôn xưng, là người xứng đáng giúp vua trong các kế
sách trị quốc an dân, thông hiểu chính trị, quân sự và ngay như chiến lược
quốc phòng. Một Thiền sư chuyên dạy đạo Thiền cho vua thì chưa hẳn đã là
vị quốc sư của triều đình.
4) Giác ngộ là chính tự mỗi
người bừng vỡ tâm tư, hoát nhiên thông tỏ từ nguồn chân đến pháp giới do
một động lực tinh thần bừng sáng. Vì thế, có nhiều lúc một người làm cho
kẻ khác giác ngộ, chưa chắc chính mình đã giác ngộ. Nói cách khác, Gudo
làm cho Thiên Hoàng Goyozei giác ngộ, không nhứt thiết Gudo phải giác
ngộ. Vì đứng trên lập trường tự giác thì “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”.
Nếu ông không lo tu tập thì ông sẽ không bao giờ đắc, bà không tu thì bà
cũng không đắc vậy.
5) Nếu hiểu chữ “giác ngộ”
là một từ xa lạ đối với những ai kia, thì giác ngộ quả là xa xôi diệu
vợi. Còn nếu hiểu giác ngộ là trạng thái tâm tư hoàn toàn tĩnh thức thì
khi phiền não lắng trong là được giác ngộ. Tuy nhiên, giác ngộ có ba cấp
bậc: phần giác như phàm phu chúng ta, thức giác, chỉ các bậc hiền nhân,
chư vị Bồ Tát và toàn giác chỉ có chư Phật đạt được.
Như vậy, một người tu hành
không đợi đến khi chứng thành đạo quả mới giác ngộ mà trong lúc tu tập
cũng đã có sự giác ngộ một phần rồi.
Nhận Xét Góp Ý
1. Có – Không, Xác định -
Phủ định v.v… đều còn trong vòng đối đãi, không hợp với Thiền. Thiền vượt
qua tất cả, thiền sư là người thong dong tự tại như mây bay trong bầu trời
cao rộng, nước chảy giữa dòng không bị vướng mắc, cản ngăn. Ðó là tính vô
ngại hay vô phân biệt. Còn đi vào phạm trù xác định hay phủ định là còn
bị kẹt trong vòng sắc tướng, chưa vượt thoát ra khỏi kiến chấp, chưa giải
thoát được.
2. Có những việc cần được
lặp đi lặp lại nhiều lần để nhiều người cùng được lợi lạc mà nhiều khi ta
cố vô tình quên đi cũng không thể được. Cũng có những sự việc mà ta không
muốn hay cố làm ngơ cho quên đi những dằn vặt ray rứt, hối hận trong tâm,
việc lặp đi lặp lại càng làm cho ta thêm bận tâm, chán ngán mà thôi. Nói
khác hơn, những việc lợi ích cho cả thể xác lẫn tâm linh thì cho dù ta có
không muốn hiển nhiên nó phải được tái diễn như vậy. Vấn đề là một việc
có tính phương hại thì không nên để cho tái diễn nhiều lần. Vì nó gây ảnh
hưởng không tốt không những cho chính người tác tạo ra mà còn cho nhiều
người khác thật tai hại.
3. Không cứ Gudo mà bất cứ
vị Thiền sư nào lãnh hội Thiền đều dạy đạo Thiền được cả. Một vị thầy dạy
Thiền cho nhà vua thì không cần đòi hỏi phải ở cương vị của một bậc quốc
sư. Vì quốc sư thì không được thong dong tự tại trong cung nội như ta
thấy qua câu chuyện mà Gudo có được tại triều đình.
4. Giác ngộ theo nghĩa
chuyên môn – toàn giác – như Phật thì, chúng ta chưa ai đạt được. Theo
một nghĩa thông thường, giác ngộ là tĩnh thức thì mỗi người ai cũng có
được trạng thái này và đều có khả năng, mà không cần phải là một Thiền sư
như Gudo.
