Tổ
Bồ Ðề Ðạt Ma
Chánh Trí
---o0o---
I. TIỂU SỬ SƯ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
Tổ
thứ 28 Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là người nước Quốc Hương, thuộc Nam
Thiên Trúc (Dekhan), tức Ấn Ðộ, con thứ ba của vua Chí Vương, dòng Sát đế
lỵ, tên tục là Bồ Ðề Ða La (Bodhitara). Nhân đến Quốc Hương thọ lễ cúng
dường của nhà vua, Tổ thứ 27, Bát Nhã Ða La (Prajnâtara) gặp Bồ Ðề Ða La,
nhận thức ở vị hoàng tử này nhiều nét đặc biệt, mới thử bảo cùng hai anh
biện luận về chữ Tâm. Thấy Bồ Ðề Ða La phát minh được yếu điểm của tâm, Tổ
mới kêu đến và nói: "Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông lượng, mà Ðạt
Ma có nghĩa là thông đạt rộng lớn, vậy hoàng tử nên lấy tên là Bồ Ðề Ðạt
Ma". Hoàng tử nhận và bái tổ thứ 27 làm thầy.

Tổ
Bồ Ðề Ðạt Ma
Tranh lụa của Hoạ Sĩ Phượng Hồng
Nhớ lời Tổ dặn phải xuất dương
mới thành đạo nghiệp vĩ đại, Bồ Ðề Ðạt Ma vào độ gần tám mươi tuổi xuống
thuyền ra khơi Nam Hải. Triều nhà Lương bên Trung Quốc, năm Phổ thông thứ
8, nhằm mồng một tháng mười năm Ðinh Mùi (520) sau T.C.), thuyền đến Quảng
Châu, thứ sử tỉnh nầy lấy lễ nghinh tiếp và dâng biểu về triều báo tin.
Lương Võ Ðế sai sứ đi thỉnh về thành đô là Kim Lăng. Ðế hỏi:
- Trẫm từ lên ngôi đến
nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công
đức gì không?
Sư
Ðạt Ma đáp:
-
Ðều không có công đức.
-
Tại sao không công đức.
-
Bởi vì những việc vua làm là nhân "hữu lậu", chỉ có những quả nhỏ trong
vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.
-
Vậy công đức chân thật là gì?
-
Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng,
như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như
xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.
Vua lại hỏi:
-
Nghĩa tột của thánh đế là gì?
-
Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.
-
Ai đang đối diện với trẫm đây?
-
Tôi không biết.
Sau câu chuyện đối đáp này, Sư biết tâm vua không khế hợp được với pháp
mình, vì vậy đến ngày 19 tháng 10 năm ấy, Sư về Giang Bắc, rồi tới 22
tháng 11 lại sang Lạc Dương. Ðến đời Hậu Ngụy, vua Hiếu Dương, năm Thái
Hòa thứ 10, Sư lên Tung Sơn vào chùa Thiếu Lâm, ngồi ngó vào vách, trọn
ngày làm thinh. Người đời không hiểu gì cả, gọi Sư là "Bích quán Bà la
môn", nghĩa là ông Bà la môn ngó vách. Lúc bấy giờ có một vị Tăng, tên là
Thần Quang, học rộng hiểu nhiều. Nghe danh Sư, Thần Quang đến Thiếu Lâm tự
và đứng ngoài sân chùa chờ dịp yết kiến. Nhằm tiết đông thiên (mồng 9
tháng chạp), đến đêm tuyết xuống như mưa, cao quá đầu gối, Thần Quang vẫn
trì chí đứng yên một chỗ. Sư thương tình, kêu hỏi:
-
Ông đứng trong tuyết lâu như thế, ý muốn cầu gì?
Thần Quang khóc, bạch:
-
Cúi xin Hòa thượng từ bi mở cửa cam lộ, rộng độ quần sanh.
-
Diệu đạo của chư Phật phải nhiều kiếp tinh tấn, cần mẫn làm cho được những
việc khó làm, nhẫn cho được những điều khó nhẫn, hàng đức nhỏ, trí nông,
lòng đầy khinh khi, kiêu ngạo, há chịu nổi nhọc nhằn khổ cực sao mà muốn
học phép chân thừa.
Thần Quang nghe Sư quở, bèn lấy dao bén, tự đọan cánh tay trái, để chứng
minh lòng thành khẩn cầu đạo của mình. Sư biết gặp được "pháp khí" (nghĩa
là một khí dụng tốt để truyền bá chánh pháp).
Bèn nói:
-
Chư Phật, lúc phát tâm cầu đạo, dám vì pháp bỏ thân, nay ông chặt tay
trước mặt tội, vậy ông muốn cầu gì?
