Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 


Vô Môn Quan

Mumon Ekai (Wu-men Hui-kai/Huệ Khai)

Trần Trúc Lâm dịch

 ---o0o---

(từ Cuốn Zen Flesh - Zen Bones của Paul Reps- Nhà xuất bản The Charles E. Tuttle Company, Tokyo; Lần thứ nhất: 1957, lần thứ sáu: 1963).

---o0o---

 

Nếu bạn hảo ngọt và muốn sống dễ dãi thì xin đừng đọc cuốn sách này. Nó chỉ dành cho những người cương quyết mưu cầu giác ngộ, mưu cầu satori.

Điều ấy có thể xảy đến với bạn. Trong một nháy mắt nó mở ra. Bạn là một người hoàn toàn mới. Bạn nhìn sự vật không giống như trước.

Cái năng lực mới mẽ này đến bằng chứng ngộ chứ không bằng lý luận. Bất cứ bạn làm gì hay ở đâu đều chẳng có gì khác biệt. Nó không tạo ra lý. Nó tạo ra bạn.

Những đề thoại đầu cổ xưa của Trung Hoa này, gọi là công án, cốt giúp thiền sinh đọạn tuyệt với say mê chữ nghĩa và phiêu lưu tư tưởng. Khi một thiền sinh quán chiếu về một công án, đó là một cách muốn nói rằng: Đừng phung phí đời bạn chỉ để mò mẫm; hãy hướng suy nghĩ và cảm quan vào một mục đích - và rồi hãy để cho nó xảy ra.

Phải chăng nghệ thuật khai sáng cho con ngưòi này đã mất dấu? Không! nếu bạn biết để tâm - hay những gì khác nữa - của bạn vào nó. Nếu những nhà lãnh đạo của nhân lọai ý thức hơn về điều này, để khi họ có đượﯣ chút quyền nhỏ nhoi, họ bóc lột kẽ khác ít hơn.

Những thiền sư xưa này thường khai ngộ cho môn đệ bằng chỉ trích, hay ngay cả thét đánh. Khi các ngài khen ngợi có nghĩa là đã xem thường. Đó là thói quen. Các ngài rất quan tâm đến các đệ tử của họ nhưng bộc lộ nó trong hiện tiền, chứ không bằng lời lẽ. Họ là những người kiên cường, những người gây kích động. Họ ban cho những câu hỏi mà câu trả lời là sự sống của một người.

Vậy câu trả lời đúng cho công án là gì? Có rất nhiều và cũng chẳng có câu nào. Ở Nhật có một cuốn sách rất hiếm, cố đề ra những câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi khai tâm này. Thật là trò buồn cười!

Bởi vì công án cũng chính là câu trả lời, và khi đã có một câu trả lời thỏa đáng thì Thiền đã chết.

*

Đoạn sau là phần tóm lược lời mở đầu của ấn bản Anh ngữ đầu tiên của cuốn sách này.

Giáo pháp của Đức Phật đã được truyền bá ở Ấn độ năm trăm năm trước Jesus và hằng ngàn năm trước Mohammed. Ngày nay đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn cuả nhân lọai, cổ hơn cả Thiên chúa giáo và Hồi giáo.

Từ thế kỷ thứ nhất T.L., kinh Phật đã được dịch ra Hán văn bởi nhiều dịch giả Ấn và Hoa, từ triều đại này đến triều đại khác. Tuy nhiên tinh túy của Phật giáo lại được truyền sang Trung quốc vào năm 520 T.L. bởi Bồ Đề Đạt Ma, được xem như là Tổ thứ Nhất tông phái Thiền Trung Hoa. Yếu tính đạo giải thoát từ Đức Phật Thích Ca đã được thiền sư tỉnh tọa Bồ Đề Đạt Ma lưu chuyển và đệ tử của ngài nối tiếp, rồi truyền thừa cùng một cách qua biết bao thế hệ. Nhờ đấy mà Thiền du nhập, nuôi dưỡng và truyền bá khắp Trung quốc, rồi đến Nhật bản.

Chữ Nhật ZEN - chữ Hán CH’AN, chữ Phạn DHYANA - (dĩ nhiên chữ Viêt là THIỀ, LND.) - có nghĩa là trầm tư mặc tưởng, để ngộ được điều mà Phật đã ngộ, sự giải thóat của tâm. Nó cung cấp một lối tự quán chiếu, thường là dưới sự chỉ dạy của một thiền sư.

Thiền có nhiều bản kinh, mà cuốn sách này là một, Mu-mon-kan (Vô Môn Quan hay Mậu Môn Quan) - thoát ý là "cửa không chắn" - đã được ghi lại bởi Thiền sư Trung Hoa Huệ Khai, cũng còn gọi là Vô Môn, sống từ năm 1183 đến năm 1260. Tác phẩm gồm những mẫu đối thọai giữa các tổ và đệ tử, vẽ cho thấy lối xóa bõ khuynh hướng nhị nguyên, hướng ngoại, bao quát, và trí thức của các đệ tử để đạt đến bản lai diện mục, thực tính. Những vấn đề hay những thử thách nội tại mà các thiền sư hay dùng để đối chất với các đệ tử đươcọi là công án, và mỗi câu truyện kể sau chính nó là một công án.