Như câu 4 trên đã nói, một
người mà tâm tư bừng vỡ, phiền não lắng xuống là có được trạng thái giác
ngộ. Tuy nhiên giác ngộ được một phần hay giác ngộ toàn phần lại là một
việc khác.
13. Ten
Successors
Zen pupils take a vow that
even if they are killed by their teacher, they intend to learn Zen.
Usually they cut a finger and seal their resolution with blood. In time
the vow has become a mere formality, and for this reason the pupil who
died by the hand of Ekido was made to appear a martyr. Ekido had become a
severe teacher. His pupils feared him. One of them on duty, striking the
gong to tell the time of day, missed his beats when his eye was attracted
by a beautiful girl passing the temple gate.
At that moment Ekido, who was
directly behind him, hit him with a stick and the shock happened to kill
him.
The pupil’s guardian, hearing
of the accident, went directly to Ekido. Knowing that he was not blame,
he praised the master for his severe teaching. Ekido’s attitude was just
the same as if the pupil were still alive.
After this took place, he was
able to produce under his guidance more ten enlightened successors, a very
unusual number.
Mười Người Ðắc
Ðạo
Những Thiền sinh thề rằng cho
dù thầy họ có giết chết, họ vẫn nhất quyết học Thiền. Họ thường cắt ngón
tay lấy máu in dấu sự quả quyết này. Ðến khi lời thề chỉ còn là một việc
làm hình thức, và vì lý do này mà một đệ tử đã bỏ mạng dưới bàn tay của
Ekido, như một người tử vì đạo.
Ekido là vị thầy rất nghiêm
khắc, vì thế các đệ tử rất sợ Thầy. Một trong số các đệ tử có bổn phận
thỉnh chuông báo thức giờ giấc đã đánh sai nên bị ăn đòn, vì mắt anh ta
bận dòm chòng chọc vào một cô gái xinh đẹp đi ngang trước chùa. Ngay
trong lúc đó, Ekido đã đứng sau lưng đánh cho một gậy, và cơn “shock” mạnh
làm người môn đệ ấy chết.
Một Thiền sinh quản chúng (*)
nghe tai nạn xảy ra bèn chạy ngay tới chỗ Ekido. Biết việc như thế mà vẫn
không phiền trách, anh ta còn ca ngợi sự giáo huấn nghiêm chỉnh của Thầy.
Thái độ của Ekido vẫn một mực như lúc người môn đệ kia còn sống.
Sau khi việc này xảy ra, dưới
sự hướng dẫn của mình, Ekido còn đào tạo thêm được mười môn đệ đắc đạo
viên mãn, một con số thật là hy hữu!
(*) Quản chúng: người trông
coi, đốc thúc mọi công việc tu tập, học hành, công tác trong đại chúng tại
một thiền viện có đông người tu tập. Vị quản chúng, chúng Trưởng hay Liên
chúng Trưởng đều như nhau, tùy theo tăng viện nhiều hay ít chúng, là do
đại chúng bầu cử.
Câu Hỏi Gợi Ý
1.
Lời thề và lời phát nguyện khác hay giống nhau? Tại sao?
2.
Ekido là một vị thầy tàn bạo? Bạn nghĩ sao về thái độ làm chết
người dưới bàn tay hung hãn của một vị thầy dạy đạo Thiền như thế?
3.
Biết Thầy đã nhẫn tâm làm chết một huynh đệ pháp hữu (bạn đồng tu)
mà thái độ thầy quản chúng vẫn dửng dưng, phải chăng đây là tội đồng lõa?
4.
Hãy cho biết ba hình thức phạm tội từ nặng đến nhẹ ra sao?
5.
Một vị thầy đã mang tiếng là nghiêm khắc, hẳn bị đệ tử lánh xa, có
đúng như thế không?
