Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 
Đối Thoại Thiền
Giai Không
Pháp Bảo, Sydney 1997
---o0o---

 Mục Lục

Lời nói đầu

1.         Finding a diamond on muddy road

            Tìm viên ngọc quí trên đường lầy

2.         Obedience

            Vâng lời

3.         Learning to be silent

            Học im lặng

4.         Time to die

            Ðến thời phải chết

5.         Midnight excursion

            Du hí giữa đêm

6.         Teaching the ultimate

            Lời chỉ giáo thâm hậu

7.         Zen dialogue

            Ðối thoại thiền

8.         The real miracle

            Phép lạ kỳ diệu

9.         No work, no food

            Không làm việc, không ăn

10.       Great waves

            Ðại Lãng

 

 

1.         Finding A Diamond On Muddy Road  ^

Gudo was the emperor’s teacher of his time.  Nevertheless, he used to travel alone as a wandering mendicant.  Once when he was on his way to Edo, the cultural and political centre of the shogunate, he approached a little village named Takenaka.  It was evening and a heavy rain was falling.  Gudo was thoroughly wet.  His straw sandals were in pieces.  At a farmhouse near the village he noticed four or five pair of sandals in the window and decided to buy some dry ones. 

The woman who offered him the sandals, seeing how wet he was, invited him to remain for the night in her home. Gudo accepted, thanking her.  He entered and recited a sutra before the family shrine.  He then was introduced to the woman’s mother, and to her children.   Observing that the entire family was depressed, Gudo asked what was wrong. 

“My husband is a gambler and a drunkard”, the housewife told him.  “When happens to win he drinks and becomes abusive.  When he loses he borrows money from others.  Sometimes when he become thoroughly drunk he does not come home at all.  What can I do?”. 

“I will help him”, said Gudo.  “Here is some money.  Get me a gallon of fine wine and something good to eat.  Then you may retire.  I will meditate before shrine”. 

When the man of the house returned about midnight, quite drunk, he bellowed: “Hey, wife, I am home.  Have you something for me to eat?” 

“I have something for you”, said Gudo, “I happened to be caught in the rain and your wife kindly asked me to remain here for the night.  In return I have bought some wine and fish, so you might as well have them”. 

The man was delighted.  He drunk the wine at once and laid himself down on the floor.  Gudo sat in meditation beside him.  In the morning when the husband awoke he had forgotten about the previous night.  “Who are you?  Where do you come from?”, he asked Gudo, who still was meditating. 

“I am Gudo of Kyoto and I am going on to Edo”, replied the Zen master. 

The man was utterly ashamed.  He apologized profusely to the teacher of his emperor. 

Gudo smiled.  “Everything in this life is impermanent”, he explained.  “Life is very brief.  If you keep on gambling and drinking, you will have no time left to accomplish anything else, and you will cause your family to suffer too”. 

The perception of the husband awoke as if from a dream.  “You are right”, he declared.  “How I can ever repay you for this wonderful teaching.  Let me see you off and carry your things a little way”. 

“If you wish”, assented Gudo. 

The two started out.  After they have gone three miles Gudo told him to return.  “Just another five miles”, he begged Gudo.  They continued on. 

“You may return now”, suggested Gudo.  “After another ten miles”, the man replied. 

“Return now”, said Gudo, when the ten miles had been passed. 

“I am going to follow you all the rest of my life”, declared the man. 

Modern Zen teachers in Japan spring from the lineage of a famous master who was the successor of Gudo.  His name was Mu-nan, the man who never turned back. 

 

Tìm Viên Ngọc Quí Trên Ðường Lầy  ^

Gudo là quốc sư vào thời bấy giờ.  Dù vậy,  sư thường vân du đây đó một mình như người hành khất.  Một hôm trên đường tới Giang Hô, trung tâm văn hóa và chính trị của Nhật thời tướng quân, sư tới một làng nhỏ tên là Takenaka.  Lúc đó trời vừa tối, và mưa nặng hột, Gudo bị ướt cả.  Ðôi giày rơm tơi tả.  Gudo để ý nhà một nông gia kế bên có để bốn, năm đôi giày phía trong cửa sổ, và định mua một đôi. 

Thiếu phụ thấy nhà sư bị ướt dầm dề bèn mời vô nhà nghỉ lại đêm đó, và tặng sư một đôi giày.  Gudo nhận lời và cám ơn bà ta. 

Sư vào nhà và đọc kinh trước bàn thờ của gia đình, rồi thiếu phụ tự giới thiệu mẹ mình và các con với Gudo.  Ðể ý quan sát, sư thấy gia đình có việc gì buồn bực, Gudo hỏi: Có điều gì sai quấy chăng?  Thiếu phụ trả lời: 

“Chồng tôi là một người cờ bạc và nghiện ngập.  Khi thắng anh ấy uống li bì.  Lúc thua anh ta mượn tiền của nhiều người khác.  Tôi phải làm gì bây giờ?  Ðôi khi say sưa anh ấy không về nhà nổi”. 

Gudo nói: “Ðược rồi, tôi sẽ giúp chồng chị.  Ðây là một ít tiền, chị tìm mua cho tôi một hủ rượu ngon và một ít thức ăn; xong rồi chị đi nghỉ đi, còn tôi, tôi sẽ ngồi thiền trước bàn thờ”. 

Vào khoảng nửa đêm người chồng say mèm trở về, anh ta gọi lè nhè: “Mình ơi!  Anh đã về rồi!  Em có gì cho anh ăn không?” 

“Tôi có một món cho anh đây, Gudo nói: tôi đi đường lỡ gặp mưa phải ngưng lại, và được vợ anh tử tế mời tôi ở lại đây đêm nay.  Ðáp lại, tôi mua một ít rượu và cá này, anh có thể dùng được”. 

Hắn ta rất hài lòng nốc lấy rượu ngay và ngã lăn ra thiếp trên sàn nhà; trong khi Gudo ngồi thiền bên cạnh. 

Sáng hôm sau khi thức dậy hắn quên hết mọi chuyện đêm qua.  Hắn ta hỏi nhà sư: “Ông là ai?  Từ đâu đến?”  Gudo đang trong thiền định đáp: “Tôi là Gudo đến từ Kyoto và đi Edo.  Người đàn ông quá đỗi hổ thẹn.  Anh ta cung kính xin lỗi quốc sư. 

Gudo mỉm cười giảng giải: “Mọi vật trên đời này đều vô thường; đời sống quá mong manh.  Nếu anh cứ bài bạc và nghiện ngập, anh sẽ không còn thì giờ để theo đuổi bất cứ một công việc nào khác và anh lại còn gây khổ thêm cho gia đình nữa”. 

Người chồng chợt tỉnh dậy như đang từ một cơn mơ.  Anh ta nói: Thầy dạy thật chi li!  Tôi làm thế nào để tạ  ơn thầy về những lời chỉ giáo tuyệt vời này?  Hãy để tôi theo cùng và mang bớt đồ tiễn thầy một đoạn đường. 

Gudo chấp thuận nói: “Ðược, nếu anh muốn”.  Hai người lên đường.  Sau khi đi được ba dặm, Gudo bảo người đàn ông: Anh nên trở lại.  Anh ta nài nỉ:  Xin đi thêm năm dặm nữa!  Họ tiếp tục… (Khi đi được năm dặm) Gudo nhắc: Anh có thể trở về bây giờ.  Xin 10 dặm nữa, người đàn ông đáp.  Khi đi được mười dặm, Gudo nói: Bây giờ anh nên trở về. 

“Tôi theo thầy trong suốt quảng đời còn lại”, người đàn ông tuyên bố. 

Trong các vị thiền sư hiện đại Nhật Bản, có một vị nổi bật trong sự truyền thừa của Gudo tên là Mu-Nan (Vô Qui), người không bao giờ trở về.

 

Nhận Xét Góp Ý 

Ðọc qua phần đối thoại trên ta nhận thấy có 4 điểm chính cần nêu ra: 

-         Khung cảnh đặc biệt,

-         Nhân vật ít có;

-         Bài thuyết pháp hùng hồn, và

-         Tinh thần nhập thế của Ðại thừa Phật giáo hay Phật Giáo Thiền. 

