CÓ GÌ LÀ NHIỆM MẦU TRONG GIÂY PHÚT HIỆN
TẠI
Cynthia Thatcher What’s So
Great About Now ?
Nguyễn Duy Nhiên
phỏng dịch
“Giữ chánh niệm.” “Sống
trong giây phút hiện tại.” “Chú ý đơn thuần.” Trên con đường tu học,
chắc chúng ta đều có nghe về những lời khuyên này. Và nếu bạn có kinh
nghiệm về thực tập thiền quán, những câu ấy là một tiếng chuông nhắc nhở
chúng ta từ sáng đến khuya, rằng ta có thể tìm thấy tất cả những gì là
chân thật ngay trong giờ phút hiện tại này.
Nhưng rồi có một ngày, bạn
ngồi thiền, cố gắng theo dõi hơi thở lên xuống nơi bụng, hay một tư tưởng,
hoặc một cơn đau, và thấy tất cả sao dường như rất buồn thảm. Đột nhiên
có một câu hỏi khởi lên trong tâm, “Cái giây phút hiện tại này có gì
là nhiệm mầu đâu?”
Loanh quanh tự tìm cho mình
một câu trả lời, bạn nghĩ có lẽ là vì giây phút hiện tại này giúp ta thấy
được những cái đẹp mà mình có thể vô tình bỏ qua (mặc dù trong giây phút
này thì tôi chẳng thấy có gì là đẹp hết), hoặc là ta có thể được giác ngộ
(mà tôi cũng chẳng hiểu đó là gì), hay chỉ đơn giản là ta được an lạc và
hạnh phúc hơn. Bạn cũng không biết rõ là nếu ta biết sống trong giây phút
hiện tại thì những việc ấy sẽ xảy ra bằng cách nào! Nhưng bạn vẫn nghĩ
rằng, nếu ta có thể giữ cho tâm mình được có mặt trong giờ phút hiện tại
thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng tốt đẹp hơn bằng cách nào?
Thì sẽ là... tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
Tội nghiệp! Mặc dù chúng ta
rất thành thạo về sự thực tập chánh niệm, nhưng đôi khi ta cũng không rõ
ràng lắm khi tìm lý do tại sao giây phút hiện tại này lại là nhiệm mầu.
Nhưng chúng ta cũng không nên làm lơ hoặc bằng lòng với một câu trả lời mơ
hồ. Tôi nghĩ, chúng ta cần nên nhìn cho sâu vào câu hỏi ấy, vì nếu như ta
không hiểu rõ về giây phút hiện tại này, thì ta cũng sẽ dễ bỏ dở sự
thực tập của mình, khi kinh nghiệm xảy ra khác với những gì mình mơ
tưởng.
Mười bốn năm trước đây, trong
khóa tu đầu tiên với sư Achan Sobin Namto, chính câu hỏi ấy đã khởi lên
rất mạnh trong tôi. Lúc ấy tôi là một thiền sinh mới, trong tuần lễ đầu
tiên của một khóa tu kéo dài ba tháng rưỡi. Sư Achan Sobin là một thiền
sư người Thái, có hơn ba mươi năm kinh nghiệm hướng dẫn thiền tập.