Nói xong Sư bèn đổi tên Thần Quang ra Huệ Khả.
Thần Quang bạch:
-
Có thể nghe pháp ấn của chư Phật chăng?
-
Pháp ấn của chư Phật, không phải tùng người mà được.
-
Nhưng tâm tôi chưa được an bình thì làm thế nào? Xin Sư cho tâm tôi được
an bình.
-
Thì ông đưa tâm đây. Sư đáp, ta sẽ cho.
-
Tôi tìm tâm mãi mà chưa được.
-
Thế là ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Vua Hậu Ngụy Hiếu Minh nghe Sư có nhiều sự lạ lùng, sai sứ đến triệu trước
sau ba lần, Sư đều từ không chịu xuống núi. Nhà vua càng đem lòng kính
trọng và sai người đem đến ban cho Sư hai áo cà sa và một bình bát bằng
vàng. Sư cũng từ ba phen, nhưng sau thấy nhà vua kiên tâm dâng cúng Sư mới
nhận. Chín năm trôi qua, từ khi Sư đến Trung Quốc, Sư có ý muốn hồi hương,
cho nên kêu các đệ tử nói: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói
cho ta nghe sở đắc của mình".
Ðạo Phó bạch:
-
Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng
lìa văn tự.
Sư
đáp:
-
Ông được lớp da của tôi rồi.
Tổng trì Ni nói:
-
Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy nước Phật (tâm) bất động, thấy được
một lần, sau không thấy lại nữa.
Sư
nói:
-
Bà được phần thịt của tôi rồi.
Ðạo Dục, một đệ tử khác, bạch:
-
Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là
không một pháp nào khả được.
Sư
đáp:
-
Ông được bộ xương của tôi rồi.
Rốt hết, tới phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không
bạch không nói gì cả. Sư bảo:
-
Ông được lớp mỡ trong ống xương tôi rồi.
Rồi ngó Huệ Khả, Sư nói tiếp:
-
Xưa Như Lai trao "Chánh pháp nhãn tạng" cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp
chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà
ngươi khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho
một việc, ngươi nên khá biết.
Huệ Khả bạch:
-
Thỉnh Sư chỉ bảo cho.
Sư
nói:
-
Trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; ngoài, trao cà sa để định tông
chỉ. Ðời sau, trong cảnh cạnh tranh, nếu có người hỏi ngươi con cái nhà
ai, bằng vào đâu mà nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ
của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta diệt rồi, việc
truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều,
còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo
pháp, đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe bài kệ của
ta:
Ngô bổn lai tư thổ,
Truyền pháp cứu mê
tình.
Nhất hoa khai ngũ
diệp,
Kết quả tự nhiên
thành.
Dịch:
Ta đến đây với nguyện,
Truyền pháp cứu người
mê.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái trổ ê hề.
Sư lại nói thêm: "Ta có bộ kinh
Lăng Già bốn cuốn, nay cũng giao luôn cho ngươi, đó là đường vào tâm giới,
giúp chúng sanh mở được cửa kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn sang đến
phương Ðông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên
vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nhưng bao nhiêu cuộc gặp gỡ không
làm ta mất lòng, bất đắc dĩ phải ừ hử vậy thôi. Nay được ngươi để truyền
thọ y pháp, ý ta đã toại! Nói xong, Sư cùng đệ tử đến chùa Thiên Thánh lưu
lại ba hôm.
Có
người tên là Thành Thái, tự Dương Huyễn, sớm mộ phương tu thành Phật, đến
hỏi:
-
Nghe Sư bên Tây Thiên, thừa tiếp pháp ấn làm Tổ, vậy xin dạy cho con biết
con đường đưa đến vị Tổ như thế nào?
Sư
đáp:
-
Sáng rõ Phật là tâm, nói làm cho phù hợp, đó gọi là Tổ.
-
Ngoài ra còn gì không?
-
Nên sáng tâm người, biết rành kim cổ, chẳng chán có không, đối pháp chẳng
nắm, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Giải được như thế, đáng
xưng là Tổ.
Thành Thái lại hỏi:
-
Ðệ tử lấy tâm quy y Tam bảo đã mấy năm rồi, nhưng trí huệ còn mù mờ, chân
lý chưa rõ. Nay nghe được một ít lời Sư, biết rằng đệ tử đã lầm lớn, cúi
xin Sư từ bi khai mở đường tu cho.
Sư
biết lòng Thành Thái đã đúng mức, liền nói bài kệ như sau:
Diệc bất đổ ác nhi sanh
hiềm,
Diệc bất quán thiện
nhi cần thố.
Diệc bất xả trí nhi
cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi
tựu ngộ.