Giữa đêm khuya tối trời, lại gặp cảnh mưa gió dữ dội nổi lên, khiến cho một người đi đường bị ướt như chuột lột.  Bên đường lại có một căn nhà nhỏ của người nông phu nghèo khổ, đã sống lam lũ quanh năm ở đó.  Nhà có một bà mẹ già và mấy đứa con nhỏ.  Người chồng của thiếu phụ có thể nói là một người đàn ông hư hỏng, gây ra cho cảnh gia đình nghèo lại càng nghèo thêm, với tâm trạng buồn khổ của người thân, nhất là chị vợ của anh ta. 

Cũng may, trong lúc vắng nhà, chị đang khổ tâm không ít về cảnh nhà nghèo, và chồng con, nên gặp người lạ đêm hôm lỡ đường lại gặp mưa, chị không ngần ngại mời vào nhà nghỉ lại qua đêm. 

Người gặp mưa trong đêm tối không ai khác hơn là một vị thiền sư nổi danh mà trong cả nước ai cũng biết tới.  Thiền sư linh cảm nhận ra được cảnh sống của gia đình này có sự xáo trộn, mất hạnh phúc, nên muốn biết việc gì đã xảy ra cho gia đình.  Thiếu phụ trong lúc đang buồn lại có người khơi đúng tâm sự mình, bèn thật tình thuật hết đầu đuôi câu chuyện bất ổn có thể kéo dài đến “đổ vỡ nếp sống gia đình, và ý của bà ta cũng muốn người khách lạ chia sẻ cảm thông.  Ðó cũng là tâm lý chung của hầu hết người đời đều như vậy. 

Thiếu phụ trong câu chuyện trên cũng mang tâm trạng y hệt như thế, vì bà ta mang tâm trạng rất đau khổ cảnh sống của gia đình.  Nhưng thường thì chúng ta muốn thổ lộ việc riêng cho người khác cốt cho vơi bớt nỗi buồn đang chất ngất trong lòng mà không mong được người đối diện hiểu trọn vẹn chiều sâu của vấn đề. 

Ở đây vị Thiền sư nhìn đời bằng cặp mắt tu chứng, đã mở ra khúc mắc cho gia đình đang mất hạnh phúc này, và tìm cách hướng thiện người chồng, thiếu ý thức trách nhiệm và bổn phận, vì bỏ phế vợ con. 

Nhân vật ít có khó gặp trên đời, là vị quốc sư - bậc thầy của cả một nước - gặp gia đình người nông phu nghèo khó.  Chẳng may người chồng đâm ra cờ bạc, rượu chè hư hỏng, khiến người vợ phải chịu cảnh sống đau khổ ấy với một bà mẹ già và mấy đứa con dại trong một căn nhà chật vật về mọi mặt - vật chất, tinh thần, trong cảnh sống lam lũ nơi quê mùa hẩm hiu.  Nhờ sự nhẫn nại đảm đang và cũng do một cơ duyên tình cờ chị gặp được vị quốc sư đang trên đường hoằng hóa, như bắt được ngọc minh châu - quốc bảo - bậc thầy của vua một nước.  Công việc của một quốc sư là cố vấn trong mọi việc quốc sự để giúp vua trị nước.  Nhưng do sự tình cờ hay do một nhân duyên nào đưa tới, Gudo đã đi ngang qua nhà người nông dân đầu tắt mặt tối này, để dẫn dắt anh ta trở lại con đường chân chính? 

Bài thuyết pháp hùng hồn nhất mà sau khi thành đạo, đức Phật cũng chỉ thuyết bài pháp Tứ Ðế - nói về sự khổ - cho 5 người bạn đồng tu lúc trước với Ngài tại vườn Lộc Uyển, thì ngày nay Gudo cũng thuyết bài pháp bất tuyệt ấy.  Nhân duyên hội đủ, nhà sư thuyết giảng về lý vô thường, mạng sống con người ngắn ngủi không có gì bảo đảm chắc chắn.  Từ con người đến vạn vật ở đời, tất cả đều vô thường, và kiếp sống mong manh như sợi chỉ đong đưa trước cơn gió thoảng, không có bất cứ vật gì tồn tại lâu dài cả.  Khi một hơi thở ra nhưng không hít vào trở lại, mạng sống coi như chấm dứt.  Bất cứ trai gái, trẻ già, giàu nghèo sang hèn ai cũng phải chết: cái chết không hẹn bất cứ người nào.  Tại sao con người không ý thức tới sự bấp bênh của kiếp sống mà cứ mãi đắm say trong dục vọng để sa vào hố sâu tội lỗi? 

Tinh thần nhập thế của Ðại thừa Phật giáo: xây dựng cá nhân tốt đẹp, tạo dựng hạnh phúc gia đình, mới ổn định được xã hội và đem lại an lạc phú cường cho đất nước.  Con người là nhân tố chính trong việc xây dựng và phát triển theo hai nghĩa hẹp và rộng.  Cá nhân phải học hỏi, tu sửa bản thân và ổn định gia đình: khi có đủ khả năng kiến thức đem đức độ tài năng giúp đời là phát triển theo nghĩa rộng.  Theo như tinh thần Nho gia, muốn kiến tạo xã hội, con người cũng qua 4 giai đoạn tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ mà như sách Ðại Học nói: dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân, tiên chánh kỳ tâm”.  Nghĩa là: muốn cho thiên hạ được thái bình thì trước hết mỗi quốc gia phải ổn định, muốn cho quốc gia ổn định, trước hết gia đình phải hòa thuận; muốn cho gia đình được hòa thuận, trước hết mỗi người phải sửa đổi những hành vi bất chánh; muốn sửa đổi những hành vi bất chánh, trước hết phải sửa đổi tâm mình cho ngay chánh. 

Từ khi lãnh hội được bài học đắc giá của vị thiền sư, người nông dân bừng vỡ cơn mê muội, và ý thức được vai trò và bổn phận của mình trong gia đình.  Từ đó anh bắt đầu tu tâm sửa tánh và không còn đam mê theo cờ bạc như trước nữa.  Dù anh không trực tiếp đóng góp xây dựng nếp sống gia đình, nhưng với thái độ dứt khoát biết cải tà qui chánh và theo thầy học đạo của anh, cũng là một việc làm hướng thiện và nếu không muốn nói là hướng thượng, cũng đủ để cho gia đình mến phục, quí trọng.  Anh đã tự ăn năn sám hối những lỗi lầm cũ, thật đáng quí biết bao! 

Hai thái độ, một con người trước và sau khi gặp vị Thiền sư, người đàn ông bê tha trở nên đứng đắn khiến cho gia đình tin tưởng yên tâm không còn lo nghĩ như trước nữa; bạn bè không còn khinh khi anh là người hư hỏng mà đem lòng thán phục, kính trọng nhiều hơn

 

 

2.                  Obedience ^

The master Bankei’s talks were attended not only by Zen students but by persons of all ranks and sects.  He never quoted sutras nor indulged in scholastic dissertations.  Instead his words were spoken directly from his heart to the hearts of his listeners. 

His large audiences angered a priest of the Nichiren sect because the adherents had left to hear about Zen.  The self centred Nichiren priest came to the temple, determined to debate with Bankei. 

“Hey, Zen teacher!”  he called out.  “Wait a minute.  Whoever respects you will obey what you say, but a man like myself does not respect you.  Can you make me obey you”. 

Come up beside me and I will show you, said Bankei. 

Proudly the priest pushed his way through the crowd to the teacher. 

Bankei smiled “come over to my left side”. 

The priest obeyed. 

-         No, said Bankei., “We may talk better if you are on the right side.  Step over here”. 

The priest proudly stepped over to the right. 

-         You see, observed Bankei “You are obeying me and I think you are a very gentle person.  Now sit down and listen”. 

 

Vâng Lời ^

Cử tọa tham dự buổi giảng thiền do Thiền sư Bankei chủ giảng không những chỉ các thiền sinh mà gồm có đủ mọi thành phần trong xã hội.  Thiền sư không bao giờ trưng dẫn kinh điển, cũng không đề cập tới những cuộc tranh luận có tính cách học giả.  Những lời Thiền sư phát ra đi thẳng từ tâm chất của mình đến người nghe. 

Số cử tọa đông đảo của Thiền sư khiến một vị Tăng phái Nhật Liên nổi giận, vì họ bỏ ông ta để theo thiền của Bankei. 

Tu sĩ phái Nhật Liên ấy đến thiền viện của Bankei, và bàn cãi với Bankei: 

-         Này, Thiền sư!  Vị Tăng kêu thế.  Xin chờ một chút:  “Ai từng kính trọng Thầy sẽ vâng lời những gì Thầy nói, còn một người như tôi thì không vâng lời Thầy đâu!  Thầy làm sao có thể khiến tôi vâng lời được?”