* Bạn Minh Giác (Vic): Sau
khi đọc, suy nghĩ, tìm hiểu câu chuyện “Ten Successors” kỹ càng đăng tôi
có mấy ý kiến và nhận xét như sau:
1)
Lời thề và lời phát nguyện khác hay giống nhau? Tại sao?
-
Lời thề thường là của người đời, phát xuất từ lòng giận tức, bất
mãn hay qua đầu môi chót lưỡi, nên không thực tế. Vì lời thề thiếu sự
kiểm chứng của lương tâm. Có những trường hợp lời thề chỉ có trên mặc
hình thức do sự cao hứng hoặc do tình cảm bốc cháy của những đôi nam nữ
thanh niên vừa tròn tuổi lớn. Trong khi đó lời phát nguyện là của những
người tu luyện nội tâm, phát xuất từ lòng từ bi quảng đại, vì thương mình
và đồng thời cũng yêu thương khắp hết tất cả mọi loài. Như đức Phật Thích
Ca Mâu Ni và chư thánh hiền Bồ Tát, phát lời thệ nguyện cứu độ hết thảy
chúng sanh. Lời phát nguyện của đức Ðịa Tạng Bồ Tát: “địa ngục vị không,
thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Ðề” (trong địa ngục
chưa rảnh tôi nguyện chưa thành Phật, chỉ khi nào độ hết chúng sanh mới
chứng quả Bồ Ðề), là những minh chứng hùng hồn không thể nào sai khác, lời
nguyền sắt thép vẫn một – như như bất biết.
Có sự khác nhau giữa lời thề
và lời phát nguyện như sau:
-
Lời thề thường bị dục vọng chi phối dẫn dắt phát xuất từ lòng dục
của kẻ phàm tục. Lời phát nguyện ngược lại do chí nguyện của người tu có
một tâm hồn kiên định không do dục vọng lôi cuốn, nên lời nguyện được xem
như là một bảo chứng chắc chắn, thà tan thân mất mạng lời nguyện vẫn được
giữ vẹn toàn.
-
Lời thề do lòng tự ái, tâm ích kỷ, tánh bảo thủ, chấp ngã v.v… sai
sử phát ra; lời phát nguyện do tâm vị tha, tánh quảng đại, từ bi là động
cơ chính người ta có thể xã thân quên mình vì người.
2)
Ekido là một vị thầy tàn bạo? Bạn nghĩ sao về thái độ làm chết
người dưới bàn tay hung hãn của một vị thầy dạy đạo Thiền như thế?
-
Ðúng, Ekido là một vị thầy tàn bạo. Cái tàn bạo hiếm thấy ở đời
này cần phải có để cảnh giác những kẻ u mê theo danh sắc biết hồi đầu phản
tỉnh. Việc làm chết người bằng một chiếc gậy của một thiền sư chỉ là hành
động ngẫu nhiên vô tình, thâm tâm thiền sư thì không muốn sát hại một môn
sinh, chỉ muốn nhắm tới cái ảnh hưởng sâu rộng của đại chúng trong thuật
trừng tâm mà Thầy đang đảm đang vai trò trọng yếu. Ðó mới là điểm then
chốt của vấn đề cần luận giải để soi sáng cho những ai còn đang trong cơn
mộng túy, chưa tỉnh thức phải hồi tâm.
3)
Biết thầy đã nhẫn tâm làm chết một huynh đệ pháp hữu (bạn đồng tu)
mà thái độ thầy quản chúng vẫn dửng dưng phải chăng đây là tội đồng lõa?
-
Thái độ ung dung tự tại lúc nào cũng vẫn được tôn trọng và cần phải
có đối với một người hành thiền mà thầy quảng chúng là một. Giận dữ
chăng? La lối om sòm cho người lân cận tới cấp cứu chăng? Hoặc giả đi
báo cảnh sát chăng?
