NƠI ẤY CŨNG LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở ÐÂY
Nguyên tác: Wherever You Go, There
You Are.
Tác giả:
Jon Kabat-Zinn
Dịch giả:
Nguyễn duy Nhiên.
"Thiền tập áp dụng vào đời
sống hằng ngày"
PHẦN III
TINH THẦN CHÁNH NIỆM
1.- NGỒI CẠNH ÁNH LỬA HỒNG
Ngày xưa, sau khi mặt trời lặn
khuất, nguồn ánh sáng duy nhất mà con người còn lại, ngoại trừ ánh trăng
và những vì sao lấp lánh trên cao, là lửa. Trải qua hàng triệu năm, loài
người chúng ta đã ngồi quanh những đống lửa, nhìn vào ánh lửa bập bùng
cháy, màu đỏ than hồng, với bóng tối và không gian cô lạnh phía sau lưng.
Có lẽ những phương pháp thiền tập chính thức đã được phát xuất từ đây
chăng?
Lửa là một niềm an lạc của
chúng ta, nó là nguồn gốc của nhiệt lượng, của ánh sáng và sự bảo vệ - dù
nguy hiểm, nhưng nếu cẩn trọng, nó có thể kềm chế được. Ngồi cạnh đống lửa
sau một ngày mệt nhọc, đem lại cho ta một sự thoải mái. Trong vùng không
gian ấm áp và ánh sáng bập bùng, chúng ta có thể kể cho nhau nghe những
câu chuyện và nói về ngày vừa qua. Hay ta cũng có thể ngồi yên, nhìn hình
ảnh trong tâm mình phản chiếu trong ngọn lửa biến đổi không ngừng, một
vùng tỏa sáng của thế giới mầu nhiệm. Lửa làm bóng tối trở nên bớt đáng
sợ, nó giúp ta cảm thấy an ổn và bảo đảm hơn. Lửa rất đáng được tín cẩn,
nó có tác dụng làm ta yên tâm, phục hồi, trầm tư và cũng rất thiết yếu cho
sự sinh tồn của ta.
Nhưng tiếc thay, trong cuộc
sống ngày nay chúng ta đã đánh mất đi sự thiết yếu đó, và cùng với nó là
những cơ hội để tạo nên sự tĩnh lặng cho ta. Trong thế giới xô bồ ngày
nay, những đống lửa không còn là thực tiễn nữa. Khi hoàng hôn buông xuống,
ta chỉ cần đơn giản bật lên một công tắc đèn. Chúng ta có thể thắp sáng
thế giới này lên bao nhiêu cũng được, và rồi lại tiếp tục với những sinh
hoạt, với những bận rộn của mình. Cuộc sống ngày nay không còn cho phép ta
có thì giờ cho chính mình nữa, trừ khi ta biết cương quyết nắm bắt nó.
Chúng ta không còn bị bắt buộc phải tạm gát lại những gì đang làm, vì trời
không còn ánh sáng... chúng ta mất đi giờ phút mỗi tối ấy để sống chậm lại
và ngưng nghỉ những sinh hoạt ban ngày. Ngày nay, chúng ta rất hiếm còn
được những cơ hội quý báu để cho tâm mình tĩnh lặng xuống bên cạnh một
đống lữa hồng.
Thay vào đó, vào mỗi cuối ngày
chúng ta ngồi chung quanh một chiếc máy truyền hình, một năng lượng điện
tử xanh yết ớt, so với sự sáng ngời của lửa. Chúng ta chịu khuất phục dưới
sự oanh tạc tới tấp của những âm thanh và hình ảnh, chúng phát xuất từ đầu
óc của kẻ khác, và tràn ngập tâm ta bằng những tin tức vớ vẩn, với những
cuộc thám hiểm, náo động và tham vọng của kẻ khác. Máy truyên hình cướp
mất đi phần không gian ít ỏi còn lại trong ngày của ta, mà có thể để dành
cho sự tĩnh lặng. Nó nuốt hết thời gian, không gian và sự yên lặng của ta,
là một thứ thuốc mê đưa ta vào một trạng thái thụ động vô ý thức. Báo chí
hàng ngày cũng thế. Tự chúng không phải là xấu, nhưng vì ta thường cho
phép chúng cướp đi những giờ phút quý báu mà ta có thể xử dụng để sống
trọn vẹn hơn.
Nhưng sự thật thì ta không cần
phải đầu hàng trước những mê hoặc, cám dỗ của những thú vui và sự ồn ào
bên ngoài như thế. Chúng ta có thể phát triển những thói quen nào có thể
giúp ta trở về tiếp xúc lại với niềm ao ước sâu xa của mình, về một cái gì
ấm áp, tĩnh lặng và an lạc. Khi ta ngồi với hơi thở của mình, thí dụ thì
đó cũng giống như là ngồi bên một đống lửa hồng vậy. Và khi nhìn sâu vào
hơi thở, ta cũng có thể thấy được ít nhất những gì trong ánh lửa, những
phản ảnh của các ý nghĩ đang nhảy múa trong tâm. Nó cũng tỏa ra một sức
ấm. Và nếu thật sự ta không cố gắng để đạt một điều gì hết, chỉ đơn giản
cho phép mình được có mặt nơi đây, trong giờ phút này, như nó là, chúng ta
sẽ có thể dễ dàng bắt gặp lại được một sự tĩnh lặng cổ xưa nào đó, người
ta đã kinh nghiệm được khi ngồi bên một ánh lửa hồng.
2.- HÒA ÐIỆU
Trong khi tôi vừa quẹo vào bãi
đậu xe của bệnh viện, trên bầu trời đã có hàng trăm con vịt trời bay ngang
qua. Chúng bay thật cao, tôi không hề nghe tiếng kêu gọi đàn của chúng.
Ðiều đầu tiên tôi nhận thấy là rõ ràng chúng biết chúng đang đi về đâu.
Chúng bay về hướng Tây Bắc và nhiều đến nỗi đội hình của chúng kéo dài đến
tận phía trời Ðông, khi ánh sáng bình minh tháng mười một rạng rỡ nơi chân
trời. Nhìn con vịt trời đầu tiên bay ngang qua, cảm xúc vì vẻ đẹp quý phái
của chúng, tôi lấy đại giấy bút trong xe ra, vội vã ghi lại đội hình của
chúng bằng cái nhìn và nét vẽ vụng về của tôi. Vài nét bút vội vàng cũng
là đủ... chút nữa thôi chúng sẽ biến mất khỏi bầu trời.
Hàng trăm con vịt trời bay theo
đội hình chữ V, nhưng có nhiều con khác bay theo một sự sắp xếp phức tạp
hơn. Ðường bay của chúng hạ xuống thấp rồi lại cất cánh lên cao trong một
sự hòa điệu rất duyên dáng, giống như một tấm vải lụa uốn mình trong gió.
Rõ ràng là những con vịt trời có truyền thông với nhau. Vì hình như mỗi
con đều biết rõ vị trí của nó, thuộc nơi đâu và phải ở nơi nào trong đội
hình phức tạp và biến đổi thường xuyên ấy.
Tôi cảm thấy mình rất có phước
được chứng kiến hình ảnh ấy. Giây phút này là một món quà rất quý báu. Tôi
đã được phép nhìn thấy và được chia xẻ một cái gì tôi biết rất là quan
trọng, không phải là lúc nào ai cũng có được. Một phần là sự hoang dã của
chúng, một phần là sự hòa điệu, trật tự và vẻ đẹp mà chúng biểu hiện.
Trong khi tôi chứng kiến hành
trình ấy, kinh nghiệm thông thường về thời gian của tôi chợt dừng lại.
Cách sắp xếp của những con vịt trời, mà các nhà khoa học gia thường gọi là
"hỗn loạn", cũng giống như sự cấu tạo của những khối mây hoặc hình dáng
của cây cối. Nơi đó có một trật tự, và bên trong tàng chứa một sự vô trật
tự, nhưng cũng một cách rất là có trật tự. Ðối với tôi thì hình ảnh đó là
một món quà tặng ký diệu và nhiệm mầu. Ngày hôm nay, trong khi đi đến sở
làm, thiên nhiên đã biểu lộ cho tôi thấy tính tự nhiên của vạn vật trong
một lãnh vực nhỏ bé, nhắc cho tôi nhớ rằng cái biết của con người không có
là bao, và chúng ta ít khi biết tán thưởng sự hòa hợp trong vạn vật, hoặc
là có thể nhận diện được chúng.
Chiều nay, về nhà đọc tờ báo
hàng ngày, tôi nhận thấy cái hậu quả tàn khốc của việc đốn cây khai thác
những khu rừng già trên vùng cao nguyên ở miền nam nước Phi Luật Tân. Hậu
quả ấy đã hiển lộ khi trận bảo dữ đi ngang qua vào cuối năm 1991, khi vùng
đất trơ trọi, không còn khả năng giữ nước lại, đã để mặc cho một khối
lượng nước lớn gấp bốn lần bình thường, đổ tràn ngập xuống vùng đồng bằng,
làm chết đuối hàng ngàn người dân nghèo. Bạn đừng bao giờ nói rằng: "Tại
nó xảy ra như vậy!" Vấn đề là nhiều khi chúng ta không dám chấp nhận trách
nhiệm của mình ở trong đó. Khinh thường sự hòa hợp của thiên nhiên là một
sự liều lĩnh lớn!
Tính chất hòa điệu của thiên
nhiên bao giờ cũng có mặt ở chung quanh ta và trong ta. Ý thức được việc
ấy sẽ mang lại cho ta một hạnh phúc lớn. Nhưng ta chỉ biết tán thưởng khi
nó không còn nữa, hoặc trong ký ức mà thôi. Như cơ thể ta chẳng hạn, nếu
mọi việc đều bình thường, ta sẽ không bao giờ để ý đến. Không nhức đầu, ít
khi nào là một vấn đề để ta chú tâm đến. Những khả năng như đi, đứng,
nhìn, nghe, suy nghĩ... thường thì chúng ít cần đến sự săn sóc của ta, vì
vậy chúng hay bị nhòa lẫn vào vùng không gian của sự tự động máy móc và vô
ý thức. Chỉ có sự đau đớn, sợ hãi hoặc mất mát mới có thể đánh thức ta dậy
và mang thực tại trở về với sự chú tâm của ta. Nhưng đến chừng ấy thì
không dễ gì ta còn có thể nhận thấy được sự hòa hợp nữa! Không khéo ta còn
lại bị lôi cuốn theo sự động loạn, nó như một dòng suối chảy xiết, như một
thác nước đổ, một chặn đường gian nan trong dòng sông của cuộc sống. Cũng
như một người nào đó nói: "Bạn không biết những gì mình đang có, trừ khi
bạn đã đánh mất nó đi..."
Khi tôi bước xuống xe, trong
lòng tôi cúi đầu cảm tạ những người khách lữ hành trên cao ấy, vì đã mang
lại cho vùng trời của một bệnh viện văn minh và hiện đại này, một liều
thuốc tươi mát của miền thiên nhiên hoang dã.
Thực tập: Hãy vén lên tấm màn
vô ý thức và cảm nhận một sự hòa hợp trong giây phút hiện tại này. Bạn có
thấy nó trong những áng mây, trong bầu trời, con người, thời tiết, trong
thực phẩm, trong thân ta, và trong hơi thở này không? Hãy nhìn và nhìn vào
cho thật kỹ đi, ngay ở đây và trong lúc này!
3.- BUỔI SÁNG SỚM
Mặc dù ông không sở làm để đến,
cũng không có con cái để săn sóc và đưa đến trường, không có lý do nào bên
ngoài bắt ông phải dậy sớm, nhưng khi sống tại Walden, ông Thoreau có thói
quen thức dật thật sớm để xuống tắm ở hồ vào lúc mặt trời mọc. Ông làm vì
những lý do nội tại, như là một giới luật tâm linh: "Ðó là một sư tu tập
và là một trong những việc mà tôi có khiếu nhất".
Benjamin Franklin cũng đã từng
ca tụng những đức tính như sức khỏe,giàu có và sáng suốt mà ta có thể đạt
được nhờ biết dậy sớm, trong câu cách ngôn nổi tiếng của ông. Nhưng ông
không chỉ nói suông mà còn thực hành nữa.
Việc dậy sớm không có nghĩa là
ta sẽ có thêm thì giờ để dồn nhét thêm những bận rộn, công việc vào một
ngày của mình. Sự thật ngược lại như thế. Ta sẽ có dịp để thưởng thức sự
tĩnh lặng và cô tịch của giờ phút ấy, và có thể xử dụng thời gian đó để mở
rộng tâm thức, để quán niệm, để thật sự có mặt và cố ý không làm gì hết.
Sự an bình, bóng tối, bình minh và tĩnh lặng - tất cả những điều đó giúp
cho buổi sáng sớm là một thời gian đặc biệt cho sự thực tập chánh niệm.
Hơn nữa, thức dậy sớm sẽ giúp
cho ta có cơ hội làm chủ được một ngày. Nếu bạn có thể bắt đầu một ngày
với một chánh niệm vững vàng, thì khi bạn cần phải đi đây đó làm việc,
chắc chắn hành động của bạn sẽ được phát xuất từ chính sự vững vàng và
tĩnh lặng đó. Bạn sẽ có thể duy trì được một chánh niệm vững chãi, một sự
an lạc và quân bình trong nội tâm trọn cả ngày, cho dù công việc và trách
nhiệm có nặng nề đến đâu. Một ngày chắc chắn sẽ được tốt đẹp hơn, nhất là
khi bạn không phải vội vã nhảy ra khỏi giường và lao đầu ngay vào những
đòi hỏi của cuộc sống.
Việc thức dậy sớm mỗi buổi sáng
có một năng lực rất to tác, nó ảnh hưởng vô cùng sâu đậm tới cuộc sống của
ta, cho dù ta có thực tập chánh niệm hay không. Chỉ cần nhìn mặt trời bình
minh mọc mỗi sáng tinh sương, tự nó cũng là một tiếng chuông tĩnh thức cho
ta rồi.