Ðạt đại đạo hề quá
lượng,
Thông đạt tâm hề xuất
độ,
Bất dử thánh phàm đồng
triền,
Siêu nhiên danh chi
viết Tổ.
Dịch:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh
chê,
Cũng đừng thấy lành mà
ái mộ.
Cững đừng bỏ trí mà
gần ngu,
Cũng đừng buông mê mà
cầu ngộ.
Ðược vậy thì:
Ðến đại đạo rộng vô
lượng,
Thông Phật tâm muôn
cứu độ.
Chẳng ước thánh phàm
sánh vai,
Vượt trên đối đải gọi
là Tổ.
Thành Thái nghe kệ nửa vui nửa
xót, bạch:
- Xin Sư ở lâu thế gian
để hóa đạo quần chúng hữu tình.
- Ta sắp đi đây, không
thể ở lâu; người đời căn tánh muôn sai, ta đã gặp nhiều hoạn nạn rồi.
- Ai làm hại Sư, xin cho
biết, đệ tử nguyện trừ.
- Ai đã đem bí mật của
Phật ra truyền để lợi ích quần mê, nay hại người để mình an, làm sao có lý
ấy đặng?!
- Sư chẳng nói, lấy gì
tiêu biểu cho sức thông biết khắp cùng của Sư?
Sư
không đáp, đọc một bài kệ sau đây có tính cách như một bài sấm:
Giang tra phân ngọc lãng,
Quản cự khai kim tỏa.
Ngũ khẩu tương cộng
hành,
Cửu thập vô bỉ ngã.
Dịch:
Thuyền lướt, chia sóng ngọc,
Ðuốc nêu, mở khóa
vàng.
Năm miệng đồng cùng
khứ
Chín, mười hết ta,
chàng.
Thành Thái không hiểu gì cả, chỉ
gắng ghi vào lòng rồi từ tạ lui gót.
Bài sấm của Sư, đương thời không ai độ được, nhưng về sau đã phù nghiệm,
như chúng ta sẽ thấy.
Dưới thời nhà Ngụy, kẻ anh tài chống lại với Thiền môn rất nhiều, nào
Quang Thống luật sư, nào Lưu Chi Tam Tạng... đều là bậc loan phụng trong
hàng Tăng chúng. Thấy Sư luôn luôn lấy tâm làm trọng, các vị đã cùng Sư
luận nghị mấy phen, nhiệt liệt ồn ào như ong vỡ tổ. Trong khi ấy, xa gần
Sư đều cho nổi lên một ngọn huyền phong và đổ xuống một trận mưa pháp,
chan rải khắp nơi, kết quả không sao lường được. Sự thành công vẽ vang này
càng kích thích kẻ ác gia tâm dùng thuốc độc hại Sư.
Trên thực tế, Sư đã bị thuốc năm lần. Ðến lần thứ sáu, thấy sứ mệnh hoằng
pháp đã hoàn thành, công việc truyền pháp đã tìm ra người, Sư không tự cứu
nữa, ngồi an nhiên tịch diệt. Lúc ấy là năm Thái Hòa thứ 19 đời Hiếu Minh
Hậu Ngụy, nhằm ngày mồng 9 tháng 10 năm Bính Thìn, tức năm Ðại Thông thứ 2
triều nhà Lương. Ðến ngày 18 tháng chạp cùng năm, nhục thể của Sư được
nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm, núi Hùng Nhĩ. Thật là đúng như lời sấm của
Sư, câu "ngũ khẩu tương cộng hành" có nghĩa là "ngô tương hành", vì ghép
chử NGŨ trên chữ KHẨU thì thành chữ NGÔ, và câu này có nghĩa là "Ta sẽ
đi". Còn câu chót "cửu thập vô bỉ ngã" quả là Sư đã nói trước ngày viên
tịch: mồng chín (cửu) tháng mười (thập).
Ba
năm sau, Tống Vân quan nhà Ngụy, đi sứ Tây Vực về, gặp Sư Ðạt Ma tại ngọn
Thông Lãnh. Thấy Sư tay cầm một chiếc dép, một mình đi mau như bay, Tống
Vân hỏi:
-
Sư đi đâu đó?
Sư
đáp:
-
Ta về Tây phương.
Rồi Sư lại nói thêm: "Chủ của Ông đã chán đời rồi".
Ngẩn ngơ, Tống Vân từ giả Sư và hấp tấp về phục mạng, thì ra vua Minh Ðế
đã thăng hà. Tống Vân tâu việc gặp Sư lên vua Hiếu Trang mới tức vị. Vua
ra lệnh quật mồ. Trong quan tài không có gì cả, ngoài một chiếc dép da.