-
Những phản ứng nhất thời bồng bột ấy liệu có giúp cứu sống lại
người bạn đồng tu? Giữ bình tĩnh yên lặng nhìn sự việc chiều sâu để quán
chiếu, nhiếp tâm cầu nguyện cho người bạn pháp hữu xã báo thân ô trược
này, trở về thế giới thanh tịnh, thì việc làm nào quí giá hơn, cao thượng
hơn?
4)
Hãy cho biết ba hình thức phạm tội từ nặng đến nhẹ ra sao?
Theo kinh sám hối, tội tướng
có ba hình thức từ nặng đến nhẹ như dưới đây:
-
Mình đích thân làm.
-
Hoặc dạy người làm.
-
Thấy người khác làm đồng lõa thuận theo. Như tội sát sanh chẳng
hạn. Chính tự tay mình giết hại thì phải bị đền mạng hay bị tù chung
thân. Trường hợp bày mưu lập kế sai sử người khác giết cũng phải vào tù,
nhưng tội trạng còn tùy vụ án mà được giảm khinh. Như thấy người sát hại
mà tán thưởng, thích chí hòa theo thì phạm vào tội can phạm, sai sử người
phạm tội là tòng phạm; tự mình cố ý gây tội ác là thủ phạm.
5)
Một vị thầy đã mang tiếng là nghiêm khắc, hẳn bị đệ tử lánh xa, có
đúng như thế không?
-
Thái độ nghiêm khắc của vị thầy phải xét theo hai khía cạnh:
-
Vị ngã – ích kỷ - là người
chỉ biết vun bồi cho bản ngã mình lớn hơn, vững vàng hơn, thì không xứng
đáng để gần gủi. Tốt hơn hết chúng ta nên tìm cách xa lánh vị thầy
thiếu tác phong đạo đức như thế càng sớm càng tốt.
-
Vị tha – xã kỷ - là người
biết quên mình cho kẻ khác thì đáng ca ngợi tán dương. Một người có
lòng quảng đại thì nhiều người tìm tới thọ giáo; kể cả việc hy sinh thân
mạng để được học hỏi với thầy trong tinh thần khoan khoái đầy phấn khởi.
* Ðạo hữu Duy Học (Sydney)
1)
Lời thề là một sự quyết định phát xuất từ tâm thành thật, mong mỏi
đạt tới một cứu cánh cao đẹp trong một thời gian của cuộc đời, dù bất cứ
giá nào cũng phải quyết tâm thực hiện. Tỷ dụ: ngài Tất Ðạt Ða tu dưới gốc
cây Bồ Ðề có thề rằng, nếu Ngài không đạt giác ngộ, thì Ngài không rời
khỏi gốc cây ấy, dù xương tan thịt nát.
-
Lời phát nguyện cũng là lời thề, nhưng có tầm quan trọng lớn hơn,
có ích lợi chẳng phải cho cá nhân mà cho tất cả mọi người ở đời này và
nhiều đời sau nữa. Như trong kinh A Di Ðà, đức Phật khuyên chúng sanh
nhiều lần hãy phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc - quốc độ của Phật A Di Ðà -
nếu nguyện bền chắc. Chỉ cần xưng danh hiệu Ngài mười niệm hay một niệm
mà nhứt tâm cũng được vãng sanh. Dĩ nhiên khi vãng sanh thì không còn
thối chuyển mà tu cho tới khi đắc quả, đắc quả rồi sẽ trở lại độ khắp mọi
chúng sanh thoát tam đồ khổ. Lời phát nguyện có tầm quan trọng rộng lớn
như vậy, và khi đã phát nguyện rồi thì không thối lui nữa. Trong khi lời
thề của thế gian thì khác hẳn lời phát nguyện. Con người thương nhau thì
thề “sống chết có nhau”, “thương yêu nhau tới lúc bạc đầu”… Nhưng khi lửa
tham-sân-si quấy động lấn áp thì họ quên ngay lời thề cũ, và thay lòng đổi
dạ, tạo nghiệp ác, bị trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi!