Nhưng tôi khám phá ra rằng,
buỗi sáng sớm là một thời gian rất kỳ diệu để thực hành thiền tập. Chưa có
ai thức dậy hết. Sự nào nhiệt của thế giới cũng chưa thật sự bắt đầu. Tôi
bước ra khỏi giường và thường thường bỏ ra chừng một giờ cho chính mình,
để không làm gì hết. Sau hai mươi tám năm trời, nó vẫn chưa mất đi sức
quyến rũ đối với tôi. Thỉnh thoảng, cũng có lúc tôi cảm thấy khó mà dậy
sớm, thân hoặc tâm tôi bị dằn co. Nhưng giá trị ở chỗ tôi vẫn cứ làm, cho
dù mình có thích hay không.
Một trong những đức tính chánh
của sự thực tập đều đặn là ta sẽ đạt được một thái độ xả bỏ đối với những
trạng thái nhất thời của tâm ý. Ta cương quyết thức dậy sớm ngồi thiền mỗi
ngày, cho dù mình cảm thấy muốn hay không. Sự thực tập ấy giúp ta có một
tiêu chuẩn cao hơn - nhắc nhở ta về sự quan trọng của chánh niệm, và sự
cám dỗ của thói quen sống trong thất niệm, vô ý thức của mình. Việc dậy
sớm để thực tập không làm gì hết, tự nó cũng là một quá trình tôi luyện.
Quá trình ấy phát ra một nhiệt lực đủ nóng để sắp xếp lại những hạt nguyên
tử trong con người của mình, tạo nên một hàng rào pha lê vững chắc để bảo
vệ thân tâm, một hàng rào giữ cho ta được thành thật và nhắc nhở rằng,
cuộc sống này còn nhiều việc to tát hơn là sự thành đạt của mình.
Kỷ luật ấy sẽ giữ cho ta được
vững vàng, không bị lệ thuộc vào phẩm chất của ngày hôm qua và những việc
gì sẽ xảy ra trong ngày hôm nay. Tôi luôn cố gắng bỏ ra chút thì giờ để
thực hành thiền tập, cho dù chỉ trong vài phút, vào những ngày có biến cố
vui buồn lớn, khi tâm tôi và hoàn cảnh chung quanh hoàn toàn bị náo động,
khi có nhiều việc cần phải làm và cảm xúc dâng cao. Ðược như thế, tôi mới
có thể thật sự cảm nhận được ý nghĩa của những giây phút ấy, và đôi khi có
thể lèo lái vượt qua được.
Khi ta thực tập chánh niệm vào
buổi sáng sớm, là ta tự nhắc nhở mình rằng, mọi việc luôn luôn thay đổi,
những điều tốt xấu sẽ đến rồi đi và ta lúc nào cũng có khả năng biểu lộ
được một bình diện bất biến, của trí tuệ và an lạc, dù phải đối mặt với
bất cứ một tình trạng nào. Mỗi sáng tinh sương ta thức dây sớm để thực
hành thiền tập là một biểu hiện của bình diện ấy. Ðôi khi tôi nói về nó
như là một cái gì rất "thông thường", nhưng sự thật thì khác rất xa! Chánh
niệm là những gì ngược hẳn lại với thói quen thường lệ của mình.
Nếu bạn còn chần chư chưa muốn
thức dậy sớm hơn một tiếng, thì bạn có thể thử nửa tiếng, mười lăm phút,
hoặc năm phút thôi cũng được. Tinh thần mới là quan trọng. Năm phút thực
tập chánh niện vào mỗi buổi sáng cũng có thể rất giá trị. Và chỉ cần hy
sinh năm phút của giấc ngủ thôi, cũng có thể giúp ta thấy được cái tính mê
ngủ của mình. Ta thấy rằng, mình phải cần bao nhiêu là sự tự chủ và quyết
tâm để có được một chút thì giờ, để tỉnh thức mà không làm gì hết. Vì dù
sao đi nữa, cái tâm suy nghĩ của ta có trăm ngàn lý do chính đáng để khất
lại ngày sau, như là ta đâu có thật sự đạt được cái gì, sáng hôm nay cũng
chẳng có gì quan trọng lắm, và có lẽ lý do thật sự hơn hết là, tại sao
mình không ngủ thêm một chút nữa cho khỏe rồi ngày mai hãy bắt đầu?
Muốn vượt qua những trở ngại
trong tâm mà ta đã biết trước ấy, ta cần phải tự quyết định vào đêm hôm
trước rằng, mình sẽ thức dậy cho dù có nghĩ gì đi chăng nữa. Ðó cũng là
hương vị đặc biệt của đức tự chủ và thật sự có chủ đích. Ta làm vì đã tự
hứa với mình và ta sẽ làm vào giờ đã ấn định, cho dù một phần của tâm ta
có ưa thích hay không. Sau một thời gian, sự tu tập ấy sẽ trở thành một
phần của con người ta. Ðây chỉ đơn giản là một lối sống mới mà ta đã chọn.
Nhưng nó không có nghĩa là "phải làm", vì ta không hề bó buộc mình. Những
giá trị cũng như hành động của ta đã thay đổi, thế thôi.
Nếu bạn chưa sẵn sàng để thức
dậy sớm, hoặc là có chăng đi nữa, bạn bao giờ cũng có thể xử dụng giây
phút vừa thức giấc của mình, bất cứ lúc nào, như là giây phút của chánh
niệm, giây phút đầu tiên của một ngày mới. Ngay trước khi bạn cử động, hãy
cố gắng tiếp xúc với hơi thở của mình. Cảm giác thân mình đang nằm trên
giường. Thẳng người ra. Và bạn hãy tự hỏi: "Tôi có tỉnh chưa? Tôi có biết
rằng tôi được ban tặng cho một ngày mới không? Tôi có tỉnh thức để nhận
lãnh nó không? Việc gì sẽ xảy ra trong ngày hôm nay? Ngay bây giờ tôi cũng
chẳng biết. Mặc dù tôi đang suy nghĩ về việc gì cần phải làm, tôi có thể
nào mở rộng ra với cái không biết này không? Tôi có thấy ngày hôm nay là
một cuộc khám phá mới không? Tôi có nhận thấy rằng thời gian này có đầy đủ
hết mọi tiềm năng không?"
Buổi sáng là những khi tôi tỉnh
thức và bên trong tôi có một bình minh... Chúng ta phải biết học cách tỉnh
thức ấy và giữ cho mình được tỉnh thức, không phải bằng những phương tiện
máy móc, nhưng là bằng một sự mong đợi bất tận vào một bình minh sẽ không
hề bỏ quên ta, dù ta đang đắm chìm trong một giấc ngủ say. Tôi không còn
biết đến một sự kiện nào đáng khích lệ hơn là cái khả năng chắc chắn của
con người nâng cao sự sống của mình bằng một nỗ lực có ý thức. Khả năng vẽ
lên một bức tranh, tạc một bức tượng, tạo nên một vài đối tượng mỹ thuật,
là cao đẹp lắm. Nhưng nếu ta có thể tạc hoặc vẽ được cái bầu không khí và
môi trường mà ta nhìn xuyên qua, khả năng ấy còn tuyệt diệu hơn, vượt bực
nữa... Làm sao để ảnh hưởng được phẩm chất của một ngày, đó mới là một
nghệ thuật cao quý.
Thoreau, Walden.
Thực tập: Bạn hãy tự hứa với
mình và cương quyết thức dậy sớm hơn thường lệ. Làm bấy nhiêu thôi cũng sẽ
thay đổi được đời bạn. Hãy để thời gian ấy, dù dài hay ngắn, là thời gian
để sống, để tỉnh thức. Bạn không muốn bỏ gì vào khoảng thời gian này hơn
là chánh niệm và ý thức. Không cần phải lo nghĩ về những việc cần phải làm
trong ngày và sống "trước" hiện tại của mình. Ðây là lúc của sự vô thời
gian, của tĩnh lặng hiện tại, và có mặt với chính mình.
Và khi vừa thức dậy, trước khi
bước chân xuống giường, bạn hãy tiếp xúc với hơi thở của mình, ý thức
những cảm giác trong thân, ghi nhận mọi ý nghĩ và cảm xúc đang có mặt, hãy
dùng chánh niệm soi sáng giây phút này. Bạn có cảm nhận được hơi thở của
mình không? Bạn có ý thức được sự bình minh trong mỗi hơi thở vào? Bạn có
biết tán thưởng cảm giác hơi thở đang ra vào tự do nơi thân trong giây
phút này không? Tự hỏi mình: "Bây giờ, tôi có thật sự tỉnh thức chưa?"
4.- TIẾP XÚC TRỰC TIẾP
Chúng ta ai cũng mang theo mình
những hình ảnh và ý niệm về thực tại. Ða số chúng được thu thập từ người
khác, từ những lớp học, từ sách đã đọc, hoặc từ truyền hình, ra dô, báo
chí, từ nền văn hóa nói chung. Chúng cho ta một ấn tượng về những sự vật
chung quanh mình và về việc gì đang xảy ra. Và kết quả là chúng ta chỉ
nhìn thấy tư tưởng của mình hoặc của kẻ khác, thay vì là những gì đang
thực sự hiện diện ngay trước mặt hoặc bên trong ta. Chúng ta ít khi nào
chịu tìm kiếm hoặc xét lại cảm nhận của mình, vì ta tự cho rằng mình đã
biết và hiểu hết tất cả. Và vì vậy ta tự đóng kín mình lại, không còn biết
đến sự kỳ diệu và sinh động của những cuộc gặp gỡ mới. Không khéo chúng ta
có thể quên rằng, sự tiếp xúc trực tiếp là một cái gì có thể được. Ta sẽ
không còn tiếp xúc được với những gì là cơ bản nhất, mà không hề hay biết
Chúng ta có thể sống trong một thực tại huyễn mộng do mình tạo nên, mà
không hề ý thức được sự mất mát, một hố sâu, khoảng cách không cần thiết
ngăn cách ta với kinh nghiệm của mình. Không ý thức được việc ấy, ta suốt
đời sẽ là một kẻ nghèo nàn về tâm linh. Và khi ta tiếp xúc trực tiếp được
với thế giới chung quanh mình, sẽ có những sự kiện nhiệm mầu xảy ra.
Viki Weisskopf, một người hướng
dẫn và cũng là một người bạn của tôi, một nhà vật lý học nổi tiếng, có kể
lại một câu truyện rất sâu sắc về sự tiếp xúc trực tiếp:
Vài năm trước đây, tôi có nhận
được lời mời đến giảng thuyết tại đại học đường Arizona ở Tucson. Tôi rất
vui mừng và chấp nhận ngay, vì đây là một cơ hội tốt để viếng thăm đài
thiên văn trên đỉnh Kitts Peak, nơi đó có một kính thiên văn rất mạnh, mà
tôi từng mơ ước sẽ có dịp được xử dụng thử. Tôi yêu cầu trường đại học sắp
xếp cho tôi một buổi viếng thăm đài thiên văn này, để tôi có thể quan sát
những vì tinh tú qua chiếc kính viễn vọng ấy. Nhưng họ trả lời rằng việc
ấy không thể thực hiện được, vì chiếc kính viễn vọng lúc nào cũng được xử
dụng để chụp hình và cho những sinh hoạt nghiên cứu khác, không có thì giờ
cho việc quan sát khơi khơi như vậy. Nếu vậy, tôi viết thư trả lời, là tôi
sẽ không đến giảng thuyết được. Chừng vài ngày sau, tôi được báo tin cho
hay rằng, mọi việc đã được sắp xếp theo lời yêu cầu của tôi. Một buổi tối
trời trong thật đẹp, chúng tôi lái xe lên núi. Những vì sao và dãy Ngân hà
sáng lóng lánh trên cao, tôi có cảm tưởng gần đến nỗi mình có thể với tay
lên bắt được. Tôi vào căn nhà mái vòm của đài thiên văn và nói với người
chuyên viên điều khiển chiếc kính viễn vọng bằng máy điện tử, tôi muốn
được quan sát Thổ tinh và một số thiên hà khác. Thật là một niềm vui lớn
khi được nhìn bằng chính đôi mắt mình, với đầy đủ hết những chi tiết mà
tôi chỉ có thể thấy trước đó qua hình ảnh. Trong khi say mê quan sát, tôi
chợt để ý rằng căn phòng bắt đầu có đông người tụ tập, và họ chờ nhau để
đến phiên được nhìn vào chiếc viễn vọng kính như tôi. Tôi được kể rằng,
những nhà thiên văn này làm việc nơi đây, nhưng họ chưa bao giờ có cơ hội
để trực tiếp nhìn vào đối tượng mà họ đang nghiên cứu. Tôi chỉ có thể hy
vọng rằng, lần gặp gỡ này, sẽ giúp họ ý thức được tầm quan trọng của những
tiếp xúc trực tiếp như thế.
Thực tập: Nhớ rằng cuộc sống
của mình cũng thú vị và nhiệm mầu như là mặt trăng và những vì tinh tú.
Cái gì đứng giữa bạn và kinh nghiệm trực tiếp với sự sống của bạn? Bạn có
thể làm gì để thay đổi được khoảng cách ấy?
5.- BẠN CÒN MUỐN NÓI THÊM ÐIỀU
GÌ VỚI TÔI KHÔNG?
Lẽ dĩ nhiên, sự tiếp xúc trực
tiếp cũng rất là quan trọng trong mối tương quan giữa bác sĩ và bệnh nhân.
