---o0o---
(từ
Cuốn Zen Flesh - Zen Bones
của Paul
Reps- Nhà xuất bản The Charles E. Tuttle Company, Tokyo; Lần thứ nhất:
1957, lần thứ sáu: 1963).
---o0o---
Nếu
bạn
hảo
ngọt
và
muốn
sống
dễ
dãi
thì
xin
đừng
đọc
cuốn
sách
này.
Nó
chỉ
dành
cho
những
người
cương
quyết
mưu
cầu
giác
ngộ,
mưu
cầu
satori.
Điều
ấy
có
thể
xảy
đến
với
bạn.
Trong
một
nháy
mắt
nó
mở
ra.
Bạn
là
một
người
hoàn
toàn
mới.
Bạn
nhìn
sự
vật
không
giống
như
trước.
Cái
năng
lực
mới
mẽ
này
đến
bằng
chứng
ngộ
chứ
không
bằng
lý
luận.
Bất
cứ
bạn
làm
gì
hay
ở
đâu
đều
chẳng
có
gì
khác
biệt.
Nó
không
tạo
ra
lý.
Nó
tạo
ra
bạn.
Những
đề
thoại
đầu
cổ
xưa
của
Trung
Hoa
này,
gọi
là
công
án,
cốt
giúp
thiền
sinh
đọạn
tuyệt
với
say
mê
chữ
nghĩa
và
phiêu
lưu
tư
tưởng.
Khi
một
thiền
sinh
quán
chiếu
về
một
công
án,
đó
là
một
cách
muốn
nói
rằng:
Đừng
phung
phí
đời
bạn
chỉ
để
mò
mẫm;
hãy
hướng
suy
nghĩ
và
cảm
quan
vào
một
mục
đích
-
và
rồi
hãy
để
cho
nó
xảy
ra.
Phải
chăng
nghệ
thuật
khai
sáng
cho
con
ngưòi
này
đã
mất
dấu?
Không!
nếu
bạn
biết
để
tâm
-
hay
những
gì
khác
nữa
-
của
bạn
vào
nó.
Nếu
những
nhà
lãnh
đạo
của
nhân
lọai
ý
thức
hơn
về
điều
này,
để
khi
họ
có
đượﯣ
chút
quyền
nhỏ
nhoi,
họ
bóc
lột
kẽ
khác
ít
hơn.
Những
thiền
sư
xưa
này
thường
khai
ngộ
cho
môn
đệ
bằng
chỉ
trích,
hay
ngay
cả
thét
đánh.
Khi
các
ngài
khen
ngợi
có
nghĩa
là
đã
xem
thường.
Đó
là
thói
quen.
Các
ngài
rất
quan
tâm
đến
các
đệ
tử
của
họ
nhưng
bộc
lộ
nó
trong
hiện
tiền,
chứ
không
bằng
lời
lẽ.
Họ
là
những
người
kiên
cường,
những
người
gây
kích
động.
Họ
ban
cho
những
câu
hỏi
mà
câu
trả
lời
là
sự
sống
của
một
người.
Vậy
câu
trả
lời
đúng
cho
công
án
là
gì?
Có
rất
nhiều
và
cũng
chẳng
có
câu
nào.
Ở
Nhật
có
một
cuốn
sách
rất
hiếm,
cố
đề
ra
những
câu
trả
lời
thỏa
đáng
cho
những
câu
hỏi
khai
tâm
này.
Thật
là
trò
buồn
cười!
Bởi
vì
công
án
cũng
chính
là
câu
trả
lời,
và
khi
đã
có
một
câu
trả
lời
thỏa
đáng
thì
Thiền
đã
chết.
*
Đoạn
sau
là
phần
tóm
lược
lời
mở
đầu
của
ấn
bản
Anh
ngữ
đầu
tiên
của
cuốn
sách
này.
Giáo
pháp
của
Đức
Phật
đã
được
truyền
bá
ở
Ấn
độ
năm
trăm
năm
trước
Jesus
và
hằng
ngàn
năm
trước
Mohammed.
Ngày
nay
đạo
Phật
là
một
trong
những
tôn
giáo
lớn
cuả
nhân
lọai,
cổ
hơn
cả
Thiên
chúa
giáo
và
Hồi
giáo.
Từ
thế
kỷ
thứ
nhất
T.L.,
kinh
Phật
đã
được
dịch
ra
Hán
văn
bởi
nhiều
dịch
giả
Ấn
và
Hoa,
từ
triều
đại
này
đến
triều
đại
khác.
Tuy
nhiên
tinh
túy
của
Phật
giáo
lại
được
truyền
sang
Trung
quốc
vào
năm
520
T.L.
bởi
Bồ
Đề
Đạt
Ma,
được
xem
như
là
Tổ
thứ
Nhất
tông
phái
Thiền
Trung
Hoa.
Yếu
tính
đạo
giải
thoát
từ
Đức
Phật
Thích
Ca
đã
được
thiền
sư
tỉnh
tọa
Bồ
Đề
Đạt
Ma
lưu
chuyển
và
đệ
tử
của
ngài
nối
tiếp,
rồi
truyền
thừa
cùng
một
cách
qua
biết
bao
thế
hệ.
Nhờ
đấy
mà
Thiền
du
nhập,
nuôi
dưỡng
và
truyền
bá
khắp
Trung
quốc,
rồi
đến
Nhật
bản.
Chữ
Nhật
ZEN
-
chữ
Hán
CH’AN,
chữ
Phạn
DHYANA
-
(dĩ
nhiên
chữ
Viêt
là
THIỀ,
LND.)
-
có
nghĩa
là
trầm
tư
mặc
tưởng,
để
ngộ
được
điều
mà
Phật
đã
ngộ,
sự
giải
thóat
của
tâm.
Nó
cung
cấp
một
lối
tự
quán
chiếu,
thường
là
dưới
sự
chỉ
dạy
của
một
thiền
sư.
Thiền
có
nhiều
bản
kinh,
mà
cuốn
sách
này
là
một,
Mu-mon-kan
(Vô
Môn
Quan
hay
Mậu
Môn
Quan)
-
thoát
ý
là
"cửa
không
chắn"
-
đã
được
ghi
lại
bởi
Thiền
sư
Trung
Hoa
Huệ
Khai,
cũng
còn
gọi
là
Vô
Môn,
sống
từ
năm
1183
đến
năm
1260.
Tác
phẩm
gồm
những
mẫu
đối
thọai
giữa
các
tổ
và
đệ
tử,
vẽ
cho
thấy
lối
xóa
bõ
khuynh
hướng
nhị
nguyên,
hướng
ngoại,
bao
quát,
và
trí
thức
của
các
đệ
tử
để
đạt
đến
bản
lai
diện
mục,
thực
tính.
Những
vấn
đề
hay
những
thử
thách
nội
tại
mà
các
thiền
sư
hay
dùng
để
đối
chất
với
các
đệ
tử
đươcọi
là
công
án,
và
mỗi
câu
truyện
kể
sau
chính
nó
là
một
công
án.
Nhữ宧
câu
truyện
dùng
cả
đến
chữ
phàm
tục
để
phản
ảnh
pháp
môn
thâm
hậu,
quán
chiếⵠvào
nội
tâm
của
mình.
Thảng
hoặc
có
vài
trường
hợp
xem
ra
thô
bạo
nên
được
hiểu
như
là
sinh
động
và
thành
tâm.
Không
có
câu
truyện
nào
cố
làm
ra
vẻ
luận
lý.
Chúng
nhắm
vào
trạng
thái
của
tâm
chứ
không
phải
vào
chữ
nghĩa.
Nếu
không
hiễu
được
điều
này
thì
trọng
điểm
của
cổ
kinh
bị
nhìn
sai
lệch.
Toàn
thể
thâm
ý
là
giúp
cho
thiền
sinh
phá
vỡ
được
cái
vỏ
của
đầu
óc
hạn
chế
mà
đạt
đến
được
lần
sinh
thứ
hai
miên
viễn,
satori,
giác
ngộ.
Mỗi
thoại
đầu
là
một
lớp
cản.
Ai
có
được
tinh
thần
Thiền
đều
đi
qua
dễ
dàng.
Ai
sống
trong
Thiền
hiễu
được
hết
công
án
này
đến
công
án
khác,
theo
lối
của
mình,
mà
thấy
những
cảnh
giới
không
thể
thấy
và
sống
trong
vô
hạn.
*
Vô-Môn
Huệ
Khai
đã
viết
những
lời
này
trong
phần
giới
thiệu
của
cổ
kinh.
"Thiền
không
có
cửa.
Chủ
đích
của
lời
Phật
dạy
là
để
giác
ngộ
kẽ
khác.
Vì
vậy
mà
Thiền
phải
không
có
cửa.
"Một
người
muốn
đi
qua
cổng
không
cửa
phải
làm
thế
nào
bây
giờ?
Có
người
bảo
thứ
gì
qua
lại
cỗng
đều
không
phải
là
của
gia
bảo,
rằng
thứ
gì
tạo
ra
do
sự
giúp
đở
của
người
khác
thì
đều
bị
tan
rã
và
hũy
hoại.
"Những
lời
nói
như
thế
chẳng
khác
gì
sóng
nỗi
giửa
bễ
lặng
hay
mỗ
xẻ
thân
người
lành
mạnh.
Nếu
kẽ
nào
bám
cứng
vào
những
gì
người
khác
nói
và
cố
gắng
hiễu
Thiền
bằng
lý
giải
thì
kẽ
ấy
chẳng
khác
gì
tên
đần
độn
nghĩ
rằng
hắn
có
thể
dùng
gậy
đập
được
mặt
trăng
hay
gãi
chỗ
ngứa
chân
từ
bên
ngòai
chiếc
giày.
Không
bao
giờ
có
thể
được.
"Vào
năm
1228
ta
thuyết
pháp
cho
chư
tăng
tại
chùa
Ryusho
ở
phía
đông
Trung
quốc,
và
do
lời
yêu
cầu
của
họ
ta
kể
lại
những
công
án
cỗ,
với
mong
ước
khơi
dậy
tinh
thần
Thiền
của
họ.
Ta
dụng
ý
dùng
công
án
như
một
kẽ
nhặt
viên
gạch
để
gõ
cửa,
sau
khi
cửa
mở
thì
viên
gạch
chẳng
còn
hữu
dụng
nữa
và
bị
ném
đi.
Lời
ta,
không
ngờ
lại
được
góp
nhặt,
và
có
đến
bốn
mươi
tám
công
án,
ta
thêm
vào
lời
bàn
và
kệ
cho
mỗi
bài,
tuy
vậy
sự
sắp
xếp
lại
không
theo
thứ
tự
đã
kể.
Ta
gọi
cuốn
sách
là
Vô
Môn
Quan,
mong
rằng
thiền
sinh
đọc
nó
như
một
cẩm
nang.
"Nếu
độc
giả
nào
mạnh
dạn
tiến
thẳng
về
phía
trước
trong
quán
chiếu,
không
ảo
tưởng
nào
có
thể
quấy
họ
được.
Ho
sẽ
liễu
ngộ
chẳng
khác
gì
chư
tổ
ở
Ấn
và
Hoa,
có
thể
còn
khá
hơn.
Nhưng
nếu
họ
ngập
ngừng
dù
một
giây
lát,
họ
sẽ
như
kẽ
đứng
nhìn
người
cỡi
ngựa
phi
qua
cửa
sổ,
và
trong
nháy
mắt
chẳng
kịp
trông
thấy.
"Đại
đạo
không
có
cỗng,
Ngàn
lối
đi
vào
nó.
Khi
ai
đi
qua
được
cửa
không
này
Thì
thong
dong
giữa
đất
trời."
1.
CON
CHÓ
CỦA
JOSHU
(TRIỆU
CHÂU
TÙNG
THẪM
778-897
-
LND)
Một
vị
sư
hỏi
Triệu
Châu,
một
thiền
sư
Trung
Hoa:
"Con
chó
có
Phật
tánh
không?"
Triệu
Châu
trả
lời:
"KHÔNG"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Để
ngộ
Thiền
ta
phải
vượt
qua
rào
cản
của
chư
tổ.
Giác
ngộ
luôn
đến
sau
khi
lối
suy
nghĩ
bị
chắn.