2)
Trước khi xét đoán thiền sư Ekido, chúng ta nên chọn một căn bản
nào đó để xét kẻo nhầm. Ðứng về Thiền thì ai cũng rõ phải kiến tánh rồi
mới khởi tu. Kiến tánh tức biết trong thân tứ đại hay thân sanh diệt bằng
xương bằng thịt này có phần bất sanh bất diệt. Ðó là TÁNH, PHẬT TÁNH,
CHÂN TÂM. Thân tứ đại chỉ là thân do duyên hợp, thân giả tạm. Thân này
vô thường và vô ngã. Hiểu thân này vô ngã thì khi ai mắng chửi hay đánh
đập ta, ta không buồn hay hận nữa. Thậm chí có bị chết cũng không lo,
không sợ. Giác như vậy, hiểu như vậy, chúng ta không còn cố chấp, nên
thiền sư Ekido cũng như đệ tử của Ngài có chết cũng không còn là vấn đề
phải bàn cãi thắc mắc nữa. Vì khi rõ “vô ngã” rồi thì con người và việc
làm cũng đều hư vọng, vô ngã cả. Trong Duy Thức dạy: “Nhân vô ngã, pháp
vô ngã”.
3)
Ðứng về mặt thế gian, một ông thầy trừng phạt học trò mà làm thiệt
mạng một học trò, nhất định có tội. Thầy quản chúng không thể dững dưng
trước sự việc mà phải làm chứng trước pháp luật về việc phạm pháp trên,
nhưng chẳng phải là đồng lõa. Còn nếu chúng ta đứng về mặt đạo lý và tĩnh
giác được “vô ngã” thì chẳng ai có tội. Vì người còn hư vọng thì việc làm
cũng hư vọng nốt. Thầy quản chúng đã Giác thì thầy dững dưng là hợp với
“Ðạo”, vì vậy thầy chẳng có tội chi hết. Nếu hiểu được mọi pháp đều hư
vọng, thì sống-chết, có tội-không có tội đều hư vọng cả.
4)
Theo thế gian, ba hình thức phạm tội là bị phạt tiền, bị tù treo và
tội bị giam tùy theo mức phạm tội. Tỷ dụ một người tài xế lái xe vượt quá
tốc độ sẽ bị phạt vạ, và lỗi phạm được ghi vào bằng lái một lần. Nếu vì
vô ý hay cố tình gây ra thương tích cho người khác thì có thể bị phạt vạ,
phải bồi thường tiền hoặc bị tù treo. Trường hợp gây ra thiệt mạng hay
chấn thương cho người khác suốt đời thì không thoát khỏi bị phạt vạ và tù
tội. Các trường hợp phạm pháp khác cũng tương tự.
5)
Bình thường ai cũng rõ kỹ luật ở trường học rất cần thiết ngăn chặn
học sinh bỏ xấu theo tốt, giúp họ cố gắng học hỏi trong tinh thần tiến bộ,
ngõ hầu gặt hái kết quả tốt đẹp. Một vị thầy đương nhiên phải nghiêm
khắc, tự làm gương mẫu cho học trò trong việc thi hành nghiêm túc kỷ luật
hay nội qui nhà trường đề ra, có như vậy mới đảm bảo việc học được kết quả
tốt. Tuy nhiên, thời nay trong các trường học vấn đề giáo dục đã có sự
tiến bộ, có dân chủ, có tự giác; khiến ông thầy dạy không còn dùng tới
những hình phạt như đánh đòn, chửi mắng học trò như trước kia nữa. Vì học
trò có tinh thần tự giác, tự biết phải lo chăm chỉ học hành đàng hoàng,
nên giữa thầy trò lại có sự thông cảm, có tình thân và có sự giúp đỡ lẫn
nhau.