Chúng tôi cố gắng hết sức để giúp các sinh viên y khoa hiểu được sự quan
hệ này, để họ khỏi bỏ chạy trong kinh hoàng vì nó có dính líu đến tình cảm
cá nhân, cũng như đòi hỏi một khả năng biết lắng nghe thật sâu sắc. Chúng
tôi nhắc nhở các bác sĩ tập sự nên đối xử với bệnh nhân của mình như là
con người, chứ không phải là một bài toán về chứng bệnh, hoặc cơ hội để họ
thử nghiệm sự phán đoán và chữa trị của mình. Có biết bao nhiêu chuyện có
thể chen vào giữa sự tiếp xúc trực tiếp của ta. Và có rất nhiều bác sĩ đã
thiếu sự huấn luyện này trong lãnh vực y khoa của họ. Họ vẫn không ý thức
được tính chất quan trọng của một sự truyền thông hữu hiệu, cũng như sự
chăm sóc đối với bệnh nhân. Chúng ta thường nghĩ ràng mình lo cho sức khỏe
của bệnh nhân, nhưng thật ra là ta chỉ lo lắng cho bệnh tình của họ. Và dù
ta có chăm sóc gì chăng nữa, nó vẫn là một sự thiếu thốn lớn, nếu đối
tượng của ta bị loại bỏ ra ngoài chương trình.
Má tôi có kinh nghiệm này, về
việc không tìm ra một bác sĩ nào thật sự quan tâm về nỗi lo lắng của bà.
Bà rất bực tức kể lại rằng, có một lần bà bị giải phẩu xương hông, và được
thay vào bằng hông nhân tạo. Sau một thời gian, bà vẫn không thể đi đứng
bình thường được và rất đau đớn. Má tôi đã gọi vị bác sĩ giải phẩu của
mình nhiều lần để than phiền. Cuối cùng bà được hẹn để vào gặp ông ta. Vị
bác sĩ sau khi nghiên cứu tấm ảnh quang tuyến X, bảo rằng mọi sự đều rất
tốt đẹp, và không hề nghĩ đến chuyện khám nghiệm lại cái hông và chân bằng
xương bằng thịt của bà, mặc dù bà than phiền rất nhiều lần. Tấm ảnh chụp
bằng quang tuyến X đủ để thuyết phục vị bác sĩ là má tôi không hề có lý do
gì để đau đớn hết, mặc dù bà rất là khổ sở.
Các bác sĩ có thể vô ý thức đi
trốn phía sau những dụng cụ, máy móc y khoa, hoặc những thử nghiệm và danh
từ kỷ thuật chuyên môn của họ. Họ rất ngại khi tiếp xúc trực tiếp với bệnh
nhân như là một con người, một cá nhân với đầy đủ lo âu và sợ hãi, nỗi
quan tâm và thắc mắc, dù có nói ra hoặc thinh lặng. Có thể họ nghi ngờ khả
năng của mình, vì đây là một lãnh vực mới chưa từng được thăm dò. Một phần
cũng có thể vì họ không quen đối diện với những tư tưởng, sự sợ hãi, nỗi
quan tâm và nghi ngờ của chính họ, cho nên đối với những gì của người
khác, chúng cũng rất là đe dọa. Và cũng có thể họ cảm thấy mình không có
thì giờ để mở ngõ cho những chiếc đê sắp vỡ tuôn ấy, hoặc là tự ngờ khả
năng đối phó thích ứng của mình. Nhưng điều mà những bệnh nhân cần, rất
đơn giản, là sự lắng nghe và có mặt của ta, biết coi con người là quan
trọng, chứ không phải chỉ có căn bệnh mà thôi.
Với ý định đó, chúng tôi dạy
những sinh viên y khoa của mình, một trong nhiều điều khác, là hỏi câu
khiêu gợi sự trả lời nơi người nghe: "Ông hay bà còn có điều gì muốn nói
thêm với tôi không?" sau mỗi cuối giờ phỏng vấn. Chúng tôi khuyến khich họ
nên ngừng lại, và im lặng một chút, hoặc lâu hơn nữa nếu cần thiết, cho
bệnh nhân có được một khoảng không gian tâm linh để xét lại nhu cầu của
mình, và cũng như họ thật sự nghĩ gì. Những điều này rất ít khi nào các
bệnh nhân chịu đề cập tới ngay lần đầu, lần thứ hai, hoặc có lẽ là sẽ
không bao giờ, nếu họ cảm thấy vị bác sĩ không biết lắng nghe hoặc quá vội
vã.
Trong một khóa huấn luyện các
nhân viên chuyên khoa về phương pháp phỏng vấn bệnh nhân, chúng tôi được
chiếu cho xem một cuốn phim nói về những cuộc phỏng vấn của các sinh viên
y khoa với bệnh nhân của mình, được thu hình để học hỏi. Cuốn phim gồm có
nhiều cuộc phỏng vấn của các sinh viên y khoa khác nhau, nhưng chỉ gom
chiếu lại phần họ hỏi bệnh nhân mình câu chót: "Ông hay bà còn có thêm
điều gì muốn nói với tôi không?" Trước khi được cho xem cuốn phim tài liệu
này, chúng tôi được yêu cầu hãy cẩn thận ghi nhận việc gì thật sự xảy ra.
Xem đến đoạn phim thứ ba, tôi
phải cố gắng lắm mới khỏi lăn ra đất mà cười. Hầu như trong tất cả đoạn
phim, các sinh viên y khoa đều thực hành đúng những gì mình đã được dạy,
là chấm dứt buổi phỏng vấn với câu hỏi chót: "Ông hay bà còn có thêm điều
gì muốn nói với tôi không?", nhưng chính họ lại lắc đầu trong khi đặt câu
hỏi ấy, như gián tiếp nói với bệnh nhân mình rằng: "Thôi đủ rồi, làm ơn
đừng kể thêm gì nữa hết".
Vì vậy, ta không bao giờ có thể
dấu diếm được bất cứ điều gì. Ta phải thật sự biết lắng nghe.
6.- THẨM QUYỀN CỦA BẠN
Lúc mới vào làm việc tại bệnh
viện, tôi được phát cho ba chiếc áo khoác dài màu trắng, bên ngoài có hàng
chữ "Dr. Kabat-Zinn/Phân khoa y học" được thêu thật đẹp trên túi áo. Và
chúng được treo phía sau cánh cửa văn phòng tôi từ mười lăm năm nay, chưa
bao giờ được dùng tới.
Ðối với tôi, những chiếc áo
trắng này là một biểu tượng mà tôi không bao giờ cần đến trong ngành của
mình. Tôi đoán có lẽ chúng cần thiết cho các vị bác sĩ, giúp làm gia tăng
thêm cái hào quang thẩm quyền của họ và nhớ đó tạo một ảnh hưởng tốt đối
với các bệnh nhân. Và cái hào quang ấy lại càng gia tăng bội phần, nếu họ
có thêm một chiếc ống nghe (stethoscope) treo lủng lẳng ngoài túi áo.
Những vị bác sĩ trẻ tuổi đôi khi nghiên cứu nghệ thuật này rất kỹ, họ cố
đeo chiếc ống nghe làm sao cho thật tự nhiên trên cổ, và gác ra phiá sau
lưng ngang vai.
Nhưng trong một y viện chuyên
khoa về ngành làm giảm sự căng thẳng (stress reduction clinic), thì chiếc
áo trắng là một chướng ngại rất lớn. Tôi đã phải làm việc tối đa để phản
ảnh những cái tên mà người ta đã đặt cho tôi, như là "Ông Thoải Mái", hoặc
"Bác sĩ Biết Hết Tất Cả", hoặc là "Ông Tình Thương và Trí Tuệ". Một trong
những điểm chính yếu của việc xử dụng chánh niệm để giảm sự căng thẳng -
là khuyến khích và thách thức người ta trở thành nguồn thẩm quyền của
chính họ, biết chịu trách nhiệm về cuộc đời, về thân thể và hạnh phuc của
mình. Thật ra mỗi người chúng ta bao giờ cũng là nguồn thẩm quyền của
chính mình, nếu ta biết ý thức được những gì đang xảy ra trong ta và chung
quanh ta. Vì vậy, ta cần phải học hỏi rất nhiều về con người ấy - những gì
ta cần biết để tăng trưởng, để chữa lành vết thương và để có thể chọn lựa
hữu hiệu trong cuộc sống. Và những gì ta cần học hỏi lúc nào cũng nằm
trong tầm tay ta, hay nói đúng hơn là nằm ngay nơi đây trong hơi thở của
mình.
Muốn có một sự sống lành mạnh
và an lạc, ta cần phải biết lắng nghe cẩn thận hơn và tin tưởng vào những
gì mình nghe thấy. Bạn có nghe được những thông điệp của cuộc đời bạn
không? Chúng bao giờ cũng là những thành tố còn thiếu sót trong khoa y
học, Chúng tôi thường khuyên các bệnh nhân nên có niềm tin và phải biết tự
đóng góp vào cho sự lành mạnh của chính họ. Chúng tôi gọi đó là "huy động
nguồn nội lực của bệnh nhân", để giúp họ tự chữa thương, hoặc để có thể
đối phó thích ứng hơn, nhìn sáng tỏ hơn, cứng rắn hơn, dám đặt vấn đề hơn
và xử sự khôn khéo hơn. Lẽ dĩ nhiên, nó không thể hoàn toàn thay thế cho
sự chăm sóc của ngành y khoa chuyên môn được. Nhưng nó là một bổ sung rất
cần thiết, nếu bạn muốn sống một cuộc sống lành mạnh thật sự - nhất là
trong một hệ thống y tế còn rất nhiều khiềm khuyết này.
Phát triển được thái độ ấy có
nghĩa là ta làm chủ được đời mình, và từ đó ta sẽ chấp nhận thẩm quyền của
mình hơn. Nó đòi hỏi một điều là ta cần phải biết tin tưởng nơi ta. Mà
buồn thay, nhìn cho sâu, đa số chúng ta lại không có được sự tự tin đó.
Năng lực của chánh niệm có thể
mang lại cho ta niềm tin ấy, nó chữa lành được mặc cảm tự ti của ta. Vì
thật ra tự ti chỉ là một đánh giá sai lầm, một nhận thức không đúng về
thực tại. Bạn có thể thấy được rất rõ điều này khi nhìn sâu vào cơ thể
mình, hoặc là theo dõi hơi thở trong khi thiền tập. Bạn sẽ nhanh chóng
khám phá ra rằng cơ thể mình cũng là một phép lạ. Trong mỗi giây phút, nó
thực hiện biết bao nhiêu là kỳ công, mà không cần đến sự cố gắng của ta.
Vấn đề tự ti phần lớn bắt nguồn từ những ý nghĩ đã bị tô màu bởi quá khứ.
Ta có thói quen đi tìm kiếm những khiếm khuyết của mình và phóng đại chúng
lên to tướng. Và cũng lúc ấy, ta lại xem thường những đức tính tốt của
mình, hoặc đôi khi không thèm biết gì đến chúng. Có lẽ chúng ta vẫn còn bị
vướng kẹt trong những vết thương sâu đậm của quá khứ, và vô tình quên đi
hoặc không hề ý thức được rằng mình cũng có nhiều đức tính rất hay, rất
đẹp khác nữa. Vết thương xưa tuy quan trọng, nhưng những tính tốt của ta
cũng quan trọng không kém, như là tình thương, lòng từ ái của ta đối với
người khác, tuệ giác của cơ thể, khả năng suy nghĩ và phân biệt của ta. Và
chúng ta có một khả năng phân biệt, nhận thức, thương yêu, cao thượng hơn
là mình nghĩ. Dù vậy, thay vì có một cái nhìn quân bình, chúng ta thường
bị kẹt trong thói quen tạo ấn tượng rằng, người khác bao giờ cũng hay ho
và tốt đẹp, còn ta thì lúc nào cũng thua kém.
Tôi cảm thấy rất ngại ngùng khi
người chung quanh đưa tôi lên quá cao. Tôi cố gắng phản chiếu lại những ấn
tượng đó về tôi, hy vọng rằng người ta sẽ ý thức được việc làm ấy, để thấy
rằng năng lượng tích cực của họ dành cho tôi thật ra là của chinh họ. Sự
tích cực ấy là của họ. Nó là năng lượng của họ, và người ta nên giữ gìn
lấy để xử dụng, cũng như nên biết ơn cái cội nguồn ấy. Tại sao họ lại phải
cho đi sức mạnh của mình? Thú thật tôi không cần thêm gì nữa, tự tôi, tôi
cũng đã có đủ vấn đề lắm rồi!
Người ta thường đo lường lòng
kính trọng của nhau bằng những gì kẻ khác có, mà không bằng những gì họ
là... Không gì có thể đem lại cho bạn sự an lạc ngoại trừ bạn.
Ralph Valdo Emerson.
7.- NƠI BẠN ÐẾN LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở
ÐÂY
Có bao giờ bạn nhận thấy rằng,
mình không thể nào trốn tránh được bất cứ một vấn đề gì không? Rằng, không
chóng thì chầy, những sự việc ta không muốn đối phó, cố gắng tránh né,
hoặc phủ đậy lại và giả vờ như là chúng không hề có mặt, rồi một ngày kia
sẽ bắt kịp ta - nhất là khi chúng có liên quan đến những tập quán hoặc nỗi
sợ của mình. Chúng ta thường có một ý niệm lãng mạn rằng, nếu nơi này ta
không vừa ý, ta chỉ cần đi sang nơi khác thì mọi việc tức khắc sẽ thay
đổi. Nếu việc làm của ta không tốt, đổi việc khác. Nếu người bạn đời của
ta không vừa ý, chọn người bạn đời khác. Nếu thành phố ta ở không tốt, dọn
đi nơi khác. Nếu con cái của ta là một vấn đề, giao chúng cho người khác
lo. Ta nghĩ rằng, cái lý do tạo nên sự đau khổ cho mình nằm ở bên ngoài -
như việc làm, nơi chốn. hoàn cảnh hoặc người khác. Chúng ta tưởng rằng,
khi ta đổi chỗ ở, thay hoàn cảnh, thì mọi việc sẽ tự động trở nên tốt đẹp
hơn, và ta có thể bắt đầu trở lại và lập một cuộc đời mới.
