NƠI ẤY CŨNG LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở ÐÂY
Nguyên tác: Wherever You Go, There
You Are.
Tác giả:
Jon Kabat-Zinn
Dịch giả:
Nguyễn duy Nhiên.
"Thiền tập áp dụng vào đời
sống hằng ngày"
PHẦN 1
SỰ NHIỆM MẦU CỦA GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
1.- CHÁNH NIỆM LÀ GÌ?
Chánh niệm là một phương pháp
tu tập cổ truyền trong đạo Phật, vẫn còn rất thích hợp đến đời sống hiện
tại của chúng ta ngày nay. Sự thích hợp ấy tự nó không dính dáng gì đến
đạo Phật, hoặc việc trở thành một Phật tử, nhưng nó là sự tỉnh thức dậy,
biết sống hòa hợp với chính mình và thế giới chung quanh. Chánh niệm có
nghĩa là ta biết tự nhìn lại mình, quan niệm sống của mình, và ý thức được
tính chất toàn vẹn của mỗi giây, mỗi phút trong cuộc sống. Và trên hết,
chánh niệm có nghĩa là tiếp xúc được với thực tại, những gì đang xảy ra
chung quanh ta.
Theo quan điểm của Phật giáo,
thì trạng thái tỉnh thức của một người bình thường rất có giới hạn và đang
bị giới hạn. Nói chính xác hơn thì trạng thái ấy giống như của một người
nằm mộng hơn của một người tỉnh thức. Thiền tập sẽ giúp đánh thức ta dậy
từ một giấc ngủ mê của những tập quán hành động máy móc vô ý thức. Và từ
đó ta mới có thể thật sự sống, và có thể xử dụng được hết mọi khả năng của
ý thức cũng như trong tiềm thức của mình. Những bậc thánh nhân, các nhà
Yoga, những vị thiền sư đã thám hiểm và thăm dò lãnh thổ này từ hàng mấy
nghìn năm nay. Và trong tiến trình ấy, họ đã học được những điều có thể
đem lại lợi ích lớn lao cho chúng ta, nhất là những người sống ở Tây
phương, giúp họ làm quân bình lại một nền văn hóa lúc nào cũng muốn chiếm
hữu, kiểm soát thiên nhiên, thay vì ý thức được rằng ta cũng là một phần
rất thân thiết đối với chúng. Kinh nghiệm của những bậc thánh nhân dạy
rằng, khi ta biết quay vào trong và tự quán sát mình cho sâu sắc, bằng
những phương pháp có hệ thống rõ ràng , chúng ta có thể sống một cuộc đời
hòa hợp hơn, hạnh phúc hơn và với nhiều tuệ giác hơn. Nó cũng sẽ đem lại
cho ta một cái nhìn mới về thế giới chung quanh, có thể bổ sung cho những
quan niệm duy vật hạn hẹp đang chi phối tư tưởng và tập tục của chúng ta,
nhất là những người Tây phương. Nhưng quan điểm mới này không nhất thiết
là của riêng gì Ðông phương hoặc là một triết lý nào huyền bí cả. Ông
Thoreau cũng đã nhìn thấy rất rõ vấn đề này, ở New England vào năm 1846 và
ông đã viết về hậu quả nguy hại của nó với một cảm xúc rất mạnh mẽ.
Trong đạo Phật, chánh niệm còn
được gọi là trái tim của thiền quán. Trên căn bản thì chánh niệm là một ý
niệm hết sức đơn giản. Sức mạnh của chánh niệm nằm ở chỗ ta biết thực hành
và áp dụng nó. Chánh niệm có nghĩa là chú ý theo một đường lối đặc biệt:
có mục đích, ở trong giây phút hiện tại và không phán xét. Sự chú ý này sẽ
nuôi dưỡng một ý thức rộng lớn, sáng tỏ và biết chấp nhận thực tại. Chánh
niệm đánh thức ta dậy để nhận thấy sự thật rằng sự sống của ta chỉ có mặt
trong giây phút hiện tại này mà thôi. Nếu chúng ta không có mặt trọn vẹn
trong những giây phút ấy, ta không những bỏ qua những gì quý báu nhất
trong đời mình, mà còn không thể nhận diện được sự giàu có và thâm sâu của
những cơ hội có thể giúp ta trưởng thành và chuyển hóa.
Nếu ta thiếu chánh niệm trong
giờ phút hiện tại, những thói quen và tập quán vô ý thức sẽ có thể tạo nên
nhiều vấn đề khác nữa, thường thường chúng bị thúc đẩy bởi một sự sợ hãi
và bất an sâu xa trong ta. Những vấn đề này sẽ tích tụ qua thời gian, nếu
lâu ngày không được chăm sóc, chúng có thể gây cho ta một cảm giác bị mắc
kẹt và xa lìa thực tại. Và cuối cùng, ta có thể sẽ đánh mất đi niềm tin
vào khả năng giải thoát của chính mình.
Chánh niệm là một phương pháp
tu tập giản dị nhưng có một năng lực vô song, có thể giúp ta thoát ra và
tiếp xúc lại được với tuệ giác và sự sống của mình. Ðây cũng là một phương
cách giúp ta làm chủ lại được đường hướng và phẩm chất của đời mình, trong
đó có những mối tương quan của ta trong gia đình, ngoài xã hội, rộng hơn
nữa là với thế giới và trái đất này, và căn bản hơn hết là với chính ta,
như một con người.
Cây chìa khóa của con đường
giải thoát này có gốc rễ nằm trong đạo Phật, đạo Lão và Yoga, nhưng ta
cũng có tìm thấy nó trong các công trình của những người Tây phương như
Emerson, Thoreau và Whitman, và trong tuệ giác của người Da Ðỏ nữa. Ðó
chính là sự ý thức được tính chất quý báu của giây phút hiện tại và nuôi
dưỡng một mối liên hệ mật thiết với thực tại bằng một sự chú ý liên tục và
thận trọng. Thái độ ấy hoàn toàn khác hẳn với những khi ta xem cuộc sống
này như là một cái gì rất bình thường và đương nhiên!
Thói quen đem hy sinh giây phút
hiện tại này cho một sự kiện nào đó chưa xảy ra, đẩy ta thẳng vào thế giới
của thất niệm, và từ đó ta không còn ý thức được màn lưới chằn chịt nối
liền mọi sự sống với nhau nữa. Sự thất niệm ấy gồm có việc thiếu ý thức và
thiếu hiểu biết về chính bản tâm ta, và ảnh hưởng của nó trên nhận thức và
hành động của ta. Vì vậy sự sống của ta, mối tương quan với người khác, và
với thế giới chung quanh, đã trở nên vô cùng giới hạn. Xưa nay, người ta
vẫn thường cho rằng, những vấn đề căn bản ấy là thuộc lãnh vực tôn giáo,
nằm trong một khuôn khổ tâm linh. Nhưng thật ra chánh niệm không có dính
dáng gì đến tôn giáo hết, ngoại trừ trong ý nghĩa cơ bản của danh từ ấy,
như là một phương tiện để tiếp xúc với sự huyền nhiệm của sự sống, và ý
thức được rằng ta có một mối liên hệ rất mật thiết với hiện hữu chung
quanh ta.
Khi ta biết chú ý một cách cởi
mở, không để bị chi phối bởi sự ưa thích, ghét bỏ của mình, cũng như những
ý kiến, phê bình, xu hướng và mong ước, thì sẽ có những cơ hội mới xuất
hiện và chúng có thể giúp ta thoát ra khỏi được sự trói buộc của vô thức
trong ta.