Nhữcâu truyện dùng cả đến chữ phàm tục để phản ảnh pháp môn thâm hậu, quán chiếⵠvào nội tâm của mình. Thảng hoặc có vài trường hợp xem ra thô bạo nên được hiểu như là sinh động và thành tâm. Không có câu truyện nào cố làm ra vẻ luận lý. Chúng nhắm vào trạng thái của tâm chứ không phải vào chữ nghĩa. Nếu không hiễu được điều này thì trọng điểm của cổ kinh bị nhìn sai lệch. Toàn thể thâm ý là giúp cho thiền sinh phá vỡ được cái vỏ của đầu óc hạn chế mà đạt đến được lần sinh thứ hai miên viễn, satori, giác ngộ.

Mỗi thoại đầu là một lớp cản. Ai có được tinh thần Thiền đều đi qua dễ dàng. Ai sống trong Thiền hiễu được hết công án này đến công án khác, theo lối của mình, mà thấy những cảnh giới không thể thấy và sống trong vô hạn.

*

Vô-Môn Huệ Khai đã viết những lời này trong phần giới thiệu của cổ kinh.

"Thiền không có cửa. Chủ đích của lời Phật dạy là để giác ngộ kẽ khác. Vì vậy mà Thiền phải không có cửa.

"Một người muốn đi qua cổng không cửa phải làm thế nào bây giờ? Có người bảo thứ gì qua lại cỗng đều không phải là của gia bảo, rằng thứ gì tạo ra do sự giúp đở của người khác thì đều bị tan rã và hũy hoại.

"Những lời nói như thế chẳng khác gì sóng nỗi giửa bễ lặng hay mỗ xẻ thân người lành mạnh. Nếu kẽ nào bám cứng

vào những gì người khác nói và cố gắng hiễu Thiền bằng lý giải thì kẽ ấy chẳng khác gì tên đần độn nghĩ rằng hắn có thể dùng gậy đập được mặt trăng hay gãi chỗ ngứa chân từ bên ngòai chiếc giày. Không bao giờ có thể được.

"Vào năm 1228 ta thuyết pháp cho chư tăng tại chùa Ryusho ở phía đông Trung quốc, và do lời yêu cầu của họ ta kể lại những công án cỗ, với mong ước khơi dậy tinh thần Thiền của họ. Ta dụng ý dùng công án như một kẽ nhặt viên gạch để gõ cửa, sau khi cửa mở thì viên gạch chẳng còn hữu dụng nữa và bị ném đi. Lời ta, không ngờ lại được góp nhặt, và có đến bốn mươi tám công án, ta thêm vào lời bàn và kệ cho mỗi bài, tuy vậy sự sắp xếp lại không theo thứ tự đã kể. Ta gọi cuốn sách là Vô Môn Quan, mong rằng thiền sinh đọc nó như một cẩm nang.

"Nếu độc giả nào mạnh dạn tiến thẳng về phía trước trong quán chiếu, không ảo tưởng nào có thể quấy họ được. Ho sẽ liễu ngộ chẳng khác gì chư tổ ở Ấn và Hoa, có thể còn khá hơn. Nhưng nếu họ ngập ngừng dù một giây lát, họ sẽ như kẽ đứng nhìn người cỡi ngựa phi qua cửa sổ, và trong nháy mắt chẳng kịp trông thấy.

"Đại đạo không có cỗng,

Ngàn lối đi vào nó.

Khi ai đi qua được cửa không này

Thì thong dong giữa đất trời."

 

1. CON CHÓ CỦA JOSHU (TRIỆU CHÂU TÙNG THẪM 778-897 - LND)

Một vị sư hỏi Triệu Châu, một thiền sư Trung Hoa:

"Con chó có Phật tánh không?"

Triệu Châu trả lời: "KHÔNG"

Lời bàn của Vô-Môn: Để ngộ Thiền ta phải vượt qua rào cản của chư tổ. Giác ngộ luôn đến sau khi lối suy nghĩ bị chắn.

Nếu ngươi không vượt qua rào cản của chư tổ, hoặc lối suy nghĩ không bị chắn, thì bất cứ điều gì ngươi nghĩ, điều gì ngươi làm đều giống như bóng ma vướng mắc. Ngươi có thể hỏi: Rào cản của tổ là gì? Một chữ thôi, KHÔNG, là nó.

Đó là rào cản của Thiền. Nếu ngươi vượt qua được, ngươi có thể diện kiến Triệu Châu. Ngươi có thể tay nắm tay cùng với chư tổ. Có thú vị không?

Nếu ngươi muốn vượt qua rào cản này, ngươi phải vận dụng tất cả xương cốt trong thân ngươi, tất cả lổ chân lông của da ngươi, ngẫm nghĩ câu hỏi này: KHÔNG là cái gì? và mang nó theo ngày và đêm. Chớ nên cho nó là biểu tượng tiêu cực thông thường có nghĩa là không có gì. Nó không phải là trống không, đối lại với hiện hữu. Nếu ngươi thực muốn vượt qua rào cản này, ngươi phải có cảm giác như ngậm một viên sắt nóng mà ngươi không thể nuốt vào hay khạc ra.

Rồi sự thiển cận trước kia của ngươi biến mất.Và như trái cây chín mùa, cái nhìn chủ quan và khách quan của ngươi trở thành một. Nó như kẽ câm nằm mộng, hắn biết đấy nhưng không thể nói ra được.

Khi thiền sinh vào được trạng thái này thì cái vỏ tự-ngã của y bị đập vỡ và y có thể lay trời và dời đất được. Y sẽ như là một chiến sĩ vô địch với lưởi gươm bén. Nếu Phật đứng chắn lối, y sẽ chém nhào; nếu tổ gây trở ngại, y sẽ giết ngay; và y sẽ được tự do ra vào cõi sinh tử. Y có thể nhập bất cứ cảnh giới nào cứ như là vào sân chơi nhà mình. Ta sẽ nói cho ngươi biết cách làm được như thế với công án này:

Hãy tập trung tất cả năng lực của ngươi vào chữ KHÔNG này, và không bao giờ ngưng nghỉ. Khi ngươi vào được KHÔNG này và chẳng hề ngưng nghỉ, sự liễu ngộ của ngươi sẽ như ngọn đèn cháy và chiếu sáng toàn thể vũ trụ.