Nhưng quan niệm đó có một vấn
đề mà ta quên, là lúc nào ta cũng mang theo khối óc và con tìm mình, và
cái mà người ta gọi là nghiệp quả, ở bất cứ một nơi nào mà ta đến. Ta
không bao giờ có thể trốn tránh được chính ta, cho dù có cố gắng bao
nhiêu. Lý do gì bạn lại nghĩ rằng, sự việc sẽ có thể khác đi hoặc tốt đẹp
hơn ở một nơi xa xôi nào đó? Sớm muộn gì những khó khăn xưa cũng sẽ phát
khởi lên, nhất là khi chúng bắt nguồn từ tập quán suy nghĩ, quan sát và
hành động của ta. Rất thường khi, cuộc sống của ta không còn sinh động, vì
ta không còn biết sống nữa, vì chúng ta không dám nhận lãnh trách nhiệm về
những việc xảy ra và đối phó với những khó khăn của mình. Chúng ta quên
rằng, mình thật sự có thể đạt được một sự trong sáng, hiểu biết và chuyển
hóa ngay giữa những gì là bây giờ và ở đây, cho dù chúng là bất cứ một vấn
đề gì chăng nữa. Nhưng dù sau khi ta đem những khó khăn, vấn đề của mình
đi đổ cho hoàn cảnh và kẻ khác, thì nó bao giờ cũng dễ dàng và ít đe dọa
đối với cái tôi của mình hơn.
Việc đi tìm lỗi, trách móc hoặc
tin rằng ta cần một sự thay đổi ở bên ngoài, ta cần giải thoát ra những
lực lượng đã giữ, ngăn chận không cho ta phát triển và có hạnh phúc,
chuyện ấy rất là dễ. Ta cũng có thể tự trách mình, và dùng nó như là một
phương cách tối hậu để trốn tránh trách nhiệm, cho rằng mình đã làm hư hao
quá nhiều, và không có thể sửa chữa được nữa. Trong cả hai trường hợp, ta
đều tin rằng mình không có khả năng sửa đổi và phát triển và ta cần phải
thôi làm kẻ khác đau khổ bằng cách tự rút lui ra khỏi hoàn cảnh ấy.
Sự tổn thương gây nên bởi cái
nhìn sai lầm đó, có mặt khắp nơi trong cuộc sống. Hãy thử nhìn chung quanh
mình, bạn có thấy những tình thân thuộc bị gãy đổ, gia đình sứt mẻ, con
người mất hết hy vọng, những kẻ lang thang không gốc rễ, lạc loài, đi từ
nơi này đến chốn nọ, từ công việc này sang công việc khác, từ mối tương
quan này đến mối liên hệ kia, từ quan niệm giải thoát này đến quan niệm
khác... với hy vọng mong manh rồi sẽ có một người nào đó, một công việc,
một nơi chốn hoặc một quyển sách nào đó sẽ làm cho mọi việc trở nên tốt
đẹp hơn.
Thật ra, thiền tập tự nó không
ban cho ta khả năng thoát được khỏi những thói quen ấy: đi tìm kiếm ở một
nơi khác cho câu trả lời hoặc giải đáp cho những khó khăn của ta. Trong sự
tu tập, đôi khi người ta cũng hay theo đuổi phương pháp này đến phương
pháp nọ, hoặc từ một vị thầy này đến vị thầy khác, truyền thống này đến
truyền thống khác, mong tìm kiếm một cái gì đó đặc biệt, một pháp môn tối
thượng, một mối quan hệ cá biệt, một giây phút "giác ngộ" tạm thời nào đó
có thể mở tung được cánh cửa giác ngộ. Nhưng việc ấy có thể trở thành một
ảo vọng nguy hại, một cuộc đi tìm bất tận, để ta trốn tránh khỏi phải đối
diện với những vấn đề đau đớn nhất. Ðôi khi vì sự sợ hãi và vì khao khác
muốn có một vị tôn sư giúp đở, người ta thường bị vướng mắc vào những mối
tương quan không lành mạnh. Họ sẵn sàng chịu lệ thuộc vào vị thầy của
mình. Nhưng bạn nên nhớ rằng, dù cho một vị thầy tài giỏi đến đâu, cuối
cùng bạn vẫn phải tự mình tu tập lấy, và sự tu tập ấy phải bắt nguồn từ
chính sự sống của bạn.
Có một số người lạm dụng thời
gian tu học của mình. Thay vì xem đó như một cơ hội để tự quán chiếu, họ
xem khóa tu như một thời gian để củng cố lại những thói quen và tập quán
thường ngày của mình. Vì trong khóa tu, mọi việc có thể trở nên dễ dàng
hơn. Những nhu yếu trong đời sống của ta đều được người khác lo hết. Thế
giới này thấy có ý nghĩa hơn. Tôi chỉ cần ngồi thiền, đi thiền hành, giữ
chánh niệm, sống trong hiện tại, được người khác lo cho miếng ăn, thức
uống, được lắng nghe những lời minh triết từ những bậc đã có một quá trình
tu tập dài lâu và một đời sống tuệ giác. Và rồi tôi sẽ được chuyển hóa,
biết sống với mình một cách trọn vẹn hơn, biết chấp nhận cuộc đời hơn và
có một cái nhìn sáng tỏ về những vấn đề của mình hơn.
Nói chung những việc ấy cũng
không phải là sai. Một khóa tu học nhiều ngày với một vị thầy giỏi, có một
giá trị rất to tát và một tác dụng chữa trị lớn lao, nếu ta chịu quán
chiếu bất cứ những gì khởi lên trong khóa tu. Nhưng ở đây cũng có một sự
nguy hiểm mà ta cần phải cẩn thận. Những ngày tu học của ta có thể trở
thành một sự rút lui khỏi cuộc đời và xã hội, và sự "chuyển hóa" của ta vì
vậy rất là nông cạn. Nó có thể kéo dài được chừng vài ngày, vài tuần, hoặc
vài tháng sau khi khóa tu chấm dứt, và rồi mọi sự đâu lại hoàn đó như xưa.
Và ta lại chờ đợi đến một khóa tu kế, một vị thầy giỏi nào đó, hoặc một
chuyến hành hương sang Á Châu, hay là một ước mơ sẽ có một ngày ta trở
thành một người tốt hơn, mọi việc sẽ được sáng tỏ hơn.
Lối nhìn và suy nghĩ ấy là một
cạm bẩy rất phổ thông. Trên con đường dài, bạn không bao giờ có thể trốn
thoát được chính bạn, chỉ có một sự chuyển hóa mà thôi. Cho dù bạn có xử
dụng bất cứ một phương tiện nào, dù đó là thiền tập, ma túy, rượu, ly dị,
đổi công ăn việc làm... không một biện pháp nào có thể giúp bạn phát
triển, trừ khi bạn dám hoàn toàn đối diện với hoàn cảnh hiện tại và duy
trì chánh niệm. Cho phép những sự gồ ghề của hoàn cảnh mài dũa đi những
góc cạnh còn gồ ghề của bạn. Nói một cách khác hơn, bạn phải dám để cho sự
sống này trở thành vị thầy của mình.
Ðây là con đường của sự tu tập
trong bất cứ một tình cảnh nào của ta với những gì đang xảy ra bây giờ và
ở đây. Vì sự thật tất cả chỉ là vậy thôi: nơi chốn này, mối tương quan
này, nỗi khó khăn này, công việc này... Sự thử thách của việc tu tập chánh
niệm là làm sao đối phó với ngay tình cảnh mà ta đang có mặt - dù cho nó
có khó chịu, chán nản, giới hạn hoặc bất tận, và dính mặc đếu đâu chăng
nữa. Và ta phải biết cố gắng hết sức, hết năng lực của mình, để tự chuyển
hóa, trước khi quyết định buông bỏ để lên đường. Bạn nên nhớ rằng, chỉ có
bây giờ và ở đây, sự tu tập cũng như công phu của ta mới có hiệu quả.
Thế cho nên nếu bạn nghĩ rằng,
sự tu tập của mình quá nhàm chán, không tiến bộ, rằng nơi này không có
điều kiện thích hợp, và bạn đang ước phải chi mình đang ở trong một hang
động nào đó trên Hy mã lạp sơn, hoặc trong một tu viện ở rừng sâu, hoặc
một trung tâm tu học nào đó giữa thiên nhiên, thì mọi việc sẽ được tốt đẹp
hơn, sự tu tập của bạn sẽ được vững mạnh hơn... bạn hãy nên suy nghĩ lại.
Vì khi bạn đến được hang động ấy, tu viện ấy rồi, thì cũng chỉ có bấy
nhiêu thôi, cũng thân này, cũng tâm này, cũng cùng một hơi thở này, mà bạn
đã và đang có trong giây phút hiện tại này đây! Có lẽ sau chừng mười lăm
phút trong hang động bạn sẽ cảm thấy cô dơn, thèm ánh sáng, nóc nhà có thể
bị dột, trời có thể nóng quá hoặc lạnh quá. Nếu bạn đi tu học, có thể bạn
sẽ không thích vị thầy, thức ăn không hạp khẩu vị, phòng ngủ thiếu tiện
nghi... Bao giờ cũng sẽ có một cáigì đó làm bạn bất mãn. Như vậy sao bạn
không buông bỏ nó đi, và chấp nhận ràng có lẽ nơi mà ta đang ở đây là tốt
nhất rồi? Và trong giây phút ấy, bạn sẽ tiếp xúc được với chính mình và có
thể mời gọi năng lực của chánh niệm bước vào và chữa trị. Chừng nào hiểu
được việc ấy, thì những hang động, tu viện trong rừng, các trung tâm tu
học... mới có thể thật sự giúp ích cho bạn. Và dĩ nhiên là ở bất cứ một
nơi chốn nào khác, thời điểm khác, tất cả cùng đều là như vậy.
Chân tôi trượt trên một vách đá
cao, ngay trong giây phút ấy, tôi cảm thấy như những mũi kim đâm xuyên qua
tim và thái dương mình, thời gian vô tận tiếp xúc được với giây phút hiện
tại. Tư tưởng và hành động không khác gì nhau, và đá, không khí, tảng
băng, mặt trời, nỗi sợ và tôi, tất cả chỉ là một. Cái nhiệm mầu là làm sao
để kéo dài giây phút ý thức sáng tỏ ấy vào những thời gian tầm thường khác
trong cuộc sống. Trong mỗi phút giây kinh nghiệm của một con chim ưng, một
con chó sói đang săn mồi, chúng là trung tâm của vạn vật, không còn cần
một bí quyết nào của sự sống chân thật nữa. Trong ngay hơi thở này của
chúng ta, có tàng chứa cái yếu chỉ mà những vị đại sư hằng cố gắng trao
truyền lại, mà một vị Lạt Ma gọi đó là "sự chính xác, mở rộng và tuệ giác
của giây phút hiện tại". Mục đích của thiền tập không phải là để giác ngộ,
mà là để biết chú tâm, dù trong những giây phút tầm thường nhất, thật sự
có mặt, thật sự hiện hữu và mang chánh niệm của giây phút hiện tại này vào
trong mỗi sự kiện của đời sống.
Peter Matthiessen, The Snow
Leopard
8.- LÊN THANG LẦU
Trong đời sống hàng ngày chúng
ta có rất nhiều cơ hội để thực tập chánh niệm. Ðối với tôi, việc đi lên
thang lầu là một dịp rất tốt. Khi ở nhà, tôi làm việc ấy có đến cả trăm
lần. Tôi làm việc ở dưới lầu, nhưng thường khi tôi cần phải lên lầu để lấy
một cái gì đó, tìm một vật gì, hoặc nói chuyện với ai, nên tôi cứ lên và
xuống thang lầu rất thường xuyên.
Tôi khám phá ra rằng, tôi
thường bị lôi kéo bởi ý muốn đi đến một nơi khác, hoặc bởi một sự việc nào
đó, tôi nghĩ rằng nó cần được xảy ra. Khi tôi bắt gặp mình đang phóng
nhanh lên lầu, từng hai nấc thang một, có lúc tôi có chánh niệm đủ để nhận
thức được sự vội vàng đó. Tôi ý thức được hơi thở hào hển của mình, biết
được tim mình đang đập nhanh cũng như là tâm ý. Tôi thấy rằng con người
tôi trong giây phút đó, đang bị thúc đẩy bởi một mục tiêu vội vã nào đó,
mà có khi tôi quên bẵng mất khi đã lên đến nơi.
Khi tôi ý thức được cơn sóng
của năng lượng vội vã ấy trong chánh niệm, lúc đang còn đứng dưới thang
lầu hoặc khi mới vừa bước lên, tôi sẽ cố ý đi chậm lại. Không những tôi
chỉ bước từng nấc thang một, mà còn thật là chậm, có lúc một hơi thở vào
ra cho mỗi bước chân, tự nhắc nhở rằng mình không có một nơi nào cần phải
đến, và không có gì cần thiết đến nỗi mình không thể chờ đợi được, để có
thể thật sự sống trọn vẹn với một giây phút này mà thôi.
Tôi để ý thấy rằng khi tôi nhớ
để làm việc ấy, tôi có thể tiếp xúc được với quá trình lên thang lầu của
mình và được vững vàng hơn khi lên đến nơi. Tôi cũng khám phá ra được một
điều này là không có một sự vội vã nào từ bên ngoài hết. Chỉ có trong tâm
ta, nó bị thúc đẩy bởi sự thiếu kiên nhẫn hoặc những sự lo lắng vô ý thức.
Những sự vội vã trong tâm rất là tinh tế, tôi phải lắng nghe thật kỹ mới
có thể nhận diện được và chúng cũng mạnh mẽ lắm, không có thể làm lay
chuyển nổi. Nhưng dù vậy, ta bao giờ cũng có thể có chánh niệm về chúng
cũng như những hậu quả của chúng, việc ấy sẽ giúp ta khỏi bị hoàn toàn lôi
cuốn theo. Và lẽ dĩ nhiên, tôi cũng có thể thực tập trong khi đi xuống
thang lầu nữa. Trong khi đi xuống ta sẽ dễ bị đi nhanh hơn, và cố ý đi
chậm lại sẽ là một sự thử thách.