-         Hãy đến đây tôi sẽ chỉ cho ngài.  Bankei nói. 

Một cách tự hào, vị Tăng sĩ giạt đám thính giả tiến đến chỗ Thiền sư. 

-         Bankei cười bảo: Hãy bước sang bên trái tôi. 

Tăng sĩ vâng lời. 

-         Không, nếu ngài bước sang bên phải tôi thì chúng ta nói chuyện dễ hơn.  Xin bước sang bên đây.  Bankei nói. 

Một cách kiêu hãnh Tăng sĩ bước sang bên phải Bankei. 

-         Bankei vừa trông vừa nói:  Ðó ngài xem, ngài đang vâng lời tôi, và tôi nghĩ ngài là người rất lịch sự hòa nhã.

-         Bây giờ xin hãy ngồi xuống và lắng nghe…

 

Nhận Xét Góp Ý 

Một Thiền sư giảng thiền không cần trưng dẫn kinh điển, không cần tranh luận mà vẫn thu hút được đông đảo thính giả dự nghe.  Họ thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, có kẻ hạ căn, người thượng trí v.v… phải nói Thiền sư là một người lạ thường! 

Cũng như nước của sông ngòi đem chất phù sa tưới bón hoa đồng cỏ nội, mùa màng ở khắp các vùng hạ lưu, cho người dân hiền được no đủ ấm êm.  Bỗng nhiên vào một năm kia, gặp thiên tai, nước lũ tràn ngập lên cao, cuốn phăng đi hết hoa màu, khiến cho nhiều người nông dân lâm cảnh túng nghèo đói khổ.  Có người đâm ra nguyền rủa, oán trách trời đất bất công, gieo bao tai họa cho người lương dân đầu tắt mặt tối suốt quanh năm trong thửa ruộng mãnh vườn, phải lâm vào cảnh cơ cực lầm than. 

Nhờ cơn lụt lớn vừa qua, nước sông mang chất đất mầu mỡ từ nơi cao đem đến, khiến mùa màng năm sau trúng khá, người nông dân trở nên no đủ, tạ ơn trời Phật, khấn vái các Thần… Và họ mở tiệc ăn mừng để cho bỏ những ngày đói khổ. 

Trời cao không nghe thấu, thiên nhiên vốn vô tình, đất trời vẫn lưu chuyển không ngừng, sóng triều vẫn luôn tiếp tục vận hành mỗi ngày hai bận xuống lên … Chỉ có người nông dân nghèo khổ là nhìn thấy có sự áp lực nặng nề từ  đất trời, và vũ trụ, vì họ phải sống cảnh cơ cực âm thầm nơi làng quê hẻo lánh, nên cái nhìn bị gò bó thu hẹp. 

Nước sông vẫn là nước, thiên nhiên bao la rộng lớn không hề thay đổi giảm mức độ tuần hoàn, và đời sống người nông dân vẫn âm thầm trong cảnh ruộng đồng miền quê của thuở nào… 

Phần thảo luận của quý vị dựa theo mạch ý câu chuyện và phần nhận xét.  Có hai cách luận giải: Bằng những câu chuyện dẫn chứng khác rồi đưa về kết luận, tìm ra lời phán minh, hay cách thứ hai, dựa vào những ý chính của câu chuyện có sẵn, rồi độc giả luận rộng hơn nữa, để cho phần nhận xét của chúng ta thêm phong phú.  Theo đó, quý vị giải đáp xem: 

-         Nước và thiên tai trong phần ẩn dụ có liên hệ thế nào với câu chuyện?

-         Những đức tính nào nổi bật nơi Thiền sư và nơi vị Tăng sĩ?

-         Phải chăng Tăng sĩ Nhật Liên muốn tranh giành ảnh hưởng, là người đáng để cho tín đồ khinh thường, và Thiền sư cũng không nên thân cận, vì đã là nhà tu mà tâm địa chưa tu?

-         Giữa hai nhà tu Phật ấy, ai là người xứng đáng cho ta bài học?  Thiền sư, vị Tăng sĩ?

-         Sự khác nhau thế nào giữa Thiền sư và Tăng sĩ? 

Hai phần sau của mục đối thoại là phần thảo luận 5 câu hỏi của quý vị, và phần lý giải đúc kết do người phụ trách sẽ đúc kết ở sau. 

Chắc chắn quý độc giả sẽ hào hứng đón xem trăm hoa đua nở trong “vườn thiền” qua sự đóng góp của quý vị để tô điểm cho mãnh vườn của chúng ta có nhiều hương sắc lạ phảng phất muôn phương. 

Giai Không hy vọng được như thế và mong chư vị đừng phụ lòng mong đợi chút duyên văn nghệ mà hạ cố nhập cuộc. 

Hơi thở, nụ cười điểm tô cho cuộc sống con người, cũng như bông hoa có phấn hương lan xa theo chiều gió thoảng. 

ÐỐI THOẠI THIỀN  được nhiều người chú ý tham gia góp ý.  Ngoài các thiền sinh khóa thiền Pháp Bảo, như đạo hữu Minh Ðăng (Sydney) dự định viết ba trang, nhưng rồi cũng chẳng có được trang nào… vì nghĩ rằng thiếu đất để cắm dùi! 

-         Anh D.P.N. (Bonnyrigg):  Cũng muốn góp mặt, nhưng chờ có người mở màn rồi thừa thế tiến lên mới hanh thông và rộng đường suy luận.  Giờ xin để suy nghĩ đã!  Nghĩ lâu quá mà không diễn thành văn tự e thiền chất sẽ biến mất dạng luôn.

-         P.T. Tung (Kings Cross):  Phần góp ý của bạn quá vắn tắc, nên không cho vào đây được.  Cố gắng viết cho dồi dào một chút cho độc giả nhờ nhé!

-         L.T. (Smithfield):  Cứ mạnh dạn gởi bài tham gia chứ có gì mà đáng ngại, vì chúng ta là kẻ học nghề kia mà!  Ðồng ý, thiền thuộc lãnh vực khó, cần suy nghĩ chín chắn cẩn thận; cũng đừng nên vì nó mà hôi không viết cho mục đối thoại kỳ này!

-         Anh Hoằng Giác (Adelaide):  Kỳ tới sẽ không thiếu sự góp mặt của anh cho mục Ðối Thoại này!  Những độc giả ở xa đang chờ đọc phần của anh đó!

-         Chúc Khương Nguyễn Quốc Thái (Lakemba):  Có nhận xét nhẹ nhàng như sau:  

1.      Nước được ví như chân tâm.  Mục đích của thiền là làm thế nào để chuyển vọng tâm thành chân tâm.  Và như thế được gọi là giác ngộ.  Qua mẫu chuyện trên thiên tai có thể hiểu là vọng tâm.  Vì thiên tai có khi là họa của người này hay tập thể này, nhưng cũng có thể là “phúc” cho kẻ khác hay tập thể khác.  Sự biến đổi và khác biệt ấy… - họa phúc - tạo nên buồn vui may rũi v.v… mà ta gọi là vọng.  Do nghiệp lực và sự chiêu cảm của nghiệp mà chúng sanh nhìn nước dưới nhiều dạng khác nhau.  Hạnh phúc là lợi lạc và đau khổ tức là thiên tai.  Chỉ có nước vẫn là nước, vẫn như như và sự biến hiện họa hay phúc đều do vọng nghiệp duyên kết mà thành. 

2.      Những đức tánh nào nổi bật nơi vị Thiền sư và Tăng sĩ? 

-         Giảng thiền không cần trưng dẫn kinh điển, cũng không đề cập đến những cuộc tranh luận có tính cách học giả, đó là những đức tính nổi bật nhất nơi Thiền sư.  Sự uyên bác của cái học thế gian khác với cái học đạo thiền.  Thiền là trở về với nhất tâm (chân như).  Tranh biện phải trái phơi bày kiến thức hiểu biết to tát chỉ làm tăng thêm tâm phân biệt, do đó không cần thiết cho Thiền.  Ngoài ra, Thiền sư còn có những đức tính khác như vị tha, nhẫn nại v.v…

-         Ðức tính của vị Tăng sĩ là lòng biết phục thiện.  Sự ngồi xuống và lắng nghe lời giảng của Thiền sư ở cuối câu chuyện là một dẫn chứng cụ thể.  Ðó cũng là đức tính muốn cầu học không cố chấp hẹp hòi. 