Con chó có Phật tánh không?

Đây là câu hỏi nghiêm trọng nhất.

Nếu ngươi nói CÓ hay KHÔNG,

Ngươi đánh mất Phật tánh của chính ngươi.

2. CON CHỒN CỦA TỔ BÁ TRƯỢNG (HYAKUJO)

Cứ mỗi lần Bá Trượng thuyết pháp, một ông lão đến nghe mà tăng chúng không hề thấy. Khi buổi giảng chấm dứt tăng chúng rời chỗ thì ông lão cũng ra về. Nhưng một ngày kia ông lão lại ở lại, Bá Trượng hỏi: "Ông là ai?"

Ông lão trả lời: "Tôi không phải là người, nhưng tôi vốn là người khi Đức Phật Kashapa còn tại thế. Tôi là một thiền sư tu tại núi này. Bấy giờ, một trong những đệ tử của tôi hỏi rằng nột người đã giác ngộ thì có còn chịu luật nhân quả không. Tôi trả lời: ‘Kẽ giác ngộ không còn chịu luật nhân quả nữa.’ Vì câu trả lời này, do còn vướng mắc với tuyệt đối, mà tôi đã biến thành con chồn hơn năm trăm kiếp rồi, và tôi vẫn còn là chồn. Xin ngài hóa độ cho tôi bằng pháp ngôn của ngài để tôi thoát khỏi kiếp chồn? Bây giờ tôi xin hỏi ngài: Kẽ đã giác ngộ thì có còn chịu luật nhân quả không?"

Bá Trượng bảo: "Kẽ đã giác ngộ là một người vẫn chịu luật nhân quả."

Sau câu ấy, ông lão thoắt ngộ.

"Tôi đã được giải thoát," ông lão nói và cúi lạy. "Tôi không còn là chồn nữa, nhưng tôi phải để xác lại trong một cái hang sau núi. Xin được chôn cất theo lễ chư tăng." Rồi ông biến mất.

Hôm sau Bá Trượng ra lệnh tăng trưởng chuẩn bị tang lễ cho một tăng sĩ. "Chẳng có ai mắc bệnh cả," tăng chúng thắc mắc. "Sư phụ có ý gì?" 

Sau trai phạn, Bá Trượng dắt tăng chúng đi vòng ra sau núi. Trong một cái hang, ngài dùng gậy kéo ra một cái xác của con chồn già và thực hiện lễ hỏa thiêu.

Đêm đó Bá Trượng kể lại câu chuyện và giảng về luật nhân quả.

Sau khi nghe chuyện, Obaku hỏi Bá Trượng: "Con hiễu rằng ngày xưa có kẽ chỉ vì trả lời sai một câu hỏi Thiền đã biến thành con chồn năm trăm kiếp. Vậy ngày nay "Nếu một thiền sư trả lời đúng hết các câu hỏi thì việc gì sẽ xảy ra?"

Bá Trượng bảo: "Hãy đến gần đây ta sẽ nói cho nghe."

Obaku đến gần và tát thầy một cái, vì y biết rằng đó là câu trả lời mà sư phụ sẽ ban cho.

Bá Trượng vỗ tay cười cho sự sáng trí của đệ tử. "Ta tưởng rằng người tây trúc có bộ râu đỏ," ngài nói, "và bây giờ ta biết một người tây trúc có bộ râu đỏ."

Lời bàn của Vô-Môn: "Kẽ giác ngộ không phải là đối tượng." Làm thế nào mà câu trả lời này biến một tăng sĩ thành con chồn?

"Kẽ giác ngộ là một người vẫn chịu luật nhân quả." Làm thế nào mà câu trả lời này làm cho chồn được giải thóat?

Muốn hiểu rốt ráo được điều này, người ta phải chột một mắt.

Chế ngự hay không chế ngự?

Cùng con súc sắc bày hai mặt.

Không chế ngự hay chế ngự,

Cả hai đều sai lầm thê thảm.

 

3. NGÓN TAY CỦA CỤ CHỈ HOÀ THƯỢNG (GUTEI).

Cụ Chỉ thường đưa một ngón tay lên khi được hỏi một câu về Thiền. Một cậu bé thị vệ bắt chước theo. Khi có người hỏi cậu rằng sư phụ của cậu giảng dạy điều gì vậy thì cậu liền đưa lên một ngón tay.

Chuyện tinh nghịch của cậu bé đến tai Cụ Chỉ. Ngài liền nắm lấy cậu và cắt đứt ngón

tay. Cậu bé la khóc và chạy mất. Cụ Chỉ gọi cậu dừng lại. Khi cậu bé quay lại nhìn thầy, Cụ Chỉ đưa lên một ngón tay của ngài. Ngay tức khắc, cậu bé liễu ngộ.

Khi Cụ Chỉ gần qua đời, ngài cho gọi toàn tăng chúng lại. "Ta đạt đến Nhất chỉ Thiền," ngài bảo, "từ sư phụ của ta là Thiên Long Hòa Thượng (Tenryu), và cả một đời ta vẫn chưa tận dụng nó." Nói xong ngài thị tịch.