“Cô thấy thế nào?” ông
hỏi tôi. Ông vừa mới chấm dứt xong thời tụng kinh của mình. Trên bàn thờ
ba ngọn nhang toả sáng trong một căn phòng lu tối. Mặc dù ông có nhiều
tâm từ, nhưng những phiền não vẫn phủ trùm xuống tôi như một tấm áo
choàng. “Con đang có nhiều nghi ngờ” tôi đáp. Nhưng không phải
tôi ngờ vực về khả năng của mình, hay là giáo pháp, hoặc là phương pháp
thực tập. Nhưng chính là cái kinh nghiệm về một sự trống trải và lạnh lẽo
khi tôi có mặt trong giây phút hiện tại. Cái giây phút hiện tại này có
thực sự đáng để cho ta có mặt không? Dường như Achan hiểu ý tôi, “Trong
giây phút hiện tại này chẳng có gì hay ho phải không?” ông hỏi rồi phá
lên cười to cho đến khi chảy cả nước mắt. Rõ ràng đây là một trò đùa mà
ông cảm thấy rất là vui nhộn, nhưng đối với tôi thì chẳng thấy có gì là
tức cười hết. Ông vui vì thấy tôi đang đi theo đúng đường. Tôi bắt đầu
thấy điều mà tất cả mọi thiền sinh đều phải thấy: Sự Thật Nhiệm
Mầu Thứ Nhất, là mỗi giây phút, mỗi sát-na của danh (mind) và sắc
(matter), đều là bất toại nguyện (dukkha).
Dầu vậy câu trả lời của Sư
cũng khiến cho tôi giật mình. Vì tôi đã từng được đọc rằng, khi ta đặt
hết tâm ý của mình vào giây phút hiện tại này, có phải là ta sẽ nhìn thấy
được những vẽ đẹp mà mình có thể vì vô ý bỏ qua chăng? Có phải mùi vị
trái mận sẽ ngon ngọt hơn chăng? Có phải ta sẽ thấy được những cành khô
đong đưa toả sáng in hình trên một khung trời mùa đông không còn mờ xám
như trước? Nhưng bây giờ thì ông đã xác nhận rằng, giây phút hiện tại này
không phải thật như tôi vẫn hằng tưởng. Tôi thở dài. Thế thì trái mận
sẽ không trở nên ngọt ngào hơn. Giây phút hiện tại, thật ra, lại không
nhiệm mầu chút nào hết!
Một Huyền Thoại Về Giây Phút
Hiện Tại
Tôi thấy trong vòng
thiền chúng ta có truyền cho nhau một huyền thoại này, là khi chánh
niệm của ta càng sâu sắc bao nhiêu, ta sẽ lại càng có khả năng
nhìn thấy được những cái đẹp trong những vật bình thường nhất
bấy nhiêu. Với một tâm “chú ý đơn thuần”, thì ngay cả
bọt xà phòng trong nước rửa bát - khi những bọt bong bóng lấp lánh trong
nắng - cũng là một thực tại toả sáng nhiệm mầu. Đó chỉ là một huyền
thoại. Mà sự thật là ngược lại như thế: thật ra, khi ta càng có
chánh niệm bao nhiêu, thì những đối tượng cảm giác của ta lại
càng ít hấp dẫn đi bấy nhiêu. Cho đến một lúc ta sẽ không còn ham
muốn chúng nữa.
Sự thật thì khi ta có một
định lực mạnh, nó sẽ Làm tăng lên những cảm nhận của ta về màu sắc, âm
thanh, mùi vị... Nhưng nếu chỉ có định lực thôi thì ta cũng sẽ không thể
nào đi đến tuệ giác hay giác ngộ. Nếu như ta bảo rằng chánh niệm làm cho
khung trời mùa đông trở nên đẹp tuyệt vời, hoặc công việc rửa chén trở
thành một bài tập mầu nhiệm, theo tôi nghĩ thì đó lại là một sự thách thức
đối với Sự Thật Nhiệm Mầu Thứ Nhất.
Huyền thoại này có mặt là do
một sự hiểu lầm về vai trò của chánh niệm. Chánh niệm,
được kèm theo bằng một nhận thức sáng tỏ, nó khác với một cái thấy
biết bình thường. Thay vì chỉ nhìn thấy rõ rệt hơn những đặc điểm thông
thường của một đối tượng, chánh niệm còn vượt xa hơn, và thấy được
những điểm rất cá biệt - những đặc tính chung của mọi vật, dù tốt
hay xấu. Đó là ba đặc tính về vô thường, bất toại nguyện và vô ngã.