Thực tập: Hãy xử dụng những
việc làm hàng ngày nào có tánh cách đều đặn trong nhà, để làm cơ hội cho
ta thực tập chánh niệm. Khi ta đi ra cửa, trả lời điện thoại, tìm kiếm ai,
đi vào nhà tắm, giặt đồ... đều là những cơ hội để ta có thể chậm rãi lại
và tiếp xúc với giây phút hiện tại. Ghi nhận sự thúc đẩy trong tâm mỗi khi
ta nghe tiếng chuông điện thoại hoặc chuông cửa reo. Tại sao bạn cần phải
vội vàng trả lời nó ngay, cho phép nó lôi kéo bạn ra khởi sự sống mà bạn
đang có mặt trong giây phút trước đó? Sự chuyển tiếp ấy có thể nào được
làm từ tốn hơn không? Bạn có thể thật sự có mặt với những gì mình đang
sống không?
Và bạn cũng nên tập có mặt với
những công việc như tắm rửa hoặc ăn uống. Khi bạn tắm, bạn có thật sự là
đang tắm không? Bạn có cảm giác được nước đang chảy trên da, hay là bạn
đang phiêu du ở một nơi nào khác, trôi dạt trong sự quên lãng, mà không hề
biết là mình đang tắm. Ăn uống cũng là một cơ hội rất tốt để thực tập
chánh niệm. Bạn có nếm được mùi vị của thức ăn không? Bạn có ý thức được
mình đang ăn nhanh hay chậm, nhiều hay ít, lúc nào, ở đâu và ăn những gì
không? Bạn có thể nào biến trọn một ngày thành những cơ hội để sống trong
hiện tại, hoặc mang ta trở về với phút giây hiện tại không?
9.- CÔNG VIỆC CỦA TÔI TRÊN TRÁI
ÐẤT NÀY LÀ GÌ?
Công việc của tôitrên trái đất
này là gì? Ðó có lẽ là một câu hỏi ta nên tự hỏi đi hỏi lại nhiều lần.
Bằng không, có thể chúng ta đang làm một công việc của người khác mà không
hề hay biết. Và có lẽ người khác chỉ là một sự tưởng tượng của ta hoặc
cũng đang bị giam cầm như ta.
Là một loài vật biết suy nghĩ,
được gói ghém trong một đơn vị sinh vật mà ta gọi là cơ thể, và cùng một
lúc được sáp nhập vào sự biến đổi không ngừng của sự sống, chúng ta có một
khả năng duy nhất là chịu trách nhiệm về chính sự sống của mình. Nhưng
chúng ta cũng có một khả năng khác có thể để cho sự suy nghĩ làm che lấp
hành trình của mình trong cuộc sống ấy. Chúng ta sẽ không bao giờ nhận
được tính chất cá biệt của cuộc sống mình - nếu ta vẫn cứ sống trong bóng
tối của tập quán suy nghĩ và bị chi phối bởi những điều kiện chung quanh.
Buckminster Fuller, người đã
phát minh ra mái nhà hình vòm cầu bằng toán học, vào năm ba mươi hai tuổi,
một đêm bên bờ hồ Michigan, ông đã nghĩ đến việc tự tử. Chuyện kể rằng,
sau những thất bại liên tiếp khiến ông nghĩ rằng mình đã làm hư hao cuộc
đời mình quá nhiều, cách hay nhất là giả từ hết tất cả, để vợ và đứa con
gái còn nằm nôi khỏi phải chịu khổ đau thêm nữa. Trong những năm qua, bất
cứ một công việc nào ông nhận lãnh hoặc dính líu tới đều bị đổ bể và tan
thành cát bụi, mặc dù ông có một sức tưởng tượng và sáng tạo rất mạnh. Tài
năng đó của ông chỉ được công nhận sau này. Nhưng cuối cùng, thay vì tự
chấm dứt đời mình, ông Fuller quyết định rằng từ đêm đó ông sẽ tiếp tục
sống, nhưng coi như là mình đã chết rồi.
Xem như là đã chết rồi, ông
không còn phải lo lắng về chuyện thành bại của mình nữa. Từ đó ông có thể
đem hết tâm lực ra để sống như một đại biểu của vũ trụ. Cuộc đời còn lại,
ông xem như là một món quà. Thay vì sống cho chính mình, ông lúc nào cũng
tự hỏi: "Quả đất này đang cần điều gì mà chỉ có tôi mới có thể thực hiện
được? Và chúng sẽ không bao giờ xảy ra, nếu tôi không nhận lãnh trách
nhiệm ấy?" Suốt cuộc đời còn lại, lúc nào ông cũng tự hỏi câu ấy và tiếp
nhận những gì đến với ông. Khi ta có thể sống theo lối đó, phục vụ nhân
quần như là một công nhân của vũ trụ, ta có thể tu sửa và đóng góp cho mọi
người bằng chính con người của ta, sự sống của ta. Nhưng nó không còn có
tính cách cá nhân nữa, mà chỉ là một phần của toàn thể vũ trụ rộng lớn
đang tự biểu lộ chính nó.
Chúng ta thường ít khi nào tự
hỏi và suy ngẫm một cách nghiêm chỉnh về những gì con tim mình thật sự
muốn. Tôi muốn đặt nó trong hình thức của một câu hỏi: "Công việc của tôi
trên trái đất này là gì?" hoăc là : "Tôi yêu thích công viêc nào tôi sẵn
sàng trả tiền để làm?" Nếu tôi không tìm được một câu trả lời nào khác hơn
là: "Tôi không biết", thì tôi sẽ tiếp tục tự hỏi. Nếu bạn bắt đầu suy ngẫm
về câu hỏi đó vào năm hai mươi tuổi, thì khi bạn được bốn mươi, năm mươi
hoặc sáu mươi, có lẽ sự suy tư ấy đã dẫn dắt bạn đến những nơi mà bạn
không bao giờ bước chân tới, nếu bạn sống một cuộc đời bình thường, hoặc
chỉ biết theo kỳ vọng của cha mẹ mình.
Bạn có thể đặt câu hỏi đó vào
bất cứ lúc nào và ở b1ất cứ một lứa tuổi nào. Dù ở vào một thời điểm nào
trong cuộc đời, câu hỏi ấy sẽ có một ảnh hưởng rất sâu xa đến những quan
điểm của bạn về sự việc cũng như sự lựa chọn của bạn. Việc ấy không có
nghĩa là những gì bạn làm sẽ thay đổi, nhưng rất có thể bạn sẽ thay đổi
cách nhìn của mình, sự nắm bắt của mình, và có lẽ đường lối làm của mình.
Một khi ông chủ của bạn là vũ trụ này thì sẽ có nhiều việc lý thú xảy ra,
cho dù bạn có bị ai đó cúp lương đi chăng nữa. Nhưng bạn phải biết thật
kiên nhẫn. Lối sống mới này đòi hỏi một thời gian để phát triển. Nhưng lẽ
dĩ nhiên, trước hết ta phải bắt đầu đi cái đã. Khi nào và ở đâu? Bây giờ
và ở đây bao giờ cũng là thời gian và không gian tốt nhất.
Chúng ta không bao giờ có thể
đoán được sự quán xét này sẽ dẫn ta tới đâu. Ông fuller hay nói rằng,
những gì có vẻ dường như đang xảy ra trong giờ phút này, thường thường
không bao giờ là toàn thể câu chuyện. Ông lấy thí dụ về một con ong chẳng
hạn, đối với nó việc đi lấy mật là chuyện quan trọng nhất. Nhưng cùng một
lúc, con ong cũng là một phương tiện mà thiên nhiên xử dụng để chuyên chở
phấn hoa đến những nhụy bông. Mọi sự vật trên vũ trụ này đều có liên hệ
mật thiết với nhau, đó là một nguyên lý thiên nhiên cơ bản. Không có một
sự vật nào trên đời này là đơn độc hết. Mọi việc luôn luôn biểu lộ trên
nhiều lãnh vực khác nhau. Chúng ta phải cố gắng hết sức mình để nhận diện
được sự thăng trầm và phức tạp ấy của cuộc sống, và tập đi theo những con
đường nào là chân thật và vững vàng.
Ông Fuller tin vào một nền tảng
cấu trúc của thiên nhiên, nơi đó mọi hình thái và chức năng của sự vật đều
có một liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Ông tin rằng, bản đồ thiết kế của
thiên nhiên rất bổ ích và có một liên hệ cụ thể đến cuộc sống của chúng ta
trong nhiều lãnh vực. Trước khi ông qua đời, khoa tinh thể học
(Crystallographic) xử dụng quang tuyến X đã chứng minh được rằng, nhiều
loại siêu vi khuẩn đã được kết cấu theo cùng một nguyên lý đo đạt vị trí
(geodesy), mà ông đã khám phá được khi tìm tòi trong môn toán thuộc về
hình khối đa diện (Polyhedron).
Rất tiếc ông đã không sống lâu
để chứng kiến, nhưng ngoài những khám phá và phát minh có tác động lớn của
ông, một lãnh vực mới trong ngành hóa học đã được mở ra, nhờ sự khám phá
bất ngờ của một hợp chất giống như quả banh túc cầu, tương tự như thán tố.
Nó mang những tính chất quan trọng đặc biệt mà sau này được gọi là
Buckminsterfullernes, tên của ông. Ðùa chơi với sự tò mò, đi theo con
đường mình chọn, sự suy tư của ông đã đưa đến những khám phá và thế giới
mà ông không bao giờ có thể ngờ tới. Bạn cũng thế. Ông Fuller không bao
giờ cho mình là đặc biệt, chỉ là một người thích đùa chơi với những ý kiến
và hình tướng mà thôi. Câu châm ngôn của ông là: "Nếu tôi có thể hiểu
được, thì bất cứ ai cũng có thể hiểu được".
Hãy tự tin nơi mình, đừng bao
giờ bắt chước một ai cả. Bạn có thể dễ dàng tặng cho mỗi giây phút của
cuộc sống này, cái năng lượng tích tụ mà bạn đã nuôi dưỡng cả một đời
mình. Nhưng nếu bạn bắt chuớc tài năng của kẻ khác bạn chỉ đóng góp được
phân nữa những gì mình có... Hãy làm những gì được giao phó cho mình, bạn
sẽ không bao giờ có thể nào hy vọng hoặc liều lĩnh quá mức được.
Ralph Waldo Ermersom,
Self-Reliance
10.- NGỌN ANALOGUE
Có những ngọn núi bên ngoài ta
và cũng có những ngọn núi bên trong ta. Chỉ mỗi sự hiện diên của chúng
thôi cũng đã đủ vẫy tay mời gọi thử thách ta rồi. Có lẽ bài học trọn vẹn
mà núi dạy cho ta là chúng ta mang trọn cả một ngọn núi bên trong mình,
núi ở trong lẫn ở ngoài. Có lúc ta cố công tìm kiếm nhưng không bao giờ
gặp, khi nào ta có đầy đủ nghị lực và sự chuẩn bị để đi tìm một con đường,
trước là đến chân núi, sau là đỉnh cao. Hình ảnh leo núi là một ẩn dụ rất
sâu sắc cho những hành trình đi tìm trong cuộc sống, một hành trình tâm
linh, một con đường phát triển, chuyển hóa và hiểu biết. Những cam go gian
khổ mà ta gặp phải trên đường là những thử thách cần thiết, chúng giúp ta
tự cởi mở ra và từ đó nới rộng biên giới của mình hơn. Cuối cùng thì chính
cuộc sống này là một ngọn núi, một vị thầy, cung hiến cho ta những cơ hội
tuyệt vời để giúp ta tu sửa, để phát triển trong năng lực và tuệ giác.
Chúng ta sẽ học hỏi và trưởng thành rất nhiều một khi ta đã chọn đặt chân
vào hành trình này. Ở đây, sự rủi ro rất cao, sự hy sinh rất lớn, mà kết
quả thì không có gì chắc chắn. Cuối cùng thì chính quá trình leo núi tự nó
là một sự khám phá, chớ không phải chỉ là khi nào ta đã đứng trên đỉnh núi
cao.
Trước hết chúng ta cần phải
quan sát xem chân núi như thế nào và sau đó ta mới phải đối diện với những
dốc cao, và cuối cùng, hy vọng là đỉnh núi. Nhưng không ai có thể ở trên
đỉnh mãi được. Hành trình đi lên sẽ không hoàn toàn nếu không có đi xuống,
khi ta bước lùi lại để có thể nhìn được toàn thể ngọn núi từ xa. Khi đã
đứng trên đỉnh núi cao, ta sẽ tiếp nhận được một quan điểm mới, và nó có
thể sẽ thay thế cái nhìn của ta mãi mãi.
Trong một câu chuyện còn dở
dang có tên là Núi Analogue, René Daumal có diễn tả lại một phần cho cuộc
hành trình nội tâm này. Phần mà tôi còn nhớ thật rõ về câu chuyện là những
điều luật mà người leo núi Analogue cần phải tuân theo. Ví dụ, trước khi
tiếp tục leo lên một địa điểm trại cao hơn, ta phải bổ sung lại cho đầy đủ
căn trại mà ta sắp rời bỏ, để cho người đến sau. Và ta phải tìm cách chia
xẻ kiến thức của mình về những gì biết được từ trên cao, để những người
bên dưới có thể được lợi lộc từ những điều ta đã học hỏi được trong hành
trình của mình.
Tôi nghĩ chuyện ấy cũng giống
như những điều chúng ta làm khi đi dạy vậy. Ta cố hết sức để chỉ cho người
khác những gì mình đã biết cho đến bây giờ. Thật ra đó chỉ là một tờ báo
cáo, một bản đồ kinh nghiệm của ta, nó không hề là chân lý tuyệt đối. Và
từ đó hành trình thám hiểm rộng mở. chúng ta đều cùng đang leo trên ngọn
Analogue. Và chúng ta rất cần đến sự giúp đở của nhau.