Lời bàn của Vô-Môn: Giác ngộ, điều mà Cụ Chỉ và cậu bé đạt đến, không dính líu gì đến ngón tay cả. Nếu ai cứ mãi bám chặt vào cái ngón tay thì Thiên Long Hòa Thượng bực mình đến độ sẽ tiêu hũy luôn cả Cụ Chỉ, cậu bé và kẽ dính mắc.

Cụ Chỉ rẽ rúng pháp môn của Thiên Long,

Giải thóat cậu bé bằng lưởi dao.

So với vị thần Tàu di sơn đảo hải.

Thì lão Cụ Chỉ thật đáng thương.

4. TÊN NGỌAI NHÂN KHÔNG RÂU

Wakuan than phiền khi nhìn thấy tranh Bồ Đề Đạt Ma đầy râu rậm: "Tại sao gã không có râu nhỉ?"

Lời bàn của Vô-Môn: Nếu ngươi muốn học Thiền, phải học với quả tim. Khi ngươi đạt được liễu ngộ, thì phải thực liễu ngộ. Chính ngươi phải có gương mặt của Đại Tổ Bồ Đề mới thấy được ngài. Chỉ thoáng nhìn cũng đũ rồi. Nhưng nếu ngươi bảo đã gặp ngài thì ngươi chưa hề thấy ngài.

Người ta không nên bàn đến mộng

Trước mặt một tên khùng.

Tại sao Bồ Đề Đạt Ma không có râu?

Thực là câu hỏi vô lý!

 4. KYOGEN LEO LÊN CÂY

Kyogen bảo: "Thiền cứ như một người đu lơ lững trên vực sâu răng cắn chặt vào cây. Tay không nắm được cành, chân không tựa vào nhánh, và bên dưới có kẽ hỏi: "Tại sao Bồ Đề Đạt Ma lại từ Ấn Độ đến Trung Hoa?"

"Nếu người đu cây không trả lời, hắn thua; và nếu trả lời, hắn rơi tòm mất mạng. Vậy hắn phải làm gì nào?"

Lời bàn của Vô-Môn: Trong tình huống đó, mọi tranh biện tài tình đều vô ích. Nếu ngươi thuộc hết tam tạng kinh điễn, ngươi chẳng dùng được. Khi ngươi có câu trả lời đúng, dù con đường quá khứ là đường tử, ngươi mở ra được con đường sinh mới. Nhưng nếu ngươi không trả lời được, ngươi phải sống đến bao đời để hỏi Phật tương lai, Phật Di Lặc.

Kyogen là kẽ gàn

Reo rắc độc dược diệt-ngã-mạn đó

Làm câm miệng các môn đồ

Và để nước mắt tuôn trào từ đôi mắt chết của họ.

 5. PHẬT XOAY MỘT CÀNH HOA

Khi Đức Phật ngự tại núi Linh Thứu (Grdhrakuta), Ngài xoay một cành hoa trong tay và đưa ra trước thính chúng. Mọi người đều im lặng. Duy chỉ có Ma Ha Ca Diếp (Maha Kashapa) mỉm cười, nhưng vẫn cố giữ nghiêm nét mặt.

Đức Thế Tôn bảo: "Ta có nhãn tạng của chánh pháp, tâm của Niết bàn, thực nhận của vô tướng, và Giáo pháp vi diệu khó nghĩ bàn. Không thể diễn bằng lời, mà chỉ biệt truyền ngoài giáo lý. Giáo pháp này ta giao lại cho Ma Ha Ca Diếp."

Lời bàn của Vô-Môn: Phật mặt vàng tưởng rằng có thể lừa được mọi người. Ngài làm cho chư thiện tri thức trở nên lố bịch, và mượn đầu heo bán thịt chó. Và ngay cả ngài cũng nghĩ rằng như thế là tuyệt. Nếu toàn thính chúng đều cười cả thì sao? Làm thế nào ngài có thể truyền giáo pháp? Và lại nữa, nếu Ma Ha Ca Diếp không mĩm cười, làm thế nào ngài có thể truyền giáo pháp? Nếu ngài bảo rằng sự liễu ngộ có thể truyền thừa, thì rõ ngài cũng giống như tên bịp thị thành lừa anh nhà quê khờ khạo, và nếu ngài bảo rằng nó không thể truyền thừa được thì tại sao ngài lại giao phó cho Ma Ha Ca Diếp?

Khi xoay cành hoa

Sự vờ vỉnh của Ngài đã bị lộ.

Không ai trong vòng thiên địa có thể hơn được

Gương mặt nhăn vết của Ma Ha Ca Diếp.

 6. TRIỆU CHÂU TÙNG THẪM RỬA BÁT

Một vị tăng thưa với Triệu Châu: "Con vừa nhập thiền thất, Xin chỉ dạy."

Triệu Châu hỏi: "Con đã ăn cháo chưa?"

Vị tăng trả lời: "Bạch, đã ăn rồi."

Triệu Châu nói: "Vậy thì đi rửa bát đi."

Ngay lúc đó vị tăng liễu ngộ.

Lời bàn của Vô-Môn: Triệu Châu là người đã mở miệng cho thấy tâm của ngài. Ta nghi rằng vị tăng kia chưa chắc đã thấy được tâm của Triệu Châu. Ta mong rằng ông ta không nhầm cái chuông với bình chế nước.

Thật là quá rõ và vì vậy mà khó thấy.

Có kẽ khờ cầm đèn đi tìm lửa.

Nếu hắn biết lửa ra sao,

Thì hắn đã nấu cơm sớm hơn.