Nếu
ngươi
không
vượt
qua
rào
cản
của
chư
tổ,
hoặc
lối
suy
nghĩ
không
bị
chắn,
thì
bất
cứ
điều
gì
ngươi
nghĩ,
điều
gì
ngươi
làm
đều
giống
như
bóng
ma
vướng
mắc.
Ngươi
có
thể
hỏi:
Rào
cản
của
tổ
là
gì?
Một
chữ
thôi,
KHÔNG,
là
nó.
Đó
là
rào
cản
của
Thiền.
Nếu
ngươi
vượt
qua
được,
ngươi
có
thể
diện
kiến
Triệu
Châu.
Ngươi
có
thể
tay
nắm
tay
cùng
với
chư
tổ.
Có
thú
vị
không?
Nếu
ngươi
muốn
vượt
qua
rào
cản
này,
ngươi
phải
vận
dụng
tất
cả
xương
cốt
trong
thân
ngươi,
tất
cả
lổ
chân
lông
của
da
ngươi,
ngẫm
nghĩ
câu
hỏi
này:
KHÔNG
là
cái
gì?
và
mang
nó
theo
ngày
và
đêm.
Chớ
nên
cho
nó
là
biểu
tượng
tiêu
cực
thông
thường
có
nghĩa
là
không
có
gì.
Nó
không
phải
là
trống
không,
đối
lại
với
hiện
hữu.
Nếu
ngươi
thực
muốn
vượt
qua
rào
cản
này,
ngươi
phải
có
cảm
giác
như
ngậm
một
viên
sắt
nóng
mà
ngươi
không
thể
nuốt
vào
hay
khạc
ra.
Rồi
sự
thiển
cận
trước
kia
của
ngươi
biến
mất.Và
như
trái
cây
chín
mùa,
cái
nhìn
chủ
quan
và
khách
quan
của
ngươi
trở
thành
một.
Nó
như
kẽ
câm
nằm
mộng,
hắn
biết
đấy
nhưng
không
thể
nói
ra
được.
Khi
thiền
sinh
vào
được
trạng
thái
này
thì
cái
vỏ
tự-ngã
của
y
bị
đập
vỡ
và
y
có
thể
lay
trời
và
dời
đất
được.
Y
sẽ
như
là
một
chiến
sĩ
vô
địch
với
lưởi
gươm
bén.
Nếu
Phật
đứng
chắn
lối,
y
sẽ
chém
nhào;
nếu
tổ
gây
trở
ngại,
y
sẽ
giết
ngay;
và
y
sẽ
được
tự
do
ra
vào
cõi
sinh
tử.
Y
có
thể
nhập
bất
cứ
cảnh
giới
nào
cứ
như
là
vào
sân
chơi
nhà
mình.
Ta
sẽ
nói
cho
ngươi
biết
cách
làm
được
như
thế
với
công
án
này:
Hãy
tập
trung
tất
cả
năng
lực
của
ngươi
vào
chữ
KHÔNG
này,
và
không
bao
giờ
ngưng
nghỉ.
Khi
ngươi
vào
được
KHÔNG
này
và
chẳng
hề
ngưng
nghỉ,
sự
liễu
ngộ
của
ngươi
sẽ
như
ngọn
đèn
cháy
và
chiếu
sáng
toàn
thể
vũ
trụ.
Con
chó
có
Phật
tánh
không?
Đây
là
câu
hỏi
nghiêm
trọng
nhất.
Nếu
ngươi
nói
CÓ
hay
KHÔNG,
Ngươi
đánh
mất
Phật
tánh
của
chính
ngươi.
2.
CON
CHỒN
CỦA
TỔ
BÁ
TRƯỢNG
(HYAKUJO)
Cứ
mỗi
lần
Bá
Trượng
thuyết
pháp,
một
ông
lão
đến
nghe
mà
tăng
chúng
không
hề
thấy.
Khi
buổi
giảng
chấm
dứt
tăng
chúng
rời
chỗ
thì
ông
lão
cũng
ra
về.
Nhưng
một
ngày
kia
ông
lão
lại
ở
lại,
Bá
Trượng
hỏi:
"Ông
là
ai?"
Ông
lão
trả
lời:
"Tôi
không
phải
là
người,
nhưng
tôi
vốn
là
người
khi
Đức
Phật
Kashapa
còn
tại
thế.
Tôi
là
một
thiền
sư
tu
tại
núi
này.
Bấy
giờ,
một
trong
những
đệ
tử
của
tôi
hỏi
rằng
nột
người
đã
giác
ngộ
thì
có
còn
chịu
luật
nhân
quả
không.
Tôi
trả
lời:
‘Kẽ
giác
ngộ
không
còn
chịu
luật
nhân
quả
nữa.’
Vì
câu
trả
lời
này,
do
còn
vướng
mắc
với
tuyệt
đối,
mà
tôi
đã
biến
thành
con
chồn
hơn
năm
trăm
kiếp
rồi,
và
tôi
vẫn
còn
là
chồn.
Xin
ngài
hóa
độ
cho
tôi
bằng
pháp
ngôn
của
ngài
để
tôi
thoát
khỏi
kiếp
chồn?
Bây
giờ
tôi
xin
hỏi
ngài:
Kẽ
đã
giác
ngộ
thì
có
còn
chịu
luật
nhân
quả
không?"
Bá
Trượng
bảo:
"Kẽ
đã
giác
ngộ
là
một
người
vẫn
chịu
luật
nhân
quả."
Sau
câu
ấy,
ông
lão
thoắt
ngộ.
"Tôi
đã
được
giải
thoát,"
ông
lão
nói
và
cúi
lạy.
"Tôi
không
còn
là
chồn
nữa,
nhưng
tôi
phải
để
xác
lại
trong
một
cái
hang
sau
núi.
Xin
được
chôn
cất
theo
lễ
chư
tăng."
Rồi
ông
biến
mất.
Hôm
sau
Bá
Trượng
ra
lệnh
tăng
trưởng
chuẩn
bị
tang
lễ
cho
một
tăng
sĩ.
"Chẳng
có
ai
mắc
bệnh
cả,"
tăng
chúng
thắc
mắc.
"Sư
phụ
có
ý
gì?"
Sau
trai
phạn,
Bá
Trượng
dắt
tăng
chúng
đi
vòng
ra
sau
núi.
Trong
một
cái
hang,
ngài
dùng
gậy
kéo
ra
một
cái
xác
của
con
chồn
già
và
thực
hiện
lễ
hỏa
thiêu.
Đêm
đó
Bá
Trượng
kể
lại
câu
chuyện
và
giảng
về
luật
nhân
quả.
Sau
khi
nghe
chuyện,
Obaku
hỏi
Bá
Trượng:
"Con
hiễu
rằng
ngày
xưa
có
kẽ
chỉ
vì
trả
lời
sai
một
câu
hỏi
Thiền
đã
biến
thành
con
chồn
năm
trăm
kiếp.
Vậy
ngày
nay
"Nếu
một
thiền
sư
trả
lời
đúng
hết
các
câu
hỏi
thì
việc
gì
sẽ
xảy
ra?"
Bá
Trượng
bảo:
"Hãy
đến
gần
đây
ta
sẽ
nói
cho
nghe."
Obaku
đến
gần
và
tát
thầy
một
cái,
vì
y
biết
rằng
đó
là
câu
trả
lời
mà
sư
phụ
sẽ
ban
cho.
Bá
Trượng
vỗ
tay
cười
cho
sự
sáng
trí
của
đệ
tử.
"Ta
tưởng
rằng
người
tây
trúc
có
bộ
râu
đỏ,"
ngài
nói,
"và
bây
giờ
ta
biết
một
người
tây
trúc
có
bộ
râu
đỏ."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
"Kẽ
giác
ngộ
không
phải
là
đối
tượng."
Làm
thế
nào
mà
câu
trả
lời
này
biến
một
tăng
sĩ
thành
con
chồn?
"Kẽ
giác
ngộ
là
một
người
vẫn
chịu
luật
nhân
quả."
Làm
thế
nào
mà
câu
trả
lời
này
làm
cho
chồn
được
giải
thóat?
Muốn
hiểu
rốt
ráo
được
điều
này,
người
ta
phải
chột
một
mắt.
Chế
ngự
hay
không
chế
ngự?
Cùng
con
súc
sắc
bày
hai
mặt.
Không
chế
ngự
hay
chế
ngự,
Cả
hai
đều
sai
lầm
thê
thảm.
3.
NGÓN
TAY
CỦA
CỤ
CHỈ
HOÀ
THƯỢNG
(GUTEI).
Cụ
Chỉ
thường
đưa
một
ngón
tay
lên
khi
được
hỏi
một
câu
về
Thiền.
Một
cậu
bé
thị
vệ
bắt
chước
theo.
Khi
có
người
hỏi
cậu
rằng
sư
phụ
của
cậu
giảng
dạy
điều
gì
vậy
thì
cậu
liền
đưa
lên
một
ngón
tay.
Chuyện
tinh
nghịch
của
cậu
bé
đến
tai
Cụ
Chỉ.
Ngài
liền
nắm
lấy
cậu
và
cắt
đứt
ngón
tay.
Cậu
bé
la
khóc
và
chạy
mất.
Cụ
Chỉ
gọi
cậu
dừng
lại.
Khi
cậu
bé
quay
lại
nhìn
thầy,
Cụ
Chỉ
đưa
lên
một
ngón
tay
của
ngài.
Ngay
tức
khắc,
cậu
bé
liễu
ngộ.
Khi
Cụ
Chỉ
gần
qua
đời,
ngài
cho
gọi
toàn
tăng
chúng
lại.
"Ta
đạt
đến
Nhất
chỉ
Thiền,"
ngài
bảo,
"từ
sư
phụ
của
ta
là
Thiên
Long
Hòa
Thượng
(Tenryu),
và
cả
một
đời
ta
vẫn
chưa
tận
dụng
nó."
Nói
xong
ngài
thị
tịch.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Giác
ngộ,
điều
mà
Cụ
Chỉ
và
cậu
bé
đạt
đến,
không
dính
líu
gì
đến
ngón
tay
cả.
Nếu
ai
cứ
mãi
bám
chặt
vào
cái
ngón
tay
thì
Thiên
Long
Hòa
Thượng
bực
mình
đến
độ
sẽ
tiêu
hũy
luôn
cả
Cụ
Chỉ,
cậu
bé
và
kẽ
dính
mắc.
Cụ
Chỉ
rẽ
rúng
pháp
môn
của
Thiên
Long,
Giải
thóat
cậu
bé
bằng
lưởi
dao.
So
với
vị
thần
Tàu
di
sơn
đảo
hải.
Thì
lão
Cụ
Chỉ
thật
đáng
thương.
4.
TÊN
NGỌAI
NHÂN
KHÔNG
RÂU
Wakuan
than
phiền
khi
nhìn
thấy
tranh
Bồ
Đề
Đạt
Ma
đầy
râu
rậm:
"Tại
sao
gã
không
có
râu
nhỉ?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ngươi
muốn
học
Thiền,
phải
học
với
quả
tim.
Khi
ngươi
đạt
được
liễu
ngộ,
thì
phải
thực
liễu
ngộ.
Chính
ngươi
phải
có
gương
mặt
của
Đại
Tổ
Bồ
Đề
mới
thấy
được
ngài.
Chỉ
thoáng
nhìn
cũng
đũ
rồi.
Nhưng
nếu
ngươi
bảo
đã
gặp
ngài
thì
ngươi
chưa
hề
thấy
ngài.
Người
ta
không
nên
bàn
đến
mộng
Trước
mặt
một
tên
khùng.
Tại
sao
Bồ
Đề
Đạt
Ma
không
có
râu?
Thực
là
câu
hỏi
vô
lý!
4.
KYOGEN
LEO
LÊN
CÂY
Kyogen
bảo:
"Thiền
cứ
như
một
người
đu
lơ
lững
trên
vực
sâu
răng
cắn
chặt
vào
cây.
Tay
không
nắm
được
cành,
chân
không
tựa
vào
nhánh,
và
bên
dưới
có
kẽ
hỏi:
"Tại
sao
Bồ
Đề
Đạt
Ma
lại
từ
Ấn
Độ
đến
Trung
Hoa?"
"Nếu
người
đu
cây
không
trả
lời,
hắn
thua;
và
nếu
trả
lời,
hắn
rơi
tòm
mất
mạng.