Với chánh niệm, ta thấy được tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lý khởi
lên đều rồi sẽ qua đi. Có nghĩa là ta không thể sửa đổi cũng không thể
nào nắm giữ chúng được. Những đặc tính ấy mang lại cho ta một sự bất toại
nguyện. Vậy thì, khi ta càng có chánh niệm bao nhiêu, thì yếu tố bất
toại nguyện, dukkha, lại càng trở nên rõ rệt bấy nhiêu.
Nhưng khi tôi ngồi đó với
Achan Sobin, nhìn những điểm sáng của ba nén nhang, tôi cảm thấy một cảm
giác mơ hồ về một điều gì đó mà tôi vẫn chưa xác định được. Có ai đó đang
đùa giỡn với cuộc đời này chăng? Điều trớ trêu là tôi tập thiền vì muốn
giải thoát khỏi những khổ đau của mình, và bây giờ tôi lại nhận thấy nhiều
khổ đau hơn. Mà vị thầy của tôi lại công nhận điều ấy là đúng. Như vậy
thì ta đi thực tập chánh niệm để làm gì? Tại sao ta lại phải có mặt
trong giây phút hiện tại này? Nhưng câu trả lời chắc chắn không phải là
ta bỏ đi sự thực tập chánh niệm. Đối với tôi, Achan là một người thong
dong nhất, tự tại nhất mà tôi biết. Và tôi muốn mình cũng được như ông.
Tôi theo học và thực tập những phương cách nào đã mang lại cho ông được sự
an lạc đó.
Giây Phút Hiện Tại Làm Bằng
Những Gì?
Ta cần tháo mở ra cái nút
thắc Gordian Knot. Và tại sao chúng ta lại không chịu khó kiên nhẫn tháo
mở nó bằng cách gỡ ra từng sợi một? Một nhà khoa học trước nhất có thể sẽ
phân tách chất liệu của nó, và trong trường hợp của chúng ta đó chính là
giây phút hiện tại này.
Vì vậy, chúng ta có thể bắt
đầu bằng cách đặt câu hỏi: giây phút hiện tại này được làm thành bởi
những yếu tố gì? Trong phật giáo có một hệ thống tâm lý học gọi
là Vi Diệu Pháp, Abhidhamma. Theo Vi Diệu Pháp thì những kinh nghiệm hằng
ngày của ta có thể được chia cắt ra thành những đơn vị rất nhỏ gọi là
sát-na tâm (mind-moments.) Chúng là những đơn vị nhỏ nhất của tâm thức,
là những vi lượng (quarks) của thế giới tâm thức. Mỗi sát-na tâm gồm có
hai phần: tâm thức và một đối tượng. Có nghĩa nó không phải là một cái
bàn, một đóa hoa, mà chỉ là một đối tượng của tâm thức. Tâm thức lúc nào
cũng luôn có ý thức về một cái gì. Khi có một mảng trời xanh hiện vào
vùng tâm thức của mình, một tia chớp của nhản-thức nhận thấy được màu sắc
ấy. Khi có một mùi hương nào thoáng qua theo làn gió, một chớp của
tỷ-thức nhận được mùi thơm ấy. Chỉ có tâm thức và đối tượng, và chỉ là
vậy thôi. Cuộc sống của ta chỉ là một chuỗi tâm thức, mà ta liên tục ý
thức được sắc màu, mùi, vị, âm thanh và những cảm giác tiếp nối nhau không
ngừng nghỉ. Ngoài tiến trình này ra, không còn gì khác nữa xảy ra.
Như vậy thì còn những đối
tượng ấy, tự chúng là gì? Chúng có tất cả là sáu loại: âm thanh, màu
sắc, mùi, vị, xúc chạm và đối tượng tâm thức. Tâm thức của ta tiếp xúc
với những đối tượng này qua những “cánh cửa” giác quan khác nhau. Ví dụ,
ta tiếp xúc với màu sắc qua cánh cửa của đôi mắt. Những đối tượng tâm
thức thì được tiếp xúc trực tiếp qua cánh cửa của tâm thức. Chúng gồm có
cả tư tưởng, ý niệm, cảm xúc và tình cảm.