Ðối với tôi thì chánh niệm là
một nghệ thuật sống tỉnh thức. Bạn không cần phải là một Phật tử hay một
nhà Yoga mới có thể thực tập chánh niệm. Thật ra trong Phật giáo, điểm
quan trọng nhất là ta phải biết trở về với chính mình, chứ không nên cố
gắng trở thành một cái gì khác hơn là mình. Ðạo Phật dạy cho ta biết tiếp
xúc với tự tánh của ta và để cho nó hiển lộ ra một cách không ngăn ngại.
Có nghĩa là ta phải tỉnh thức dậy và nhìn thấy sự vật như chúng thật sự
như vậy. Thật ra chữ Buddha, Phật, có nghĩa là một người tỉnh thức, một
người đã thấy được tự tánh của mình.
Vì vậy, sự thực tập chánh niệm
không hề xung đột với bất cứ một tín ngưỡng hay một truyền thống nào khác
- cho dù đó là tôn giáo hoặc khoa học - và nó cũng không đòi hỏi ta phải
tin vào một hệ thống tư tưởng hoặc một chủ nghĩa nào hết. Chánh niệm chỉ
đơn giản là một phương pháp cụ thể giúp ta tiếp xúc được với chính mình
một cách trọn vẹn hơn, qua một quá trình tự quán chiếu, tự xét soi và hành
động có ý thức. Quá trình ấy không có gì là lạnh lùng, khô khan và vô tâm
hết. Thật ra nền tảng của chánh niệm phải là lòng từ ái, hiểu biết và nuôi
dưỡng. Bạn cũng có thể nghĩ đến chánh niệm như là một lòng nhân từ.
- Có một người học trò nói
rằng: "Khi tôi là một Phật tử thì cha mẹ, bạn bè tôi ai cũng cũng lấy làm
khó chịu. Thế nhưng khi tôi là một vị Phật, thì mọi nguời đều hạnh phúc".
2.- GIẢN DỊ NHƯNG KHÔNG DỄ.
Mặc dù phương pháp tu tập chánh
niệm có thể rất là đơn giản, nhưng nó không có nghĩa là dễ dàng. Sự thực
tập chánh niệm đòi hỏi một nỗ lực và một kỷ luật khá hơn. Việc ấy cũng dễ
hiểu, vì chúng ta phải đương đầu với một năng lực thất niệm rất mãnh liệt,
tức những tập quán và thói quen vô ý thức của ta. Những năng lực ấy rất là
mạnh, chúng phát xuất từ nội tâm ta, đôi khi chúng ta cần một sự cương
quyết cũng như cố gắng chỉ để duy trì sự tu tập của mình, cũng như để bắt
giữ được giây phút hiện tại. Nhưng việc làm ấy rất là thỏa mãn, vì nó giúp
ta tiếp xúc được với những khía cạnh mới của sự sống mà ta đã đánh mất vì
không chịu nhìn thấy.
Việc làm ấy cũng rất là khai
ngộ và giải thoát. Khai ngộ là vì nó giúp ta nhìn thấy sự vật được rõ rệt,
và từ đó ta sẽ có thể hiểu biết được sâu sắc những khía cạnh khác trong
cuộc sống, mà ta đã vì cách biệt hoặc vì không muốn nhìn tới. Việc ấy cũng
có nghĩa là ta sẽ phải tiếp xúc với những cảm xúc sâu kín của mình - như
là khổ đau, tổn thương, giận dữ và sợ hãi - mà chúng ta đã thường tìm cách
trốn tránh hoặc đã không bao giờ cho phép chúng được biểu lộ ra. Và chánh
niệm cũng sẽ giúp ta được thật sự sống với những cảm xúc như là vui sướng,
an lạc và hạnh phúc, mà nhiều khi chúng chỉ trôi thoáng qua trong cuộc đời
vì ta thiếu ý thức. Chánh niệm có tính cách giải thoát vì nó giúp ta thật
sự sống với chính mình và với những gì đang xảy ra chung quanh ta. Nó đem
ta ra khỏi chiếc hố sâu mù mịt của thất niệm. Ngoài ra, chánh niệm còn có
thể gia quyền cho ta nữa, ban cho ta sức mạnh, vì nó giúp ta khai mở được
nguồn năng lượng tích trữ của sự sáng tạo, trí thông minh, tưởng tượng, sự
cương quyết, biết chọn lựa và một tuệ giác tiềm ẩn trong ta.
Chúng ta thường có một khuynh
hướng đặc biệt là không ý thức được rằng mình lúc nào cũng đang suy nghĩ.
Dòng tư tưởng lúc nào cũng trôi chảy không ngừng nghĩ, trong tâm ta không
bao giờ có một giây phút tĩnh lặng. Chúng ta không còn có một khoảng không
gian nào để cho mình yên nghỉ, để thôi đeo đuổi hết việc này đến việc
khác. Và những hành động của ta phần nhiều, thay vì được chánh niệm soi
sáng, thì lại bi sai xử bởi những ý nghĩ và sự thúc đẩy rất tầm thường,
chúng đi ngang qua tâm ta như một dòng sông cuồn cuộn chảy, nếu không phải
là một dòng thác lũ. Và cuộc đời ta bị dòng nước lớn ấy tràn ngập, lôi
cuốn ta về một nơi mà mình không muốn, và chắc chắn có lẽ cũng không biết
là sẽ đi về đâu.
Thiền tập có nghĩa là ta học
phương pháp thoát ra dòng nước lũ ấy, để ta có thể ngồi lại bên bờ, lắng
nghe nó, học hỏi nó, để rồi xử dụng năng lượng ấy theo ý ta, thay vì bị nó
khống chế và áp đảo. Nhưng quá trình ấy không phải là tự nhiên xảy ra
được. Nó đòi hỏi một sự cố gắng, một công phu. Và chúng ta gọi sự cố gắng
để phát triển khả năng sống trong hiện tại ấy là tu tập hoặc thiền tập.
Hỏi: Làm sao con có thể sửa đổi
được một vấn đề khó khăn, khi nó hoàn toàn nằm dưới phần ý thức của con?
Nisargadatta: Bằng sự sống thực
với mình... bằng cách tự quán sát mình trong đời sống hằng ngày trong
chánh niệm, với một ý muốn để tìm hiểu hơn là để phê phán, hoàn toàn chấp
nhận bất cứ việc gì xảy đến, bởi dù sao thì nó cũng đang có mặt, ta phải
biết khuyến khích những gì sâu kín được biểu lộ lên trên bề mặt, và làm
phong phú thêm cho sự sống và tâm thức của ta bằng năng lượng ẩn tàng của
nó. Ðó là sản phẩm của ý thức; nó loại trừ hết những chướng ngại và tháo
mở năng lượng của ta bằng sự hiểu biết về tự tánh của sự sống và tâm thức.
Trí thông minh là cánh cửa của tự do, mà chánh niệm là mẹ đẻ của trí thông
minh.
Nisargadatta Maharaj, I am
That.
3.- DỪNG LẠI:
Người ta thường nghĩ rằng thiền
tập là một hành động gì đó đặc biệt lắm, nhưng sự thật không đúng hẳn như
vậy. Như chúng ta thường nói đùa với nhau: "Ðừng có làm gì hết, ngồi đó
thôi!" Nhưng thiền tập cũng không hẳn là ngồi yên đó thôi. Nó có nghĩa là
dừng lại và sống trong hiện tại, chỉ có vậy thôi. Phần nhiều chúng ta lúc
nào cũng bận rộn chạy loanh quanh, làm hết việc này đến việc khác. Bạn có
thể nào dừng lại trong cuộc đời của bạn không, dù chỉ trong chốc lát thôi?