3.      Phải chăng Tăng sĩ Nhật Liên muốn tranh giành ảnh hưởng, là người đáng để cho tín đồ khinh thường, và Thiền sư cũng không nên thân cận, vì đã là nhà tu mà tâm địa chưa tu? 

-         Không, dưới cặp mắt giác ngộ của Thiền sư thì kẻ hiền cũng như người dữ đều không có gì phân biệt cả: cũng như nước của sông ngòi đem chất phù sa tưới bón khắp hoa đồng cỏ nội – chánh pháp cũng phân bố khắp nơi không từ bỏ một ai, tùy theo duyên nghiệp mỗi người có lãnh hội được hay không mà thôi. 

4.      Giữa hai nhà tu Phật ấy ai là người xứng đáng cho ta bài học? 

-         Ðức vị tha nhẫn nại và lòng muốn gieo rắc chánh pháp cho kẻ lạc lối của Thiền sư là gương sáng cho chúng ta noi theo để tu học. 

5.      Sự khác nhau thế nào giữa Thiền sư và tu sĩ? 

-         Có thể nói khác nhau rất rõ rệt.  Một bên đã giác ngộ, còn một bên thì chưa!

 

Nhận Xét Góp Ý: 

Câu 1:  Ðúng như anh Chúc Khương đã nhận xét. 

Câu 2:  Ðức từ tốn khoan dung có nơi vị Thiền sư thì ngược lại tính nóng nãy ưa nỗi giận nơi vị Tăng sĩ; đức vị tha nhẫn nại và tính biết phục thiện vâng lời có nơi hai vị Tăng sĩ. 

Câu 3:  Giữa thiện và ác như sáng và tối, như úp ngữa bàn tay.  Chưa ai từng thiện hoàn toàn và ngược lại.  Phiền não tức Bồ Ðề như lục tổ Huệ Năng đã nói.  Nhờ tâm kính trọng người mà Thiền sư đã thuyết phục được vị Tăng sĩ quay về với chánh đạo.  Sau khi cải hối vị Tăng tỏ ra thuần thiện biết vâng lời cho mọi lẽ.  Học được đức tính của Thiền sư, chúng ta sẽ thành công mọi mặt ở đời và đạo.  Ðừng thấy việc thiện nhỏ mà lánh xa, cũng đừng khi việc ác nhỏ mà tập thành sẽ có cái hại lớn. 

Câu 4:  Theo quan niệm thông thường thì Thiền sư đáng cho ta bài học hơn cả; còn dưới con mắt thiền, vị Tăng sĩ mới cho ta nhiều điểm đáng quí nổi bật để sửa đổi tâm trần cấu, nhiễm ô thế tục. 

Câu 5:  Thiền sư thực hành thiền quán, còn vị Tăng sĩ theo pháp môn trì kinh, niệm Phật nhiều hơn… Còn một điểm khác biệt khác là vị Thiền sư nhìn sư vật qua nhãn giới của thiền; trong khi đó vị Tăng sĩ, nếu thiếu chuyên tu, sẽ không có được cái nhìn rộng sâu như vậy. 

 

3. Learning To Be Silent ^

The pupils of the Tendai school used to study meditation before Zen entered Japan.  Four of them who were intimate friends promised one another to observe seven days of silence. 

On the first day all were silent.  Their meditation had begun auspiciously, but one night came and the oil lamps were growing dim one of the pupils could not help exclaiming to a servant: “Fix those lamps”.  The second pupil was surprised to hear the first one talk, “We are not suppose to say a word”, he remarked. 

You two are stupid.  Why did you talk asked the third.  “I am the only one who has not talked”, concluded the 4th pupil. 

Học Im Lặng ^

Học sinh của trường Tendai thường học trầm tư trước khi Thiền vào Nhật Bản.  Bốn người trong bọn trẻ là bạn thân với nhau cam kết giữ im lặng trong 7 ngày. 

Ngày đầu, cả bọn đều im lặng.  Việc trầm tư của họ đạt được một cách thắng lợi; nhưng ban đêm đến khi những ngọn đèn dầu mờ dần, một học sinh không giữ được nữa bèn kêu người giúp việc: “Hãy giữ những ngọn đèn lại”.  Anh thứ hai rất ngạc nhiên nghe anh thứ nhất nói thế, bèn nhắc: “Chúng ta không được nói một tiếng nào”. 

Anh thứ ba nói: “Tại sao chúng mày nói?”  Và anh thứ tư kết luận: “Chỉ có tôi là người không nói”. 

1.      Có thể kể câu chuyện nhi đồng tương tự không?

2.      Dẫn câu chuyện học sinh học trầm tư có ý nghĩa gì?

3.      Bạn nên xử trí ra sao trong lúc đang ngồi thiền mà gặp nạn gấp xảy đến?

4.      Chúng ta nghĩ sao về thái độ của 4 học sinh qua lời cam kết của họ lúc đầu?

5.      Việc thi đua giữ im lặng của 4 học sinh, có giống việc tu thiền theo trào lưu hiện tại không? 

*  Bạn Thanh Tâm Nhàn (New South Wales)

 

Qua 5 câu hỏi của Giai Không trong mục Ðối Thoại Thiền kỳ báo vừa rồi, tôi thích nhất hai câu.  Ðó là câu 2 và câu 3.  Vì tự nghĩ chỉ 2 câu này là cốt tủy của vấn đề.  Tuy câu 3 hơi khó giải quyết đối với nhiều người, nhưng tôi cũng xin cố gắng trình bày, gọi là chỗ kiến giải của mình.  Giai Không đừng chê cười chỗ tu còn vụng về của người bạn đạo nhé.  Vì quan niệm rằng, chúng ta sửa đổi, học hỏi bổ túc cho nhau nên mạo viết mục này để gọi là một chút phần nhỏ chia xẻ tu học với nhiều bạn đạo khác ở khắp nơi. 

Câu 2, hỏi:  Dẫn câu chuyện học sinh trầm tư có ý nghĩa gì?  Ðó là thái độ và việc làm của hầu hết chúng ta trong đời sống hàng ngày đua chen danh lợi này.  Phần đông chúng ta chỉ sống cho khía cạnh vật chất mà ít quan tâm tới đời sống tinh thần hay tâm linh.  Vẫn biết rằng đời sống tinh thần quyết định sự an lạc hạnh phúc hay thất bại khổ đau của đời này… nhưng chúng ta vẫn phải lo cho cái ăn cái mặt trước đã mà khoan nói tới các chuyện khác.  Ðó là thái độ thiếu nghiêm túc của mỗi người Phật tử chúng ta.  Vì chúng ta luôn luôn tự dễ dãi và tự tha thứ với chính mình.  Bề ngoài của đời sống được phủ lên một lớp hào nhoáng lộng lẫy, nhưng thực tế là cả một sự vá víu tạm bợ, dòn bở mỏng manh giả tạo.  Vì tự lừa dối, nên chúng ta tham gia đóng góp vào các sinh hoạt rộn ràng của đời sống chuộng ở mặt nổi hơn - kể cả việc tu Thiền theo trào lưu – cũng giống như 4 học sinh học trầm tư trong câu chuyện Thiền vừa qua vậy.

Câu 3, hỏi:  Bạn nên xử trí ra sao trong lúc đang ngồi thiền mà gặp nạn gấp xảy đến?  Theo như kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy trong lúc ta đang ngồi thiền mà gặp những nạn gấp, phần đông đều có phản ứng cách tự nhiên là đứng lên xem xét mọi việc, rồi tiếp tục ngồi trở lại hay cũng có thể hủy bỏ luôn thời khóa tu hôm đó, nếu sự việc xảy ra có phần trầm trọng đáng lưu tâm.  Như thế này nhé: trong trường hợp gặp lửa cháy, nước sôi, tai nạn, kẻ trộm xông vào nhà… là những việc lớn: còn như khách tới gõ cửa, chuông điện thoại reo, con khóc… đều là những việc nhỏ, nhưng cũng có thể gọi là nạn cả.  Thử hỏi gặp những trường hợp như thế này, bạn có đủ can đảm ngồi trầm tư?  Nhờ các bạn bổ túc bằng kinh nghiệm của mình.