Tất cả những gì chúng ta nhận
biết chỉ có thể nằm trong sáu đối tượng này mà thôi. Cho dù cuộc sống của
ta có phiêu lưu, mạo hiểm hoặc táo bạo đến đâu, ta vẫn không thể nào có
một kinh nghiệm gì khác hơn ngoài sáu hình tướng ấy. Và vì tâm và
đối tượng tâm thức là những đơn vị cơ bản nhất của sự sống, cho nên không
còn gì khác hơn có thể có mặt trong giây phút hiện tại này.
Hiểu được điều ấy rồi, ta có
thể đặt câu hỏi kế tiếp là: những thành phần ấy tự chúng có là thú
vị và đáng thích không? Chúng ta thường nghĩ rằng hình ảnh, mùi
vị và âm thanh... có thể rất là kỳ diệu. Và theo cảm nhận thông thường
thì chúng thật sự là vậy. Ta thích thưởng thức một mùi vị trà thơm hoặc
một cảnh hoàng hôn đỏ buông xuống trên đồi núi. Nhưng niềm vui ấy có pha
lẫn với một chút gì ảo tưởng. Sở dĩ chúng ta cho rằng những cảm xúc của
giác quan vui sướng là vì ta chưa nhìn thấy được cái thực tánh của chúng.
Ta hãy lấy một ví dụ của mặt
trời hoàng hôn: Việc gì xảy ra khi ta nhìn thấy nó? Thật ra thì ta không
hề thấy nó! Khi mắt ta tiếp xúc với một sắc tướng, chúng ta chỉ thấy màu
sắc, chứ không phải là một vật có không gian ba chiều. Thật ra, màu sắc
ấy, cùng với tâm thức nhận biết nó, diệt mất đi ngay trong cùng một sát-na
ấy, nhưng ta không hề ý thức được điều đó. Tại sao thế? Bởi vì cái ảo
tưởng của ta làm mờ nhạt đi cái biên giới giữa hai sát-na ấy, và khiến
chúng ta có cảm tưởng như đó là một kinh nghiệm nối liền. Sau khi màu sắc
được tiếp nhận, sát-na tâm thức kế tiếp gợi lại hình ảnh ấy từ ký ức và
đặt tên cho đó là “hoàng hôn.” Cả tiến trình ấy chỉ xảy ra trong một giây
chớp nhoáng. Tuy vậy, khi ta vừa đặt tên cho nó thì hình ảnh ban đầu
cũng đã qua mất rồi. “Hoàng hôn” là một ý niệm của tâm thức,
chứ không phải do đôi mắt của mình. Và rồi chúng ta lại đi nhận sản phẩm
được tạo dựng bởi tâm thức này như là một thực tại
cố định. Nếu như
không có chánh niệm, chúng ta sẽ không bao giờ có thể thấy được sự chuyển
biến rất nhanh lẹ này, cũng giống như khi ta cố gắng tách biệt hai khung
ảnh trong một cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh vậy.
Khám phá này mang lại cho ta
một sự thất vọng, cũng như khi ta biết ra rằng chuỗi ngọc quý giá mà
mình đang mang là một loại đồ giả. Đức Phật dạy, chư hành
vô thường (Sabbe sankhara anicca). Tất cả mọi hình tướng đều thay đổi,
và vì vậy mà chúng sẽ mang đến cho ta sự thất vọng, ngay cả những gì mà ta
thấy dường như rất là tuyệt vời. Mà đức Phật cũng không hề chú thích hoặc
nói nhỏ thêm rằng, “Xuỵt! Nhưng cũng có một vài hình tướng rất là nhiệm
mầu.”