11.- SỰ LIÊN HỆ MẬT THIẾT
Dường như từ tuổi thơ chúng ta
cũng đã biết rõ rằng, mọi việc trên cuộc đời này đều có một liên hệ, gắn
bó rất chặt chẻ với nhau. Rằng cái này xảy ra vì cái kia xảy ra, muốn cái
này xảy ra thì cái kia phải xảy ra. Ở Tây phương có một câu chuyện cổ tích
nói lên được sự kiện này. Có con chồn nọ lén uống hết sữa trong thùng của
một bà lão, trong khi bà bận đi lượm củi. Khi khám phá ra, bà ta giận dữ
bắt con chồn và cắt đứt đuôi nó. Con chồn khóc lóc xin lại cái đuôi, bà
nói sẽ khâu lại cho sau khi nó trả sữa lại cho bà. Nghe vậy con chồn chạy
đến gặp một con bò và xin chút sữa, con bò nói đem về cho nó cỏ thì nó sẽ
cho sữa. Con chồn chạy ra cánh đồng xin chút cỏ, cánh đồng nói hãy đem cho
ta chút nước. Con chồn vội đến bên một dòng suối để xin, dòng suối nói hãy
đem bình đến đây lấy. Câu chuyện lại tiếp diễn cho đến khi có một bác nông
phu, vì thương hại, cho con chồn những hạt lúa để đem cho con gà, đánh đổi
lấy những quả trứng đem cho người bán hàng rong, anh bán hàng rong đổi cho
một sợi dây chuyền đem về đưa cho một cô con gái để lấy chiếc bình... và
cuối cùng con chồn lấy lại được cái đuôi và sung sướng chạy đi. Cái này
phải xảy ra thì cái kia mới có thể xảy ra. Không có cái gì phát xuất từ
khơi khơi được. Mọi việc đều có một quá khứ, lai lịch của nó. Ngay cả lòng
thương của bác nông phu trong câu chuyện cũng phải có một phát xuất từ
đâu.
Khi ta nhìn sâu vào bất cứ một
quá trình nào, ta cũng sẽ thấy được sự thật ấy. Không có ánh sáng mặt trời
sẽ không có sự sống. Không có nước sẽ không có sự sống. Không có thực vật
sẽ không có sự quang hợp (photosynthesis), không có sự quang hợp sẽ không
có dưỡng khí. Không có cha mẹ sẽ không có ta. Không có xe cộ sẽ không có
thực phẩm cho thành phố. Không có hảng xe sẽ không có xe. Không có nhân
công sẽ không có sắt thép cho hảng xe. Không có quặng mỏ sẽ không có sắt
thép cho nhân công. Không có thực phẩm sẽ không có nhân công. Không có mưa
sẽ không có thực phẩm. Không có mặt trời sẽ không có mưa. Không có những
điều kiện cho sự sắp xếp của các vì tinh tú, những hành tinh trong vũ trụ,
sẽ không có mặt trời, không có trái đất. Nhưng những mối liên hệ này không
phải lúc nào cũng giản dị và nằm trên một đường thẳng. Thường thường thì
chúng dính líu với nhau như một màng nhện chằng chịt và vô cùng vi tế. Vì
vậy sự sống của ta là một màng lưới tương quan gắn bó rất mật thiết, mà
không có một nơi nào là điểm khởi đầu, hoặc điểm chấm dứt tuyệt đối cả.
Vì vậy, chúng ta có thể thấy
được sự vô lý cũng như nguy hiểm, khi ta để cho tư tưởng của mình biến một
sự việc hoặc hoàn cảnh nào đó thành một cá thể cô lập, không ý thức gì về
sự tương quan chằng chịt cũng như tính cách biến đổi của chúng. Bất cứ một
việc gì cũng có dính líu đến bất cứ một việc nào khác, và nó cũng tàng
chứa hết, cũng như được tàng chứa bởi mọi vật khác. Còn gì hơn nữa, vì mọi
vật đều đang chuyển dịch. Những vì tinh tú sinh ra, trải qua các thời kỳ
rồi diệt đi. Các hành tinh cũng có một nhịp điệu hình thành và hoại diệt
riêng của chúng. Những chiếc xe mới chưa ra khỏi xưởng mà cũng đã đang
trên đường đi đến chỗ phế thải rồi. Ý thức này sẽ làm gia tăng sự tán
thưởng của ta đối với luật biến đổi của vạn vật, nó giúp ta bớt xem thường
sự vật, hoàn cảnh cũng như tình tương thân, và biết quý trọng chúng hơn.
Chúng ta sẽ tôn quý cuộc đời này hơn, con người, ý kiến và mỗi giây phút
hơn, nếu ta có thể nhìn sâu và thấy được rằng, bất cứ những gì mình tiếp
xúc đều có thể nối liền ta với toàn thể vũ trụ, và tất cả mọi việc, con
người, nơi chốn, hoàn cảnh đều chỉ có mặt nơi đây trong chốc lát mà thôi.
Nó biến giây phút này trở thành vô cùng lý thú. Mà thật ra, nó khiến cho
giây phút này là tất cả.
Chánh niệm về hơi thở là một
sợi dây, trên đó những hạt chuỗi kinh nghiệm, tư tưởng, cảm thọ, hiểu biết
và ý thức của ta được xỏ qua. Xâu chuỗi ấy là một cái gì mới đối với ta -
nói cho đúng thì nó là một cách nhìn mới, một lối sống mới, lối kinh
nghiệm mới giúp cho ta có được cách hành xử mới trong cuộc đời. Ðường lối
mới ấy của ta dường như có thể nối liền lại tất cả những sự kiện gì có vẻ
như là cô lập. Nhưng thật ra, trong cuộc sống này không có gì là cô lập mà
cần phải được nối liền lại hết. Chính cái nhìn sai lầm của ta đã tạo nên
và duy trì sự cách biệt phân chia ấy.
Cái nhìn và lối sống mới này sẽ
giúp ta ráp lại những mảnh vụn của cuộc sống vào đúng vị trí của chúng.
Mỗi giây phút sẽ được tôn trọng với sự trọn vẹn của nó, nằm trong một sự
trọn vẹn khác to tát hơn. Sự tu tập chánh niệm chỉ đơn giản là một cuộc đi
tìm, khám phá cho ra đường mối của màng lưới nối liền mọi việc ấy lại với
nhau. Rồi đến một lúc nào đó ta sẽ thấy rằng, thật ra mình không cần phải
tìm kiếm gì hết. Chúng ta chỉ ý thức được một sự tương quan mà nó bao giờ
cũng có mặt. Ta đã leo lên đến một cao điểm giúp mình có thể thấy được
toàn diện cảnh vật, và từ đó có thể ôm giữ giây phút hiện tại này trong
chánh niệm. Hơi thở và giây phút hiện tại tương nhập vào nhau, như sợi dây
và hạt chuỗi, chúng tạo nên một cái gì to tát hơn.
Cái này sáp nhập vào cái kia,
những nhóm tan chảy nhập thành các nhóm sinh môi, cho đến một lúc những gì
ta nghĩ là sự sống gặp gỡ và đi vào những gì ta cho rằng không phải là sự
sống: ốc hến và đá, đá và đất, đất và cây cối, cây cối và mưa và không
khí... Và điều lạ lùng là hầu hết những cảm giác mà ta gọi là tôn giáo,
hầu hết những sự phản đối huyền bí mà ta cho là những phản ứng cao thượng
và mơ ước của loài người chúng ta, thật ra chính là một sự hiểu biết và cố
gắng nói lên rằng, con người có liên hệ với tất cả vạn vật, nó gắn bó chặt
chẽ với mọi loài, biết tới hoặc không biết tới. Việc ấy nói thì nghe rất
giản dị, nhưng cảm thọ sâu sắc của nó đã làm nên một Jesus, một St.
Angustine, một St. Francis, một Roger Bacon, một Charles Darwin và một
Einstein. Mỗi người, tùy theo nhịp điệu và giọng nói của mình, đã khám phá
và tái xác nhận với một kiến thức kỳ diệu rằng, tất cả chỉ là một và một
là tất cả - một phiêu sinh vật (plankton), một động vật nhỏ li ti sống
trôi nổi theo dòng nước trong đại dương, và một hành tinh đang xoay và một
vũ trụ đang mở rộng, tất cả đều được cột chặt lại với nhau bằng sợi dây vô
cùng của thời gian.
John Steinbeck và Edward F.
Ricketts.
Sea of Cortez
12.- BẤT BẠO ÐỘNG - AHIMSA
Một người bạn của tôi trở về,
sau mấy năm sống ở Nepal và Ấn Ðộ, vào năm 1973, đã nói như sau: "Nếu tôi
không thể làm gì hữu ích cho cuộc đời, thì ít ra tôi cũng sẽ cố gắng bớt
gây tổn hại chừng nào tốt chừng ấy".
Tôi đã bị truyền lây bởi ý niệm
về bất hại, Ahimsa, ngay lúc ấy tại nơi phòng khách của tôi. Và tôi không
bao giờ quên được giây phút đó. Mặc dù tôi đã từng được nghe nói về thuyết
bất bạo động trước đó. Thái độ bất hại này nằm ngay nơi trái tim của pháp
môn Yoga và cũng là lời tuyên thệ của các sinh viên y khoa trước khi họ
trở thành bác sĩ thực thụ (Hippocratic Oath). Nó cũng là nguyên tắc nền
tảng cho cuộc cách mạng của thánh Gandhi và sự tu tập của cá nhân ông.
Nhưng hình như vì sự chân thành trong lời nói của người bạn tôi, cùng với
một cái gì đó không phù hợp từ một con người mà tôi nghĩ là tôi biết, đã
gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. Tôi chợt thấy rằng đó là một lối sống
rất đẹp đối với thế giới chung quanh cũng như cho chính bản thân tôi. Tại
sao ta không thử cố sống sao để ít gây tổn thương cũng như khổ đau được
chừng nào tốt chừng ấy? Nếu chúng ta có thể sống theo nguyên tắc đó, thì
có lẽ mức độ bạo động và điên rồ trong tư tưởng cũng như trong cuộc sống
của ta, đâu có đến nỗi tệ hại như ngày hôm nay. Và chúng ta cũng sẽ biết
thương yêu mình hơn, trên tọa cụ cũng như trong cuộc đời.
Cũng như mọi quan niệm khác,
bất bạo động và bất hại có thể là một nguyên tắc rất tuyệt diệu, nhưng
chính việc sống đúng theo nó mới thật sự có giá trị. Bạn có thể thực tập
sự từ ái của nguyên tắc bất bạo động đối với chính bạn và đối với những
người chung quanh bất cứ lúc nào.
Có bao giờ bạn cảm thấy mình
khó khăn với chính mình và khinh thường mình quá không? Hãy nhớ đến Ahimsa
trong giây phút ấy. Ghi nhận nó rồi buông bỏ đi.
Bạn có bao giờ nói về một người
nào đó sau lưng họ không? Ahimsa.
Bạn có cảm thấy rằng mình tự
thúc đẩy quá mức, chẳng chú ý gì đến sức khỏe cũng như hạnh phúc của mình
không? Ahimsa.
Bạn có làm cho một người nào đó
khổ đau không? Ahimsa. Ðem áp dụng lý thuyết bất bạo động với những người
không có gì là nguy hại đối với ta bao giờ cũng dễ. Nhưng khi đối diện với
những người hoặc hoàn cảnh nào có vẻ đe dọa, ta sẽ phản ứng ra sao, đó mới
thật sự là bài thử nghiệm.
Ý muốn làm khổ hoặc làm hại kẻ
khác được phát xuất từ một nỗi sợ trong ta. Muốn thực hành sự bất bạo
động, ta cần phải nhìn thấy rõ nỗi sợ của mình, để hiểu và làm chủ nó. Làm
chủ nó có nghĩa là ta dám nhận lãnh trách nhiệm. Nhận lãnh trách nhiệm có
nghĩa là ta không để cho nỗi sợ hoàn toàn sai xử hành động và quan điểm
của mình. Chỉ có chánh niệm về sự dính mắc và ghét bỏ của chính ta, và ý
muốn đối diện với những trạng thái này trong tâm, dù có đau đớn đến đâu,
mới có thể giải thoát ta ra khỏi vòng khổ đau này. Nếu ta không biết duy
trì sự tu tập hàng ngày, những ý tưởng dù tốt lành đến đâu cũng rất là
mong manh, chúng rồi sẽ bị lòng tư lợi đè bẹp mất.
Bất bạo động, Ahimsa, là một
phẩm chất của linh hồn, và vì vậy nó cần phải được thực hành bởi mọi người
trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Nếu nó không thể được thực thi trong tất
cả mọi khoa, thì nó không có một giá trị thực dụng nào.
Nếu bạn không thể thương yêu
được vua George đệ ngủ, hoặc thủ tướng Winston Churchill, thì bạn có thể
bắt đầu nơi vọ, chồng, hoặc con của mình. Hãy đặt hạnh phúc của họ trước
hạnh phúc của bạn trong mỗi giây phút của cuộc sống, và từ đó để cho vòng
thương yêu ấy mở rộng ra. Khi bạn đã cố gắng hết sức mình, sẽ không có
chuyện thất bại.
Mahatma Gandhi
13.- KARMA- NGHIỆP QUẢ
Tôi có lần nghe các thiền sư
dạy rằng, sự tu tập thiền quán hàng ngày có thể chuyển được những nghiệp
quả xấu của mình thành những nghiệp quả tốt. Tôi luôn xem lời tuyên bố ấy
như là một lời quảng cáo rất kỳ quặc. Và phải mất nhiều năm trời, tôi mới
thật sự hiểu được lời nói ấy. Chắc có lẽ nghiệp của tôi là vậy!