Câu 4, hỏi:  Chúng ta nghĩ sao về thái độ của 4 học sinh qua lời cam kết của họ lúc đầu?  Trong đời sống, tôi e rằng chúng ta còn đi ra xa hơn nhiều những gì mà mình hứa trung thành hay chữ tín v.v… của lúc ban đầu.  Như ở phần trên tôi đã có nêu ra là do sự tự dễ dãi và tự tha thứ cho mình, nên chúng ta cứ coi những lời hứa, lời cam kết như “pha” (vượt đèn đỏ) không ra gì cả.  Do đó mới có những vụ kiện tụng ra tòa, vì phá khế ước, hủy giao kèo hay hợp đồng đã được thỏa thuận ký kết giữa đôi bên.  Mặc dù lúc đầu ta đồng ý ký tên vào tờ giấy một cách thành thật.  Cái gì khiến cho ta trở nên ù lì, gian dối?  Có phải chăng lòng tham lam, cố chấp hẹp hòi?  Người Phật tử học Phật, tu Thiền phải suy nghĩ và làm khác hơn thái độ của 4 học sinh kia mới phải cách. 

Câu 5, hỏi: Việc thi đua giữ im lặng của 4 học sinh, có giống việc tu Thiền theo trào lưu hiện tại không?  Tuy hai phạm vi có khác, nhưng không phải là không có liên hệ với nhau ít nhiều.  Thấy người ta được an lạc, mình bắt chước như một “phong trào” của thời đại.  Như thế người ta chỉ có tin một cách automatic mà không chịu tìm hiểu, nên việc tu học đâu đạt kết quả mà chỉ thấy phiền não loạn động dấy khởi nhiều hơn.  Lúc đó niềm tin ban đầu đã không còn giữ nguyên vẹn được nữa.  Bây giờ nghe ai nói đạo này hay ho huyền bí, nhóm thiền kia tu có điển với phép vô vi xuất hồn, thoát xác v.v… người ta hiếu kỳ thực hành thử.  Rốt cục, con đường chân chính thẳng lối thênh thang trước mặt đức Phật chỉ bày, họ không chịu thực hành, lại theo đường tà của ma đưa lối, quỉ dẫn đường và đưa nhau tới chỗ cùng lộ không lối thoát! 

Riêng câu 1, tôi không có ý kiến gì, xin để cho các bạn khác góp ý thêm.

 *  Ông Trung (South Australia) 

Mục đối thoại Thiền rất hữu ích, người dịch rất có nhiệt tình vì đạo pháp, tốn công sức rất nhiều, dịch rất sáng sủa và trung thực.  Tuy nhiên, xin góp ý một điều nhỏ (đừng buồn nhé) để các bài dịch Thiền đạt kết quả 100 phần trăm.  Chẳng hạn ngay ở câu “The pupils of the Tendai school” dịch là “Học sinh của trường Tendai” làm cho người đọc hiểu:  đây là một trường trung học nào đó tên Tendai, nơi đó lại có dạy Thiền.  Bởi vì chữ học sinh khác với chữ Thiền sinh. 

Xin được góp ý: chữ pupils nên dịch là Thiền sinh.  Tendai được dịch ra chữ Việt, Thiên Thai hay là gì gì đó; School không phải là trường mà là tông phái… 

Sau khi xem thơ của bác, Giai Không tôi bối rối một lúc, vì tự nghĩ: như thế hóa ra mình đã làm một việc sai lầm, khiến độc giả cũng đi vào chỗ sai lầm nốt, nên có phần tự hối.  Tuy nhiên, Giai Không vẫn phải tìm hiểu để học hỏi thêm bằng các hỏi ý kiến T.T. chủ nhiệm và quý Thầy đã từng sống lâu năm bên Nhật và xin ghi lại đây như sau: 

-         Tại Nhật, mỗi tông phái của đạo Phật đều có hệ thống trường học từ trung, đại học và ngay cả tiểu học hay mẫu giáo hay lớp ấu trĩ viện (yo-chi’en) ở ngay trong mỗi ngôi chùa lớn.  Như tông Tàu Ðộng (Soto-shu) có đại học Komazawa, tông Nhật Liên với đại học Lập Chánh (Risso), Sáng Giá Học Hội có Sáng Giá đại học (Shoka daigakku), tông Chân Ngôn với Lập Giáo đại học (Rikyo daigakku) v.v… Thế thì chữ pupils không nên và không thể dịch được Thiền sinh.  Bởi lẽ, các học sinh của mỗi tông phái đều phải thực hành Thiền ngay trong lớp học mỗi ngày.  Như vậy 2 tiếng Tendai và school lại càng không nên dịch ý nữa.  Vì làm như thế sẽ không trung thực với thực tại Phật giáo Nhật Bản. 

Giai không xin cám ơn ông rất nhiều đã suy nghĩ và góp ý thật rộng rãi để độc giả có dịp học hỏi thêm những điều bổ ích. 

*  Ðạo Hữu Lê Hữu Khai (Ðan Mạch) 

“… Vạn vật diễn biến theo trật tự thiên nhiên không một bàn tay nào ngăn được mặt trời mọc đằng đông, và lặng về đằng tây.  Sống theo trật tự thiên nhiên là cái lý của đạo Lão.  Sống một cách tự nhiên, đói ăn, khát uống, đó là Thiền.  Sống là Ðạo, cho nên bất cứ phương tiện nào của cuộc sống cũng là Ðạo.  Uống trà cũng là Ðạo: trà đạo – trà Thiền nhất vi.  Võ thuật cũng là Ðạo: Nhu Ðạo, lấy mềm thắng cứng.  Cắm hoa, viết chữ, bắn cung cũng là Ðạo.  Luyện phép vô tâm để cho sự vật tự nó sắp xếp lấy một cách viên mãn nhất, cho đến việc xách nước, bửa củi cũng là Ðạo… Im lặng cũng là Ðạo nốt.

 

“Ði cũng Thiền, ngồi cũng Thiền

Nói im, động tỉnh thảy an nhiên”

H. Giác 

Phần này ứng hợp với câu 1 của kỳ vừa qua. 

 

4.Time To Die ^

Ikkyu, the Zen master, was very clever even as a boy.  His teacher had a precious teacup, a rare antique.  Ikkyu happened to break this cup and was greatly perplexed.  Hearing the footsteps of his teacher, he held the pieces of the cup behind him.  When the master appeared Ikkyu asked: “Why do people have to die?” 

This is natural!  Explained the older man.  “Everything has to die and has just so long to live”. 

Ikkyu, producing the shattered cup, added: “It was time for the cup to die”. 

 

Ðến Thời Phải Chết ^

Ikkya (Nhất Hưu) là một Thiền sư thuở nhỏ rất thông minh.  Thầy của ông có một chiếc tách trà cổ rất quý.  Ikkyu chẳng may làm vỡ cái tách đó và lấy làm bối rối vô cùng.  Khi vừa nghe tiếng chân thầy đi tới, ông dấu những miếng mãnh vỡ của cái tách bên cạnh.  Vừa gặp mặt thầy, Ikkyu hỏi ngay: “Tại sao người ta phải chết?” 

Thầy trả lời: “Ðó là lẽ tự nhiên.  Mọi vật đều phải chết, chứ không thể tồn tại lâu được”. 

Ikkyu bèn đưa cái tách vỡ ra, nói: “Ðã đến thời kỳ cái tách của sư phụ phải vỡ”.  

Câu Hỏi Gợi Ý 

  1. Các độc giả nghĩ sao về thái độ của Ikkyu khi dấu cái tách trà bị vỡ?

  2. Chúng ta có dám can đãm nhận một việc làm sai, hỏng như Ikkyu không?

  3. Khi nào con người mới thành thật với chính mình (hay bạn thành thật với chính bạn)

  4. Tâm lý chung, cái gì quí giá mà bị hư hỏng, mất mát v.v… các bạn phản ứng thế nào?  Tại sao như vậy?

  5. Làm sao sống đúng như thật mà không gây ra những lỗi lầm khiến người khác phật lòng, buồn khổ?

Vấn đề nêu ra vừa rồi là “Ðến Thời Phải Chết”, ở phần cuối Giai Không có đề nghị 5 câu hỏi để bạn góp ý, phê phán nhận xét, hầu làm sáng tỏ những điểm chính trong bài.  Sau đây là một số ý kiến của những độc giả xa gần tham gia góp ý.  Xin thành thật đa tạ quý vị. 

*  Anh Thiện Tín (Queensland) 

Cám ơn Giai Không đã cho tôi một cơ hội diễn tả ý nghĩ của mình về những gì đã học hỏi được đối với Thiền. Tuy nhiên, không biết phải gọi bằng gì cho đúng, tôi xin phép được gọi trổng hai tiếng Giai Không, xin miễn thứ cho những khiếm nhã để trao đổi kinh nghiệm học hỏi trong tinh thần đạo bạn với nhau. 