Giây Phút Hiện Tại Nhiệm Mầu
Và bây giờ, nếu như tất cả
những hình tướng đều rồi sẽ mang lại sự bất toại nguyện, thì những gì làm
nên giây phút hiện tại này cũng sẽ như vậy. Nhưng rồi ta cũng có thể đặt
thêm một câu hỏi tiếp, là nếu như giây phút hiện tại này không nhiệm
mầu, thì ta có mặt với nó để làm gì? Ta cũng nên nhớ rằng có sự
khác biệt giữa “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu” và “Thật nhiệm mầu
khi ta có mặt trong giây phút hiện tại này.” Đây không phải là một lối
chơi chữ. Câu thứ nhất, “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu”, có ý nói
rằng, những cảm giác thuần tuý xảy ra trong giây phút hiện tại tự chúng có
chút tính chất kỳ diệu. Và, câu thứ nhì, “Thật nhiệm mầu khi ta có mặt
trong giây phút hiện tại,” nói rằng, khi ta có mặt trong giây phút hiện
tại, là ta có khả năng thoát ra khỏi những phiền não do sự nắm bắt vào
những cảm giác ấy.
Thật ra, đức Phật có trình
bày rất rõ về lý do chúng ta cần thực tập chánh niệm: để nhận diện
và loại trừ đi cái nguyên nhân của khổ đau. Nguyên nhân ấy chính
là sự tham ái. Khi nguyên nhân ấy vắng mặt thì khổ đau sẽ
không thể sinh lên. Và chừng ấy, trong kinh viết, ta sẽ kinh nghiệm được
một loại hạnh phúc mà không có chút tì vết gì của sự lo âu.
Nhưng không phải bởi vì hình sắc và âm thanh chung quanh ta chúng đột
nhiên trở nên trường cửu, kỳ diệu, và là của ta. Mà thật ra, những cảm
nhận ấy tạm thời chấm dứt, và tâm thức ta tiếp xúc được với một đối
tượng rất siêu phàm gọi là “niết bàn,” một yếu tố không còn bị điều kiện
chi phối. Và mặc dù đó là một đối tượng của tâm thức, nhưng niết bàn,
trạng thái an lạc cao tột nhất, không hề là một hành (formation). Nó là
vô hành và bất biến. Vì vậy giây phút hiện tại nhiệm mầu là vì chỉ
có trong chính giây phút này, ta mới có thể chứng nghiệm được niết bàn –
hoàn toàn giải thoát ra khỏi mọi khổ đau.
Không có một nơi nào đức Phật
lại chủ trương thực tập chánh niệm với mục đích để ta có thể vui hưởng
làn nước xà phòng ấm, hoặc thấy được một bình trà bằng đồng sáng chói...
Mà ngược lại, Ngài còn gọi đó là mê vọng (vipallasa)
khi ta chấp những gì là không thường và cho đó là có giá trị
và tốt đẹp. Nhưng những cảm nhận ở cảm giác có thể là vui thích được
không? Có chứ, nhưng sự vui thích ấy không phải là một nguồn hạnh
phúc bất tận nhưng chúng ta vẫn hằng tưởng. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta thường chấp vào những cảm giác tốt đẹp,
cho rằng chúng vững chắc và tương đối lâu dài. Trong khi thật ra chúng
chỉ là những rung động không bền và tan rã vừa khi mới vừa hình
thành. Cũng giống như loại kẹo bông gòn nó tan ra ngay trước khi
ta kịp cắn răng vào, những thú vui ấy không bền vững đủ để duy trì cho ta
một niềm hạnh phúc.