Có thể là giây phút này không?
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn làm
việc ấy?
Một phương cách để dừng lại là
ta hãy chuyển dời sang một trạng thái có mặt. Hãy xem mình là một nhân
chứng vĩnh viễn và bất diệt. Hãy quan sát giây phút này, không cần có gắng
thay đổi một cái gì hết. Việc gì đang xảy ra? Bạn cảm thấy thế nào? Bạn
thấy gì? Nghe gì?
Có điều rất ngộ nghĩnh là khi
bạn vừa dừng lại, lập tức bạn sẽ rơi vào giây phút hiện tại nầy ngay. Mọi
việc được trở nên đơn giản hơn. Nó giống như là bạn đã qua đời và cuộc
sống vẫn cứ tiếp tục. Nếu bạn có chết đi, mọi bổn phận và trách nhiệm của
bạn sẽ tự động tan biến thành mây khói. Những gì còn sót lại cũng sẽ được
giải quyết bằng một cách nào đó, mà không cần đến bạn. Nó cũng sẽ chết đi
hoặc mờ phai dần theo bạn, cũng giống như số phận của bao nhiêu người khác
đã đi trước. Vì thế, bạn đừng nên lo nghĩ về bất cứ một chuyện gì quá mức.
Nếu sự thật là vậy, có lẽ ngay
bây giờ bạn không cần phải gọi thêm một cú điện thoại nữa làm gì, dù bạn
có cho là cần thiết. Có lẽ bây giờ bạn cũng không cần đọc thêm gì nữa,
hoặc lo làm thêm một việc gì nữa. Khi bạn có thể tập "chết theo ý muốn"
trong khi mình vẫn còn sống, bạn sẽ có thể thoát ra được khỏi sự đốc thúc
của thời gian, và có thể sống với hiện tại. Bằng "cái chết" theo lối ấy,
thật ra bạn lại sẽ biết sống hơn! Sự dừng lại có thể giúp bạn làm được
việc đó. Nó không có gì là thụ động hết. Và khi bạn quyết định bước đi,
thì sự tiến bước ấy sẽ rất khác biệt vì bạn đã dừng lại. Thật ra sự dừng
lại sẽ làm cho hành trình của bạn được sống động, toàn vẹn và tươi đẹp
hơn. Nó giúp ta giữ những sự lo âu và cảm tưởng thua sút của mình trong
khuôn khổ. Nó sẽ dẫn đường cho ta đi.
Thực tập:Trong một ngày bạn hãy
dừng lại, ngồi xuống và có ý thức về hơi thở của mình, ít nhất là vài lần.
Có thể là năm phút hoặc năm giây cũng được. Hãy buông bỏ hết tất cả và
thành thật chấp nhận giây phút hiện tại này, trong đó có cảm thọ và ý
tưởng của bạn về những gì đang xảy ra. Trong giây phút này, đừng cố gắng
thay đổi bất cứ một điều gì, chỉ thở và buông bỏ. Thở và chấp nhận. Hãy để
cho những ý muốn thay đổi trong giờ phút hiện tại này chết đi. Trong tâm
bạn, trong ý bạn, hãy cho phép giây phút này được như là nó thật sự có
mặt, và cho phép bạn được là bạn, không cần phải thay đổi gì cả. Và tiếp
đó, khi nào sẵn sàng, bạn hãy đi theo sự hướng dẫn của con tim mình, với
chánh niệm và bằng một sự cương quyết.
4.- CHỈ CÓ VẬY THÔI:
Một tranh hí họa trong tạp chí
New Yorker: Hai vị sư, một già, một trẻ, ngồi xếp bằng tọa thiền trong
thiền đường. Vị sư trẻ thỉnh thoảng liếc nhìn vị sư già với ánh mắt dò
hỏi, vị sư già quay sang anh ta nói: "Không có gì xảy ra hết. Chỉ có vậy
thôi".
Thật vậy, thông thường khi
chúng ta quyết định làm một việc gì, tự nhiên ta muốn có được một kết quả
nào đó cho công trình của mình. Chúng ta muốn thấy một kết quả, cho dù đó
chỉ là một cảm thọ an vui nhẹ nhàng. Tôi thấy có một ngoại lệ duy nhất
trong thiền tập là một việc làm có ý thức và có phương pháp của con người,
mục đích không phải để tự cải tiến hoặc đưa chúng ta đi đâu hết. Thiền tập
giúp cho ta giản dị nhận thức được thực tại của mình trong bây giờ và ở
đây. Có lẽ giá trị của nó là ở chỗ đó. Và có lẽ trong cuộc đời chúng ta
cần nên làm một việc nào đó, chỉ là làm là vì làm thế thôi.
Nhưng nếu ta gọi thiền tập là
một hành động thì chữ ấy cũng không đúng lắm. Tôi nghĩ diễn tả nó như là
một sự sống thì có lẽ chính xác hơn. Khi chúng ta hiểu được rằng tất cả
"chỉ có vậy thôi", thì ta sẽ có thể buông bỏ được quá khứ và tương lai, để
tỉnh dậy và sống với hiện tại, trong chính giây phút này đây.
Nhưng thường thường ít khi nào
người ta hiểu được sự thật này ngay. Họ muốn tập thiền để được nghỉ ngơi,
để kinh nghiệm một trạng thái đặc biệt nào đó, để được trở thành một người
tốt hơn, để làm giảm sự căng thẳng, đau đớn, để thoát ra những tập quán,
thói quen ngàn đời của mình, hoặc để được giải thoát và giác ngộ. Mặc dù
đó là những lý do chánh đáng, nhưng chúng có thể sẽ trở thành những chướng
ngại nếu ta hy vọng rằng chúng phải xảy ra, chỉ vì ta bắt đầu tập thiền.
Ta sẽ bị kẹt vào sự ước muốn có được một "kinh nghiệm đặc biệt" nào đó.
hoặc tìm kiếm một dấu hiệu để chứng tỏ là mình đang tiến bộ và trong một
thời gian ngắn nếu không cảm thấy có gì đặc biệt, có thể ta sẽ bắt đầu
nghi ngờ con đường mình chọn, hoặc tự hỏi, không biết mình thực hành "có
đúng cách" không?
Trong đa số các lãnh vực học
tập thì những đòi hỏi, thắc mắc của ta kể trên rất là chính đáng. Lẽ dĩ
nhiên sớm muôn gì chúng ta cũng cần phải nhìn thấy sự tiến bộ của mình, để
được khuyến khích và để tiếp tục sự thực tập. Nhưng trong thiền tập thì
khác. Dưới ánh mắt của thiền quán, mỗi trạng thái là một trạng thái đặc
biệt, mỗi giây phút là một giây phút đặc biệt.
Khi chúng ta bỏ đi ý muốn có
một sự việc nào khác hơn xảy ra trong giây phút hiện tại, là ta đã bước
một bước rất dài và rộng để tiếp xúc với thực tại, ngay bây giờ và ở đây.
Ví dù ta có muốn đi đến bất cứ một nơi nào, hoặc phát triển theo một lối
nào, ta chỉ có thể bắt đầu từ nơi mình đang đứng đây. Và nếu ta không biết
rõ mình đang ở đâu - một cái biết chỉ có thể phát sinh trực tiếp từ sự tu
tập chánh niệm - chúng ta có thể chỉ đi lòng vòng, dù mình có cố gắng và
ước muốn bao nhiêu. Vì vậy trong thiền tập, phương cách hay nhất để đi đến
một mục tiêu nào đó là ta hãy hoàn toàn buông bỏ ý muốn cố gắng để đi đến
nơi ấy.