Các quan lãnh lịnh khám nghiệm hết sức kinh ngạc và thán phục. Vua sắc đưa
chiếc dép của Sư lưu lại về chùa Thiếu Lâm thờ. Ðến đời Khai Nguyên năm
thứ 15 nhà Ðường, nhằm năm Ðinh Mão hàng thiện tín lại dời báu vật về chùa
Hoa Nghiêm, đến nay không biết còn mất và ở đâu.
Tổ
Bồ Ðề Ðạt Ma được nhà vua phong là Viên Giác Thiền Sư, còn ngọn tháp của
Tổ gọi là Không Quán. Thiền tông Trung Hoa tôn Tổ làm Sơ Tổ.
CHÁNH TRÍ
(Viết theo sách Truyền
Ðăng Lục)
II. CĂN BẢN PHÁP của THIỀN ÐAT MA
Phật Quả Viên Ngộ bình xướng
CỬ
:
Lương Võ Ðế
hỏi đại sư Ðạt Ma: "Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?"
Ðạt Ma
đáp: "Quách nhiên vô thánh".
Ðế
nói: "Ðối mặt trẫm là ai?"
Ma
đáp: "Không biết".
Võ Ðế
không khế hợp được. Ma bèn băng sông qua đất Ngụy.
Sau Võ Ðế đem câu chuyện ấy hỏi lại Hòa thượng Chí Công. Công
nói: "Bây giờ bệ hạ biết người ấy là ai chưa?" Ðế đáp: "Không biết".
Công nói: "Ðó là đại sĩ Quán Âm truyền tâm ấn Phật".
Ðế ăn năn, sai sứ đi thỉnh, nhưng Ma không trở lại.
*
Ðạt Ma xa trông xứ này có chân khí đại thừa bèn phăng phăng cỡi sóng sang
đây truyền riêng tâm ấn, vạch rõ bùn mê, mở pháp "Chẳng lập văn tự, chỉ
thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật". Nếu bằng vào cái thấy ấy được thì
mặc thích tự do, chẳng buông theo ngữ ngôn chuyển, vỡ tung ra mà hiện
thành, có thể tùy tiện cùng Võ Ðế, đối đàm ngang vai với nhị Tổ (Huệ Khả)
xử phép an tâm; đó là cái thấy tự nhiên, chẳng tính toán so đo, tình trần
một đao đứt tuyệt, thanh thoát lâng lâng, hà tất phân phải phân trái, luận
mất luận còn. Ðành là như vậy, nhưng dễ có mấy ai?
Võ
Ðế từng đắp cà sa, tự giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã, cảm đến hoa trời
ngổn ngang rơi xuống đất hóa vàng, biện đạo nêu Phật, dạy bảo thiên hạ,
cất chùa độ tăng, dựa theo giáo nghĩa
tu
hành, người người tôn là vị thiên tử có tâm Phật.
Thoạt tiên gặp Ðạt Ma, Võ Ðế hỏi: "Trẫm cất chùa độ tăng, có công đức gì?"
Ma đáp: "Không công đức". ...
Võ
Ðế cùng với pháp sư Lâu Ước, đại sĩ Ðạo Phó và thái tử Chiêu Minh trì luận
chân tục hai đế, căn cứ theo giáo nghĩa thì chân đế biện minh cái chẳng
phải có (phi hữu), tục đế biện minh cái chẳng phải không (phi vô), chân
tục chẳng phải hai, tức thánh đế đệ nhất nghĩa. Ðó là chỗ cực diệu cùng
huyền của hàng giáo gia. Võ Ðế bèn đem điểm cực tắc ấy hỏi Ðạt Ma: "Thế
nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?" Ma đáp: "Quách nhiên vô thánh". Hàng nạp
tăng trong thiên hạ chạy đâu cho khỏi. Ðạt Ma vì ai một đao dứt tuyệt hết
rồi!
Ngũ Tổ tiên sư (Hoằng Nhẫn) nói: chỉ mấy chữ quách nhiên vô thánh ấy, ai
thấu suốt được về nhà ngồi yên. Ðó là chỗ kỳ đặc của Ðạt Ma một mực đánh
thẳng vào khối cát đằng
,
chẳng ngại vì người đập nát thùng sơn
. Nên nói: tham suốt được một câu thì ngàn
câu vạn câu đồng thời suốt, ngồi đâu yên đó, nắm gì vững nấy. Người xưa
nói:
Thịt nát xương tan chữa đền xong,
Một câu siêu thoát ngàn ức kiếp.
Võ
Ðế không tỉnh, lại đem kiến giải nhân ngã hỏi: "Ðối mặt trẫm là ai?". Ðạt
Ma rải lòng từ bi lân mẫn xoay qua nói: "Không biết". Ðến đây thì hữu sự
vô sự không nêu lên được nữa.