7. BÁNH XE CỦA KEICHU

Getsuan nói với môn đồ: "Keichu, người chế ra bánh xe đầu tiên của Trung quốc, làm hai bánh xe, mỗi bánh có năm mươi nang. Bây giờ giả dụ các ngươi tháo cái trục ra thì bánh xe sẽ ra sao? Và nếu Keichu làm vậy thì ông ta có được gọi là tổ chế ra bánh xe không?"

Lời bàn của Vô-Môn: Nếu ai có thể trả lời câu hỏi này tức khắc, thì mắt hắn sẽ như sao xẹt và trí óc hắn sẽ như một tia chớp.

Khi bánh xe không trục xoay,

Tổ hay chẳng tổ có thể ngưng nó lại.

Nó xoay trên trời và dưới đất,

Nam, bắc, đông, và tây.

8. MỘT ĐỨC PHẬT TRƯỚC THỜI CÓ SỬ

Một vị tăng hỏi Seijo: "Con biết rằng một đức Phật trước thời có sử, đã tọa thiền qua bảy kiếp mà vẫn không ngộ được chân lý tối thượng, vì thế mà không hoàn toàn được giải thoát. Tại sao vậy?"

Seiji trả lời: "Câu hỏi của ông đã tự giải thích rồi."

Vị sư hỏi tiếp: "Tại sao đức Phât đó tọa thiền mà vẫn không đạt được Phật quả?"

Seijo trả lời: "Vì ông ta chưa thành Phật."

Lời bàn của Vô-Môn: Ông ta có thể ngộ đạo, nhưng ta không cho rằng ông ấy hiễu rõ. Khi một người ngu liễu ngộ thì thành thánh. Khi một bậc thánh bắt đầu hiễu ra thì thành người ngu.

Tốt hơn nên ngộ tâm chứ chẳng phảihân.

Khi tâm giác ngộ thì không còn gì để lo ngại cho thân.

Khi tâm và thân trở thành một

Thì người được tự tại, chẳng còn ham muốn lợi danh.

9. SEIZEI CÔ ĐỘC VÀ NGHÈO NÀN

Một vị tăng tên là Seizei hỏi Sozan: "Seizei cô khổ. Ngài có giúp đở được không?"

Sozan hỏi: "Seizei?"

Seizei đáp: "Bạch Hòa thượng."

Sozan bảo: "Ngươi được Thiền, là món mỹ tửu đệ nhất của thiên hạ (Trung quốc), và đã uống xong ba chén, mà vẫn nói là chưa thấm môi ư!."

Lời bàn của Vô-Môn: Seizei hơi quá đà. Tại sao vậy? Bởi vì Sozan rất tinh mắt biết rõ người đối thoại. Ngay thế, ta vẫn muốn hỏi chư vị: Ở thời điểm nào thì Seizei đã uống rượu?

Kẻ nghèo nhất Trung quốc,

Kẻ gan nhất Trung quốc,

Chỉ vừa đủ cầm hơi,

Mà lại muốn so bì với người giàu nhất.

 11. TRIỆU CHÂU TÙNG THẪM KHẢO HẠCH MỘT VỊ TĂNG ĐANG THAM THIỀN

Triệu Châu đến tịnh thất của một vị tăng đang tọa thiền và hỏi: "Cái gì là cái gì?"

Vị tăng giơ lên nắm tay.

Triệu Châu đáp: "Thuyền không thể lưu ở nơi nước cạn." Rồi bõ đi.

Vài ngày sau Triệu Châu trở lại và hỏi cùng một câu như trước.

Vị tăng đáp lại cũng cùng một cách không khác.

Triệu Châu bảo: "Khá trao, khá nhận, giết hay, cứu giỏi." Rồi vái chào.

Lời bàn của Vô-Môn: Vẫn là một nắm tay không khác ở hai lần. Tại sao Triệu Châu không chứng cho lần đầu mà lại nhận lần sau? Sai trật ở chỗ nào?

Ai trả lời được thì đã biết rằng lưởi của Triệu Châu không xương nên nhiều đường lắc léo. Có thể là Triệu Châu sai. Hoặc qua ông sư kia, Ngài có thể biết rằng mình sai.

Nếu ai nghĩ rằng nội tâm của mình hơn hẳn nội tâm của người khác, quả là kẻ không có mắt.

Nhãn quang như sao xẹt,

Và Thiền quán tựa lằn chớp.

Lưởi gươm giết chết người

Cũng là lưởi gươm cứu sống người.

 12. ZUIGAN (SƯ NHAN – LND.) GỌI SƯ PHỤ

Sư Nhan một mình gọi lớn mỗi ngày: "Sư phụ."

Rồi lại tự đáp: "Dạ, bạch thầy."

Và liền thêm: "Hãy tỉnh táo nhé."

Rồi tự đáp: "Dạ, bạch thầy."

"Và sau đó," Ngài tiếp, "đừng để bị người khác lừa gạt nhé."

"Dạ, bạch thầy; Dạ, bạch thầy." Ngài tự trả lời.

Lời bàn của Vô-Môn: Lão Sư Nhan tự bán tự mua. Lão làm một màn múa rối. Ngài mang một mặt nạ để gọi "Sư phụ" rồi mặt nạ khác để trả lời. Mang cái khác để nói: "Hãy tỉnh táo nhé." Và lại cái khác, "Đừng để bị người khác lừa gạt nhé." Nếu ai vướng mắc vào bất cứ cái mặt nạ nào thì quả là lầm to, mà còn bắt chước Sư Nhan, thì sẽ không khác chồn cáo.

Vài thiền sinh không ngộ được con người thật sau cái mặt nạ.

Bởi vì họ chỉ thấy cái tự ngã.