Còn đứng về mặt “Ðạo” mà xét,
một vị thầy hay tu sĩ lại cần đặt nặng về đạo đức, nên việc nghiêm khắc
đối với các đệ tử cũng là điều tốt thôi. Vì nghiêm khắc tức có phạm hạnh
làm gương cho các đệ tử giữ giới. Thầy không nghiêm khắc đương nhiên kỷ
luật nội qui không được tôn trọng, dĩ nhiên các đệ tử dễ buông lung, giải
đãi mà tu như vậy thì không có kết quả. Tuy nhiên bên cạnh thái độ nghiêm
khắc của thầy cũng cần có lòng từ bi nữa. Vì từ bi là một vị thuốc bổ
thật cần thiết cho tâm linh chúng sanh.
Một ông thầy từ bi và sáng
suốt luôn luôn được các đệ tử yêu mến mà kính phục, tin tưởng vào đức hạnh
của thầy trong việc dẫn dắt ta tinh tấn tu hành. Tóm lại, nếu một vị thầy
vừa nghiêm khắc, vừa từ bi là một bậc thầy trọn vẹn, và đệ tử luôn luôn
tăng mà không giảm.
Nhận Xét Góp Ý
1. Cả hai đều phát xuất từ
một tâm trạng tỉnh táo muốn hướng tới một tình trạng tốt hơn để làm thăng
hoa cuộc sống, và làm đẹp để cải thiện xã hội nói chung. Tuy nhiên, lời
thề thường được nhìn qua bản ngã nặng trược của con người; trong khi lời
nguyện thì cao thượng hơn, sâu xa hơn, vị tha hơn. Vì một đàng do tâm vụ
lợp hẹp hòi, một đàng do lòng quảng đại chủ lực.
2. Nếu hiểu lẽ sống chết là
thường như bao nhiêu việc khác chung quanh cuộc sống hàng ngày, thì có gì
phải bận tâm tới vấn đề sanh tử. Ekido được tiếng là vị thầy nhân từ, vì
giúp cho một chúng sanh đang đắm chìm trong bể ái thoát kiếp luân hồi.
Việc làm chết người có suy tính của thiền sư đâu phải dững dưng mà được,
phải không?
3. Nguyên nhân nào đưa tới
hậu quả như thế này, thế nọ khi chứng kiến một việc hay sự việc xảy ra,
cần có thời gian suy nghĩ, đối với những người chuyên sống nhiều về đời
sống nội tâm. Thời gian để suy nghĩ vấn đề vừa xảy ra mà thầy quản chúng
trong câu chuyện nhằm trong trường hợp này.
4. Nếu nói về ba hình thức
phạm tội theo thế gian và đạo giáo thì có khác nhau:
- Ba hình thức phạm tội từ
nặng đến nhẹ theo thế gian pháp gồm:
a)
Thủ phạm: người trực tiếp thi hành tội ác.
b)
Tòng phạm: kẻ gián tiếp tạo phương tiện cho người khác phạm tội.
c)
Can phạm: những người tán đồng, bao che tội ác.
- Ba hình thức phạm tội từ
nặng đến nhẹ theo xuất thế gian pháp (đạo giáo) cũng tương tự:
a)
Tự đích thân gây ra tội ác.
b)
Sai khiến, xúi dục người khác phạm tội.
c)
Thấy người khác phạm tội không can ngăn, còn hùa theo bênh vực để
chạy tội dùm, hay thích chí tán đồng…
Một quan tòa công minh xử
theo công pháp có thể bị lầm, nhưng nếu tòa án lương tâm phán xét thì
không thể có kẻ bị hàm oan trước một án lệnh đã thành hình. Cả ba hình
thức phạm tội như vừa nói, nếu đứng về mặt thế gian pháp mà xét thì cả ba
đều đúng luật định, còn xét về mặt đạo lý (lương tâm) nó cũng không sai
lệch.
5. Không hẳn như vậy. Có
nhiều khi nghe danh một người nghiêm khắc, người ta lại càng tìm tới thọ
giáo đông hơn là đằng khác. Thế thường hay có những chuyện nghịch đời như
vậy. Tại sao? Vì việc gì tai nghe không bằng mắt thấy.