Nhưng vì sự mê hoặc che đậy
lý vô thường, nên chúng ta phản ứng lại bằng những sự nắm bắt và xua
đuổi. Và chính hành động níu kéo đó làm tâm ta bất an. Bạn có để ý thấy
rằng sự ước ao, mong đợi bao giờ cũng tạo nên trong ta một nỗi đau
không? Và hơn nữa, sự khát khao ấy là hoàn toàn vô ích. Vì dù có cố nắm
bắt bao nhiêu đi chăng nữa, ta cũng không thể kéo dài thêm niềm vui ấy,
cho dù chỉ trong một sát-na. Và những cảm giác khó chịu cũng giống y như
vậy, chúng cũng sẽ qua đi trong giây phút. Nhưng khi ta chống cự lại, nỗi
đau sẽ tăng lên gấp đôi. Nó cũng giống như khi ta cố gắng lấy một cây
gai trong chân ra bằng cách dùng một cây gai thứ hai đâm vào da thịt
mình. Nếu như ta có thể buông bỏ được, tâm ta sẽ không phải chịu khổ
đau.
Đức Phật khám phá ra rằng một
tâm hạnh phúc nhất là tâm không bị dính mắc. Đây là một niềm hạnh phúc
rất sâu sắc, khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường biết. Khi có người
hỏi, làm sao ta có thể tìm thấy niềm hỷ lạc ở nơi niết bàn, trong khi nơi
ấy không còn có sắc tướng hay âm thanh đẹp đẽ gì nữa, ngài Xá Lợi Phất
đáp: “Không có cảm xúc tự chính nó là hạnh phúc.” Ý ngài
nói rằng, không có một thú vui nào có thể so sánh được với niềm hỷ lạc
này. Trong kinh ghi, “Những gì người đời cho là hạnh
phúc, bậc giác ngộ cho là khổ đau...” (Dvayatanupassana Sutta.)
Và đây không phải là một quan điểm mới, mà nó chính là một thực tại tuyệt
đối.
Mặc dù mới nghe thì có vẽ như
rất mâu thuẫn, nhưng ta chỉ có thể tìm thấy một hạnh phúc chân thật,
khi trước hết ta hiểu được rằng, giây phút hiện tại của thân và tâm là bất
toại nguyện. Bằng một tiến trình qua những tầng lớp của tuệ
giác, mà ta có thể dần dà buông bỏ được hết mọi dính mắc,
nguyên nhân của những phiền não. Khi ta thấy rõ được sự vô thường của
những cảm giác ở thân và tâm, nó sẽ phá tan hết những ảo mộng, và từ đó
những dính mắc của ta sẽ hoàn toàn tắt ngấm. Và ngay lúc đó, một chân
hạnh phúc sẽ tự nhiên hiển lộ. Nhưng nếu ta cứ bận rộn đi tìm kiếm thêm
những cái đẹp trong ngay chính thanh và sắc thì làm sao ta có thể nhìn
thấy rõ chân tướng của chúng được?
Hạnh Phúc của Niết Bàn
Hãy tưởng tượng rằng ta
và một số người bạn đang mắc kẹt trong một căn nhà bị bốc
cháy. Những thanh lửa thay phiên rơi xuống từ trần nhà. Có phải tốt nhất
là chúng ta cần ý thức được tình trạng hiểm nguy và cùng giúp nhau thoát
ra, hay ta cứ đứng đấy mà tìm những cái hay đẹp của nó, “Xem kìa, cũng đâu
đến nỗi nào đâu. Ngọn lửa hồng có màu tím hoa cà trông đẹp làm sao...”?
Cũng vậy, tôi nghĩ chúng ta
cần có chánh niệm để nhìn rõ được dukkha trong giây phút hiện tại, bởi vì
nó là chiếc cầu thang duy nhất dẫn ta thoát ra khỏi căn nhà lửa ấy. Căn
nhà ấy chính là khandhas, tức năm uẩn của ta là sắc, thọ, tưởng, hành và
thức. Tôi biết có nhiều người không thích chấp nhận quan điểm này. Nhưng
không lẽ tốt hơn hết là ta nhún vai làm lơ việc ấy, và cứ để mặc mình rơi
trở lại xuống cầu thang hay sao? Không công nhận sự nguy hiểm là một điều
rất nguy hại. Thấy được nó, ta sẽ tìm được một lối thoát.