Cái tự ngã là mầm sanh tử,

Mà kẽ mê gọi nó là chân nhân.

13. TOKUSAN ÔM BÌNH BÁT

Tokusan từ Thiền đường đến nhà bếp tay ôm bình bát. Seppo phụ trách nấu nướng thấy Tokusan bảo: "Tiếng trống hiệu báo giờ ăn chưa điểm. Ngài đi đâu với cái bình bát vậy?" Tokusan quay trở về thiền thất.

Seppo thuật lại câu chuyện với Ganto. Ganto bảo: "Lão sư Tokusan chẳng hiểⵠđược chân lý tối thượng."

Tokusan nghe được lời phê liền cho gọi Ganto đến gặp. "Ta có nghe," ngài bảo, "ông không tán thành lối thiền của ta."

Ganto gián tiếp thú nhận. Tokusan chẳng nói gì.

Hôm sau Tokusan thuyết pháp cho tăng chúng một cách khác hẳn. Ganto cười rộ và vổ tay nói: "Ta thấy lảo sư hiểu rõ chân lý tối thượng. Chẳng có ai ở Trung quốc có thể hơn được."

Lời bàn của Vô-Môn: Nói đến chân lý tối thượng, cả Ganto và Tokusan chẳng hề mộng tưởng. Rốt ráo, họ chỉ là những kẽ đần độn.

Ai hiểu được diệu đế thứ nhất

Hẳn phải hiểu chân lý sau cùng

Sau cùng và thứ nhất,

Chúng có khác nhau chăng?

 14. NAM TUYỀN PHỔ NGUYỆN CHẶT CON MÈO LÀM HAI KHÚC

Nam Tuyền bắt gặp hai tăng sinh cải nhau chỉ vì con mèo. Ngài chộp lấy con mèo và bảo họ: "Nếu ai nói được một lời phải thì cứu được con mèo."

Chẳng ai trả lời được. Nam Tuyền liền chặt con mèo làm hai khúc.

Tối đó Triệu Châu Tùng Thẩm trở về và Nam Tuyền kể lại câu chuyện. Triệu Châu liền tháo dép đội lên đầu bước trở ra.

Nam Tuyền bảo: "Nếu ngài có mặt ở đấy thì đã cứu được con mèo."

Lời bàn của Vô-Môn: Tại sao Triệu Châu đội dép lên đầu? Nếu ai trả lời được thì sẽ hiểu Nam Tuyền phán quyết như thế nào. Nếu không, thì chịu bay đầu.

Nếu Triệu Châu có mặt ở đấy,

Ông tã có thể đã phán quyết ngược lại.

Triệu Châu chụp lấy dao

Và Nam Tuyền phải xin tha mạng cho lảo.

 

15. BA CÁI LẠY CỦA TOZAN (ĐỘNG SƠN THỦ SƠ hay ĐỘNG SƠN LƯƠNG GIỚI 807-869 – LND.)

Động Sơn đến ra mắt Vân Môn Văn Uyên (Ummon). Vân Môn hỏi từ đâu lại.

Động Sơn thưa: "Từ làng Sato."

Vân Môn hỏi "An cư kiết hạ ở chùa nào?"

Động Sơn trả lời: "Chùa Hoji, phía nam của chíếc hồ."

"Ông rời lúc nào?" Vân Môn hỏi, mà thầm nghĩ chẳng biết Động Sơn cứ tiếp tục trả lời như thế đến bao lâu.

"Ngày hai nươi lăm tháng Tám," Động Sơn trả lời.

Vân Môn bảo: "Ta phải cho ngươi ba gậy mới đặng, nhưng ta tha cho bửa nay."

Ngày hôm sau Động Sơn bái kiến Vân Môn và hỏi: "Ngày hôm qua ngài đã tha cho tôi ba gậy. Tôi chẳng biết mình làm gì quấy."

Thất vọng trước câu nói, Vân Môn bảo: "Ngươi thật là vô dụng. Chỉ là kẻ lê lết từ chùa này đến chùa khác mà thôi."

Lời của Vân Môn chưa dứt, Động Sơn chợt ngộ.

Lời bàn của Vô-Môn: Vân Môn cho Động Sơn thức ăn Thiền bổ dưởng. Nếu Động Sơn tiêu hóa được, Vân Môn có thể thâu nhận y vào hội chúng.

Qua một đêm Động Sơn bơi lội trong biển phải quấy, nhưng đến sáng Vân Môn đập vở được cái võ cứng của y. Nghĩ cho cùng, thì y cũng chẳng sáng trí mấy.

Bây giờ ta muốn hỏi chư vị: Động Sơn có đáng bị ba gậy hay không? Nếu các ngươi nói đáng thì không phải chỉ Động Sơn mà ngay đến mỗi người trong bọn các ngươi phải bị đòn. Nếu các ngươi bảo không, thì há Vân Môn đã nói lời dối trá.

Nếu trả lời thông suốt được, thì ngươi có thể ăn cùng món với Động Sơn.

Sư tử mẹ thô tháp dạy cho bầy con

Khi chúng nhảy, nó liền đập cho ngã

Khi Vân Môn gặp Động Sơn, mũi tên thứ nhất còn nhẹ

Đến mũi thứ hai thì ngấm sâu.

 

16. CHUÔNG VÀ ÁO CÀ SA

Vân Môn hỏi: "Cõi ta bà thật lớn, tại sao ngươi lại theo tiêng chuông và mặc áo cà sa?"