Ðoạn hòa thượng có lời tụng vầy:
Nhất tiễn tầm thường lạc nhất
điêu,
Cánh gia nhất tiễn dĩ
tương thiêu.
Trực qui Thiếu Thất phong
tiền tọa,
Lương chúa hư ngôn cánh
khứ chiêu.
Tầm thường một mũi lạc chim điêu,
Mũi nữa bồi thêm đốt cháy tiêu.
Thiếu Thất thẳng lên ngồi vách đá,
Vua Lương thôi chớ thỉnh cùng kêu.
Lại nói:
Sao muốn gọi về? Ðế chẳng khế hợp, lão hán thầm lặng qua sông sang Ngụy,
chẳng lộ mặt, đi thẳng lên Thiếu Thất, chín năm diện bích, tiếp độ được
Huệ Khả... Sau độ đến người thứ sáu, hóa duyên đã xong, truyền pháp đã có
người, Sư không tự cứu nữa, đoạn ngồi nghiêm hóa êm, nhục thân táng tại
chùa Ðịnh Lâm núi Hùng Nhĩ. Võ Ðế hồi tưởng, tự soạn bia văn như sau:
Hỡi ôi!
Thấy như chẳng thấy
Gặp như chẳng gặp
Ðối mặt như chẳng đối
mặt.
Xưa đâu nay đâu
Oán bấy hận bấy.
Lại tán
rằng:
Tâm có chăng?
Khoáng kiếp uổng trệ phàm
phu.
Tâm không chăng?
Sát na sớm lên diệu giác.
BÍCH
NHAM LỤC
(Quyển I, tắc 1)
III. Trương Thiếu Tề giảng thoại.
Về
căn bản pháp của Thiền, thử quan sát trong bộ Bích Nham Tập, trước hết ta
không thể không đề lên tắc
thứ nhất gọi là "thánh đế đệ nhất nghĩa".
Thiết tưởng ý thú của Viên Ngộ soạn Bích Nham Tập qui thức ở tắc ấy, nên
mới gọi là "đệ nhất tắc". Nhân lấy đó làm căn bản pháp của thiền, làm cơ
bản dựng tông mở giáo, nên trước hết cần minh thị câu nói đầu tiên ấy của
Ðạt Ma khi đến xứ này.
... Ðiểm chủ yếu của tắc ấy nằm trong bốn chữ "Quách nhiên vô thánh".
Lương Võ Ðế hỏi về "thánh đế đệ nhất nghĩa", ấy là nhà vua lập cước ở nhị
đế quan của Phật giáo, tức là chân tục hai đế của toàn thể Phật giáo giáo
nghĩa. Ðế có nghĩa là chân lý. Võ Ðế hỏi về chân lý của chân đế trong hai
đế trên; cái mà nhà vua gọi là đệ nhất nghĩa chẳng qua chỉ là chân lý của
giáo nghĩa, chưa phải là chân lý của cảnh giới tự chứng, tự ngộ. Ðạt Ma
đáp là "Quách nhiên vô thánh", cốt bảo rằng căn bản pháp của thiền là
"truyền riêng ngoài giáo" chứ không phải là thứ thánh đế như trong giáo
học nói. Nên bốn chữ "quách nhiên vô thánh" có thể coi như minh thị xác
đáng nhất căn bản pháp của đạo Thiền.
Lương Võ Ðế hỏi về đệ nhất nghĩa, sao Ðạt Ma đáp là "quách nhiên vô
thánh"? Trước hết ta nên khảo sát ý nghĩa rốt ráo của thuật ngữ "đệ nhất
nghĩa". Kinh Lăng Già, tập I, phẩm 2, Nhất thiết pháp phẩm, nói:
Bồ tát Ðại Huệ bạch Phật
rằng: "Thế Tôn! Có phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa? Có phải sở thuyết là
đệ nhất nghĩa". Phật bảo Ðại Huệ: "Chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất
nghĩa, mà cũng chẳng phải sở thuyết là đệ nhất nghĩa. Tại sao vậy? Cái gọi
đệ nhất nghĩa là chỗ an vui, sở nhập của bậc thánh nói lên, đó là đệ nhất
nghĩa, chớ chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa. Cái nghĩa đệ nhất ấy,
là chỗ sở đắc của thánh trí tự tri, phải đâu là cảnh giới của ngôn thuyết
vọng tưởng, nên ngôn thuyết vọng tưởng không hiển thị được đệ nhất nghĩa.
Ngôn thuyết vốn do nhân duyên khởi, có sanh diệt, giao động, lăng xăng; đã
là nhân duyên khởi thì không hiển thị được đệ nhất nghĩa.