  • Câu 1:  Bạn nghĩ sao về thái độ của Ikkyu khi dấu cái tách trà bị vỡ?

-         Ðó là một việc rất tự nhiên và thường tình của người đời, vì khi làm hư hỏng, đổ bể, thiệt hại… bất cứ một vật gì của kẻ khác, ta thường che dấu không dám công khai thú nhận lỗi về phần mình.  Thái độ này của con người nhằm thỏa mãn hai khía cạnh tâm lý sau đây: 

a)      Do lòng tự ái sợ bị ê mặt với người có đồ vật bị thiệt hại.

b)      Tính dối trá, hèn nhát ta không dám đường đường như kẻ trượng phu “có làm có chịu”, biết nhận lỗi ngay khi phạm phải lỗi lầm; lại tránh né một cách tồi mạt. 

  • Câu 2: Chúng ta có dám can đảm nhận một việc làm sai, hỏng như Ikkyu không?

-         Câu này có liên quan tới câu 1 ở trên, vì hầu hết chúng ta đều do tính hèn nhát, gian dối và tính tự ái quá cao không dám nhận một việc làm sai, làm hỏng như Ikkyu đã nhận. 

  • Câu 3:  Khi nào con người mới thành thật với chính mình?

-         Thật cũng khó mà biết được khi nào thì ta thành thật với chính mình.  Vì những người không tu (Xin đừng hiểu chữ tu theo lối diễn dịch) hầu như tâm nhiễm ô dày đặc che lấp cả lý trí khó mà nhận ra chỗ sai lầm.  Ngay như đối với người thân yêu mà nhiều lúc ta vẫn cứ che dấu sự thật như thường.  Chỉ khi nào tu đến chứng quả, con người mới giác ngộ để nhận hết những gì sai lầm do chính mình tạo tác. 

  • Câu 4:  Tâm lý chung, cái gì quí giá mà bị hư hỏng, mất mát v.v… các bạn phản ứng thế nào?

-         Câu này tôi tưởng như có phần hơi lõng lẽo mà lại khó hơn nhiều.  Theo tôi, tùy theo lòng sân và tánh keo kiệt của người đó thế nào để có phản ứng bộc phát mạnh mẽ hay chỉ âm thầm kín đáo giữ kỹ trong tâm.  Vì người tiếc của sẽ xem đồ vật quí trọng hơn phẩm giá con người, nên quí món đồ hơn và, người ấy nhìn thiên hạ với cặp mắt nghi ngờ thiếu thiện cảm bằng phản ứng sỗ sàng hung hăng, vũ phu chẳng hạn. 

  • Câu 5:  Làm sao sống đúng như thật mà không gây ra những lỗi lầm khiến người khác phật lòng, buồn khổ?

-         Không hiểu ý GK muốn nói sống như thật là thế nào?  Phải chăng sống theo bản tánh tự nhiên của con người là sống như thật?

*  Bạn Nguyễn Công Khanh (USA)

Theo em nghĩ, mục Ðối Thoại Thiền rất hữu ích đối với người đang tập thiền như em và nhiều người kinh nghiệm khác, nên mạo muội tham gia góp phần với các bạn trong mục này.  Vẫn biết rằng ý lời của mình chưa được gọn và sâu sắc như nhiều người khác, ước mong được học hỏi thêm nơi anh và các bạn. 

Câu 1:  Ikkyu rất khôn ngoan, vì nếu lỡ sư phụ thấy được cái chén quí đã bị vỡ thì biết đâu trong một lúc, người sẽ đánh mắng, quở phạt và giận ghét Ikkyu.  Thái độ của Ikkyu đáng cho ta suy nghĩ học hỏi. 

Câu 2:  Có thể có, nhưng đối với những việc không quan trọng, đồ vật nào không đáng kể thôi. 

Câu 3:  Ta chỉ thành thật với chính ta khi nào đã thỏa mãn được mọi thứ và nhờ vào hoàn cảnh thuận tiện nhất, lúc đó người ta mới thật sự sống cho chính mình. 

Câu 4:  Người đời ai cũng quí những gì do mình tạo ra và làm chủ những vật đó.  Ở đây không cứ là đồ vật thuần túy mà còn về mặt tình cảm, tình yêu thương v.v… nữa cũng vậy.  Có một số người không quí đồ vật bằng tình cảm, tình yêu… khi bị mất mát, thiệt hại.  Và một số khác thì ngược lại.  Vì chúng ta đã có thói quen với những gì đã được nhìn ngắm lâu ngày, trao đổi, xử dụng quen nên khi chúng mất đi, về tay người khác là ta đem lòng tiếc thương, buồn khổ v.v… 

Câu 5:  Sống như thật, tức là sống có đạo hạnh cho ra một con người, không tranh chấp của ai một cách trái phép.  Nếu đã sống được như vậy thì sẽ không làm phật lòng ai cả và làm gì để cho người khác phải buồn khổ, bất mãn! 

*  Ông Thanh Quang (Melbourne) thì có ý kiến hơi khác với mọi người một chút.  Ông nhận xét như sau: 

1.      Ikkyu không thành thật, vì một nhà tu mà còn dấu thầy khi lầm lỗi nhỏ thì sao tu suốt đời được?

2.      Thật ra, Ikkyu đâu có can đảm nếu không nhờ câu nói “mọi vật đều phải chết” của thầy, hẳn Ikkyu đã dấu nhẹm luôn các mãnh chén vụn để phi tang rồi.

3.      Con người luôn luôn thành thật, nhưng do hoàn cảnh xấu tạo nên khiến mất thành thật và tạo ra lắm điều lầm lỗi gian dối.

4.      Phản ứng tiếc, thương, buồn bực … vì tự nghĩ đó là vật do ta chiếm hữu.  Ngược lại, nếu đồ vật cho chí tình yêu thương do chính ta tạo ra sự hư hỏng, mất mát, thì có thể có một thái độ khác.

5.      Nhơn vô thập toàn, con người ai cũng mắc lầm lỗi cả, và không ai có thể tránh gây ra buồn phiền, phật lòng kẻ khác được cả.  Ca dao VN có câu: 

“Ở sao cho vừa lòng người

Ở hẹp người cười, ở rộng người chê

Cao chê ngõng, thấp chê lùn,

Béo chê béo trục béo tròn

Gầy chê xương sống, xương sườn giơ ra”. 

*  Ông Thái Hòa (Sydney) 

  1. Ở đời khôn chết, dại chết, chỉ có kẻ biết là không chết mà thôi.  Biết người và biết ta, chính là kẻ trượng phu vậy.

  2. Chắc chắn là ta không dám nhận phần quấy về mình rồi. Do đó mới tạo ra nhiều điều sai lầm chồng chất từ đời này kiếp nọ.

  3. Tùy theo hoàn cảnh sống của gia đình mà ta đã hấp thụ được, nhất là từ cha mẹ, anh chị em và, trong môi trường xã hội như tại học đường, nơi làm việc… để cho ta huân tập được tánh thành thật ngay thẳng cũng từ nơi đó.  Nếu hấp thụ môi trường và hoàn cảnh xấu nhiều hơn tốt, ta sẽ thiếu thành thật.

  4. Nếu ý thức được rằng không có gì tồn tại vĩnh viễn ở đời, thì phản ứng của ta khi nhìn một vật hư hỏng, mất mát đâu có gì là quan trọng.

  5. Muốn thế phải có đầy đủ đạo hạnh và biết sống xứng đáng để làm mô phạm, dù có gây phật lòng kẻ khác, nhưng không đến nỗi làm cho tha nhân phải buồn khổ quá đáng.

 

Phần Tóm Lược

 

  1. Ikkyu vốn nhận biết rằng thầy mình là một Thiền sư thì, không có lý do gì không hiểu được mọi vật trên đời đều phải trải qua 4 thời kỳ: sinh, trụ, biến thế và hoại diệt.  Không có một vật gì tồn tại vĩnh viễn được cả.

  2. Người tu khi đã kiểm soát và làm chủ được tâm mình thì đâu còn sợ sệt nữa.  Vì hay sợ sệt ta mới thiếu can đãm.  Giữ tâm thanh tịnh không sợ bất cứ việc gì ta sẽ thừa can đãm mà sống cho chính mình và người.