Vậy
hắn
phải
làm
gì
nào?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Trong
tình
huống
đó,
mọi
tranh
biện
tài
tình
đều
vô
ích.
Nếu
ngươi
thuộc
hết
tam
tạng
kinh
điễn,
ngươi
chẳng
dùng
được.
Khi
ngươi
có
câu
trả
lời
đúng,
dù
con
đường
quá
khứ
là
đường
tử,
ngươi
mở
ra
được
con
đường
sinh
mới.
Nhưng
nếu
ngươi
không
trả
lời
được,
ngươi
phải
sống
đến
bao
đời
để
hỏi
Phật
tương
lai,
Phật
Di
Lặc.
Kyogen
là
kẽ
gàn
Reo
rắc
độc
dược
diệt-ngã-mạn
đó
Làm
câm
miệng
các
môn
đồ
Và
để
nước
mắt
tuôn
trào
từ
đôi
mắt
chết
của
họ.
5.
PHẬT
XOAY
MỘT
CÀNH
HOA
Khi
Đức
Phật
ngự
tại
núi
Linh
Thứu
(Grdhrakuta),
Ngài
xoay
một
cành
hoa
trong
tay
và
đưa
ra
trước
thính
chúng.
Mọi
người
đều
im
lặng.
Duy
chỉ
có
Ma
Ha
Ca
Diếp
(Maha
Kashapa)
mỉm
cười,
nhưng
vẫn
cố
giữ
nghiêm
nét
mặt.
Đức
Thế
Tôn
bảo:
"Ta
có
nhãn
tạng
của
chánh
pháp,
tâm
của
Niết
bàn,
thực
nhận
của
vô
tướng,
và
Giáo
pháp
vi
diệu
khó
nghĩ
bàn.
Không
thể
diễn
bằng
lời,
mà
chỉ
biệt
truyền
ngoài
giáo
lý.
Giáo
pháp
này
ta
giao
lại
cho
Ma
Ha
Ca
Diếp."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Phật
mặt
vàng
tưởng
rằng
có
thể
lừa
được
mọi
người.
Ngài
làm
cho
chư
thiện
tri
thức
trở
nên
lố
bịch,
và
mượn
đầu
heo
bán
thịt
chó.
Và
ngay
cả
ngài
cũng
nghĩ
rằng
như
thế
là
tuyệt.
Nếu
toàn
thính
chúng
đều
cười
cả
thì
sao?
Làm
thế
nào
ngài
có
thể
truyền
giáo
pháp?
Và
lại
nữa,
nếu
Ma
Ha
Ca
Diếp
không
mĩm
cười,
làm
thế
nào
ngài
có
thể
truyền
giáo
pháp?
Nếu
ngài
bảo
rằng
sự
liễu
ngộ
có
thể
truyền
thừa,
thì
rõ
ngài
cũng
giống
như
tên
bịp
thị
thành
lừa
anh
nhà
quê
khờ
khạo,
và
nếu
ngài
bảo
rằng
nó
không
thể
truyền
thừa
được
thì
tại
sao
ngài
lại
giao
phó
cho
Ma
Ha
Ca
Diếp?
Khi
xoay
cành
hoa
Sự
vờ
vỉnh
của
Ngài
đã
bị
lộ.
Không
ai
trong
vòng
thiên
địa
có
thể
hơn
được
Gương
mặt
nhăn
vết
của
Ma
Ha
Ca
Diếp.
6.
TRIỆU
CHÂU
TÙNG
THẪM
RỬA
BÁT
Một
vị
tăng
thưa
với
Triệu
Châu:
"Con
vừa
nhập
thiền
thất,
Xin
chỉ
dạy."
Triệu
Châu
hỏi:
"Con
đã
ăn
cháo
chưa?"
Vị
tăng
trả
lời:
"Bạch,
đã
ăn
rồi."
Triệu
Châu
nói:
"Vậy
thì
đi
rửa
bát
đi."
Ngay
lúc
đó
vị
tăng
liễu
ngộ.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Triệu
Châu
là
người
đã
mở
miệng
cho
thấy
tâm
của
ngài.
Ta
nghi
rằng
vị
tăng
kia
chưa
chắc
đã
thấy
được
tâm
của
Triệu
Châu.
Ta
mong
rằng
ông
ta
không
nhầm
cái
chuông
với
bình
chế
nước.
Thật
là
quá
rõ
và
vì
vậy
mà
khó
thấy.
Có
kẽ
khờ
cầm
đèn
đi
tìm
lửa.
Nếu
hắn
biết
lửa
ra
sao,
Thì
hắn
đã
nấu
cơm
sớm
hơn.
7.
BÁNH
XE
CỦA
KEICHU
Getsuan
nói
với
môn
đồ:
"Keichu,
người
chế
ra
bánh
xe
đầu
tiên
của
Trung
quốc,
làm
hai
bánh
xe,
mỗi
bánh
có
năm
mươi
nang.
Bây
giờ
giả
dụ
các
ngươi
tháo
cái
trục
ra
thì
bánh
xe
sẽ
ra
sao?
Và
nếu
Keichu
làm
vậy
thì
ông
ta
có
được
gọi
là
tổ
chế
ra
bánh
xe
không?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ai
có
thể
trả
lời
câu
hỏi
này
tức
khắc,
thì
mắt
hắn
sẽ
như
sao
xẹt
và
trí
óc
hắn
sẽ
như
một
tia
chớp.
Khi
bánh
xe
không
trục
xoay,
Tổ
hay
chẳng
tổ
có
thể
ngưng
nó
lại.
Nó
xoay
trên
trời
và
dưới
đất,
Nam,
bắc,
đông,
và
tây.
8.
MỘT
ĐỨC
PHẬT
TRƯỚC
THỜI
CÓ
SỬ
Một
vị
tăng
hỏi
Seijo:
"Con
biết
rằng
một
đức
Phật
trước
thời
có
sử,
đã
tọa
thiền
qua
bảy
kiếp
mà
vẫn
không
ngộ
được
chân
lý
tối
thượng,
vì
thế
mà
không
hoàn
toàn
được
giải
thoát.
Tại
sao
vậy?"
Seiji
trả
lời:
"Câu
hỏi
của
ông
đã
tự
giải
thích
rồi."
Vị
sư
hỏi
tiếp:
"Tại
sao
đức
Phât
đó
tọa
thiền
mà
vẫn
không
đạt
được
Phật
quả?"
Seijo
trả
lời:
"Vì
ông
ta
chưa
thành
Phật."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Ông
ta
có
thể
ngộ
đạo,
nhưng
ta
không
cho
rằng
ông
ấy
hiễu
rõ.
Khi
một
người
ngu
liễu
ngộ
thì
thành
thánh.
Khi
một
bậc
thánh
bắt
đầu
hiễu
ra
thì
thành
người
ngu.
Tốt
hơn
nên
ngộ
tâm
chứ
chẳng
phải蠴hân.
Khi
tâm
giác
ngộ
thì
không
còn
gì
để
lo
ngại
cho
thân.
Khi
tâm
và
thân
trở
thành
một
Thì
người
được
tự
tại,
chẳng
còn
ham
muốn
lợi
danh.
9.
SEIZEI
CÔ
ĐỘC
VÀ
NGHÈO
NÀN
Một
vị
tăng
tên
là
Seizei
hỏi
Sozan:
"Seizei
cô
khổ.
Ngài
có
giúp
đở
được
không?"
Sozan
hỏi:
"Seizei?"
Seizei
đáp:
"Bạch
Hòa
thượng."
Sozan
bảo:
"Ngươi
được
Thiền,
là
món
mỹ
tửu
đệ
nhất
của
thiên
hạ
(Trung
quốc),
và
đã
uống
xong
ba
chén,
mà
vẫn
nói
là
chưa
thấm
môi
ư!."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Seizei
hơi
quá
đà.
Tại
sao
vậy?
Bởi
vì
Sozan
rất
tinh
mắt
biết
rõ
người
đối
thoại.
Ngay
thế,
ta
vẫn
muốn
hỏi
chư
vị:
Ở
thời
điểm
nào
thì
Seizei
đã
uống
rượu?
Kẻ
nghèo
nhất
Trung
quốc,
Kẻ
gan
nhất
Trung
quốc,
Chỉ
vừa
đủ
cầm
hơi,
Mà
lại
muốn
so
bì
với
người
giàu
nhất.
11.
TRIỆU
CHÂU
TÙNG
THẪM
KHẢO
HẠCH
MỘT
VỊ
TĂNG
ĐANG
THAM
THIỀN
Triệu
Châu
đến
tịnh
thất
của
một
vị
tăng
đang
tọa
thiền
và
hỏi:
"Cái
gì
là
cái
gì?"
Vị
tăng
giơ
lên
nắm
tay.
Triệu
Châu
đáp:
"Thuyền
không
thể
lưu
ở
nơi
nước
cạn."
Rồi
bõ
đi.
Vài
ngày
sau
Triệu
Châu
trở
lại
và
hỏi
cùng
một
câu
như
trước.
Vị
tăng
đáp
lại
cũng
cùng
một
cách
không
khác.
Triệu
Châu
bảo:
"Khá
trao,
khá
nhận,
giết
hay,
cứu
giỏi."
Rồi
vái
chào.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Vẫn
là
một
nắm
tay
không
khác
ở
hai
lần.
Tại
sao
Triệu
Châu
không
chứng
cho
lần
đầu
mà
lại
nhận
lần
sau?
Sai
trật
ở
chỗ
nào?
Ai
trả
lời
được
thì
đã
biết
rằng
lưởi
của
Triệu
Châu
không
xương
nên
nhiều
đường
lắc
léo.
Có
thể
là
Triệu
Châu
sai.
Hoặc
qua
ông
sư
kia,
Ngài
có
thể
biết
rằng
mình
sai.
Nếu
ai
nghĩ
rằng
nội
tâm
của
mình
hơn
hẳn
nội
tâm
của
người
khác,
quả
là
kẻ
không
có
mắt.
Nhãn
quang
như
sao
xẹt,
Và
Thiền
quán
tựa
lằn
chớp.
Lưởi
gươm
giết
chết
người
Cũng
là
lưởi
gươm
cứu
sống
người.
12.
ZUIGAN
(SƯ
NHAN
–
LND.)
GỌI
SƯ
PHỤ
Sư
Nhan
một
mình
gọi
lớn
mỗi
ngày:
"Sư
phụ."
Rồi
lại
tự
đáp:
"Dạ,
bạch
thầy."
Và
liền
thêm:
"Hãy
tỉnh
táo
nhé."
Rồi
tự
đáp:
"Dạ,
bạch
thầy."
"Và
sau
đó,"
Ngài
tiếp,
"đừng
để
bị
người
khác
lừa
gạt
nhé."
"Dạ,
bạch
thầy;
Dạ,
bạch
thầy."
Ngài
tự
trả
lời.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Lão
Sư
Nhan
tự
bán
tự
mua.
Lão
làm
một
màn
múa
rối.
Ngài
mang
một
mặt
nạ
để
gọi
"Sư
phụ"
rồi
mặt
nạ
khác
để
trả
lời.
Mang
cái
khác
để
nói:
"Hãy
tỉnh
táo
nhé."
Và
lại
cái
khác,
"Đừng
để
bị
người
khác
lừa
gạt
nhé."
Nếu
ai
vướng
mắc
vào
bất
cứ
cái
mặt
nạ
nào
thì
quả
là
lầm
to,
mà
còn
bắt
chước
Sư
Nhan,
thì
sẽ
không
khác
chồn
cáo.
Vài
thiền
sinh
không
ngộ
được
con
người
thật
sau
cái
mặt
nạ.
Bởi
vì
họ
chỉ
thấy
cái
tự
ngã.
Cái
tự
ngã
là
mầm
sanh
tử,
Mà
kẽ
mê
gọi
nó
là
chân
nhân.
13.
TOKUSAN
ÔM
BÌNH
BÁT
Tokusan
từ
Thiền
đường
đến
nhà
bếp
tay
ôm
bình
bát.
Seppo
phụ
trách
nấu
nướng
thấy
Tokusan
bảo:
"Tiếng
trống
hiệu
báo
giờ
ăn
chưa
điểm.
Ngài
đi
đâu
với
cái
bình
bát
vậy?"
Tokusan
quay
trở
về
thiền
thất.