Nếu tâm bạn không bị che mờ bởi
những sự việc không cần thiết, thì ngay bây giờ là mùa tốt đẹp nhất của
đời bạn.
Wu Men
Thực tập:Thỉnh thoảng bạn nên
tự nhắc nhở rằng chỉ có vậy thôi. Thử xem có bất cứ một vấn đề nào ta
không thể áp dụng câu đó không? Bạn nên nhớ rằng, chấp nhận giây phút hiện
tại không có nghĩa là ta chịu thua hay đầu hàng những gì xảy ra trước mắt.
Nó đơn giản có nghĩa là ta công nhận và ý thức rõ ràng rằng việc gì đang
xảy ra, nó thực sự xảy ra. Thái độ chấp nhận không hề chỉ cho bạn biết
việc gì cần phải làm. Việc gì sẽ xãy ra kế tiếp, bạn chọn một phản ứng
nào, những điều ấy hoàn toàn tùy thuộc vào sự hiểu biết của bạn về giây
phút hiện tại này. Bạn nên tập hành động với một ý thức sâu xa rằng, thật
ra sự việc chỉ có vậy thôi. Nó có ảnh hưởng gì đến quyết định và phản ứng
của bạn không? Bạn có thể suy nghiệm về việc đó một cách chân thành không,
bây giờ có thể là mùa tốt đẹp nhất, thời điểm tốt đẹp nhất trong đời bạn?
Nếu đó là sự thật thì bạn sẽ làm gì?
5.- NẮM BẮT HIỆN TẠI:
Phương pháp hay nhất để nắm bắt
hiện tại là chú ý. Ðó cũng là một cách để ta phát triển chánh niệm. Chánh
niệm có nghĩa là tỉnh thức. Nó có nghĩa là khi ta ý thức được việc mình
đang làm. Nhưng thường thường mỗi khi ta bắt đầu tập trung sự chú ý của
mình vào những gì đang có mặt trong tâm, ta lại hay bị rơi trở về thất
niệm, đi vào một trạng thái hành xử tự động vô ý thức. Sự rơi trở về thất
niệm này đa số phát sinh từ một sự bất mãn với những gì ta thấy hoặc cảm
nhận trong giây phút hiện tại, và từ đó ta mong muốn có một sự thay đổi,
một cái gì khác hơn.
Bạn có thể quan sát được thói
quen trốn tránh giây phút hiện tại này của tâm rất dễ dàng. Bây giờ bạn
hãy thử chú ý vào bất cứ một đối tượng nào đó, trong một thời gian ngắn
thôi. Bạn sẽ khám phá ra rằng, muốn duy trì chánh niệm, ta phải liên tiếp
đánh thức mình dậy và có ý thức. Chúng ta thực hiện việc đó bằng cách luôn
nhắc nhở mình: hãy nhìn, hãy cảm xúc, hãy sống. Chỉ giản dị thế thôi...
đánh thức mình dậy trong giây phút này sang giây phút kế, duy trì một
chánh niệm trong khoảng thời gian vô tận, có mặt trong bây giờ và ở đây.
Thực tập: Trong giây phút này,
bạn hãy tự hỏi mình: "Tôi có tỉnh thức không? Tâm tôi bây giờ đang ở đâu?"
6.- Ý THỨC VỂ HƠI THỞ
Chúng ta cần phải có một đối
tượng cho sự chú ý của mình, một dây neo để giữ ta lại trong giây phút
hiện tại và đưa ta trở về, mỗi khi tâm mình trôi dạt đi khắp nơi. Hơi thở
của ta có thể làm nhiệm vụ của chiếc neo ấy. Nó có thể là một đồng minh
chân thật của ta. Mỗi khi có ý thức về hơi thở là ta tự nhắc nhở rằng,
mình đang sống trong bây giờ và ở đây, vì vậy ta hãy có mặt trọn vẹn với
những gì đã và đang xảy ra.
Bạn biết không, hơi thở có thể
giúp ta bắt giữ được giây phút hiện tại. Ðiều lạ lùng là rất nhiều người
trong chúng ta không biết đến việc đó. Dù sao hơi thở lúc nào cũng có mặt
sờ sờ ở đây, ngay trước mũi ta đó! Chắc các bạn cũng tưởng rằng rồi thế
nào một ngày người ta cũng sẽ khám phá ra được công dụng của nó! Chúng ta
thường có câu: "Bận đến nổi không có thì giờ để thở", để chỉ cho ta thấy
rằng giây phút này và hơi thở, chúng liên hệ với nhau rất mật thiết.
Muốn xử dụng hơi thở để tu tập
chánh niệm ta chỉ cần tập nhận thức được cảm giác của chúng: cảm giác của
hơi thở đi vào thân ta và cảm giác của hơi thở đi ra khỏi thân ta. Tất cả
chỉ có vậy thôi. Cảm giác hơi thở của mình. Thở và biết được rằng mình
đang thở. Nó không có nghĩa là ta phải cố thở cho sâu, hoặc kiểm soát hơi
thở của mình, hoặc cố gắng cảm giác một cái gì đặc biệt, hoặc thắc mắc
không biết mình làm có đúng hay không. Và nó cũng không có nghĩa là ta suy
nghĩ về hơi thở của mình. Nó chỉ là một ý thức đơn thuần về hơi thở vào và
ra của ta mà thôi.
Sự thực tập chánh niệm không
nhất thiết mỗi lần phải kéo dài lâu. Xử dụng hơi thở để mang ta trở về
giây phút hiện tại không mất chút thì giờ nào hết, chỉ là một thay đổi nhỏ
trong sự chú ý của ta. Nhưng nó sẽ đem lại một khám phá rất lớn, nếu ta
biết nối liền những giây phút chánh niệm ấy lại với nhau, từng hơi thở
một, từng giây phút một.
Kabir hỏi: Này con, hãy nói cho
ta nghe. Thượng Ðế là gì?
Ngài là một hơi thở bên trong
một hơi thở.
Thực tập: Hãy có mặt và ý thức
trọn vẹn một hơi thở vào của mình, trọn vẹn một hơi thở ra, giữ cho tâm ta
được hoàn toàn cởi mở và tự do trong một giây phút này thôi, một hơi thở
này thôi. Buông bỏ hết mọi ý niệm về việc sẽ đi đến đâu hoặc mong chờ một
cái gì khác xảy ra. Tiếp tục trở về với hơi thở mỗi khi tâm ta suy nghĩ
lam man, nối những hạt thời gian chánh niệm lại với nhau thành một xâu
chuỗi, từng hơi thở một. Thỉnh thoảng bạn nên thực hành những điều ấy
trong khi đọc quyển sách này.
7.- THỰC TẬP, THỰC TẬP VÀ THỰC
TẬP
Kiên trì thực tập là yếu quyết.
Khi bạn bắt đầu quen với hơi thở của mình rồi, bạn sẽ khám phá ra rằng
thất niệm có mặt ở khắp mọi nơi. Hơi thở chỉ cho ta thấy, sự thất niệm, vô
ý thức, không phải chỉ nằm trong lãnh vực tu tập của ta, mà nó chính là
lãnh vực tu tập của ta. Nó còn cho ta thấy, rất nhiều lần là có mặt với
hơi thở của mình không phải là một chuyện dễ, cho dù ta có muốn. Có rất
nhiều chuyện xảy ra, xen vào lôi ta đi, không cho ta tập trung. Chúng ta
thấy được tâm mình đã bị chất chứa quá nhiều qua năm tháng, như một căn
nhà kho, đầy những đồ phế thải, vô dụng. Và chỉ cần ý thức được bấy nhiêu
thôi, cũng đã là một bước tiến rất xa trên con đường tu tập của ta rồi.