Lời bàn của Vô-Môn: Khi tu học thiền, người ta không cần phải nương theo âm thanh, hoặc màu sắc, hoặc hình tướng. Dù rằng thông thường có kẽ đạt được nội tâm khi nghe một âm, hoặc thấy một sắc hoặc một tướng. Đó không phải là thiền. Người thực tu học thiền chế ngự được cà âm, sắc, tướng, và hiễn lộ chân lý trong cuộc sống hằng ngày.

Âm đến tai, tai tìm đến âm. Khi bạn ngăn được âm thanh và xúc giác, bạn hiểu được gì? Người ta không thể hiểu khi dùng tai để nghe. Để hiểu được cặn kẽ hơn, người ta phải thấy được âm thanh.

Khi ngươi hiểu, ngươi là người cùng một nhà;

Khi ngươi không hiểu, ngươi là một kẻ lạ.

Những ai không hiểu đều là người cùng một nhà,

Và khi họ hiểu thì thành kè lạ.

 

17. BA TIẾNG GỌI CỦA KOKUSHI (QUỐC SƯ HUỆ TRUNG – LND.)

Thiền sư Huệ Trung, tên là Chu, là quốc sư (quan phụ đạo cho Hoàng đế), gọi thị giả của ngài

"Oshin."

Oshin liền đáp: "Dạ."

Chu lập lại, muốn thử người đồ đệ: "Oshin."

Oshin cũng lập lại: "Dạ."

Chu gọi: "Oshin."

Oshin trả lời: "Dạ."

Chu bảo: "Thứ lỗi cho ta đã gọi ngươi, nhưng ngươi phải xin lỗi ta."

Lời bàn của Vô-Môn: Khi lảo tăng Chu gọi Oshin ba lần, lưởi của lảo đã rã ra, nhưng khi Oshin đáp lại ba lần thì lời của y quả thật là thông minh. Chu đã suy kiệt và cô quạnh, và lối dạy của lảo chẳng khác gì nắm đầu bò để cho ăn lá đậu.

Oshin biểu lộ thiền của y cũng chẳng mấy khó. Bụng đã no nên y chẳng còn muốn ăn cao lương. Khi nước đã giàu thì dân biếng nhác; khi gia đình phồn vinh thì con hư hõng.

Bây giờ ta muốn hỏi ngươi: Ai phải xin lổi?

Khi kho lương thực của nhà tù chỉ chứa sắt, chẳng còn chỗ cho cái đầu thì tù nhân bị khốn đốn gấp bội.

Khi chẳng còn chỗ cho thiền trong đầu của thế hệ chúng ta, thì thật là đáng lo.

Nếu ngươi cứ cố giử chặt tấm cửa của căn nhà đang sập,

Ngươi cũng sẽ bị khốn đốn.

 

18. BA CÂN CỦA TOZAN (ĐỘNG SƠN THỦ SƠ – LND.)

Khi Động Sơn đang cân vừng, một tăng sĩ hỏi: "Phật là gì?"

Động Sơn bảo: "Bó vừng này nặng ba cân."

Lời bàn của Vô-Môn: Thiền của lão Động Sơn cứ y như là con hến. Ngay khi võ hến mở ra ngươi có thể thấy tất cả bên trong. Tuy thế, ta muốn hỏi chư vị: Các ngươi có thấy Động Sơn thực không?

Ba cân vừng ngay trước mũi ngươi,

Thực gần, mà tâm thì lại còn gần hơn.

Kẻ nào nói đến xác nhận và phủ nhận

Thì vẫn sống trong vòng đúng, sai.

19. MỖI NGÀY ĐỀU LÀ ĐẠO

Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi Nam Tuyền: "Đạo là gì?"

Nam Tuyền bảo: "Đời sống hằng ngày là đạo"

Triệu Châu hỏi: "Có tìm hiểu được chăng?"

Nam Tuyền đáp: "Nếu ông cố tìm hiểu thì ông đã ở xa nó rồi."

Triệu Châu hỏi: "Nếu không tìm hiểu thì làm sao biết được nó là đạo?"

Nam Tuyền bảo: "Đạo không bị lệ thuộc vào cái thế giới nhận biết, và cũng chẳng lệ thuộc váo thế giới không nhận biết. Cảm quan là huyển hóa, và không cảm quan là vô tri. Nếu ông muốn đạt đến đạo chân thực không nghi ngại, thì hãy du mình vào chốn thênh thang như bầu trời. Ô⮧ không thể gọi nó là thiện mỹ hay không thiện mỹ."

Đến đấy Triệu Châu chợt ngộ.

Lời bàn của Vô-Môn: Nam Tuyền đã có thể xóa tan nỗi nghi ngại đong cứng của Triệu Châu ngay khi ông này lên tiếng hỏi. Ta ngờ rằng Triệu Châu chưa đạt đến chỗ Nam Tuyền đã ngộ. Ông ta phải tu học thêm ba mươi năm nữa mới đặng.

Mùa xuân, trăm hoa đua nỡ; mùa thu, trăng vằng vặt;

Mùa hạ, cơn gió mát; mùa đông, tuyết sẽ rơi.

Nếu điều vô dụng không vướng mắc tâm ngươi,

Bất cứ lý do gì cũng đều tốt cả.

 

20. NGƯỜI GIÁC NGỘ

Shogen hỏi: "Tại sao người giác ngộ lại không đứng dậy mà tự lý giãi?" Và ngài lại bảo: "Lời nói không nhất thiết phải phát ra từ lưỡi."

Lời bàn của Vô-Môn: Shogen đã nói toạt ra rồi, thế mà được bao nhiêu người hiễu đây?

Nếu có kẽ quán triệt được, hắn phải đến chỗ của t a ở để thử vài trượng. Tại sao, hãy nghe đây, muốn thử vàng ròng, ngươi phải nhìn qua lửa.