Seppo
thuật
lại
câu
chuyện
với
Ganto.
Ganto
bảo:
"Lão
sư
Tokusan
chẳng
hiểⵠđược
chân
lý
tối
thượng."
Tokusan
nghe
được
lời
phê
liền
cho
gọi
Ganto
đến
gặp.
"Ta
có
nghe,"
ngài
bảo,
"ông
không
tán
thành
lối
thiền
của
ta."
Ganto
gián
tiếp
thú
nhận.
Tokusan
chẳng
nói
gì.
Hôm
sau
Tokusan
thuyết
pháp
cho
tăng
chúng
một
cách
khác
hẳn.
Ganto
cười
rộ
và
vổ
tay
nói:
"Ta
thấy
lảo
sư
hiểu
rõ
chân
lý
tối
thượng.
Chẳng
có
ai
ở
Trung
quốc
có
thể
hơn
được."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nói
đến
chân
lý
tối
thượng,
cả
Ganto
và
Tokusan
chẳng
hề
mộng
tưởng.
Rốt
ráo,
họ
chỉ
là
những
kẽ
đần
độn.
Ai
hiểu
được
diệu
đế
thứ
nhất
Hẳn
phải
hiểu
chân
lý
sau
cùng
Sau
cùng
và
thứ
nhất,
Chúng
có
khác
nhau
chăng?
14.
NAM
TUYỀN
PHỔ
NGUYỆN
CHẶT
CON
MÈO
LÀM
HAI
KHÚC
Nam
Tuyền
bắt
gặp
hai
tăng
sinh
cải
nhau
chỉ
vì
con
mèo.
Ngài
chộp
lấy
con
mèo
và
bảo
họ:
"Nếu
ai
nói
được
một
lời
phải
thì
cứu
được
con
mèo."
Chẳng
ai
trả
lời
được.
Nam
Tuyền
liền
chặt
con
mèo
làm
hai
khúc.
Tối
đó
Triệu
Châu
Tùng
Thẩm
trở
về
và
Nam
Tuyền
kể
lại
câu
chuyện.
Triệu
Châu
liền
tháo
dép
đội
lên
đầu
bước
trở
ra.
Nam
Tuyền
bảo:
"Nếu
ngài
có
mặt
ở
đấy
thì
đã
cứu
được
con
mèo."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Tại
sao
Triệu
Châu
đội
dép
lên
đầu?
Nếu
ai
trả
lời
được
thì
sẽ
hiểu
Nam
Tuyền
phán
quyết
như
thế
nào.
Nếu
không,
thì
chịu
bay
đầu.
Nếu
Triệu
Châu
có
mặt
ở
đấy,
Ông
tã
có
thể
đã
phán
quyết
ngược
lại.
Triệu
Châu
chụp
lấy
dao
Và
Nam
Tuyền
phải
xin
tha
mạng
cho
lảo.
15.
BA
CÁI
LẠY
CỦA
TOZAN
(ĐỘNG
SƠN
THỦ
SƠ
hay
ĐỘNG
SƠN
LƯƠNG
GIỚI
807-869
–
LND.)
Động
Sơn
đến
ra
mắt
Vân
Môn
Văn
Uyên
(Ummon).
Vân
Môn
hỏi
từ
đâu
lại.
Động
Sơn
thưa:
"Từ
làng
Sato."
Vân
Môn
hỏi
"An
cư
kiết
hạ
ở
chùa
nào?"
Động
Sơn
trả
lời:
"Chùa
Hoji,
phía
nam
của
chíếc
hồ."
"Ông
rời
lúc
nào?"
Vân
Môn
hỏi,
mà
thầm
nghĩ
chẳng
biết
Động
Sơn
cứ
tiếp
tục
trả
lời
như
thế
đến
bao
lâu.
"Ngày
hai
nươi
lăm
tháng
Tám,"
Động
Sơn
trả
lời.
Vân
Môn
bảo:
"Ta
phải
cho
ngươi
ba
gậy
mới
đặng,
nhưng
ta
tha
cho
bửa
nay."
Ngày
hôm
sau
Động
Sơn
bái
kiến
Vân
Môn
và
hỏi:
"Ngày
hôm
qua
ngài
đã
tha
cho
tôi
ba
gậy.
Tôi
chẳng
biết
mình
làm
gì
quấy."
Thất
vọng
trước
câu
nói,
Vân
Môn
bảo:
"Ngươi
thật
là
vô
dụng.
Chỉ
là
kẻ
lê
lết
từ
chùa
này
đến
chùa
khác
mà
thôi."
Lời
của
Vân
Môn
chưa
dứt,
Động
Sơn
chợt
ngộ.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Vân
Môn
cho
Động
Sơn
thức
ăn
Thiền
bổ
dưởng.
Nếu
Động
Sơn
tiêu
hóa
được,
Vân
Môn
có
thể
thâu
nhận
y
vào
hội
chúng.
Qua
một
đêm
Động
Sơn
bơi
lội
trong
biển
phải
quấy,
nhưng
đến
sáng
Vân
Môn
đập
vở
được
cái
võ
cứng
của
y.
Nghĩ
cho
cùng,
thì
y
cũng
chẳng
sáng
trí
mấy.
Bây
giờ
ta
muốn
hỏi
chư
vị:
Động
Sơn
có
đáng
bị
ba
gậy
hay
không?
Nếu
các
ngươi
nói
đáng
thì
không
phải
chỉ
Động
Sơn
mà
ngay
đến
mỗi
người
trong
bọn
các
ngươi
phải
bị
đòn.
Nếu
các
ngươi
bảo
không,
thì
há
Vân
Môn
đã
nói
lời
dối
trá.
Nếu
trả
lời
thông
suốt
được,
thì
ngươi
có
thể
ăn
cùng
món
với
Động
Sơn.
Sư
tử
mẹ
thô
tháp
dạy
cho
bầy
con
Khi
chúng
nhảy,
nó
liền
đập
cho
ngã
Khi
Vân
Môn
gặp
Động
Sơn,
mũi
tên
thứ
nhất
còn
nhẹ
Đến
mũi
thứ
hai
thì
ngấm
sâu.
16.
CHUÔNG
VÀ
ÁO
CÀ
SA
Vân
Môn
hỏi:
"Cõi
ta
bà
thật
lớn,
tại
sao
ngươi
lại
theo
tiêng
chuông
và
mặc
áo
cà
sa?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Khi
tu
học
thiền,
người
ta
không
cần
phải
nương
theo
âm
thanh,
hoặc
màu
sắc,
hoặc
hình
tướng.
Dù
rằng
thông
thường
có
kẽ
đạt
được
nội
tâm
khi
nghe
một
âm,
hoặc
thấy
một
sắc
hoặc
một
tướng.
Đó
không
phải
là
thiền.
Người
thực
tu
học
thiền
chế
ngự
được
cà
âm,
sắc,
tướng,
và
hiễn
lộ
chân
lý
trong
cuộc
sống
hằng
ngày.
Âm
đến
tai,
tai
tìm
đến
âm.
Khi
bạn
ngăn
được
âm
thanh
và
xúc
giác,
bạn
hiểu
được
gì?
Người
ta
không
thể
hiểu
khi
dùng
tai
để
nghe.
Để
hiểu
được
cặn
kẽ
hơn,
người
ta
phải
thấy
được
âm
thanh.
Khi
ngươi
hiểu,
ngươi
là
người
cùng
một
nhà;
Khi
ngươi
không
hiểu,
ngươi
là
một
kẻ
lạ.
Những
ai
không
hiểu
đều
là
người
cùng
một
nhà,
Và
khi
họ
hiểu
thì
thành
kè
lạ.
17.
BA
TIẾNG
GỌI
CỦA
KOKUSHI
(QUỐC
SƯ
HUỆ
TRUNG
–
LND.)
Thiền
sư
Huệ
Trung,
tên
là
Chu,
là
quốc
sư
(quan
phụ
đạo
cho
Hoàng
đế),
gọi
thị
giả
của
ngài
"Oshin."
Oshin
liền
đáp:
"Dạ."
Chu
lập
lại,
muốn
thử
người
đồ
đệ:
"Oshin."
Oshin
cũng
lập
lại:
"Dạ."
Chu
gọi:
"Oshin."
Oshin
trả
lời:
"Dạ."
Chu
bảo:
"Thứ
lỗi
cho
ta
đã
gọi
ngươi,
nhưng
ngươi
phải
xin
lỗi
ta."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Khi
lảo
tăng
Chu
gọi
Oshin
ba
lần,
lưởi
của
lảo
đã
rã
ra,
nhưng
khi
Oshin
đáp
lại
ba
lần
thì
lời
của
y
quả
thật
là
thông
minh.
Chu
đã
suy
kiệt
và
cô
quạnh,
và
lối
dạy
của
lảo
chẳng
khác
gì
nắm
đầu
bò
để
cho
ăn
lá
đậu.
Oshin
biểu
lộ
thiền
của
y
cũng
chẳng
mấy
khó.
Bụng
đã
no
nên
y
chẳng
còn
muốn
ăn
cao
lương.
Khi
nước
đã
giàu
thì
dân
biếng
nhác;
khi
gia
đình
phồn
vinh
thì
con
hư
hõng.
Bây
giờ
ta
muốn
hỏi
ngươi:
Ai
phải
xin
lổi?
Khi
kho
lương
thực
của
nhà
tù
chỉ
chứa
sắt,
chẳng
còn
chỗ
cho
cái
đầu
thì
tù
nhân
bị
khốn
đốn
gấp
bội.
Khi
chẳng
còn
chỗ
cho
thiền
trong
đầu
của
thế
hệ
chúng
ta,
thì
thật
là
đáng
lo.
Nếu
ngươi
cứ
cố
giử
chặt
tấm
cửa
của
căn
nhà
đang
sập,
Ngươi
cũng
sẽ
bị
khốn
đốn.
18.
BA
CÂN
CỦA
TOZAN
(ĐỘNG
SƠN
THỦ
SƠ
–
LND.)
Khi
Động
Sơn
đang
cân
vừng,
một
tăng
sĩ
hỏi:
"Phật
là
gì?"
Động
Sơn
bảo:
"Bó
vừng
này
nặng
ba
cân."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Thiền
của
lão
Động
Sơn
cứ
y
như
là
con
hến.
Ngay
khi
võ
hến
mở
ra
ngươi
có
thể
thấy
tất
cả
bên
trong.
Tuy
thế,
ta
muốn
hỏi
chư
vị:
Các
ngươi
có
thấy
Động
Sơn
thực
không?
Ba
cân
vừng
ngay
trước
mũi
ngươi,
Thực
gần,
mà
tâm
thì
lại
còn
gần
hơn.
Kẻ
nào
nói
đến
xác
nhận
và
phủ
nhận
Thì
vẫn
sống
trong
vòng
đúng,
sai.
19.
MỖI
NGÀY
ĐỀU
LÀ
ĐẠO
Triệu
Châu
Tùng
Thẩm
hỏi
Nam
Tuyền:
"Đạo
là
gì?"
Nam
Tuyền
bảo:
"Đời
sống
hằng
ngày
là
đạo"
Triệu
Châu
hỏi:
"Có
tìm
hiểu
được
chăng?"
Nam
Tuyền
đáp:
"Nếu
ông
cố
tìm
hiểu
thì
ông
đã
ở
xa
nó
rồi."
Triệu
Châu
hỏi:
"Nếu
không
tìm
hiểu
thì
làm
sao
biết
được
nó
là
đạo?"
Nam
Tuyền
bảo:
"Đạo
không
bị
lệ
thuộc
vào
cái
thế
giới
nhận
biết,
và
cũng
chẳng
lệ
thuộc
váo
thế
giới
không
nhận
biết.
Cảm
quan
là
huyển
hóa,
và
không
cảm
quan
là
vô
tri.
Nếu
ông
muốn
đạt
đến
đạo
chân
thực
không
nghi
ngại,
thì
hãy
du
mình
vào
chốn
thênh
thang
như
bầu
trời.
Ô⮧
không
thể
gọi
nó
là
thiện
mỹ
hay
không
thiện
mỹ."
Đến
đấy
Triệu
Châu
chợt
ngộ.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nam
Tuyền
đã
có
thể
xóa
tan
nỗi
nghi
ngại
đong
cứng
của
Triệu
Châu
ngay
khi
ông
này
lên
tiếng
hỏi.