8.- THỰC TẬP KHÔNG PHẢI LÀ DIỄN
TẬP
Ở đây chúng ta thường dùng chữ
thực tập (practice) để diễn tả một công phu trau dồi, phát triển chánh
niệm, nhưng ta không nên hiểu theo nghĩa thông thường như là một sự diễn
tập (rehearsal), được lập đi lập lại nhiều lần, để sự trình diễn của ta
được thuần thục hơn, hoặc sự tranh đua có nhiều thành quả hơn.
Chánh niệm có nghĩa là ta thực
sự sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Ở đây không có một sự trình
diễn nào hết. Chỉ có chính giây phút này thôi. Chúng ta cũng không hề cố
gắng cải tiến để đi về đâu cả. Ta không cần chạy theo một tuệ giác hoặc
một cảnh tượng đặc biệt nào. Ta cũng không ép buộc mình phải trở nên vô
tư, tĩnh lặng hoặc là thanh thản. Và chắc chắn là chúng ta không hề đề cao
một thái độ vị kỷ hoặc chỉ biết bận rộn lo nghĩ về mình. Thật ra ta chỉ
đơn giản muốn kêu gọi mình tiếp xúc với hiện tại cho thật trọn vẹn, để ta
có thể là hiện thân của một sự tĩnh lặng, chánh niệm và điềm tĩnh, ngay
bây giờ và ở đây.
Lẽ dĩ nhiên, khi ta biết kiên
trì tu tập và với một sự tinh tấn đúng mức, thì sự tĩnh lặng, chánh niệm
và trầm tĩnh sẽ tự nhiên được phát triển và trở nên thâm sâu hơn, nhất là
khi ta biết an trú trong sự tĩnh lặng và quan sát nhưng không phê bình
hoặc phản ứng. Ðược như vậy, hiểu biết và tuệ giác, an lạc và hạnh phúc,
chắc chắn thế nào cũng sẽ đến với ta. Nhưng không phải là ta tu tập với
mục đích để đạt được những kinh nghiệm này, hoặc để có thêm chúng nhiều
hơn.
Tinh thần của chánh niệm là
thực tập vì thực tập. Chúng ta phải biết tiếp nhận mỗi giây phút như là nó
đến - dễ chịu hay khó chịu, tốt hay xấu - và làm việc với nó, vì đó là
những gì đang thật sự có mặt ngay bây giờ. Có được thái độ này thì cuộc
sống tự nó sẽ trở thành một sự tu tập. Và khi ấy, thay vì ta là người thực
hành chánh niệm, chánh niệm sẽ trở lại "thực hành" ta, hay nói một cách
khác, sự sống tự nó sẽ trở thành một vị thiền sư, một vị thầy hướng dẫn ta
trên con đường tu tập.
9.- BẠN KHÔNG CẦN PHẢI TÌM KIẾM
XA XÔI:
Hai năm của Henry David Thoreau
sống tại hồ Walden quả thật là một kinh nghiệm bản thân rất cá biệt về
chánh niệm. Ông đã dám tạm gác lại cuộc đời của mình để được vui thú với
sự kỳ diệu và đơn sơ của giây phút hiện tại. Nhưng thật ra bạn không phải
làm một hành động gì lập dị, đi tìm một nơi xa xôi hẻo lánh nào đó để tu
tâp chánh niệm. Trong cuộc sống hằng ngày, bạn chỉ cần bỏ ra chút thì giờ
cho sự thinh lặng và ngừng nghĩ, và chú ý đến hơi thở của mình là đủ lắm
rồi.
Hồ Walden đang có mặt trọn vẹn
trong hơi thở của ta. Sự huyền diệu của bốn mùa thay đổi cũng có mặt trong
hơi thở; cha mẹ, con cháu ta cũng có mặt trong hơi thở; thân và tâm ta
cũng nằm đó trong mỗi hơi thở của mình. Hơi thở là một dòng sông nối liền
thân với tâm, nối liền ta lại với tổ tiên và con cháu ta, nối liền thân
này với hiện hữu chung quanh. Hơi thở là dòng sông của sự sống. Trong dòng
nước mát ấy chỉ có những con cá vàng óng ánh đang bơi lội. Muốn thấy được
chúng, ta chỉ cần nhìn qua ống kính của chánh niệm và ý thức.
Thời gian chỉ là một dòng suối
mát mà tôi thường hay đến đi câu. Tôi cúi xuống vóc nước uống. Trong khi
uống, tôi nhìn thấy được đáy cát và chợt hiểu rằng lòng suối rất cạn. Dòng
nước mỏng manh trượt êm trôi đi, nhưng thời gian vô tận vẫn còn ở lại đó.
Tôi sẽ uống cho thật sâu; cá trên bầu trời, mà trong lòng suối lấp lánh
những viên đá cuội là các vì sao.
Trong khoảng thời gian vô tận
này, thật ra có một cái gì đó rất là chân thật và nhiệm mầu. Nhưng tất cả
những thời gian nơi chốn và hoàn cảnh ấy đều là bây giờ và ở đây. Thượng
đế cuối cùng rồi cũng chỉ có thể hiện hữu trong giờ phút hiện tại này, và
sẽ không bao giờ thánh thiện hơn, cho dù có trải qua bao nhiêu thời đại đi
chăng nữa.
Thoreau, Walden.
10.- TỈNH THỨC DẬY
Khi ta bắt đầu nghiêm chỉnh
thực hành thiền tập bằng cách bỏ ra chút thì giờ mỗi ngày, việc ấy không
có nghĩa là ta sẽ không còn biết suy tính, không thể chạy đây đó, hoặc lo
giải quyết công chuyện thường ngày của mình được nữa. Nó chỉ có nghĩa là
chúng ta sẽ ý thức được việc mình đang làm, vì ta đã biết dừng lại một
chút để nhìn, để lắng nghe và để hiểu.
Ông Thoreau đã ý thức được điều
này rất rõ tại hồ Walden. Trong lời kết thúc, ông viết: "Bình minh chỉ có
thể xuất hiện trên những gì ta tỉnh thức dậy". Nếu chúng ta muốn nắm bắt
được thực tại này, trong khi chúng vẫn còn là của ta, ta cần phải tỉnh
thức dậy trong giây phút hiện tại. Bằng không, ngày tháng, có khi cả cuộc
đời, sẽ lần lượt trôi qua mà ta không hề hay biết.
Một phương pháp thiết thực để
thực hiện được việc ấy là mỗi khi nhìn một người nào, ta nên tự hỏi ta, ta
thật sự thấy người đó không, hay đó chỉ là những ý tưởng của ta về họ?
Nhiều khi ý nghĩ của ta cũng giống như là một cặp mắt kính mộng tưởng. Khi
mang vào rồi, ta chỉ thấy những người chồng mộng tưởng, người vợ mộng
tưởng, đứa con mộng tưởng, việc làm mộng tưởng, đồng nghiệp mộng tưởng,
bạn bè mộng tưởng... Và rồi chúng ta sống trong hiện tại mộng tưởng, cho
một tương lai cũng sẽ là mộng tưởng y như thế. Vô tình chúng ta lại tô mầu
và thêu dệt thêm lên mọi việc. Mặc dù những sự việc trong mộng mơ đôi khi
cũng biến đổi, và chúng có thể đem lại cho ta những ảo giác sống động như
thật, nhưng nó cũng vẫn chỉ là một giấc mộng mà ta đang bị vướng mắc. Nếu
ta biết bỏ cặp kính ấy xuống thì có lẽ, tôi nói có lẽ thôi, chúng ta sẽ có
thể thấy được chính xác hơn một chút, những gì đang thật sự có mặt.