  3. Thành thật có thể tạm gọi là hiểu biết tự trọng.  Tánh hiểu biết con người ai cũng có, nhưng bị những thói hư tật xấu của môi trường và hoàn cảnh tạo nên, khiến lòng thành thật nơi ta từ từ yếu đi, kém dần.  Trong Phật giáo gọi đó là một phần giác (hiểu biết giai đoạn nhất thời, chốt lát không liên tục) để chỉ cho chúng sanh; còn chư Phật, Bồ Tát được toàn giác (giác ngộ hoàn toàn tức luôn luôn tỉnh thức) nên thoát khỏi luân hồi (đồng ý với ông Thái Hòa vậy).

  4. Ý ông Thái Hòa về câu này đáng cho chúng ta tham khảo, học hỏi.

  5. Chỉ khi nào hướng dẫn quần chúng như bậc đạo sư; còn hầu hết chúng ta đều không tránh khỏi làm buồn lòng kẻ khác không nhiều thì ít.

 

5. Midnight Excursion ^

Many pupils were studying meditation under the Zen master Sengai.  One of them used to arise at night, climb over the temple wall, and go to town on a pleasure jaunt. 

Sengai, inspecting the dormitory quarters, found this pupil missing one night and also discovered the high stool he had used to scale the wall, Sengai removed the stool and stood there in the place.  When the wanderer returned, not knowing that Sengai was the stool, he put his feet on the master’s head and jumped down into the grounds.  Discovering what he had done, he was aghast.   

Sengai said: “It is very chilly in the early morning.  Do be careful not to catch cold yourself”. 

The pupil never went out at night again. 

 

Du Hí Giữa Ðêm ^

Nhiều Thiền sinh học thiền dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Sengai.  Một người trong số họ thường thức dậy vào nửa đêm, leo qua tường chùa và ra phố dạo chơi. 

Một đêm, Sengai thị sát các liêu ngủ, thấy một thiền sinh vắng mặt và khám ra thấy được một chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng làm điểm tựa phóng qua tường.  Sengai di chuyển cái ghế đi nơi khác và đứng thay vào chỗ đó.  Lúc anh chàng chơi đêm trở về không biết rằng Sengai là cái ghế, anh đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất.  Chợt khám phá ra những gì mình làm anh hoảng sợ! 

“Sáng hôm nay trời lạnh lắm đấy!  Con hãy cẩn thận đừng để bị cảm lạnh đấy”.  Sengai nói.  Từ đó người đệ tử không bao giờ ra ngoài ban đêm nữa.

 

Câu Hỏi Gợi Ý 

1.      Bạn nghĩ sao về Thiền sinh trong câu chuyện trên đây?

2.      Thiền sinh là một tăng sinh hay một cư sĩ Phật tử tại gia theo học Thiền?

3.      Sengai là vị Thiền sư như thế nào?

4.      Câu nói của Thiền sư đối với đệ tử là lời trách mắng hay tâm thương hại thật sự?

5.      Phải chăng người môn đệ không lén ra ngoài thiền viện ban đêm nữa là giác ngộ? 

Quý Ðạo hữu Tâm Nguyên (Melbourne), Ðoàn Văn Huyện (Sydney) và T. Thành (Perth).  Ðạo hữu Tâm Nguyên nhận xét góp ý Ðối Thoại Thiền “Midnight Excursion” như sau: 

Câu 1:  Bạn nghĩ sao về Thiền sinh trong câu chuyện trên đây? 

Thiền sinh là người mới nhập môn học Thiền nên đạo hạnh chưa được tinh thuần, và vì tuổi còn trẻ nên ưa phóng túng, mặc dù sống trong Tăng viện vẫn có tâm hướng ngoại, tức hướng nhìn về đời sống thế tục hơn.  Vì thế, anh ta thừa cơ hội vắng người lúc nửa đêm lén ra ngoài dạo phố thưởng ngoạn… 

Câu 2:  Thiền sinh là một Tăng sinh hay một cư sĩ Phật tử tại gia theo học Thiền? 

Như câu 1 đã trình bày, Thiền sinh không phải là một Phật tử cư sĩ tại gia mà là người xuất gia, là trưởng tử của đức Phật, sống xa gia đình và nương vào đời sống thanh bần đạm bạc của Tăng viện để học Thiền, và sống luôn tại đó như một cách để phụng sự cho tha nhân. 

Câu 3:  Sengai là vị Thiền sư thế nào? 

Thái độ đối xử với môn đệ của Sengai đáng cho ta suy nghĩ.  Thay vì biết học trò lầm lỗi sai quấy có thể bằng cách quở phạt, trách mắng… lại cảnh giác bằng chính đích thân ra đứng giữa trời vào lúc nửa đêm, chịu gió sương giá rét để theo dõi hành tung của người môn sinh đáng thương này!  Nhờ lòng quảng đại của thầy như là một cách giáo dục cao thượng cho người học trò trở lại con đường chân chánh, tu hành đúng theo qui luật của Tăng viện. 

Câu 4:  Câu nói của Thiền sư đối với đệ tử là lời trách mắng hay thương hại? 

Thật là cách răn dạy đệ tử tuyệt vời của Thiền sư Sengai!  Như ta biết, trong thiền lâm có nhiều cung cách thiền sư hành xử cốt làm cho môn sinh liễu ngộ, bừng vỡ tâm linh trong sự tỉnh thức.  Vì thế thầy không ngại gì mà chẳng giáng những trận đòn chí tử xuống người đệ tử như đánh đá bằng chân tay hay roi gậy, hét mắng, nộ nạt … để hướng thiện học trò trở lại với lương tâm lẽ phải.  Tuy nhiên việc áp dụng công án cũng còn tùy theo tâm tư của người môn đệ để thực sự truyền trao cho một bài học xây dựng mà không bị hoài công dạy dỗ từ bấy lâu nay! 

Câu 5:  Phải chăng người môn đệ không lén ra ngoài thiền viện ban đêm nữa là giác ngộ? 

Thế thường, khi một người lầm lỗi và được người khác chỉ bảo sửa sai, sau đó không dám phạm vào những sai lầm trước nữa.  Ðây chỉ mới là bước thứ nhất không nhúng vào việc lỗi lầm; còn tâm tư có muốn chừa bỏ ăn năn, hối cải những lỗi lầm để tu tỉnh hay không lại là một việc khác.  Người môn đệ muốn tịnh hóa thân tâm hay giác ngộ bằng tỉnh thức thì phải có thái độ dứt khoát giữa tà và chánh, thiện và ác, Phật và ma v.v… 

*  Ðoàn Văn Huyện (Sydney) viết:  Theo như ý nghĩ thô thiển của tôi thì: 

Câu 1:  Thiền sinh như vậy là chưa xứng đáng để học đạo Thiền.  Một người theo học Thiền thì ít ra phải ý thức được những gì mình đang làm để không gây ra tổn hại cho thầy bạn và nếp sống Thiền viện.  Hành động lén lút trốn thầy và chúng bạn ra ngoài đi dạo ban đêm là một việc không thể tha thứ được, nếu không muốn nói là người có tâm bất chính.  Từ đó, anh ta có thể lún sâu hơn vào tội ác như uống rượu, ăn thịt, cờ bạc, hành dâm và giết người thì cũng chỉ còn là trong gang tấc! 

Câu 2:  Không hẳn Tăng sinh học Thiền mới sống được trong Thiền viện mà có nhiều khóa tu dành cho người Phật tử cư sĩ tại gia tổ chức dài hạn cũng vẫn ở tại các thiền đường rộng lớn.  Cho nên người Phật tử có những ý nghĩ thế tình sâu đậm hơn người xuất gia học đạo tu hành. 

Câu 3:  Sengai dạy học trò chưa đúng mức nên mới có những vụ xé rào, tức đệ tử phá luật lệ thiền quy để ra ngoài giải trí ban đêm, hầu bù trừ những khiếm khuyết về đời sống tâm-sinh lý mà ta thường gọi là bị dồn ép.  Vì như ta biết, Thiền sinh này không phải chỉ phạm một lần mà là nhiều lần, sau đó Thiền sư mới hay biết và theo dõi việc làm quấy của môn sinh, bằng cách cảnh tỉnh để về sau người môn đệ không dám tái phạm lại nữa. 