Nghiệp quả, Karma có nghĩa là
cái này xảy ra vì cái kia xảy ra. B có một liên hệ nào đó đối với A. Bất
cứ một hậu quả nào cũng có nguyên do đi trước. Và mỗi nguyên do sẽ gây nên
một hậu quả có một kích thước tương xứng với nó, ít nhất là ở trình độ phi
lượng tử (non-quantum). Nói chung khi ta nói về nghiệp quả của một người
nào đó, nó có nghĩa là tổng số của đường hướng sống của họ, cùng với những
yếu tố quan trọng xảy ra chung quanh, gây nên bởi những điều kiện sẵn có
như hành động, ý nghĩ, cảm xúc, cảm nhận và lòng ham muốn. Nhiều khi người
ta lại hay lầm lẫn nghiệp quả với ý niệm về số mạng. Nghiệp quả giống như
sự huân tập của một số xu hướng, chúng giam cầm ta trong một số thói quen
nhất định nào đó, và các thói quen này lại tiếp tay vào việc làm tăng gia
sự huân tập của những xu hướng ấy. Thế nên, rất dễ cho ta bị kềm hãm bởi
nghiệp quả của mình, và ta cho rằng nguyên nhân là do ở một cái gì đó bên
ngoài như vì người khác, hoặc vì hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của ta. Ta
không bao giờ chịu nhận là do nơi mình. Nhưng chúng ta đâu cần phải làm tù
nhân của những nghiệp quả xưa! Vì nghiệp quả có thể thay đổi được. Ta lúc
nào cũng có thể tạo nên những nghiệp quả mới. Nhưng chỉ có một thời gian
duy nhất để bạn có thể thực hiện được việc đó mà thôi. Bạn có thể đoán
được thời gian đó là khi nào không?
Chánh niệm có thể thay đổi được
nghiệp quả. Khi ta ngồi yên, ta không cho phép những ý nghĩ của mình biến
đổi trở thành hành động. Trong giây phút ấy, ta chỉ theo dõi chúng mà
thôi. Nếu quan sát ta sẽ thấy rằng, những ý nghĩ thúc đẩy trong tâm ta
sinh ra rồi sẽ diệt đi, chúng có một sự sống riêng, chúng không phải là ta
mà chỉ là tư tưởng, và ta không phải chịu sự sai xử của chúng. Khi ta
không còn cung cấp và phản ứng theo những sự thúc đẩy ấy, mình sẽ có cơ
hội thấy được trực tiếp rằng tự tánh của chúng chỉ là tư tưởng. Quá trình
này sẽ thiêu hủy hết những ý nghĩ tiêu cực bằng ngọn lửa định lực, an tĩnh
và vô hành. Và cùng một lúc ấy, những tuệ giác và tư tưởng tích cực sẽ
được nuôi dưỡng và bảo vệ bằng chánh niệm. Chánh niệm vì thế có thể sắp
xếp lại những mắt xích trong sợi dây nhân quả, và từ đó có thể cởi trói
ta, giải thoát ta, và mở ra những đường hướng mới trong mỗi giây phút của
cuộc sống. Thiếu chánh niệm, chúng ta sẽ dễ dàng bị đà tiến của quá khứ xô
đẩy vào hiện tại, không hề ý thức được sự dính mắc của mình,và không có
một lối thoát. Ta cho rằng những khổ đau của mình đều do lỗi lầm của kẻ
khác, hoặc của cuộc đời, và vì thế mà quan điểm và cảm thọ của ta bao giờ
cũng hợp lý. Và giây phút hiện tại không bao giờ có thể là một sự bắt đầu
mới, vì ta không cho phép!
Cuối cùng, chính sự thất niệm
của ta đã giam cầm ta. Chúng ta mỗi lúc càng cách xa những tiềm năng chân
thật của mình, và mỗi lúc lại càng bồi đắp thêm cho tập quán trọn đời là
"vô minh" ấy, không nhìn thấy, chỉ biết phản ứng và trách móc mà thôi.
Làm việc với những tội phạm
trong các nhàn tù, tôi được dịp chứng kiến những hậu quả của các nghiệp
"xấu" rất rõ. Mặc dù trong nhà tù cũng chẳng khác gì với bên ngoài bao
nhiêu. Mỗi tù nhân đều có một câu truyện, mà bao giờ cũng là cái này dẫn
đến cái kia. Mà truyện thì bao giờ cũng phải vậy! Cái này dẫn tới cái kia.
Nhiều người vẫn không hiểu được việc gì đã xảy đến với họ, họ đã lầm lỡ
chỗ nào! Thường thường đó là một chuỗi biến có rất dài, bắt đầu từ cha mẹ
và gia đinh, rồi đến luật đường phố, nghèo khó và bạo động, tin vào người
mà ta không nên tin, muốn kiếm tiến mau, uống rượu, hút ma túy để trốn
tránh khổ đau, sự trống vắng... Chúng làm mờ mịt và sai lạc tư tưởng của
họ, cũng như cảm giác, hành động và giá trị, từ đó họ không còn nhận thức
được những ý nghĩ nào là khổ đau, tàn ác, tiêu cực và tự huỷ hoại mình.
Và rồi trong một giây phút, đã
được dẫn tới bởi những giây phút trước đó, họ đột nhiên "không còn biết gì
hết", phạm vào một tội lớn, để rồi kinh nghiệm biết bao là những hậu quả
ảnh hưởng đến tương lai của mình. Bất cứ việc làm nào của ta cũng mang đến
hậu quả, cho dù ta có ý thức được hay không, cho dù ta có bị bắt gặp hay
không. Thật ra lúc nào ta cũng bị bắt. Bị bắt bởi nghiệp quả của chính
mình. Chúng ta tự xây dựng nhà tù cho mình mỗi ngày. Ta có thể nói rằng,
những người tôi gặp trong tù, họ đã tự chọn cho mình con đường ấy. Và
chúng ta cũng có thể nói rằng, họ đã không có một sự lựa chọn nào khác
hơn. Họ không hề ý thức rằng họ có được một sự chọn lựa. Những sự kiện ấy
trong đạo Phật gọi là thiếu chánh niệm, hay là vô minh. chính vì ta thiếu
chánh niệm nên không ý thức được rằng, những ý nghĩ của mình, nhất là khi
chúng bị nhuốm màu sắc tham lam và sân hận, dù cho chánh đáng đến đâu,
cũng có thể làm sai lệch tâm ta cũng như cuộc đời ta. Những trạng thái tâm
thức ấy sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi người, đôi khi to tát mạnh mẽ, nhưng
thường khi rất tinh tế. Chúng ta có thể đang bị giam cầm bởi một tâm thức
bị những mây mù của ý kiến và khái niệm che phủ, mà ta lại bám chặt vào
chúng như là chân lý.
Muốn thay đổi nghiệp quả của
mình, ta cần phải thôi để làm cho những gì làm mờ mịt thân tâm, cũng như
tô màu mọi hành động của mình, đừng xảy ra nữa. Việc ấy không có nghĩa là
ta phải làm những việc tốt. Nó có nghĩa là ta biết được mình là ai và ta
không phải là nghiệp quả của mình, dù đó có là gì chăng nữa trong giây
phút này. Nó cũng có nghĩa là ta ý thức được những gì thật sự xảy ra. Có
nghĩa là thấy rõ được thực tại.
Chúng ta nên bắt đầu nơi nào?
Sao bạn không chọn nơi tâm mình? Vì dù sao chính nơi đó là môi trường của
mọi tư tưởng, cảm thọ, sự thúc đẩy và tri giác của ta được chuyển sang
hành động trong cuộc đời. Mỗi khi bạn ngưng lại những hành động của mình
và thực tập dừng lại, ngay trong giây phút này và ở đây, với một ý định
ngồi xuống, là ta đã bẻ gẫy được dòng luân lưu của nghiệp quả cũ, và từ đó
ta tạo nên một nghiệp quả mới lành mạnh hơn. Gốc rễ của sự chuyển hóa nằm
ngay nơi đó, một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời.
Chính hành động dừng lại ấy,
giây phút của sự vô hành, của một sự quan sát thuần túy, giúp cho bước
chân ta đứng thật vững vàng đối với tương lai. Vì sao? Vì chỉ khi nào ta
thật sự có mặt trọn vẹn trong hiện tai, thì tương lai của ta mới có thể
được trong sáng, rõ ràng và từ ái, và nó cũng bớt bị chi phối bởi sự sợ
hãi, đau đớn, cũng như có thêm nhân phẩm và sự chấp nhận. Chỉ có những gì
xảy ra trong bây giờ mới sẽ xảy ra sau này. Nếu bây giờ ta không có chánh
niệm, tĩnh lặng và từ ái, khi ta đang có cơ hội tốt để bồi dưỡng, thì làm
sao ta lại có thể có được chúng, khi ta bị căng thẳng hoặc gặp những khó
khăn?
Ý nghĩ rằng linh hồn ta sẽ hòa
nhập với niềm hạnh phúc lớn chỉ vì cơ thể ta tan rã là một ảo vọng. Những
gì ta tìm thấy bây giờ, ta sẽ tìm thấy trong lúc ấy.
Kabir
14.- TẤT CẢ LÀ MỘT
Khi chúng ta tiếp xúc được với
sự nguyên vẹn, ta sẽ cảm thấy mình là một với tất cả. Khi ta cảm thấy mình
là một với tất cả, ta sẽ cảm thấy nguyên vẹn.
Khi ta ngồi hoặc nằm yên, bất
cứ lúc nào ta cũng có thể tiếp xúc và siêu vượt được thân thể này, hòa
nhập với hơi thở và vũ trụ, kinh nghiệm được mình trọn vẹn và có thể nhập
vào một cái nguyện vẹn khác to lớn hơn. Nếm được tính chất tuơng quan chặt
chẻ của mọi vật với nhau, sẽ đem lại cho ta một ý thức sâu xa về tính lệ
thuộc, một cảm nhận ta là một phần rất thân thiết với tất cả và thấy được
nơi đâu ta đến cũng là nhà. Chúng ta có thể sẽ tìm thấy và bỡ ngỡ trước
thời gian vô tận ngàn đời vượt ra ngoài sanh tử, và cùng một lúc kinh
nghiệm được tính chất ngắn ngủi của cuộc đời, sự mong manh của tấm thân
này, giây phút này và của mỗi người chúng ta. Khi ta tiếp xúc được với sự
nguyên vẹn của mình trực tiếp qua thiền tập, ta có thể chấp nhận được thực
tại chung quanh, có được một sự hiểu biết và tình thương sâu sắc, và bớt
đi những nỗi thống khổ và lo âu hơn.
Sự nguyện vẹn là nguồn gốc của
tất cả. Khi nhận thức được tự tánh nguyên vẹn của mình rồi, ta sẽ thấy
rằng mình không cần phải đi đâu hoặc làm gì cả. Ta hoàn toàn có tự do để
chọn con đường nào của mình. Sự tĩnh lặng luôn luôn có mặt trong hành động
cũng như sự vô hành của ta. Chúng ta thấy nó lúc nào cũng nằm nơi đây, và
mỗi khi ta tiếp xúc với nó, nếm được nó, lắng nghe nó, thì thân ta cũng sẽ
tiếp xúc, cùng nếm và lắng nghe với ta. Tâm ta cũng sẽ lắng nghe và giây
phút ấy ta biết được thế nào là an lạc. Trong sự cởi mở và tiếp nhận ấy,
ta tìm thấy được một sự quân bình và hòa hợp đang hiện diện ngay ở đây, và
thời gian vô tận đang hiển lộ trong giây phút hiện tại.
Siddhartha lắng nghe. Chàng bắt
đầu chú tâm lắng nghe, miệt mài trong thinh lặng, hoàn toàn hấp thụ, tiếp
nhận tất cả. Chàng cảm thấy rằng, mình bây giờ đã thật sự học được nghệ
thuật lắng nghe. Những âm thanh này, chàng đã nghe chúng nhiều lần trong
quá khứ, những giọng nói khác nhau của dòng sông, nhưng hôm nay chúng có
vẻ khác biệt. Chàng không còn phân biệt đuợc những giọng nói khác nhau nữa
- tiếng vui ca với tiếng than thở, tiếng trẻ thơ với tiếng trưởng thanh.
Tất cả đều lệ thuộc vào nhau: tiếng than vãn của những ai sầu khổ, tiếng
cười vang của bậc minh triết, tiếng khóc la của kẻ phẫn uất, tiếng rên rĩ
của người đang hấp hối. Tất cả đều nương tựa vào nhau, quấn quýt, đan dệt
vào nhau trong ngàn đường lối. Và tấ cả những giọng nói, những mục đích,
những lạc thú, những cái tốt đẹp và xấu xa, tất cả những cái đó nhập lại
thành thế giới này. Chúng là dòng biến cố, là âm nhạc của sự sống. Khi
Siddhartha miệt mài lắng nghe dòng sông, theo bài ca của muôn ngàn tiếng
hát, khi chàng không chỉ lắng nghe theo tiếng khóc hay tiếng cười, khi
chàng không chỉ lắng nghe một âm thanh duy nhất nào, nhưng là lắng nghe
hết tất cả, trọn vẹn, đồng nhất, khi ấy bài ca của ngàn giọng hát chỉ gồm
có mỗi một chữ mà thôi.
Herman Hesse, Siddhartha
Ðiều ta cần biết học lại, là
quan sát và tự mình khám phá, cái ý nghĩa của sự nguyên vẹn.
David Bohm, Wholeness and the
Implicate Order.
Tôi rộng lớn. Tôi chứa đựng hết
tất cả.
Walt Whitman, Leaves of Grass
15.- TỰ TÍNH CỦA MỖI VẬT
Sự nguyên vẹn không thể nào
kinh nghiệm một cách chuyên chế được, vì nó đa dạng vô cùng, nó phản chiếu
và tàng chứa hết tất cả. Như chiếc màn của trời Ðế Thích là một biểu tượng
cho vũ trụ này. Chiếc màn ấy làm bằng trân châu, mỗi hạt châu lại phản
chiếu và tàng chứa hết tất cả những hạt châu khác trong tấm màn. Có người
muốn chúng ta phải tôn kính, thật đồng đều, trước bàn thờ của sự duy nhất.
Họ xử dụng ý niệm đồng nhất như một chiếc xe hủ lô cán dẹp hết tất cả
những sự khác nhau của mọi vật. Nhưng chính từ những tính chất đặc biệt
của cái này và cái kia, từ những thuộc tính cá biệt của chúng - trong đạo
Phật, ta gọi đó là tự tính của mỗi vật - mà tất cả là nền văn hóa, thơ
phú, nghệ thuật, khoa học và sự sống, sự nhiệm mầu cũng như sự phong phú,
có thể hiện hữu.