Ông Thoreau cảm thấy cần thiết
phải tìm đến một nơi hẻo lánh, quạnh quẻ trong một thời gian dài (ông đã
sống một mình hai năm hai tháng tại hồ Walden) để thực hiện việc ấy. "Tôi
đi vào rừng vì tôi muốn sống một cách có chủ tâm, muốn đối diện với những
gì là thật thiết yếu của sự sống, và để xem có thể học hỏi được những gì
từ nơi chúng. Tôi không muốn rồi một ngày nào khi tôi chết, lại khám phá
ra rằng, tôi chưa từng bao giờ thật sự sống".
Niềm tin sâu xa nhất của ông là
: "Ảnh hưởng được phẩm chất của một ngày là một nghệ thuật cao thượng
nhất... Tôi chưa từng bao giờ gặp được một người nào thật sự là tỉnh thức.
Làm sao tôi lại có thể nhìn rõ mặt họ được".
Nội tâm của tôi ơi, hãy lắng
nghe đây,
Ðại hồn, một vị thầy đã đến rất
kề,
Tỉnh dậy, hãy tỉnh dậy đi thôi!
Chạy đến phủ phục bên chân
ngài,
Người đang đứng bên cạnh đầu
ngươi đó.
Ngươi đã ngủ mê hằng triệu
triệu năm nay,
Sao sáng hôm nay người không
tỉnh thức dậy.
Kabir
Thực tập:Thỉnh thoảng bạn hãy
tự hỏi mình: "Bây giờ tôi có thật sự đang tỉnh thức không?"
11.- GIỮ CHO ÐƠN GIẢN:
Nếu bạn quyết định bắt đầu thực
tập thiền quán, bạn không cần phải đi loan báo với người chung quanh, bạn
cũng không cần phải giải thích lý do hoặc lợi ích của sự thiền tập làm gì.
Thật ra những việc đó có thể làm hao tán năng lượng còn yếu ớt và lòng
nhiệt tình của bạn rất mau chóng, và đôi khi chúng còn ngăn trở sự cố
gắng, không cho bạn tập trung những nỗ lực của mình nữa. Phương pháp hay
nhất là bạn hãy cứ tu tập mà không cần phải quảng cáo làm gì.
Những khi bạn cảm thấy có một
sự thúc đẩy, muốn nói cho người khác nghe về thiền tập, rằng nó tốt đẹp
như thế nào, ảnh hưởng đến bạn ra sao, hoặc muốn thuyết phục người khác là
thiền tập cũng sẽ tốt cho họ, bạn hãy xem chúng như là những ý nghĩ và cứ
tiếp tục sự tu tập của mình. Hãy để yên, sự thúc dục tạm thời ấy rồi sẽ
qua, và mọi người sẽ được lợi lạc - nhất là bạn.
12.- BẠN KHÔNG THỂ NGĂN ÐƯỢC
NHỮNG CƠN SÓNG, NHƯNG BẠN CÓ THỂ TẬP CỠI CHÚNG ÐƯỢC
Có người quan niệm rằng, thiền
tập là một phương pháp giúp ta thoát ra khỏi những áp lực của cuộc sống,
cũng như của chính bản tâm ta. Nhưng sự thật những quan điểm ấy không được
chính xác cho lắm. Thiền quán không có nghĩa là đi ngăn chận hoặc trốn
tránh bất cứ một vấn đề gì. Nó có nghĩa là ta nhìn thấy sự vật một cách rõ
ràng, và tự chọn cho mình một mối tương quan khác đối với chúng.
Những người tìm đến y viện của
chúng tôi, họ học được một sự thật này rất mau chóng, là sự mệt mỏi, căng
thẳng là một phần tất nhiên của cuộc sống. Mặc dù chúng ta có thể tập lựa
chọn khôn ngoan, tránh không để cho vấn đề trở nên tệ hại hơn, nhưng trong
đời có biết bao nhiêu việc hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của ta. Sự
căng thẳng là một phần của sự sống, một phần của con người, là thực chất
của thân phận con người.
Nhưng điều ấy không có nghĩa là
chúng ta nhất thiết phải trở thành nạn nhân của những sức mạnh lớn lao ấy
trong cuộc sống. Chúng ta có thể học cách làm việc với chúng, tìm hiểu
chúng, biết chọn lựa và biết xử dụng những năng lượng ấy, để có thể phát
triển trong sức mạnh của từ bi và tuệ giác. Thái độ sẵn sàng chấp nhận và
làm việc với bất cứ những gì đang có mặt là trái tim của thiền tập.
Một cách để hiểu được sự hoạt
động của chánh niệm là bạn hãy nghĩ đến tâm mình như một mặt hồ hay mặt
đại dương, chúng lúc nào cũng có sóng. Có lúc sóng lớn, có lúc sóng nhỏ,
có lúc rất tinh tế. Những làn sóng ấy do gió đến và đi từ muôn hướng, với
nhiều cường độ khác nhau, khuấy động lên. Chúng cũng tương tự như những
làn gió của sự thay đổi và mệt mỏi trong cuộc đời, khơi động lên những con
sóng trong tâm ta.
Những người không hiểu về thiền
quán thường nghĩ rằng thiền là một loại thao tác nội tâm đặc biệt nào đó,
có một năng lực thần diệu làm yên hết những làn sóng, giúp mặt hồ tâm được
lập tức trở nên bằng phẳng, an bình và tĩnh lặng. Nhưng cũng như chúng ta
không thể nào đặt một cái dĩa kiếng lên trên mặt nước để làm yên những làn
sóng, chúng ta không thể nào giả tạo đè nén được những làn sóng trong tâm
mình. Thật ra việc làm đó cũng không thông minh lắm, vì nó chỉ tạo thêm
một sự căng thẳng, xung đột trong nội tâm mà thôi, chứ không phải là sự
tĩnh lặng. Nhưng điều ấy không có nghĩa là ta sẽ không bao giờ có thể đạt
đến một trạng thái tĩnh lặng. Nó chỉ có nghĩa là ta sẽ không thể thành
công bằng những nỗ lực sai lầm, như là đè nén những sinh hoạt tự nhiên của
tâm mình.
Qua sự tu tập thiền quán, chúng
ta có thể tìm được cho mình một nơi trú ẩn, tránh được những cơn phong ba
làm xáo động hồ tâm. Sau một thời gian, một phần lớn của sự náo động này
có lẽ sẽ dần dần lắng yên xuống, vì ta không còn cấp dưỡng cho chúng nữa.
Nhưng những cơn gió của cuộc đời, của nội tâm bao giờ cũng vẫn cứ thổi, ta
có làm gì cũng vậy thôi. Và thiền tập có nghĩa là ý thức được điều này, để
rồi ta có thể đối diện với nó.
Tinh thần của sự tu tập chánh
niệm được biểu lộ vui tươi trong một tấm bích chương có in hình đạo sư
Swami Satchitanada bảy mươi mấy tuổi, trong một chiếc áo thụng trắng dài
và bộ râu bạc bay phất phới, đứng trên một chiếc ván lướt sóng
(surfboard), cỡi trên đầu những ngọn sóng to ở cạnh bờ biển Hạ Uy Di. Bên
dưới có in một dòng chữ chú thích: "Bạn không thể ngăn những cơn sóng,
nhưng bạn có thể tập cỡi chúng được".