Ta
ngờ
rằng
Triệu
Châu
chưa
đạt
đến
chỗ
Nam
Tuyền
đã
ngộ.
Ông
ta
phải
tu
học
thêm
ba
mươi
năm
nữa
mới
đặng.
Mùa
xuân,
trăm
hoa
đua
nỡ;
mùa
thu,
trăng
vằng
vặt;
Mùa
hạ,
cơn
gió
mát;
mùa
đông,
tuyết
sẽ
rơi.
Nếu
điều
vô
dụng
không
vướng
mắc
tâm
ngươi,
Bất
cứ
lý
do
gì
cũng
đều
tốt
cả.
20.
NGƯỜI
GIÁC
NGỘ
Shogen
hỏi:
"Tại
sao
người
giác
ngộ
lại
không
đứng
dậy
mà
tự
lý
giãi?"
Và
ngài
lại
bảo:
"Lời
nói
không
nhất
thiết
phải
phát
ra
từ
lưỡi."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Shogen
đã
nói
toạt
ra
rồi,
thế
mà
được
bao
nhiêu
người
hiễu
đây?
Nếu
có
kẽ
quán
triệt
được,
hắn
phải
đến
chỗ
của
t
a
ở
để
thử
vài
trượng.
Tại
sao,
hãy
nghe
đây,
muốn
thử
vàng
ròng,
ngươi
phải
nhìn
qua
lửa.
Nếu
đôi
chân
bậc
giác
ngộ
dời
gót,
thì
biển
cả
chắc
phải
tràn;
Nếu
cái
đầu
đó
cúi
xuống,
thì
nó
đã
nhìn
khắp
cung
trời
đao
lợi.
Cái
thân
như
thế
thì
không
thể
nghỉ
ngơi
được
..
Hãy
để
người
khác
tiếp
bài
thơ
này.
21.
CỤC
PHÂN
KHÔ
Một
vị
tăng
hỏi
Vân
Môn:
"Phật
là
gì?"
Vân
Môn
trả
lời
ông
ta:
"Cục
phân
khô."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Theo
ta
thì
Vân
Môn
xoàng
quá,
ngài
đã
không
thể
phân
biệt
được
mùi
vị
của
các
món
ngon,
hoặc
giả
ngài
đã
quá
bận
để
viết
chữ
cho
dễ
đọc.
Thôi
thì
ngài
đã
muốn
giữ
thiền
môn
của
ngài
với
cục
phân
khô.
Lời
dạy
của
ngài
chẳng
dùng
được.
Chớp
sáng
lòe,
Làm
mưa
sa.
Trong
nháy
mắt
Ngươi
không
kịp
thấy.
22.
CÂY
PHẤT
TỬ
CỦA
KASHAPA
(CA
DIẾP
–
LND.)
Ananda
hỏi
Kashapa
(Ca
Diếp):
"Đức
Phật
trao
cho
sư
huynh
kim
y
làm
tín
vật
kế
thừa.
Ngài
còn
trao
gì
nữa
chăng?"
Ca-Diếp
bảo:
"Ananda."
Ananda
đáp:
"Dạ,
sư
huynh."
Ca-Diếp
nói:
"Ngươi
có
thể
hạ
cây
phất
tử
của
ta
xuống
và
dựng
cây
phất
tử
của
ngươi
lên."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ai
hiễu
được
như
vậy
thì
sẽ
thấy
rằng
tình
sư
huynh
xưa
vẫn
đượm,
nhưng
nếu
y
không
hiễu
thì,
cho
dù
y
tu
đến
mấy
kiếp
trước
cả
thời
chư
Phật,
y
vẫn
khó
mà
liễu
ngộ.
Câu
hỏi
thì
vớ
vẫn,
nhưng
câu
trả
lời
thì
thân
thiết.
Khi
nghe,
có
bao
nhiêu
người
chú
ý?
Sư
huynh
gọi,
sư
đệ
đáp,
Tiết
xuân
này
chẳng
thuộc
vào
mùa
thường.
23.
KHÔNG
NGHĨ
THIỆN,
KHÔNG
NGHĨ
ÁC
Khi
đã
giác
ngộ,
Lục
tổ
(Huệ
Năng
–
LND.)
được
Ngủ
tổ
trao
cho
y
bát
kế
thừa
vốn
đã
được
truyền
lại
từ
Đức
Phật
qua
bao
thế
hệ.
Một
vị
tăng
tên
là
E-myo
(Huệ-Minh
–
LND.),
vì
ghen
tức
đuổi
theo
để
giành
cho
được
báu
vật.
Lục
tổ
đặt
y
bát
trên
một
tảng
đá
trên
đường
và
bảo
Huệ-Minh:
"Các
món
này
chỉ
là
biểu
tượng
của
lòng
tin.
Chẳng
có
gì
đáng
để
phải
tranh
giành.
Nếu
sư
huynh
muốn
lấy
thì
cứ
giử
lấy."
Nhưng
khi
Huệ-Minh
đến
nhặt
y
bát
thì
chúng
lại
nặng
như
núi,
chẳng
tài
nào
nhấc
lên
nỗi.
Run
rẫy
vì
xấu
hỗ,
y
bảo:
"Tôi
đến
đây
chỉ
vì
pháp,
chứ
chẳng
phải
vì
các
báu
vật
này.
Xin
chỉ
dạy
cho."
Lục
tổ
nói:
"Khi
ông
không
nghĩ
thiện,
khi
ông
không
nghĩ
ác,
thì
bản
lai
diện
mục
của
ông
là
gì?"
Với
lời
này
Huệ-Minh
chợt
ngộ.
Mồ
hôi
toát
ra
như
tắm,
y
khóc
và
cúi
mình
nói:
"Ngài
đã
dạy
cho
mật
ngôn
với
diệu
nghĩa.
Còn
có
phần
thậm
thâm
nào
nữa
trong
giáo
pháp?"
Lục
tổ
đáp:
"Điều
ta
nói
với
ông
chẳng
có
gì
bí
hiễm
cả.
Khi
ông
rõ
được
bản
lai
diện
mục
của
ông
thì
điều
bí
mật
đều
tùy
thuộc
vào
ông."
Huệ-Minh
nói:
"Tôi
theo
Ngủ
tổ
bao
nhiêu
năm,
mà
mãi
đến
lúc
này
mới
nhận
ra
được
tự
tánh
của
mình.
Nhờ
sụ
chỉ
dạy
của
ngài
tôi
mới
tìm
ra
được
nguồn.
Chỉ
có
người
uống
nước
mới
biết
được
là
nước
nóng
lạnh
ra
sao.
Xin
được
tôn
ngài
làm
thầy
được
chăng?"
Lục
tổ
đáp:
"Chúng
ta
cùng
học
với
Ngũ
tổ.
Xin
gọi
Ngài
là
thầy,
nhưng
nên
quý
trọng
những
gì
ông
vừa
đạt
đuợc.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Lục
tổ
quả
là
tốt
bụng
ngay
cả
lúc
khẩn
cấp.
Cứ
như
là
ngài
bóc
võ
và
hạt
của
quả
chín,
rồi
mỡ
miệng
môn
đồ
ra
cho
ăn.
Ngươi
không
thể
diễn
tả
nó,
ngươi
không
thể
hình
dung
nó,
Ngươi
không
thể
nhìn
ngắm
nó,
ngươi
không
thể
cảm
nhận
nó.
Đó
là
bản
lai
diện
mục
của
ngươi,
nó
chẳngẩn
trốn
ở
đâu
cả.
Dù
thế
gian
bị
diệt,
nó
không
hề
bị
tan.
24.
CHẲNG
NÓI,
CHẲNG
IM
Có
tăng
hỏi
Fuketsu:
"Chẳng
nói,
chẳng
im,
làm
sao
tõ
rõ
diệu
đế?"
Fuketsu
bảo:
"Ta
nhớ
mùa
xuân
ở
Nam
Hoa.
Muôn
chim
hót
vang
giửa
ngàn
hoa
thơm
ngát."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Fuketsu
thường
có
lối
Thiền
như
tia
chớp.
Khi
có
dịp,
ngài
xẹt
ngay.
Nhưng
lần
này
thì
ngài
lại
không
làm
vậy
mà
còn
mượn
một
câu
thơ
cỗ.
Hãy
bõ
qua
lối
thiền
của
Fuketsu
đi.
Nếu
ngươi
muốn
làm
sáng
chân
lý,
cứ
nói
ra,
cứ
im
đi,
và
cho
ta
biết
lối
thiền
của
ngươi.
Chẳng
nói
rõ
điều
ngài
quán
triệt,
Ngài
chẳng
dạy
chi,
lại
mượn
lời
người
khác.
Giá
mà
ngài
cứ
lãi
nhãi
mãi,
Chắc
người
nghe
cũng
đến
xấu
hỗ.
25.
THUYẾT
PHÁP
TỪ
GHẾ
THỨ
BA
Trong
mơ,
Kyozan
đến
cõi
tịnh
độ
của
Phật
A
Di
Đà.
Ngài
lại
thấy
mình
ngồi
ở
chiếc
ghế
thứ
ba
trong
điện
Phật.
Có
người
xướng
lên:
"Hôm
nay
đến
phiên
vị
ngồi
ở
ghế
thứ
ba
lên
thuyết
pháp."
Kyozan
đứng
lên
nói:
"Diệu
đế
của
giáo
pháp
Đại
thừa
không
thể
nghĩ
bàn
được,
vượt
ra
khõi
ngôn
ngữ
và
tư
tưởng.
Chư
vị
có
hiểu
không?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Ta
muốn
hỏi
chư
tăng:
Ngài
thuyết
hay
không
thuyết?
Khi
ngài
mở
miệng
là
đã
lạc.
Khi
ngài
mím
miệng
là
đã
lạc.
Nếu
ngài
không
mở
miệng,
nếu
ngài
không
mím
miệng,
ngài
đã
đi
xa
chân
lý
đến
108,000
dặm.
Tuy
giửa
ban
ngày,
Mà
ngài
mơ,
và
nói
về
giấc
mơ.
Một
quái
vật
giửa
những
quái
vật,
Ngài
định
lừa
cả
thính
chúng.
26.
HAI
VỊ
SƯ
KÉO
TẤM
RÈM
Thiền
sư
Hogen
thuộc
tự
viện
Seiryo
nhìn
thấy
tấm
rèm
tre
thường
hạ
xuống
để
tọa
thiền
chưa
được
kéo
lên
khi
ngài
sắp
sửa
thuyết
pháp
trước
buổi
cơm
tối.
Ngài
chỉ
tấm
rèm,
và
có
hai
vị
tăng
từ
giửa
thính
chúng
đứng
dậy
kéo
rèm
lên.
Hogen
bảo
sau
khi
quan
sát
các
động
tác:
"Tăng
sinh
trước
khá,
tăng
sinh
sau
kém."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Ta
muốn
hỏi
các
ngươi:
Giửa
hai
tăng
sinh
ai
được
ai
thua?
Nếu
trong
đám
các
ngươi
có
kẽ
chột,
thì
hẳn
đã
thấy
sự
thất
bại
nơi
ông
thiền
sư.
Tuy
nhiên,
ta
không
bàn
đến
được
và
thua.
Khi
tấm
rèm
được
kéo
lên,
bầu
trời
mở
ra,
Mà
bầu
trời
thì
nào
có
tùy
theo
Thiền
quán.
Tốt
hơn
nên
quên
đi
bầu
trời
bát
ngát
Và
chẳng
màng
đến
gió
thoảng.
27.
CHẲNG
PHẢI
TÂM,
CHẲNG
PHẢI
PHẬT,
CHẲNG
PHẢI
PHÁP
Một
vị
tăng
hỏi
Nam
Tuyền:
"Có
pháp
môn
nào
mà
chưa
có
ai
thuyết
bao
giờ?"
Nam
Tuyền
bảo:
"À,
có."
"Là
pháp
môn
nào
vậy?"
vị
tăng
hỏi.
Nam
Tuyền
đáp:
"Chẳng
phải
tâm,
chẳng
phải
Phật,
chẳng
phải
pháp."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Lão
Nam
Tuyền
bố
thí
lời
quí
giá
của
Ngài.
Đáng
ra
thì
Ngài
phải
phật
lòng
lắm.