Nếu đôi chân bậc giác ngộ dời gót, thì biển cả chắc phải tràn;

Nếu cái đầu đó cúi xuống, thì nó đã nhìn khắp cung trời đao lợi.

Cái thân như thế thì không thể nghỉ ngơi được ..

Hãy để người khác tiếp bài thơ này.

 

21. CỤC PHÂN KHÔ

Một vị tăng hỏi Vân Môn: "Phật là gì?"

Vân Môn trả lời ông ta: "Cục phân khô."

Lời bàn của Vô-Môn: Theo ta thì Vân Môn xoàng quá, ngài đã không thể phân biệt được mùi vị của các món ngon, hoặc giả ngài đã quá bận để viết chữ cho dễ đọc. Thôi thì ngài đã muốn giữ thiền môn của ngài với cục phân khô. Lời dạy của ngài chẳng dùng được.

Chớp sáng lòe,

Làm mưa sa.

Trong nháy mắt

Ngươi không kịp thấy.

 

22. CÂY PHẤT TỬ CỦA KASHAPA (CA DIẾP – LND.)

Ananda hỏi Kashapa (Ca Diếp): "Đức Phật trao cho sư huynh kim y làm tín vật kế thừa. Ngài còn trao gì nữa chăng?"

Ca-Diếp bảo: "Ananda."

Ananda đáp: "Dạ, sư huynh."

Ca-Diếp nói: "Ngươi có thể hạ cây phất tử của ta xuống và dựng cây phất tử của ngươi lên."

Lời bàn của Vô-Môn: Nếu ai hiễu được như vậy thì sẽ thấy rằng tình sư huynh xưa vẫn đượm, nhưng nếu y không hiễu thì, cho dù y tu đến mấy kiếp trước cả thời chư Phật, y vẫn khó mà liễu ngộ.

Câu hỏi thì vớ vẫn, nhưng câu trả lời thì thân thiết.

Khi nghe, có bao nhiêu người chú ý?

Sư huynh gọi, sư đệ đáp,

Tiết xuân này chẳng thuộc vào mùa thường.

 

23. KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC

Khi đã giác ngộ, Lục tổ (Huệ Năng – LND.) được Ngủ tổ trao cho y bát kế thừa vốn đã được truyền lại từ Đức Phật qua bao thế hệ.

Một vị tăng tên là E-myo (Huệ-Minh – LND.), vì ghen tức đuổi theo để giành cho được báu vật. Lục tổ đặt y bát trên một tảng đá trên đường và bảo Huệ-Minh: "Các món này chỉ là biểu tượng của lòng tin. Chẳng có gì đáng để phải tranh giành.

Nếu sư huynh muốn lấy thì cứ giử lấy."

Nhưng khi Huệ-Minh đến nhặt y bát thì chúng lại nặng như núi, chẳng tài nào nhấc lên nỗi. Run rẫy vì xấu hỗ, y bảo:

"Tôi đến đây chỉ vì pháp, chứ chẳng phải vì các báu vật này. Xin chỉ dạy cho."

Lục tổ nói: "Khi ông không nghĩ thiện, khi ông không nghĩ ác, thì bản lai diện mục của ông là gì?"

Với lời này Huệ-Minh chợt ngộ. Mồ hôi toát ra như tắm, y khóc và cúi mình nói: "Ngài

đã dạy cho mật ngôn với diệu nghĩa. Còn có phần thậm thâm nào nữa trong giáo pháp?"

Lục tổ đáp: "Điều ta nói với ông chẳng có gì bí hiễm cả. Khi ông rõ được bản lai diện mục của ông thì điều bí mật đều tùy thuộc vào ông."

Huệ-Minh nói: "Tôi theo Ngủ tổ bao nhiêu năm, mà mãi đến lúc này mới nhận ra được tự tánh của mình. Nhờ sụ chỉ dạy của ngài tôi mới tìm ra được nguồn. Chỉ có người uống nước mới biết được là nước nóng lạnh ra sao. Xin được tôn ngài làm thầy được chăng?"

Lục tổ đáp: "Chúng ta cùng học với Ngũ tổ. Xin gọi Ngài là thầy, nhưng nên quý trọng những gì ông vừa đạt đuợc.

Lời bàn của Vô-Môn: Lục tổ quả là tốt bụng ngay cả lúc khẩn cấp. Cứ như là ngài bóc võ và hạt của quả chín, rồi mỡ miệng môn đồ ra cho ăn.

Ngươi không thể diễn tả nó, ngươi không thể hình dung nó,

Ngươi không thể nhìn ngắm nó, ngươi không thể cảm nhận nó.

Đó là bản lai diện mục của ngươi, nó chẳngẩn trốn ở đâu cả.

Dù thế gian bị diệt, nó không hề bị tan.

24. CHẲNG NÓI, CHẲNG IM

Có tăng hỏi Fuketsu: "Chẳng nói, chẳng im, làm sao tõ rõ diệu đế?"

Fuketsu bảo: "Ta nhớ mùa xuân ở Nam Hoa. Muôn chim hót vang giửa ngàn hoa thơm ngát."

Lời bàn của Vô-Môn: Fuketsu thường có lối Thiền như tia chớp. Khi có dịp, ngài xẹt ngay. Nhưng lần này thì ngài lại không làm vậy mà còn mượn một câu thơ cỗ. Hãy bõ qua lối thiền của Fuketsu đi. Nếu ngươi muốn làm sáng chân lý, cứ nói ra, cứ im đi, và cho ta biết lối thiền