13.- AI CŨNG CÓ THỂ THIỀN ÐƯỢC?
Người ta hỏi tôi câu ấy nhiều
nhất. Tôi ngờ người ta hỏi có lẽ vì họ nghĩ rằng, những người khác tập
thiền được, chứ họ thì không. Họ muốn được an tâm nghĩ rằng họ không cô
đơn, ngoài kia cũng có những hạng người giống như họ, những linh hồn bất
hạnh, sanh ra mà không có khả năng thiền tập. Nhưng vấn đề không đơn giản
như thế.
Cho rằng mình không có khả năng
thiền tập cũng giống như cho rằng ta không có khả năng thở, tập trung hoặc
nghỉ ngơi vậy. Hầu hết mọi người trong chúng ta cũng có thể thở một cách
dễ dàng. Và trong tình trạng thích hợp, hầu hết ai cũng có thể tập trung,
ai cũng có thể nghỉ ngơì.
Người ta thường hay lẫn lộn
thiền tập với sự nghỉ ngơi hay là một trạng thái đặc biệt nào đó, mà ta
cần phải cảm thấy hoặc đạt đến. Và khi ta đã thử một vài lần mà chẳng cảm
thấy gì đặc biệt, chúng ta vội vàng cho rằng có lẽ mình là một trong những
người không có khả năng thiền tập.
Nhưng thiền tập không có nghĩa
là ta phải có một cảm giác nào đặc biệt. Nó chỉ có nghĩa là thật sự cảm
nhận được những gì mình đang cảm nhận trong giờ phút này. Thiền tập cũng
không phải là cố gắng làm cho tâm ta trở nên rỗng không hoặc tĩnh lặng,
mặc dù trong thiền tập sự tĩnh lặng sẽ được phát triển và trở nên sâu sắc
hơn. Trên hết, thiền tập có nghĩa là để cho tâm ta được như nó và ý thức
được tướng trạng của nó trong giây phút ấy. Mục tiêu không phải là ta sẽ
đi đến bất cứ một nơi nào khác, mà là cho phép mình được an trú ở nơi ta
đang có mặt. Không hiểu được điều này, bạn sẽ cho rằng mình không có khả
năng thiền tập. Nhưng đó cũng chỉ là ý nghĩ mà thôi và trong trường hợp
này, một ý nghĩ hết sức là sai lầm.
Sự thật, sự tu tập có đòi hỏi
một công phu và sự hết lòng của ta. Nhưng nếu vậy chúng ta nên nói rằng:
"Tôi không muốn cố gắng tu tập" thay vì là: "Tôi không thể tu tập" thì có
đúng hơn không? Bất cứ một người nào cũng đều có thể ngồi xuống và theo
dõi hơi thở hoặc tâm ý của mình. Thật ra bạn không cần phải ngồi, bạn có
thể thực hành trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, chạy bộ, đứng một chân hay
trong lúc tắm hoặc gì cũng được. Nhưng duy trì được nó, cho dù chỉ trong
năm phút thôi, đòi hỏi một sự chủ tâm. Và nếu bạn muốn nó trở thành một
phần của đời sống mình, việc ấy đòi hỏi một số kỷ luật. Thế cho nên, khi
người ta bảo rằng họ không thể thiền, điều mà họ thật sự muốn nói là họ
không chịu bỏ thì giờ, hoặc khi họ cố gắng thử, lại không thích những gì
xảy ra. Chúng đã không là những gì họ tìm kiếm hoặc không thoả mãn được
những ước vọng của họ. Nếu bạn là một trong những số người ấy, có lẽ bạn
nên thử cố gắng một lần nữa xem sao, nhưng lần này bạn hãy buông bỏ hết
những ước vọng đi và chỉ việc theo dõi những gì xảy ra mà thôi.
14.- LỢI ÍCH CỦA VÔ HÀNH
Khi bạn ngồi xuống thiền, dù
chỉ trong chốc lát, đó sẽ là một thời gian của vô hành (non-doing). Ðiều
quan trọng là bạn đừng nên nghĩ rằng vô hành đồng nghĩa với không làm gì
hết. Thật ra hai việc ấy rất khác biệt. Vấn đề là ta có ý thức và có một
tác ý hay không. Ðó là cây chìa khoá.
Bề ngoài chúng ta thấy dường
như có hai loại vô minh: một loại là không làm những hành động có tánh
cách hướng ngoại và một loại là những hành động nào không có sự dụng công.
Nhưng cuối cùng ta sẽ nhận thấy rằng cả hai chỉ là một. Cái kinh nghiệm
nội tâm mới thật sự quan trọng. Thiền tập gồm có một sự cố gắng tạo cho
mình những giây phút dừng lại hết mọi hành động hướng ngoại và phát triển
một sự tĩnh lặng, lúc ấy ta không có một mục đích nào khác hơn là sống
trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Không làm gì hết. Và có lẽ những giây
phút vô hành ấy sẽ là một món quà quý báu nhất mà ta có thể tự ban cho
mình.
Ông Thoreau thường hay ngồi một
mình trước hiên nhà hằng giờ để nhìn và lắng nghe, khi mặt trời đi ngang
qua bầu trời, khi ánh sáng và bóng tối biến đổi, hoà nhập vào nhau một
cách thật kỳ diệu.
Có những lúc tôi không thể nào
hy sinh giờ phút hiện tại nhiệm mầu này cho bất cứ một việc làm nào khác.
Dù cho đó là việc làm của chân tay hay của tâm trí cũng vậy. Tôi thấy yêu
quý khoảng không gian thênh thang của cuộc sống mình. Có những buổi sáng
mùa Hạ, sau khi tắm rửa xong, tôi ra ngồi ngoài hiên nhà từ sáng cho đến
trưa, miệt mài vui sống giữa thiên nhiên, với những cây thông, cây bồ đào,
cây thù du, trong một không gian tĩnh mịch và vắng lặng, có những con chim
ca hát líu lo, thỉnh thoảng lại bay lượn vào nhà trong, cho đến khi ánh
nắng hoàng hôn vàng vọt rọi vào cửa sổ phía Tây, hay âm thanh của những
chiếc xe ngựa của vài người lữ hành từ ngoài xa vang vọng vào, tôi mới
giật mình sực nhớ đến thời gian trôi qua. Tôi lớn lên theo những tiết mùa
đến rồi đi, như một cây bắp lớn lên trong đêm, công trình ấy có giá trị
hơn bất cứ một việc gì ta có thể thực hiện được bằng tay chân. Thời gian
qua không phải là những giây phút mất đi trong đời tôi mà ngược lại, nó
còn quý giá hơn những giờ phút bình thường khác. Bây giờ tôi mới hiểu được
sự thâm thúy của người phương Ðông, khi họ nói về sự lặng yên, chú ý và
buông bỏ. Cuộc sống ở đây, phần nhiều tôi không hề chú ý đến thời gian
trôi qua bằng cách nào? Một ngày đến dường như chỉ để giúp tôi sống sự
sống của mình. Khi nãy là buổi sáng và bây giờ trời đã chiều, tôi chẳng có
thành tựu được một việc nào đáng kể hết. Nhưng thay vì ca hát như những
con chim, tôi im lặng mỉm cười với sự may mắn vô tận của mình. Cũng như
con chim sẻ đang đứng trên một nhánh cây bồ đào ngoài cửa hát líu lo, tôi
cũng có những tiếng cười thầm nho nhỏ cố nén lại trong cái tổ ấm của mình,
mà không chừng con chim sẻ ấy đã nghe thấy rồi.