Nansen
quá
nhân
từ
đã蠦#273;ánh
mất
báu
vật.
Thật
ra
lời
nói
chẳng
có
mãnh
lực
nào.
Cho
dù
núi
cao
thành
biển
cả,
Lời
nói
chẳng
thể
khai
tâm
cho
kẽ
khác
được.
28.
THỔI
TẮT
NGỌN
NẾN
Tokusan
theo
học
Thiền
với
Ryutan.
Một
đêm
kia
y
đến
hỏi
Ryutan
nhiều
câu.
Thiền
sư
bảo:
"Đã
khuya
rồi.
Sao
con
chưa
đi
ngủ?"
Nghe
vậy,
Tokusan
vái
chào
và
vén
rèm
lui
ra,
nói
thêm:
"Trời
bên
ngoài
tối
quá."
Ryutan
trao
cho
Tokusan
một
cây
nến
đang
cháy.
Ngay
khi
Tokusan
cầm
lấy,
Ryutan
thổi
tắt
ngọn
nến.
Tokusan
chợt
ngộ.
"Con
đạt
được
gì
nào?"
Ryutan
hỏi.
"Từ
nay
trở
đi,"
Tokusan
đáp,
"con
sẽ
không
còn
nghi
ngờ
lời
thầy
dạy."
Hôm
sau
Ryutan
nói
với
thính
chúng:
"Ta
biết
một
tăng
sinh
trong
đám
các
người.
Răng
của
hắn
giống
như
cây
kiếm,
miệng
của
hắn
tựa
như
bát
máu.
Nếu
có
người
nện
cho
hắn
một
gậy
thật
đau,
hắn
cũng
chẳng
màng
quay
lại
nhìn.
Một
ngày
kia,
hắn
sẽ
đạt
đến
tuyêt
đỉnh
và
truyền
thừa
giáo
pháp
của
ta."
Cũng
ngày
ấy,
Tokusan
đem
những
bản
luận
của
y
về
kinh
ra
đốt
sạch
trước
thiền
đường.
Y
bảo
"Tuy
kinh
điển
diệu
vợi,
nhưng
so
với
sự
chứng
ngộ
này,
chúng
chỉ
là
như
sợi
lông
so
với
bầu
trời.
Tuy
sự
hiểu
biết
về
thế
gian
phức
tạp
có
sâu
sấc
đến
đâu,
so
với
sự
chứng
ngộ
này,
nó
chỉ
giống
như
một
giọt
nước
trong
biển
cả."
Xong
y
rời
bõ
thiền
viện.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Khi
Tokusan
còn
ở
quê
nhà,
tuy
có
nghe
nói
đến
thiền,
ngài
vẫn
xem
thường.
Ngài
nghĩ:
"Bọn
sư
ở
Nam
man
bảo
có
thể
giáo
ngoại
biệt
truyền.
Láo
cả,
ta
phải
đến
dạy
chúng."
Bèn
đi
về
phương
nam.
Ngài
nghỉ
chân
ở
một
quán
gần
thiền
viện
của
Ryutan.
Bà
lão
chủ
quán
chợt
thấy
hỏi:
"Ngài
mang
vác
gì
mà
nặng
thế?"
Tokusan
đáp:
"Đây
là
luận
bản
về
Kinh
Kim
Cang
do
ta
biên
soạn
sau
bao
nhiêu
năm
nghiền
ngẫm."
Bà
lão
nói:
"Lão
đã
đọc
kinh
ấy,
có
đoạn
nói:
‘Tâm
quá
khứ
không
thể
trụ,
tâm
hiện
tại
không
thể
trụ,
tâm
tương
lai
không
thể
trụ.’
Ngài
cần
dùng
ít
trà
và
món
giải
khát.
Vậy
ngài
đem
tâm
nào
ra
mà
dùng
đây?"
Tokusan
sửng
sốt
giây
lâu,
rồi
hỏi
bà
lão:
"Lão
bà
có
biết
đại
sư
trí
nào
ở
quanh
đây
không?"
Bà
lão
chỉ
đường
đến
Ryutan
cách
đấy
5
dặm.
Thái
độ
của
Tokusan
trở
nên
khiêm
cung,
khác
hẳn
lúc
mới
khởi
hành.
Ryutan
thì
quá
tử
tế
đến
độ
quên
cả
khách
sáo.
Cứ
như
là
tạt
nước
bùn
vào
kẻ
say
để
làm
hắn
tỉnh.
Rốt
ráo,
cũng
chẳng
cần
phải
đóng
kịch
nữa.
Trăm
nghe
không
bằng
một
mắt
thấy,
Nhưng
sau
khi
thấy
thầy,
một
liếc
mắt
không
bằng
một
trăm
nghe.
Mũi
của
ổng
cao
quá
Nhưng
rốt
lại
ổng
bị
mù.
29.
KHÔNG
PHẢI
GIÓ,
KHÔNG
PHẢI
PHƯỚNG
Hai
vị
tăng
đang
tranh
luận
về
một
lá
phướng.
Một
vị
nói:
"Lá
phướng
đang
động."
Vị
kia
cải:
"Gió
đang
động."
Lục-tổ
tình
cờ
đi
qua.
Ngài
bảo
họ:
"Chẳng
phải
gió,
chẳng
phải
phướng;
tâm
đang
động."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Lục-tổ
bảo:
"Gió
chẳng
động,
phướng
chẳng
động.
Tâm
đang
động."
Ngài
ngụ
ý
gì
vậy?
Nếu
ngươi
hiểu
tường
tận
thì
ngươi
sẽ
thấy
rằng
hai
vị
tăng
nọ
dang
mua
sắt
mà
được
vàng.
Lục-tổ
không
cam
thấy
hai
cái
đầu
đần
nên
mới
xen
vào.
Gió,
phướng,
tâm
động,
Đều
hiểu
như
nhau
Khi
mở
miệng
nói
Thì
sai
cả.
30.
TÂM
NÀY
LÀ
PHẬT
Daibai
hỏi
Baso
(Mã
Tổ
Đạo
Nhất
–
LND.):
"Phật
là
gì?"
Mã
Tổ
bảo:
"Tâm
này
là
Phật."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
có
ai
hiểu
được
khái
quát
như
thế
thì
y
đang
mặc
y
của
Phật,
đang
ăn
thực
phẩm
của
Phật,
đang
nói
lời
của
Phật,
đang
hành
xử
như
Phật,
y
là
Phật.
Tuy
vậy,
câu
chuyên
vui
này
đã
làm
cho
không
ít
thiền
sinh
mắc
bệnh
nghi
thức.
Nếu
ai
hiểu
được
rốt
ráo,
thì
sau
khi
nói
đến
chữ
"Phật",
hắn
sẽ
súc
miệng
luôn
ba
ngày
liền,
và
hắn
sẽ
bịt
tai
mà
chạy
xa
khi
nghe
"Tâm
này
là
Phật."
Dưới
bầu
trời
xanh,
trong
nắng
sáng,
Không
việc
gì
phải
tìm
quanh.
Mà
hỏi
Phật
là
gì
Cứ
như
là
dấu
đồ
ăn
cắp
trong
túi
mà
xưng
mình
vô
tội.
31.
TRIỆU
CHÂU
TÙNG
THẨM
ĐIỀU
TRA
Một
vị
tăng
hành
cước
hỏi
một
bà
lão
về
con
đường
đến
Taizan,
một
tự
viện
nổi
tiếng
là
ai
đến
cầu
nguyện
đều
được
ban
cho
sự
khôn
ngoan.
Cụ
bà
nói:
"Cứ
đi
thẳng
phía
trước."
Khi
vị
tăng
đi
được
vài
bước,
bà
tự
bảo:
"Y
chỉ
là
một
kẽ
đi
chùa
xoàng
thôi."
Có
người
kể
lại
chuyện
này
cho
Triệu
Châu
nghe,
Ngài
bảo:
"Hãy
đợi
cho
đến
khi
ta
đi
điều
tra."
Hôm
sau
ngài
đến
và
hỏi
cùng
câu
hỏi,
vàà
lão
cũng
đáp
cùng
câu
trả
lời.
Triệu
Châu
nhận
xét:
"Ta
đã
điều
tra
xong
cụ
bà
đó."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Bà
lão
rành
về
chiến
lược,
nhưng
không
rõ
làm
sao
mà
gián
điệp
lại
lẽn
vào
trại
của
bà.
Lão
Triệu
Châu
chơi
trò
tình
báo
để
lật
ngược
thế
cờ,
nhưng
lão
không
phải
là
một
ông
tướng
tài.
Cả
hai
đều
có
khuyết
điểm.
Chư
tăng,
bây
giờ
ta
muốn
hỏi
các
ngươi:
Đâu
là
trọng
điểm
trong
việc
điều
tra
của
Triệu
Châu
về
bà
lão?
Khi
câu
hỏi
là
bâng
quơ
Thì
câu
trả
lời
cũng
bâng
quơ.
Khi
câu
hỏi
là
cát
trộn
trong
bát
cơm
Thì
câu
trả
lời
là
một
cái
que
xốc
trong
bãi
bùn.
32.
MỘT
TRIẾT
NHÂN
HỎI
ĐỨC
PHẬT
Một
triết
nhân
hỏi
Đức
Phật:
"Vô
thuyết,
và
cũng
chẳng
vô
thuyết,
Ngài
có
thể
nói
đến
chân
lý
được
chăng?"
Đức
Phật
vẫn
giữ
yên
lặng.
Triết
nhân
cúi
chào
cảm
tạ
Đức
Phật,
nói:
"Với
lòng
đại
từ
bi
của
Ngài,
con
đã
xóa
được
mê
lầm
và
bước
vào
chánh
đạo."
Sau
khi
vị
triết
nhân
đi
khỏi,
Ananda
hỏi
Đức
Phật
rằng
ông
ấy
đã
đạt
được
gì.
Đức
Phật
trả
lời:
"Một
con
ngựa
giỏi,
phi
nước
đại
ngay
khi
nhát
thấy
bóng
roi."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Ananda
là
đại
đệ
tử
của
Đức
Phật.
Dù
thế,
nhận
định
của
ngài
cũng
chẳng
khá
hơn
kẽ
ngoại
cuộc.
Này
chư
tăng,
ta
muốn
hỏi
các
ngươi:
Có
gì
khác
lắm
chăng
giữa
môn
đồ
và
kẽ
ngọai
cuộc?
Để
giẫm
trên
cạnh
sắc
của
lưỡi
gươm,
Để
chạy
rong
trên
mặt
băng
trơn,
Chẳng
cần
phải
theo
vết
chân
ai.
Cứ
thong
dong
bước
ra
khỏi
bờ
vực.
33.
TÂM
NÀY
CHẲNG
PHẢI
PHẬT
Một
vị
tăng
hỏi
Baso
(Mã
Tổ
–
LND.):
"Phật
là
gì?"
Mã
Tổ
bảo:
"Tâm
này
chẳng
phải
Phật."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Kẽ
nào
hiễu
được,
là
đã
ngộ
Thiền.
Nếu
ngươi
gặp
một
kiếm
sư
giữa
đường,
nên
biếu
ông
ta
cây
gươm
của
ngươi,
Nếu
gặp
một
thi
sĩ,
hãy
tặng
ông
ta
bài
thơ
của
ngươi.
Khi
ngươi
gặp
kẽ
khác,
chỉ
nói
một
phần
những
gì
mình
muốn
nói.
Chớ
nên
bao
giờ
cho
hết
mọi
thứ
một
lần
34.
HỌC
CHẲNG
PHẢI
LÀ
ĐẠO
Nam
Tuyền
bảo:
"Tâm
chẳng
phải
Phật.
Học
chẳng
phải
Đạo."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nansen
già
rồi
nên
lẩm
cẩm.
Lão
thật
thối
mồm
và
vạch
áo
cho
người
xem
lưng.
Tuy
vậy,
chẳng
mấy
ai
cảm
kích
được
mối
từ
tâm
của
ngài.
Khi
trời
quang
đãng,
vầng
dương
ló
dạng,
Khi
đất
khô
cằn,
mưa
sẽ
rơi.
Ngài
nói
toạt
ra
với
cả
tấm
lòng,
Nhưng
với
lợn
và
cá
thì
nào
có
ích
gì.
35.