Nhưng không phải chúng ta đối
diện với khổ đau bằng một thái độ bi quan. Người Phật tử nhận diện khổ
đau để chuyển hóa nó, chứ không phải để bị chìm đắm trong đó. May mắn
thay, đức Phật có chỉ cho ta một con đường giải thoát, bát chánh đạo, và
cuối con đường ấy chắc chắn sẽ là niết bàn. Ai mà chẳng mừng vui khi biết
rằng ta có thể có được một hạnh phúc hoàn toàn thuần tuý không tì vết.
Nhưng chỉ vì tầm nhắm của chúng ta còn quá thấp đi mà thôi.
Thực tập chánh niệm sẽ dẫn ta
đến hạnh phúc. Nhưng không phải vì nhờ ta nhìn thấy rõ được cái hay đẹp
của những cảnh vật trong giây phút hiện tại này - như là hình sắc, âm
thanh, mùi vị... Mặc dù huyền thoại thì vậy, nhưng sự chú ý đơn thuần
không hề phơi bày cho ta thấy một thực chất sáng chói nào hết, vì thật ra
không có một hiện tượng nào là có thực chất.
Khi bản chất của các hiện
tượng tự chúng là bất toại nguyện, thì ta có thể nào hy vọng chế biến
chúng thành hạnh phúc được chăng? Việc ấy cũng giống như là ta đi dệt một
tấm thảm trắng từ những sợi len màu đen vậy. Vì vậy, tôi nghĩ cách hay
nhất là ta nên chấp nhận rằng thực tập chánh niệm sẽ không làm trái
mận ngọt ngào hơn, hay là bình trà màu đồng sáng tươi hơn. Nhưng khi ta có
chánh niệm, ta sẽ bớt quan tâm về vấn đề ngọt ngào hay sự sáng chói.
Khi chúng ta có một hạnh phúc lớn lao hơn, những thú vui nho nhỏ sẽ
không còn là chuyện quan trọng. Và đây không phải là một thái độ lạnh
lùng và dửng dưng, mà nó là một sự giải thoát thật sự. Khi chúng ta
không còn sự dính mắc nữa, ta sẽ không cần một âm thanh, hình sắc hoặc sự
xúc chạm nào để mang lại cho mình hạnh phúc.
Ta có thể chưa hiểu được,
nhưng khi ta nếm được mùi vị của sự tự tại này rồi, ta sẽ trân quý nó hơn
bất cứ một niềm vui nào khác mình có thể nghỉ tưởng đến - cho dù đó là mùi
hương của một loài hoa quý, những nốt nhạc trầm bổng của chopin, hay ánh
trăng huyền diệu. Chúng ta vẫn có thể kinh nghiệm được những
hạnh phúc này, và những thú vui khác. Nhưng ta sẽ không cố nắm
giữ lại khi chúng ra đi, ta không có sự khổ đau của mất mát. Và bây giờ là
câu hỏi khó nhất: chúng ta có thật sự muốn giải thoát ra khỏi vòng
khổ đau này hay không? Nếu vậy thì ta hãy thực tập chánh niệm. Nhưng
không phải là để nhìn thấy vẽ đẹp không thật của những bọt xà phòng, mà là
đúng theo ý của đức Phật, là thấy được sự dính mắc của mình, cho đến khi
nào ta nếm được quả trái chân thật là niết bàn. Và như các bậc đi trước
đã nhiều lần nói với ta: khi đối tượng tâm thức của ta là niết bàn, giây
phút hiện tại này sẽ đẹp tuyệt vời.
Cynthia
Thatcher What’s So Great About Now ?
Nguyễn Duy Nhiên
phỏng dịch
(Sinh Thức)
---o0o---
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen
Trình bày:
Linh Thoại
Cập
nhật: 6-2008