Câu 4:  Giáo dục qua hành đạo hung bạo là một hình thức phản lại nhân tính và phản khoa học tân tiến hiện đại, tức là phản giáo dục.  Mặc dù trong thiền, Thiền sư có thể không từ nan bất cứ một lối áp dụng công án nào từ tàn bạo đến hung hăng độc hiểm, miễn là làm vỡ tung được bức bàn u ê cố chấp nơi tâm tư của người môn đệ.  Ở đây Sengai không dùng gậy độc đánh đập, cũng không la mắng mà bằng lời cảnh cáo nhẹ nhàng “sáng nay trời lạnh lắm, con hãy cẩn thật đừng để bị cảm lạnh đấy!”  như rót vào tai chú học trò đang sơ cơ học đạo này!  Trong câu nói của Thiền sư, ta nhận thấy có chứa cả tâm đại từ bi, hỷ xả, tức lòng thương bao dung tha thứ. 

Câu 5:  Giác ngộ đâu chưa thấy,  nhưng ít ra trong nếp sống tập thể cũng tạo được một khung cảnh tốt đẹp hơn.  Vì trong Thiền đường mọi người đều phải tuân theo hỷ luật và nội qui để không làm xáo trộn sự yên tĩnh chung, để tâm hồn được trong sánh và thanh tịnh.  Anh phải theo khuôn khổ Thiền qui là điều tiên quyết; còn việc giác ngộ hãy khoan nói tới, trong khi anh chưa vượt qua được những thử thách ban đầu. 

*  Bạn T. Thành (Perth) có những nhận xét khác hơn mọi người, anh đã dựa vào lối suy luận cố hữu của mình để diễn dịch.  Tuy vậy anh cũng có đọc qua sách Thiền và biết được các sinh hoạt trong Tăng viện, nên những câu của anh nêu lên có phần xác đáng, bằng một lối nhìn riêng biệt như sau: 

Câu 1:  Qui luật thiền viện quá khắc khe cũng khiến cho người học phải tìm lấy một lối thoát riêng cho chính mình.  Lối thoát duy nhất ấy chính là bất chấp cả dư luận hay luật lệ, bằng cách xé rào để tìm thấy cách thỏa mãn cho đời sống tinh thần đang bị kiềm chế, u uẩn bay vây nhiều lớp tường thành kiên cố.  Vì thế mấy vách tường của Tăng viện dù cao cũng không sao ngăn được tâm niệm muốn vượt thoát của tâm thức còn cao hơn nữa.  Thiền sinh đã tìm cách vượt qua không mấy khó khăn trở ngại.  Cuối cùng anh đã bị phát giác và ngăn chặn lại bằng chính hành động của thầy học.  Anh đã thấy gì?  Chừa bỏ ăn năn cải đổi hay vẫn tiếp tục lún sâu vào tội ác?  Ðộc giả hẳn tìm thấy câu giải đáp qua câu chuyện trên. 

Câu 2:  Có những cư sĩ mà việc làm phi phàm xuất chúng như Duy Ma Cật, thì người Tăng sĩ đâu có sánh kịp được.  Cho nên Thiền sinh dẫn trong câu chuyện cũng có thể là một Phật tử làm được tất cả những việc tầm thường, hầu cảnh tỉnh các bạn đồng môn khác tâm trần chưa được tẩy sạch. 

Câu 3:  Biết người môn đệ phạm lỗi nhiều lần đã lén lút ra ngoài ban đêm, tại sao Thiền sư Sengai không cảnh cáo giữa đại chúng ngay, hầu ngăn chặn bớt những ai có cùng tâm trạng không sa vào lỗi quấy.  Thiền sư nên có thái độ dứt khoát ngay từ đầu để giúp người đệ tử không phạm luật thiền qui, và cũng tránh được dư luận bất thuận lợi cho nếp sống của thiền viện về sau. 

Câu 4:  Câu nói của thầy vừa quở trách vừa thương xót người đệ tử còn sơ cơ chưa thực sự tỉnh thức, cần phải cố gắng nhiều hơn nữa mới mong gội sạch được tâm trần cấu nhiễm ô thế tục.  Thái độ ra đứng giữa đêm khuya tối trời của thầy có thể làm người học trò phản tỉnh mà sửa đổi tâm tánh.  Ngoài ra nhờ sự cảm ứng sâu xa giữa hai tâm hồn nên việc cảm hóa được dễ dàng mau lẹ, khiến người đệ tử trở nên thuần hậu trung kiên trong đạo Thiền. 

Câu 5:  Giác ngộ hay không là do cấp độ tu tiến, phản tỉnh tự tâm của người đệ tử; còn việc lén ra ngoài thiền viện ban đêm cũng chỉ trên hình thức.  Thật vậy, ai biết được tâm niệm xấu ác, mưu mô xảo quyệt của một người, khi mà tâm dục nhiễm còn quá nhiều những bợn nhơ trần cấu.  Vì thế, Thiền sinh không nhảy tường ra ngoài ban đêm nữa chỉ mới là bước thứ nhất của người tu hành giữ theo đúng qui luật của thiền viện; còn việc giác ngộ hay không lại là một việc khác, cần đòi hỏi nếp sống đạo hạnh thanh tịnh mà chính Thiền sinh phải chứng tỏ qua mỗi ngày. 

 

Phần Tóm Lược

Câu 1:  Việc một Thiền sinh còn trẻ tuổi phạm luật của Thiền viện là một điều không làm cho chúng ta ngạc nhiên mấy.  Bởi lẽ có hư mới có nên, miễn tâm đạo giữ cho vững về sau và đi suốt đoạn đường dài là điểm đáng quan tâm hơn cả. 

Câu 2:  Thiền viện thường là nơi hành thiền cho hàng Tăng sĩ, nên ta có thể quả quyết một cách không lầm rằng Thiền sinh là một Tăng sinh, vì đang sống nếp sống nội trú và tập thiền tại thiền viện do Thiền sư Sengai hướng dẫn.  Như ta biết tại các thiền viện Nhật ít có hay hầu như không tổ chức những khóa tu Thiền dài hạn cho hàng Phật tử tại gia. 

Câu 3:  Sengai dạy học trò bằng ý giáo hơn là thân giáo và khẩu giáo, vì thế dễ cảm hóa được người ngay, dù người đó có tâm cứng cỏi sắt đá đến thế nào đi nữa cũng phải chịu khuất phục trước uy danh đạo đức của thầy. 

Câu 4:  Câu nói của thầy tuy đơn sơ nhẹ nhàng, nhưng là một cú tát đau điếng đánh thẳng vào nhược điểm của người đệ tử để từ bỏ những tâm niệm đen tối chưa trừ diệt được và còn mạnh hơn cả một trận đòn chí tử giánh xuống thân hình và đầu óc còn non nớt của Thiền sinh, một khi anh ta đã phạm lỗi lầm. 

Câu 5:  Giác ngộ là sự tỉnh thức, tức là luôn luôn sáng suốt không bị phiền não nhiễm ô nữa.  Vì thế một người muốn giác ngộ phải cần nổ lực gột rửa tâm trần trong từng tâm niệm bởi chính mình, tức là cần phải tự lực hơn là nhờ vào tha lực.  Thiền sinh nhờ tha lực của thầy từ bỏ một việc làm sai quấy thì chưa có thể đạt đến giác ngộ đúng nghĩa được. 

 

6. Teaching The Ultimate ^

In early times in Japan, bamboo-and-paper lanterns were used with candles inside.  A blind man, visiting a friend one night, was offered a lantern to carry home with him. 

“I do not need a lantern”, he said.  “Darkness or light is all the same to me”.

 “I know you do not need a lantern to find your way”, his friend replied, “but if you don’t have one, someone else may run into you.  So you must take it”. 

The blind man started off with the lantern and before he had walked very far someone ran squarely into him.  “Look out where you are going?”, he exclaimed to the stranger.  “Can’t you see this lantern?”. 

“Your candle has burned out, brother”, replied the stranger. 

 

Lời Chỉ Giáo Thâm Hậu ^

Ở Nhật trước đây chiếc lồng đèn bằng tre bọc giấy bên trong có gắn đèn cầy được dùng rất phổ thông.  Một đêm kia, có một người mù tới thăm bạn, và anh được tặng một chiết lồng đèn mang về nhà. 

-         Tôi đâu cần lồng đèn!  Ánh sáng và bóng tối đối với tôi đều giống nhau, anh nói.

-         Anh không cần lồng đèn soi sáng đường đi, người bạn trả lời, nhưng nếu anh không có đèn, người ta sẽ đụng anh; vì thế anh phải cầm một chiếc. 

N