HAI
LINH
HỒN
"Seijo,
cô
gái
Tàu,"
Goso
nhận
xét,
"có
hai
linh
hồn,
một
luôn
bệnh
hoạn
ở
nhà
và
phần
kia
thì
ngao
du
phố
sá,
một
ngườ
đàn
bà
có
chồng
và
hai
con.
Phần
nào
là
linh
hồn
thật?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Khi
người
nào
hiễu
điều
này
thì
hắn
sẽ
biết
rằng
người
ta
có
thể
lột
xác
được,
cứ
như
là
dừng
chân
nơi
quán
trọ.
Nhưng
nếu
hắn
không
hiễu
thì
khi
lâm
chung,
tứ
đại
phân
lìa,
chẳng
khác
gì
con
cua
đang
bị
luộc,
quơ
quào
với
lắm
chân
tay.
Trong
tình
huống
đó,
hắn
có
thể
bảo
rằng:
"Vô-môn
đã
chẳng
chỉ
cho
ta
đi
hướng
nào!"
nhưng
than
ôi
đã
muộn.
Mặt
trăng
trên
tầng
mây
vẫn
là
một,
Núi
và
sông
bên
dưới
lại
hoàn
toàn
khác.
Mỗi
thứ
đều
tự
tại
trong
độc
nhất
và
muôn
vẽ.
Cái
này
là
một,
đây
là
hai.
36.
GẶP
MỘT
THIỀN
SƯ
TRÊN
ĐƯỜNG
Goso
bảo:
"Khi
ngươi
gặp
một
Thiền
sư
trên
đường,
ngươi
không
thể
nói
chuyện
với
ngài,
ngươi
không
thể
đối
diện
trong
lặng
thinh.
Vậy
ngươi
phải
làm
gì
nào?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Trong
trường
hợp
ấy,
nếu
ngươi
có
thể
trả
lời
ngài
một
cách
tường
tận
thì
sự
giác
ngộ
của
ngươi
đẹp
tuyệt.
Nhưng
nếu
không
thể
được,
thì
ngươi
nên
nhìn
bâng
quơ
làm
như
không
thấy
gì
cả.
Gặp
một
thiền
sư
trên
đường,
Không
thể
nói
không
thể
im.
Thì
nện
cho
ngài
một
đấm
Và
ngươi
sẽ
được
gọi
là
ngộ
thiền.
37.
MỘT
CON
TRÂU
RA
KHỎI
CHUỒNG
Goso
bảo:
"Khi
một
con
trâu
ra
khỏi
chuồng
đến
bên
bờ
vực.
Cặp
sừng,
đầu
và
móng
chân
đều
qua
khỏi,
nhưng
tại
sao
cái
đuôi
lại
mắc
kẹt?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ai
mỡ
một
mắt
thấy
được
điểm
này
và
nói
một
lời
thiền,
thì
hắn
sẽ
được
thưởng
ngay,
và
không
những
thế,
hắn
còn
cứu
vớt
cả
chúng
sinh
bên
dưới.
Nhưng
nếu
hắn
không
nói
được
một
lời
chân
thiền,
hắn
nên
chui
ngay
vào
cái
đuôi
của
hắn.
Nếu
con
trâu
chạy,
nó
sẽ
rơi
vào
hố;
Nếu
nó
quay
trở
lại,
nó
sẽ
bị
làm
thịt.
Cái
đuôi
nhỏ
bé
đó
Là
một
điều
thật
lạ.
38.
CÂY
TÙNG
GIỮA
SÂN
Một
vị
tăng
hỏi
Triêu
Châu
tại
sao
Bồ
Đề
Đạt
Ma
lại
đến
Trung
quốc.
Triêu
Châu
bảo:
"Một
cây
tùng
giữa
sân."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ai
thấy
được
câu
trả
lời
sáng
tõ
của
Triêu
Châu,
thì
không
có
Phật
Thích
Ca
Mâu
Ni
trước
ngài
và
chẳng
có
Phật
tương
lai
sau
ngài
nữa.
Lời
nói
chẳng
thể
diễn
tả
được
mọi
điều
Tâm
pháp
chẳng
thể
truyền
bằng
lời.
Nếu
ai
ham
mê
chữ
nghĩa
thì
sẽ
bị
lạc
lối,
Nếu
cố
giải
thích
bằng
lời,
thì
hắn
không
thể
giác
ngộ
được
trong
đời
này.
39.
LẠC
LỐI
CỦA
VÂN
MÔN
VĂN
UYÊN
(UMMON)
Một
thiền
sinh
nói
với
Vân
Môn:
"Hào
quang
của
Đức
Phật
chiếu
sáng
cả
vũ
trụ."
Trước
khi
y
chưa
dứt
câu
thì
Vân
Môn
hỏi:
"Ngươi
đang
ngâm
thơ
của
kẽ
khác
phải
không?"
"Vâng,"
thiền
sinh
trả
lời.
"Người
lạc
lối
rồi,"
Vân
Môn
bảo.
Về
sau
có
vị
thiền
sư
khác
tên
là
Shishin
hỏi
môn
sinh:
"Ở
điểm
nào
thì
thiền
sinh
kia
lạc
lối?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
kẽ
nào
nhận
ra
được
diệu
xão
của
Vân
Môn,
hắn
sẽ
biết
được
ở
điểm
nào
thì
thiền
sinh
kia
lạc
lối,
và
hắn
sẽ
là
một
bậc
thầy
của
người
và
thần.
Nếu
không,
hắn
cũng
chẳng
nhận
ra
được
chính
hắn.
Khi
con
cá
thấy
lưỡi
câu.
Nếu
nó
tham
thì
sẽ
mắc
câu.
Khi
nó
mở
miệng
Thì
đời
đã
tàn.
39.
NGHIÊNG
BÌNH
NƯỚC
Bá
Trượng
muốn
cho
một
môn
sinh
ra
lập
một
tự
viện
mới.
Ngài
phán
với
cả
đám
rằng
nếu
kẽ
nào
trả
lời
thông
suốt
được
một
câu
hỏi
thì
sẽ
được
giao
trọng
trách.
Đặt
một
bình
nước
trên
mặt
đất,
ngài
hỏi:
"Ai
có
thể
nói
nó
là
cái
gì
mà
không
được
gọi
tên
của
nó?"
Vị
tăng
trưởng
nói:
"Không
ai
có
thể
gọi
nó
là
chiếc
guốc."
Isan,
vị
tăng
lo
việc
bếp
núc,
dùng
chân
làm
ngã
chiếc
bình
rồi
bõ
đi.
Bá
Trượng
cả
cười
bảo:
"Tăng
trưởng
thua
rồi."
Và
Isan
trở
nên
thiền
sư
của
tự
viện
mới.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Isan
bạo
gan
thật,
nhưng
y
không
thoát
khỏi
trò
đùa
của
Bá
Trượng.
Rốt
lại,
y
bõ
một
việc
nhẹ
mà
nhận
một
việc
nặng.
Tại
sao,
ngươi
không
thấy
ư,
y
cất
chiếc
nón
êm
ái
để
tra
chân
vào
cái
cùm.
Từ
bõ
nồi
niêu
xoong
chảo,
Hạ
được
kẽ
lắm
mồm,
Tuy
thầy
của
ngài
dựng
chướng
ngại
thử
thách
Chân
ngài
sẽ
đạp
ngã
mọi
thứ,
kể
cả
Phât.
40.
BỒ-ĐỀ
ĐẠT-MA
AN
TÂM
Bồ-Đề
Đạt-Ma
ngồi
diện
bích.
Kẽ
kế
vị
ngài
trong
tương
lai
(Tổ
Huệ
Khả
–
LND.)
đứng
trong
tuyết
giá
và
dâng
một
cánh
tay
bị
chặt
lìa.
Y
khóc:
"Tâm
của
con
không
an.
Đại
sư,
xin
ngài
an
tâm
cho
con."
Bồ-Đề
Đạt-Ma
nói:
"Nếu
ngươi
đem
cái
tâm
đó
ra
đây
ta
sẽ
an
cho."
Người
kế
vị
bảo:
"Khi
tìm
tâm,
con
chẳng
nắm
bắt
được."
Bồ-Đề
Đạt-Ma
nói:
"Vậy
thì
tâm
ngươi
đã
an
rồi."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Cái
lão
chà
và
già
sún
răng,
Bồ-Đề
Đạt-Ma,
mất
công
vượt
biển
cả
hàng
ngàn
dặm
từ
AᮠĐộ
đến
Trung
Hoa
tưởng
có
gì
kỳ
diệu.
Lão
cứ
như
là
sóng
nỗi
chẳng
cần
gió.
Sau
bao
năm
lưu
lại
Trung
Hoa,
lão
chỉ
có
mỗi
một
môn
đồ,
mà
lại
là
kẽ
cụt
tay
dị
dạng.
Than
ôi,
từ
đấy
lão
có
toàn
đệ
tử
vô
trí.
Tại
sao
Bồ-Đề
Đạt-Ma
đến
Trung
Hoa?
Đã
bao
năm
tăng
chúng
cứ
bàn
chuyện
này
mãi.
Mọi
điều
lôi
thôi
đeo
đuổi
từ
bấy
giờ
Do
ông
thầy
và
môn
đồ
đó.
41.
CÔ
GÁI
XUẤT
KHỎI
THIỀN
ĐỊNH
Vào
thời
của
Đức
Phật
Thích
Ca,
Manjusri
(Văn
Thù
Sư
Lợi
–
LND.)
đi
đến
chỗ
phó
hội
của
chư
Phật.
Khi
vừa
đến
nơi
thì
cuộc
hội
đã
tan,
và
mỗi
vị
Phật
đều
đã
trở
về
nước
Phật
của
mình.
Chỉ
còn
lại
một
cô
gái
an
nhiên
trong
thiền
định
sâu
xa.
Manjusri
hỏi
Đức
Phật
Thích
Ca
làm
sao
mà
một
cô
gái
có
thể
đạt
đến
bậc
này,
mà
ngay
cả
ngài
còn
chưa
thể
đạt
tới.
"Hãy
đưa
nàng
ra
khỏi
tam-bồ-đề
mà
hỏi
cho
rõ,"
Đức
Phật
trả
lời.
Manjusri
bước
vòng
quanh
cô
gái
ba
lần
và
búng
tay.
Nàng
vẫn
còn
đắm
trong
thiền
định.
Ngài
bèn
vận
dụng
thần
lực
đưa
nàng
lên
tầng
trời
cao
hơn
và
cố
hết
sức
gọi
nàng,
nhưng
vô
ích.
Đức
Phật
Thích
Ca
bảo:
"Ngay
cả
trăm
ngàn
Manjusri
cũng
không
thể
quấy
động
nàng,
nhưng
ở
dưới
nơi
này,
cách
đây
mười
hai
trăm
triệu
thế
giới,
có
vị
Bồ
tát
tên
là
Mo-myo,
hạt
ảo
tưởng.
Nếu
ngài
ấy
đến
đây,
nàng
sẽ
thức
dậy."
Đức
Phật
nói
chưa
dứt
câu
thì
vị
Bồ
tát
đã
nhảy
vọt
lên
từ
mặt
đất,
cúi
đấu
đãnh
lễ
Phật.
Đức
Phật
dẫn
ngài
đến
để
đánh
thức
cô
gái.
Vị
Bồtát
đến
trước
cô
gái
và
búng
tay,
tức
thì
nàng
xuất
ra
khỏi
thiền
định.
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Lão
Bụt
dàn
cảnh
kém
quá.
Này
chư
tăng,
ta
muốn
hỏi
các
ngươi:
Nếu
Văn
Thù,
vị
được
coi
là
bậc
thầy
của
bảy
vị
Phật,
đã
không
thể
đem
cô
gái
này
ra
khỏi
thiền
định,
thì
cớ
sao
chỉ
một
Bồ
tát,
là
kẽ
mới
bắt
đầu,
lại
có
thể
làm
được?
Nếu
ngươi
hiễu
được
chỗ
này
tường
tận,
ngươi
có
thể
đi
vào
đại
định
trong
khi
đang
sống
ở
thế
giới
ảo
tưởng.
Một
người
không
thể
đánh
thức
nàng,
kẽ
khác
lại
có
thể.
Cả
hai
đều
là
diễn
viên
kém.
Một
kẽ
mang
mặt
nạ
của
thần,
kẽ
kia
quỷ
sứ.