Tất cả mọi khuôn mặt đều giống
nhau, nhưng dù vậy ta vẫn có thể nhận diện dễ dàng tính chất duy nhất, cá
biệt của mỗi cá nhân. Và chúng ta cũng rất quý trọng sự khác biệt này. Ðại
dương là một cá thể nguyên vẹn, nhưng nó có vô số những con sông nhỏ, mỗi
mỗi đều khác nhau; nó có những dòng nước, độc lập, luôn luôn thay đổi; đáy
biển là một phong cảnh riêng biệt không nơi nào giống nơi nào; và bờ biển
cũng thế. Bầu khí quyển này là nguyên vẹn, nhưng nó có những dòng lưu
chuyển rất đặc biệt, mặc dù chúng ta chỉ cảm thấy chúng như là những làn
gió. Sự sống trên quả đất này là nguyên vẹn, nhưng nó được biểu hiện trong
những cơ thể giới hạn bởi thời gian và không gian, nhỏ vi tế hoặc hiển lộ,
cây cỏ hoặc cầm thú, đã tuyệt chủng hoặc vẫn còn sinh tồn. Vì vậy không có
một nơi nào là duy nhất. Sẽ không một đường lối nào là duy nhất, sự tu tập
nào là duy nhất, phương pháp học nào là duy nhất, cách thương yêu nào là
duy nhất, đường lối phát triển nào là duy nhất, cách sống nào là duy nhất,
cách cảm nhận nào là duy nhất, cũng như một cái biết nào là duy nhất.
Chính sự cá biệt ấy, ta gọi là tự tính của sự vật, mới là quan trọng.
Con chim bạc má,
Nhảy nhót lại kề bên tôi.
Thoreau
Người đàn ông đang hái củ cải
chỉ đường
bằng một củ cải
Issa
Ao cổ
Cóc nhảy vào
Tỏm!
Basho
Nửa đêm. Không sóng,
không gió, chiếc thuyền không
chở đầy ánh trăng.
Ðạo Nguyên
Chắc bạn đã hiểu rồi chứ gì?
16.- CÁI GÌ ÐÂY?
Tinh thần quan sát là nền tảng
của một lối sống chánh niệm. Nhưng sự quan sát không chỉ là một phương
cách để giải quyết vấn đề. Nó là một phương tiện giúp ta tiếp xúc được với
sự bí mật của sống và sự có mặt của ta ở nơi này. Ta thật sự là ai? Ta
đang đi về đâu? Nó có nghĩa lý gì? Thế nào là người... đàn ông, đàn bà,
trẻ thơ, cha mẹ, một người học trò, một công nhân, một ông chủ, một tội
nhân, một kẻ không nhà? Nghiệp quả của tôi là gì? Tôi đang ở đâu. Con
đường nào là của tôi? Công việc của tôi trên trái đất này là gì?
Quán sát không có nghĩa là ta
đi tìm một câu trả lời, nhất là những câu trả lời hời hợt có được từ một
suy tư nghèo nàn. Nó có nghĩa là hỏi mà không cần được giải đáp, chỉ cần
suy nghẫm và cân nhắc, cưu mang sự thắc mắc đó trong ta, để cho nó được
thấn nhuần, sủi bọt, nấu chín và soi sáng bởi chánh niệm, như mọiviệc
khác.
Bạn không nhất thiết cần phải
ngồi yên mới có thể quán sát được. Sự quán sát và chánh niệm có thể xảy ra
cùng một lúc trong cuộc sống thường ngày của ta. Thật ra,sự quán sát và
chánh niệm chỉ là một, chúng tùy theo góc cạnh nhìn của ta. Bạn có thể suy
ngẫm về những câu hỏi như là "Tôi là ai?", "Cái này thật sự là gì đây?",
"Tôi đang đi về đâu?", hoặc là "Công việc nào là của tôi?" trong khi bạn
đang sửa xe, đi dạo, rửa chén, đi xin việc làm, ngồi xem những đứa con của
mình đùa giởn trong một buổi tối sáng trăng.
Trong cuộc sống ta sẽ phải đối
diện với mọi thứ vấn đề: lớn nhỏ, tròn méo... Chúng có từ những việc rất
nhỏ nhen cho đến lớn lao, và vĩ đại có thể đàn áp ta. Sự tu tập là làm sao
ta có thể đối diện với chúng bằng sự quan sát, trong chánh niệm. Nó có
nghĩa là ta cần đặt những câu hỏi như: "Ý nghĩ này, cảm thọ này, khó khăn
này, thật sự là gì?", "Tôi sẽ đối phó với nó ra sao?" hoặc là tôi có dám
đối diện với nó không hay là chấp nhận nó không?"
Bước đầu tiên là chấp nhận rằng
ta có sự khó khăn, có nghĩa là ta đang có một sự căng thẳng hoặc bất an
nào đó. Có khi phải mất đến bốn mươi năm, năm mươi năm ta mới có thể tạm
công nhận được một vài vấn đề mà mình đang cưu mang. Sự quán sát không có
một thờigian nhất định. Nó cũng giống như một cái nồi đang để trên ngăn
giá. Nó sẵn sàng để xử dụng khi nào bạn cần mang nó xuống, bỏ đồ vào và
nấu lên.
Quán sát có nghĩa là ta đặt câu
hỏi và lập đi lập lại nhiều lần. Ta có can đảm để đối diện với vấn đề
không, bất cứ đó là một việc gì, và đặt câu hỏi nó thật sự là gì? Việc gì
đang thật sự xảy ra? Nó đòi hỏi ta phải biết nhìn cho thật sâu sắc và duy
trì sự quán chiếu ấy trong một thời gian, với chánh niệm. Nó sai lầm chỗ
nào? Gốc rễ của vấn đề nằm ở đâu? Bằng chứng đâu? Chúng liên hệ nhau ra
sao? Thế nào là một giải pháp tốt đẹp? Ta hãy tiếp tục quán sát, quán sát
và quán sát.
Nhưng bạn nên nhớ quán sát
không phải là suy nghĩ để tìm tòi một sự giải đáp, mặc dù nó sẽ khơi lên
rất nhiều ý nghĩ có thể giống như những câu trả lời. Quán sát có nghĩa là
ta biết lắng nghe những tư tưởng của mình, mà câu hỏi ta đã khơi dậy. Việc
ấy cũng giống như ta đang ngồi bên cạnh dòng suối tư tưởng của mình, lắng
nghe tiếng nước chảy qua những khe đá, lắng nghe, lắng nghe và theo dõi,
thỉnh thoảng có một vài chiếc lá hoặc cành khô nhỏ trôi qua.
17.- LẬP NÊN MỘT CÁI NGÃ
Giá trị thật sự của một con
người, được xác định bằng sự đo lường và cảm nhận nơi người ấy, đã giải
thoát ra khỏi được cái Tôi của mình bao nhiêu?
[b]Albert Einstein, The World
As I See It.
"Tôi" và "của Tôi" là những sản
phẩm của tư tưởng chúng ta. Larry Rosenberg, một người bạn của tôi tại
thiền viện Cambridge Insight Meditation Center, gọi đó lập Ngã. Ông ta nói
rằng, chúng ta có một khuynh hướng không thoát được cũng không thay đổi
được, là từ bất cứ một sự việc gì, một hoàn cảnh gì, ta cũng có thể lập
nên từ đó một cái "Tôi" và "của Tôi", và ta sinh hoạt trong cuộc đời với ý
niệm hạn hẹp ấy, phần lớn chỉ là mộng tưởng, và sự tự vệ. Không có một
giây phút trôi qua nào lại không có việc đó xảy ra. Nhưng vì quá thông
thường, nó đã trở thành một phần của cơ cấu cuộc đời, hoàn toàn không ai
để ý đến, cũng như một con cá không hề biết tới nước, mặc dù nó đang chìm
đắm trong đó. Bạn cũng có thể tự mình nhận xét được việc này, dù bạn đang
ngồi thiền trong yên lặng hay là sống trong cuộc đời chừng dăm ba phút.
Bất cứ trong một giây phút nào, một kinh nghiệm nào, tư tưởng của ta sẽ
xây dựng từ đó thành một giây phút "của tôi", kinh nghiệm "của tôi", con
"của tôi", ước muốn "của tôi", ý kiến "của tôi", đường lối "của tôi", thẩm
quyền "của tôi", tương lai "của tôi", kiến thức "của tôi", thân "của tôi",
tâm "của tôi", nhà "của tôi", đất "của tôi", cảm thọ "của tôi", xe "của
tôi", hoặc vấn đề "của tôi".
Nếu bạn quan sát quá trình lập
ngã ấy trong chánh niệm, bạn sẽ thấy rằng cái mà ta gọi là Ngã, là Tôi,
thật ra chỉ là một cấu tạo của tâm, và nó không thường hằng. Nếu bạn nhìn
cho sâu thử tìm kiếm một cái Tôi vững vàng, không thể phân chia, một cái
"Tôi" đứng sau những kinh nghiệm "của Tôi", bạn sẽ khám phá ra rằng chúng
chỉ là những tư tưởng. Bạn có thể cho rằng ta là cái tên gọi của mình,
nhưng việc ấy cũng không đúng. Tên của ta chỉ là một nhãn hiệu. Và tuổi
tác, ý kiến của ta, nam hay nữ... thì cũng chỉ có thế thôi. Không có cái
nào có thể làm nền tảng cho cái Tôi.
Khi bạn quán sát cho thật sâu
sắc, dò theo những đường mối dẫn và để thử xem ta là ai hoặc là gì, chắc
chắn bạn sẽ khám phá ra rằng không có một nơi nào thật sự là vững chắc.
Giả sử bạn đặt câu hỏi: "Ai là người hỏi tôi là ai?", cuối cùng câu hỏi ấy
sẽ dẫn đến câu trả lời là : "Tôi không biết". Cái Tôi ấy dường như là một
cấu trúc được biết đến bằng những thuộc tính của nó, mà không có một thuộc
tính nào, dù riêng rẽ hoặc cùng chung lại với nhau, lại có thể cấu tạo nên
một con người. Hơn nữa, cái cấu trúc "Tôi" ấy lại có một khuynh hướng tan
rã và kết tụ lại hầu như trong mỗi giây mỗi phút. Ngoài ra nó cũng còn có
một khuynh hướng cảm thấy mình thua sút, nhỏ bé, bất an và bất định, vì tự
chính hiện hữu của nó đã quá mong manh. Việc ấy tạo nên những khổ đau cho
ta, vì thiếu chánh niệm ta không ý thức được rằng mình đang bị dính mắc
vào cái "Tôi" và "của Tôi" sâu đậm đến chừng nào.
Và rồi lại có những vấn đề của
các sư việc xảy ra chung quanh ta nữa. Cái "Tôi" của ta sẽ cảm thấy sung
sướng khi hoàn cảnh chung quanh ủng hộ cho một niềm tin rằng nó là tốt, và
cảm thấy chán nản khi bị chỉ trích, gặp khó khăn, cản trở hoặc thất bại.
Có lẽ đây cũng là một nguyên do chánh cho những thương tích trong lòng tự
trọng của nhiều người. Thật ra chúng ta không quen với quá trình cấu tạo
này của sự lập ngã. Vì thế ta rất dễ bị mất quân bình và cảm thấy bị tổn
thương, thua sút, khi nhu cầu được chấp thuận, được cảm thấy quan trọng
của ta, không được cung cấp hoặc ủng hộ đầy đủ. Và ta lại đi tìm sự an ổn
của nội tâm qua những phần thưởng ở bên ngoài, qua sự chiếm hữu vật chất
và nương tựa vào những người thương. Thế nhưng, dù bận rộn cố gắng để thực
hiện những việc ấy, ta vẫn không bao giờ cảm thấy được thật sự yên ổn
trong lòng. Ðạo Phật dạy rằng, thật ra không có một cái Tôi nào riêng rẽ
và cô lập hết, chỉ có một tiến trinh xây dựng cái Tôi đang tiếp diễn liên
tục mà thôi. Nếu ta ý thức được rằng, quá trình lập ngã ấy là một tập quán
thâm căn cố đế và ta tự cho mình một ngày nghỉ, thôi cố gắng trở thành một
nhân vật nào đó, chỉ cần giản dị kinh nghiệm, những gì đang thật sự xảy
ra, thì có lẽ ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn và thảnh thơi hơn.
Trong thời đại mới này ở Tây
phương, người ta thường hay nói "Trước hết bạn phải là một người nào đó
(somebody), rồi bạn mới có thể trở thành không là ai hết (nobody) được",
đó là một quan niệm theo tôi nghĩ là hết sức sai lầm. Nó có hàm ý là ta
cần phải có một cảm nhận vững vàng về một cái ngã, rồi ta mới có thể khám
phá được tính chất trống vắng của "vô ngã". Nhưng vô ngã không hề có nghĩa
là "không là ai hết". Nó chỉ có nghĩa là mọi việc trên cuộc sống này đều
có tương quan liên hệ mật thiết với nhau và không có một cái "Tôi" nào
riêng biệt và độc lập. Tôi chỉ có thể là tôi trong sự tương quan với những
sự việc và biến cố khác trong đời sống - như cha mẹ, tuổi thơ, tư tưởng,
cảm thọ, những sự kiện bên ngoài, thời gian... Hơn thế nữa, ta bao giờ
cũng là một nhân vật nào đó rồi, bất cứ là gì đi nữa. Ta là người mà ta
đang là. Những người ấy không phải là tên gọi của ta, tuổi tác của ta,
tuổi thơ của ta, niềm tin của ta, nỗi sợ của ta. Những sự kiện ấy chỉ là
một phần nhỏ, chứ không toàn vẹn.
Vì vậy, khi ta nói rằng mình
không nên cố sức để trở thành một nhân vật nào đó, mà chỉ cần kinh nghiệm
trực ti