Xét theo đó thì đệ nhất nghĩa là
cái hiển minh tột bực chân cảnh giới tự chứng ngộ của Phật đà, siêu việt
cả phàm và thánh. Sở dĩ Ðạt Ma đáp lại "quách nhiên vô thánh" chính là chỉ
vào cảnh giới tự chứng tự ngộ. Võ Ðế hỏi đệ nhất nghĩa, Ðạt Ma đáp đệ nhất
nghĩa, ý nghĩa chẳng đồng nhau. Người hỏi là hỏi đệ nhất nghĩa của chân đế
trong nhị đế. Người đáp là đáp đệ nhật nghĩa của thánh trí tự giác của
Phật đà. Cảnh giới tự giác vốn siêu việt cả chân tục hai đế, tức cảnh Niết
bàn tuyệt đối, nên Võ Ðế ngẩn ngơ không lãnh hội được.
Nhưng thử hỏi tại sao nêu lời đáp ấy làm cảnh giới tự chứng? Vì "quách
nhiên vô thánh" là cảnh giới siêu việt tất cả phàm thánh, phải trái được
mất, là cảnh giới thạnh tịnh tự do vô ngại vậy.
Vậy tỏ rõ Ðạt Ma đã đưa ra lời đáp chẳng qua cốt thị hiện cảnh giới tự
chứng; đúng là Sư huy động thanh bi kiếm quách nhiên vô thánh, hướng thẳng
vào Võ Ðế xả mạnh một đường gươm trên khối cấu ý trần tình của giáo nghĩa
và tri giải, thanh thoát lâng lâng đúng như lập trường cứu tế đề xướng ra;
chính đó là điều ta cần ghi nhớ.
Trong bài bình xướng, Viên Ngộ có nói:
Võ Ðế cùng với pháp sư Lâu
Ước, đại sĩ Ðạo Phó và thái tử Chiêu Minh trì luận chân tục hai đế. Căn cứ
theo giáo nghĩa thì chân đế làm sáng tỏ cái phi hữu, tục đế làm sáng tỏ
cái phi vô; chân tục chẳng hai, tức thánh đế đệ nhất nghĩa; đó là chỗ cực
diệu cùng huyền của hàng giáo gia. Võ Ðế bèn đem điểm cực tắc ấy hỏi Ðạt
Ma: "Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?" Ma đáp: "Quách nhiên vô thánh".
Nạp tăng trong thiên hạ chạy đâu cho khỏi! Ðạt Ma vì ai một đao dứt tuyệt
hết rồi!
Ở đây,Viên Ngộ lấy trung đế làm
thánh đế, căn cứ theo luận giải "bất chân không" của bộ Triệu Luận
. Ta thử dẫn lời giải thích trong Du Già luận, phẩm chín mươi lăm nói:
Do hai duyên nên gọi là đế:
một là pháp tánh, hai là thắng giải; người ngu có cái trước không có cái
sau, bậc thánh đủ cả hai, riêng gọi là thánh đế. Chiếu theo đó, rốt ráo
gọi thánh đế là nói về cảnh giới sở chứng của thánh nhân.
Song le bộ Quảng Hoằng Minh tập
nói:
Thái tử Luơng Chiêu Minh nói
: cái gọi là hai đế, một là chân đế, hai là tục đế. Chân đế cũng gọi là đệ
nhất nghĩa đế.
Tuy nhiên, dù luận bằng cách nào
vẫn toàn là sở thuyết về diệu lý cao thâm của thuyết giáo. Ðã là diệu lý
thì trạm tịch là thể, hư dung là tánh, tuyệt nhiên không tướng không danh,
tức không chấp nhận cho ta nghĩ bàn, nên Viên Ngộ nói đó là chỗ cực diệu
cùng huyền. Võ Ðế nắm lấy diệu lý ấy làm thành một quan niệm để hoang mang
chấp lấy, rồi đem hỏi Ðạt Ma, nên Ðạt Ma đáp là quách nhiên vô thánh. Vì
căn bản pháp của thiền chính là chặt đứt tất cả sở thuyết về diệu lý trong
giáo nghĩa, vì thiền tự có cảnh giới tự do vô ngại riêng, siêu việt trên
tất cả, tức là cảnh giới không Phật, không chúng sanh, không kim cổ. Cảnh
giới ấy, tức là căn bản pháp của thiền.
Viên Ngộ nêu giá trị của cảnh giới ấy như sau:
Nên nói: tham suốt được một
câu, thì ngàn câu vạn câu đồng thời suốt, tự nhiên ngồi đâu yên đó, nắm gì
vững nấy. Người xưa nói:
Thịt nát xương tan chưa đền xong,
Một câu siêu thoát ngàn ức kiếp.