Giá
mà
cả
hai
đều
thất
bại,
thì
vỡ
kịch
trở
nên
khôi
hài.
42.
CÂY
GẬY
NGẮN
CỦA
SHUZAN
Shuzan
đưa
cây
gậy
ngắn
ra
và
bảo:
"Nếu
ngươi
gọi
nó
là
đoản
trượng,
ngươi
phản
thực
tại.
Nếu
ngươi
không
gọi
nó
là
đoản
trượng,
ngươi
coi
thường
chứng
cớ.
Bây
giờ
ngươi
muốn
gọi
nó
là
cái
gì
nào?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ngươi
gọi
nó
là
đoản
trượng,
ngươi
phản
thực
tại.
Nếu
ngươi
không
gọi
nó
là
đoản
trượng,
ngươi
coi
thường
chứng
cớ.
Không
thể
diễn
đạt
bằng
lời,
và
cũng
không
thể
diễn
đạt
mà
không
dùng
lời.
Bây
giơ,荊
hãy
nói
ngay
cái
gì
vậy.
Đưa
cây
gậy
ngắn
ra,
Ngài
phán
sự
sống
và
chết.
Dương
và
A⭠xoắn
chặt,
Ngay
cả
Chư
Phật
và
Chư
Tổ
cũng
chẳng
thoát
được.
43.
CÂY
TRƯỢNG
CỦA
BASHO
Basho
(Mã
Tổ
–
LND.)
bảo
với
một
đệ
tử:
"Khi
ngươi
có
một
cây
trượng,
ta
sẽ
tặng
nó
cho
ngươi.
Khi
ngươi
không
có
cây
trượng,
ta
sẽ
lấy
nó
lại."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Khi
không
có
chiếc
cầu
bắt
qua
con
lạch
thì
cây
trượng
sẽ
giúp
ta.
Khi
ta
trở
về
nhà
trong
một
đêm
tối
không
trăng,
cây
trượng
theo
ta.
Nhưng
nếu
ngươi
gọi
cái
này
là
cây
trượng,
ngươi
sa
xuống
địa
ngục
như
mũi
tên.
Với
cây
trượng
này
trong
tay
ta
Ta
có
thể
dò
được
thế
giới
sâu
hay
cạn.
Cây
trượng
chống
được
trời
và
trụ
được
đất.
Chánh
pháp
thì
sẽ
lan
truyền
dù
bất
cứ
ở
đâu.
45.
NGÀI
LÀ
AI?
Hoen
nói:
"Chư
Phật
trong
quá
khứ
và
tương
lai
đều
là
kẽ
phục
dịch
cho
Ngài.
Thế
thì
Ngài
là
ai
vậy?"
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ngươi
thấy
rõ
được
ngài
là
ai
thì
chẳng
khác
gì
ngươi
tình
cờ
gặp
cha
của
người
trong
dường
phố
đông
đúc.
Chẳng
cần
phải
hỏi
ai
về蠶iệc
nhận
diện
của
ngươi
có
đúng
hay
không.
Chớ
nên
chiến
đấu
với
cung
tên
của
kẽ
khác.
Chớ
nên
cuỡi
ngựa
của
kẽ
khác.
Chớ
nên
bàn
cãi
đến
lỗi
lầm
của
kẽ
khác.
Chớ
nên
xía
vào
chuyện
của
kẽ
khác.
46.
TIẾN
LÊN
THÊM
NỮA
TỪ
NGỌN
CỦA
CÂY
SÀO
Thạch
Sương
(Sekiso)
hỏi:
"Làm
sao
ngươi
tiến
thêm
nữa
từ
ngọn
của
cây
sào
trăm
đốt?"
Có
vị
thiền
sư
khác
lại
nói:
"Kẽ
ngồi
trên
ngọn
của
cây
sào
trăm
đốt
thì
đã
đạt
được
một
độ
cao
nào
đó
nhưng
vẫn
chưa
hành
Thiền
được
một
cách
thong
dong.
Hắn
nên
tiến
lên
thêm
nữa
và
hiện
nguyên
hình
trong
mười
phương
thế
giới."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Người
ta
có
thể
bước
thêm
hoặc
xoay
mình
tự
do
trên
ngọn
cây
sào.
Trong
trường
hợp
nào
hắn
cũng
được
tôn
kính.
Này
chư
tăng,
ta
muốn
hỏi
các
nguơi:
Làm
sao
ngươi
tiến
thêm
nữa
từ
ngọn
của
cây
sào
ấy?
Coi
chừng
đấy!
Có
người
thiếu
mất
con
mắt
thứ
ba
nội
tại
Sẽ
dính
mắc
vào
chỗ
phải
đo
đúng
trăm
đốt.
Kẽ
như
vậy
sẽ
nhảy
xuống
từ
đó
và
tan
xác,
Như
một
người
mùdẫn
những
kẽ
mù
khác.
47.
BA
CỬA
CỦA
TOSOTSU
Tosotsu
xây
ba
chướng
ngại
vật
và
bắt
các
tăng
phải
vượt
qua.
Cản
thứ
nhất
là
tu
học
Thiền.
Trong
viêc
tu
học
Thiền
là
cốt
đê
nhận
ra
bản
lai
diện
mục
của
mình.
Bây
giờ
thì
bản
lai
diện
mục
của
ngươi
ở
chỗ
nào?
Cản
thứ
hai
là
khi
nhận
ra
được
bản
lai
diện
mục
của
mình
thì
sẽ
thoát
được
khỏi
vòng
sanh
tử.
Vậy
khi
ngươi
nhắm
mắt
lại
và
trở
thành
thây
ma
thì
làm
sao
ngươi
giải
thoát
được?
Cản
thứ
ba,
nếu
ngươi
giải
thoát
được
khỏi
vòng
sanh
tử,
thì
ngươi
phải
biết
ngươi
đang
ở
đâu.
Vậy
nếu
thân
xác
ngươi
bị
tan
rã
ra
thành
tứ
đại,
thì
ngươi
ở
đâu?
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Nếu
ai
có
thể
vượt
qua
được
ba
rào
cản
này
thì
sẽ
trở
thành
bậc
thầy
dù
là
đứng
ở
đâu.
Bất
cứ頶iệc
gì
xãy
ra
thì
hắn
sẽ
biến
thành
Thiền.
Còn
không
thì
hắn
sẽ
sống
lây
lất
đói
kém.
Một
sự
chợt
ngộ
thấy
suốt
thời
gian
vô
tận.
Thời
gian
vô
tận
là
một
chốc
lát.
Khi
người
ta
thấu
được
chốc
lát
vô
tận
Hắn
nhận
ra
con
người
đang
trông
thấy
đó.
48.
MỘT
ĐƯỜNG
CỦA
KEMBO
Một
thiền
sinh
hỏi
Kembo:
"Tất
cả
chư
Phật
trong
mười
phuơng
vũ
trụ
đều
đi
theo
một
đường
duy
nhất
vào
Niết
bàn.
Con
đường
đó
bắt
đầu
từ
đâu?"
Kembo,
vung
thiền
trượng
lên
không
vẽ
một
hình,
nói:
"Này,
nó
đấy."
Thiền
sinh
này
tìm
đến
Vân
Môn
và
hỏi
cùng
một
câu.
Vân
Môn
đang
sẳn
cầm
cái
quạt
trong
tay,
bảo:
""Cái
quạt
này
sẽ
bay
lên
đến
ba
mươi
ba
tầng
trời
và
đập
vào
mũi
của
vị
thiên
vương
đang
cai
quản
ở
đấy.
Nó
giống
như
Long
Vương
ở
Biển
Đông
trút
mây
mưa
bằng
một
cái
vẫy
đuôi."
Lời
bàn
của
Vô-Môn:
Một
thiền
sư
đi
vào
biển
sâu,
cào
mặt
đất
để
lấy
một
ít
bụi.
Vị
khác
thì
leo
lên
đỉnh
núi
cao,
khơi
sóng
gần
chạm
đến
trời.
Một
người
thì
giữ
chặt,
người
kia
thì
bố
thí
hết.
Mỗi
vị
đều
hộ
trì
giáo
pháp
thâm
diệu
với
một
tay
mình.
Kembo
và
Vân
Môn
đều
giống
như
hai
kỵ
mã,
chẳng
ai
hơn
ai.
Thật
là
khó
mà
bảo
ai
là
kẽ
toàn
bích.
Nhưng
sòng
phẳng
mà
nói
thì
cả
hai
đều
chẳng
biết
con
đường
bắt
đầu
từ
đâu.
Trước
khi
cất
bước
đầu
tiên
thì
mục
đích
đã
đạt.
Truớc
khi
lưỡi
uốn
thì
lời
nói
đã
dứt.
Cần
rất
nhiều
trực
quan
sáng
suốt
Để
tìm
ra
nguồn
gốc
của
chánh
đạo.
49.
LỜI
THÊM
CỦA
AMBAN
Amban,
một
thiền
sinh
tầm
thường,
nói:
"Vô-Môn
Huệ
Khai
vừa
cho
ấn
hành
bốn
mươi
tám
công-án
và
gọi
tập
sách
là
Vô
Môn
Quan.
Ngài
chỉ
trích
giáo
thư
và
hành
động
của
chư
Tổ.
Ta
nghĩ
ông
ấy
bậy
quá.
Ngài
giống
như
một
ông
già
bán
bánh
cố
túm
lấy
khách
để
nhét
bánh
vào
mồm
ngươi
ta.
Khách
chỉ
còn
cách
hoặc
là
nuốt
vào
hoặc
nhổ
ra,
và
như
thế
chỉ
gây
đau
khổ.
Mu-mon
đã
làm
phiền
nhiều
người
quá
rồi,
vì
thế
ta
muốn
thêm
vào
một
công
án
xem
như
là
một
sự
điều
đình.
Ta
không
biết
ngài
có
chịu
nuốt
sự
mặc
cả
này
không.
Nếu
ngài
chịu,
và
tiêu
hóa
nó
thì
tốt,
nếu
không
thì
ta
đành
phải
bõ
nó
vào
chảo
mà
chiên
xào
nó
lại
cùng
với
bốn
mươi
tám
công-án
của
ngài.
Mu-mon,
ngài
dùng
trước,
rồi
mới
đến
mọi
người
khác:
"Theo
một
bộ
kinh
thì
Đức
Phật
có
nói:
‘Hãy
ngưng,
hãy
ngưng.
Đừng
nói.
Chân
lý
tối
thượng
lắm
khi
còn
không
thể
nghĩ
đến."
Lời
bàn
của
Amban:
Giáo
pháp
đó
từ
đâu
mà
ra
vậy
cà?
Cớ
sao
ngưới
ta
lại
không
thể
nghĩ
đến
chân
lý
tối
thượng?
Giả
sử
có
người
nói
đến
nó
thì
chuyện
gì
sẽ
xảy
ra
với
nó?
Đức
Phật
là
vị
đại
thuyếⴠminh
mà
cứ
theo
bộ
kinh
này
thì
ngài
lại
nói
ngược
ư.
Vì
lẽ
này,
những
người
như
Vô
Môn
Huệ
Khai
xuất
hiện
về
sau
ở
Trung
Hoa,
và
làm
những
món
bánh
vô
bổ,
khiến
mọi
người
bực
mình.
Vậy
thì
chúng
ta
phải
làm
gì
nào?
Ta
sẽ
chỉ
cho
các
ngươi.
Rồi
Amban
chấp
tay
lại
và
nói:
"Hãy
ngưng,
hãy
ngưng,
Đừng
nói.
Chân
lý
tối
thượng
lắm
khi
còn
không
thể
nghĩ
đến.
Bây
giờ
ta
sẽ
vẽ
một
vòng
bằng
ngón
tay
của
ta
lên
trên
bộ
kinh,
và
thêm
vào
năm
ngàn
bộ
kinh
khác
và
Cửa
Không
của
Duy
Ma
Cật
(Vimalakirti)
ở
ngay
đây!"
Nếu
ai
bảo
các
ngươi
rằng
lửa
là
ánh
sáng,
Chẳng
để
ý
đến
làm
gì.
Khi
hai
tên
đạo
chích
gặp
nhau,
chúng
chẳng
cần
giới
thiệu:
Chúng
nhận
ra
nhau
ngay,
không
cần
hỏi.