Ðó là nói: hễ tham quán câu
quách nhiên vô thánh thấu suốt được thì dù đến trăm ức kiếp sanh tử luân
hồi cũng siêu thoát xong, nơi pháp vị ngồi yên trên căn bản pháp, nắm lấy
bổn phận mình thành bậc "trên trời dưới trời mình ta tôn quí", thành bậc
chúa tể của thế giới. Nói thế giới là thế giới của hiện thực lịch sử,
thành lập từ bản thể tuyệt đối "vô" của những tác dụng vô tận của chính
ta; đảm nhiệm những tác dụng ấy từ nơi cơ yếu là thành tựu nhân cách "vô"
của bổn thể tự giác, tuy ở trong thế giới mà vẫn siêu ngoài thế giới, hoạt
dụng dọc ngang trong lịch sử mà vẫn sáng tạo ngoài lịch sử, nên gọi là
chúa tể. Ðó là cảnh giới cực tuyệt, có chứng đến đó mới gọi là được tôn
giáo.
Thiền
học giảng thoại
BẠT
HUYỀN THOẠI BỒ ÐỀ ÐẠT MA
"Thiếu Thất cửu niên vô nhất
ngữ"
Huệ Trung Trần Quốc
Tảng
Tổ
Ðạt Ma cỡi sóng qua Ðông Ðộ.
Tổ
Ðạt Ma vào đất Ngụy, đường đường như một kiếm khách chốn hải tần.
Tổ
Ðạt Ma "đơn đao trực nhập" triều đình Lương Võ Ðế, nói pháp như chuyển
sóng.
Tổ
Ðạt Ma chín năm trầm hùng ngồi nhìn vách đá chùa Thiếu Lâm.
Tổ
Ðạt Ma kỳ diệu ban pháp an tâm.
Tổ
Ðạt Ma cỡi bè lau về Thiên Trúc.
Tổ
Ðạt Ma xách một chiếc dép phi hành trên ngọn Thông Lãnh.
Tổ
Ðạt Ma... và Tổ Ðạt Ma...
Bao nhiêu câu chuyện truyền kỳ kết hào quang đưa nhà sư mắt biếc đất Hồ
vào
huyền sử.
Từ Tung Sơn, sừng sững bên vách đá chùa Thiếu Lâm, bóng người ngả dài
suốt lịch sử Ðông phương như một tượng trưng thuần túy của Ðạo. Ngót mười
lăm thế kỷ, lòng người còn nghe đồng vọng tiếng Người nói; chốn già lam
còn nghe vang dội bước Người đi.
Người đi qua không gian, hiển hiện như chưa từng có. Tổ Ðạt Ma đi qua
không gian, hiển hiện như chưa từng không. Người đi thẳng vào sự thật, dẫm
nát dư luận. Người đi thẳng vào lòng người, không mặt nạ.
Ðối với Người, sự thật là sự thật, không được trả giá. Trả giá với sự thật
là ký kết với ma. Con người đang đi xuống quá rồi, thế đạo đang nghiêng
ngửa giữa sắc tướng, cần cấp thời chận đứng đà tuột dốc; cần vươn mình mở
lấy một con - đường - không - con - đường, cần nhảy thẳng vào tâm điểm của
cuộc sống, của giác ngộ. Căn bệnh đã quá trầm trọng, cần bạo tay thọc
thẳng mũi dao vào tròng ung thư. Trong tinh thần vô úy ấy, Người đã thét
giữa những con người bé nhỏ chúng ta chơn lý tối hậu: quách nhiên vô
thánh.
Từ
huyền sử, Người trang nghiêm tô lại khung đời bằng nét đạo tâm linh.
Sống là đạo, ngoài ra không có đạo nào khác. Ðạo nào khác đều tìm thánh bỏ
phàm, đều ham ngộ ghét mê, đều bỏ đời cầu đạo, đều tự trói buộc mình:
"Bất dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu nhiên danh chi viết
Tổ"
(Chẳng cùng phàm thánh
sánh vai,
Vượt lên mới gọi là
Tổ).
Cho nên bất cứ phương tiện nào
của cuộc sống cũng là đạo. Bắt nguồn tự vách núi Tung Sơn, đạo sống Thiền
thấm nhuần khắp giải đất Á Ðông, nung sanh lực cho mấy ngàn năm văn hóa.
Cho nên uống trà cũng là đạo, trà đạo: trà thiền nhất vị Võ thuật cũng là
đạo, nhu đạo: đạo lấy mềm thắng cứng. Cắm hoa, viết chữ, bắn cung cũng là
đạo, đạo luyện phép vô tâm, để cho sự vật tự nó sắp xếp một cách viên mãn
nhứt. Cho đến xách nước, bửa cũi cũng là đạo:
Bửa củi là diệu dụng,
Xách nước ấy thần thông.
(Bàng Uẩn)
Mà rồi im lặng cũng là đạo
nốt::
Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền,
Nói, im, động tịnh thể an
nhiên.
(Huyền Giác)
Sau khi Tổ viên tịch, vấn đề
giải thoát được nêu lên với tất cả tinh thành của hàng đệ tử. Người ta tự
hỏi nhau: "Tổ truyền gì cho Huệ Khả? Bí quyết của pháp Phật là gì? Huyết
mạch của đạo thiền là gì? Thực chất của giác ngộ là gì? v.v...". Bao nhiêu
câu hỏi nóng hổi đặt dài theo bước chân người cầu đạo suốt mười lăm thế
kỷ, và có thể đúc kết lại trong câu hỏi độc đáo sau đây của phép tu thiền:
"Như hà nhị Tổ sư lai ý".
(Ý
nghĩa tối yếu của việc Tổ sư qua Tàu là gì?).
Người ta mang câu hỏi sống chết ấy đến gõ cửa các thiền sư.
Ðáp lại tấc lòng tinh thành ấy, người ta nhận được những câu trả lời quái
dị như sau:
Sư
Hương Lâm nói: ngồi lâu thấm mệt.
Sư
Cửu Phong nói: một tấc lông rùa nặng chín cân.
Sư
Triệu Châu nói: Cây bách ở trước sân v.v...
Lối nói ngược ngạo đó gọi là công án. Trong số 1.700 công án thiền, riêng
về câu hỏi trên chiếm đến trên trăm câu, đủ biết tổ Ðạt Ma luôn luôn có
mặt ở khắp nẻo thiền. Nên một ông sư Phù Tang nói:
"Người nào lấy hư không làm giấy, lấy sóng trùng dương làm mực, lấy núi Tu
Di làm bút, viết được năm chữ: Tổ Sư tây lai ý, thì sãi tôi xin trải tấm
tọa cụ ra đảnh lễ dưới chân."
Sở
dĩ người nào hiểu được, chẳng hạn câu nói "bách ở trước sân" (đình tiền
bách thọ tử) của Triệu Châu là cùng lúc hiểu được tất cả câu nói khác, tất
cả đạo thiền, tất cả pháp Phật. Một công án là một hột bồ đề xâu chung với
vô số hột khác thành một chuỗi bồ đề vô tận; cho nên đập bể một hột bồ đề
là toàn xâu chuỗi bung ra; nắm được một công án là nắm trọn, là thông suốt
tâm Phật ý Tổ.
Tuy nhiên, muốn hiểu được "ý nghĩa của Tổ sư qua Tàu" không phải suy luận
mà được, cần phải sống chết với nó, mang nó trong thịt da như Tôn Hành Giả
mang cái niệt kim cô quanh đầu. Khi Tôn về tròn xong công quả thì cái niệt
đau khổ kia bỗng chốc hóa thành không; cũng vậy, khi người tìm đạo "quán"
được một công án, thì công án ấy cũng như vô số công án khác, bỗng hóa
thành vô nghĩa, thừa thải, như một trò đùa rẻ tiền.
Dù
vậy, suốt thời gian chưa quán được thì công án là một mũi tên oan nghiệt
bắn thẳng vào mạng sống, nhổ không ra, muốn chết quách cũng không chết
được. Ðó là tâm trạng cùng quẩn, thai nghén cho biến cố ngộ đạo. Tâm trạng
ấy được ví như tâm trạng của người:
"Leo lên cây, miệng cắn vào
một cành cây, hai tay buông thỏng giữa hư không, hai chân không bám vào
đâu được. Tình cờ dưới gốc cây có người hỏi vọng lên: "Ý của Tổ sư qua Tàu
là gì?". Người trên cây không trả lời thì không được, mà trả lời thì rơi
xuống hốt xương". (theo Vô môn quan).
Người kể câu chuyện cổ quái trên
đặt câu hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, chính người đó phải làm sao?
"Phải làm sao?"
Ðó
là bí thuật của Thiền Ðông độ, mà Ðạt Ma là Sơ Tổ: một huyền thoại của
muôn đời.
Thùng
sơn: Tất dõng, tượng trưng khối kiến thức chấp trước kết thành vô minh
che mất chân trí.
Triệu
luận: tác phẩm của sư Tăng Triệu (384 - 414) cao đệ của pháp sư Cưu Ma
La Thập, xuất hiện trước ngày mở giáo của đạo Thiền.
Ðài Bắc, Kiến Khang thư cuộc ấn hành, Dân quốc 49
---o0o---