Thoreau, Walden
Thực tập: Hãy nhận thức sự tươi
mới của giây phút hiện tại trong giờ thiền tập hằng ngày của bạn, nếu bạn
có thực tập. Nếu buổi sáng bạn dậy sớm, hãy đi ra ngoài nhìn những vì sao,
nhìn ánh trăng, nhìn những tia nắng bình minh đầu tiên của một ngày xuất
hiện (một cái nhìn có ý thức, có chánh niệm, vững chãi). Hãy cảm giác bầu
không khí chung quanh, lạnh, ấm (một cảm nhận có ý thức, có chánh niệm,
vững vàng). Ý thức được rằng thế giới chung quanh ta còn đang say ngủ. Bạn
nên nhớ rằng, những ngôi sao bạn đang nhìn chỉ là bóng dáng của chúng hàng
triệu năm về trước. Quá khứ đang có mặt trong bây giờ và ở đây.
Sau đó bạn hãy đi, ngồi, hoặc
nằm xuống thiền. Hãy để cho thời gian này hay bất cứ giờ phút thực tập nào
khác là giờ phút bạn đang buông bỏ hết mọi hành động, chuyển sang một
trạng thái thực sự sống, lúc này ta an trú trong chánh niệm và tĩnh lặng,
ý thức được sự khai mở của giây phút hiện tại trong từng giây phút, không
thêm bớt và khẳng định với mình rằng: "Chỉ có vậy thôi".
15.- SỰ MÂU THUẪN CỦA VÔ HÀNH
Người Tây phương rất khó có thể
lãnh hội được mùi vị cũng như niềm vui của vô hành, vì nền văn hóa của họ
quá coi trọng hành động và sự tiến bộ. Ngay cả thời gian nhàn rỗi của họ
cũng có khuynh hướng bận rộn và thiếu ý thức. Niềm vui của vô hành là nó
không cần phải có bất cứ một việc nào khác xảy ra, thì giây phút này mới
được trọn vẹn.
Khi ông Thoreau nói: "Khi nãy
là buổi sáng và bây giờ trời đã chiều, tôi chẳng có thành tựu được một
việc nào đáng kể hết", việc đó cũng giống như một tấm vải đỏ phất trước
mặt một con bò mộng, của những người quen xông xáo, ham phát triển. Nhưng
làm sao ta có thể biết rằng, buổi sáng của ông ngồi trước cửa nhà lại
không đáng nhớ hoặc có phẩm chất bằng cuộc sống xô bồ, bận rộn, mà trong
đó ta không biết gì đến niềm vui của sự tĩnh lặng, và tươi mới của giây
phút hiện tại này?
Ông Thoreau đã hát lên một bài
ca cần được nghe trong khi đó, cũng như trong lúc này. Cho đến ngày hôm
nay, ông ta vẫn tiếp tục chỉ cho chúng ta, những ai muốn lắng nghe, sự
quan trọng sâu xa của việc trầm tư cũng như một thái độ vô trước
(non-attachment), không dính mắc vào bất cứ một kết quả nào, trừ niềm vui
thuần túy của sự sống. Và bạn biết không, điều ấy "có giá trị hơn bất cứ
một việc gì mà ta có thể thực hiện được bằng tay chân". Quan điểm ấy làm
tôi nhớ đến lời của một thiền sư ngày trước: "Ô hô! Bốn mươi năm trời ta
ngồi bán nước bên cạnh bờ sông, té ra công lao của ta chẳng có một ích lợi
nào hết".
Bạn thấy không, nó sặc mùi mâu
thuẫn. Chỉ có mỗi một cách có thể giúp cho hành động của ta được giá trị
là cố gắng bằng một thái độ vô hành, và không chấp trước vào kết quả của
nó. Còn bằng không, sự vướng mắc và lòng tham sẽ len lỏi vào, làm hư hỏng
mối tương quan của ta với công việc, hay chính công việc ấy. Từ đó, nó sẽ
trở nên lạc hướng, bị thiên kiến, ô uế và cuối cùng không đem lại cho ta
được một niềm vui trọn vẹn, cho dù kết quả có tốt đẹp đến đâu. Bất cứ một
khoa học gia nào cũng biết rõ trạng thái này của tâm và cố gắng ngăn ngừa
nó, vì nó có thể làm trở ngại tiến trình sáng tạo và bóp méo khả năng nhìn
thấy được những mối liên hệ của họ.
16.- SỰ BIẾN HÓA CỦA VÔ HÀNH
Vô hành có thể phát xuất từ
hành động cũng như từ sự tĩnh lặng. Nội tâm tĩnh lặng của thiền giả có thể
hòa nhập với những hoạt động bên ngoài, tới mức như là hành động tự nó
biểu lộ lấy. Chúng là những hoạt động không cần dụng sức. Ở đó ta không
thấy có một nghị lực nào, không có một tiểu tâm của cái Tôi nhỏ bé nào để
nhận dành kết quả. Nhưng không vì vậy mà ta bỏ sót bất cứ một việc gì, dù
nhỏ nhoi đến đâu. Vô hành là nền tảng của sự tinh thông trong bất cứ một
lãnh vực nào của hành động. Thiên Dưỡng Sinh Chủ trong Nam Hoa Kinh có ghi
lại một câu chuyện như sau:
Bào Ðinh mổ bò cho Văn Huệ
Quân.
Lúc ra thịt, điệu bộ của tay
động, của vai đưa, của chân đạp, của gối chạm, tiếng da xương lìa nhau,
tiếng dao cạo cắt đều trúng cung bực, hợp với điệu múa Tang Lâm, với bài
nhạc Kinh Thủ.
Văn Huệ Quân nói: "Hay thật!
Nghệ thuật đến đó là cùng!"
Bào Ðinh buông dao, thưa rằng:
"Chỗ ưa thích của thần là đạo. Ban sơ, lúc ra thịt một con bò, chỗ mà thần
chỉ có thấy mà thôi, là con bò. Về sau ba năm, thần không còn thấy con bò
nữa. Bấy giờ thần không dùng con mắt để nhìn mà dùng cái "thần" để xem;
ngũ quan dừng lại mà "thần" thì muốn đi, nương theo thiên lý. Tách các gân
lớn, lùa các khớp xương, nhân chỗ cố nhiên của nó mà cắt. Bắp thịt còn
không xắt qua, huống chi là khớp xương to. Người bếp bình thường mỗi tháng
thay dao một lần, vì họ chặt. Nay con dao của thần dùng đã mười chín năm;
số bò đã mổ có trên nghìn con, vậy mà dao như mới mài xong. Các khớp xương
kia có kẽ hở mà lưỡi dao này thì mỏng. Lấy bề mỏng của con dao đưa vào chỗ
kẽ hở, thì rộng có thừa. Vì vậy lưỡi dao đã dùng mười chín năm nay vẫn còn
sắc như mới mài. Tuy vậy, mỗi khi gặp chỗ gân xương sát nhau cảm thấy khó
làm, thần nhìn kỹ, hành động chậm lại; con dao cử động một cách rất nhẹ
nhàng, thế mà thịt lại đứt và rớt xuống như bùn rơi xuống đất. Bây giờ
thần cầm con dao đứng yên, ngoảnh nhìn bốn phía, đắc ý vì được con dao
tốt, rồi đem cất nó đi".
Văn Huệ Quân nói: "Hay biết
chừng nào! Ta nghe lời nói của Bào Ðinh mà hiểu được đạo dưỡng sinh!"
17.- THỰC HIỆN VÔ HÀNH
Vô hành không dính líu gì đến
thái độ làm biếng và thụ động. Mà còn ngược lại như thế! Vô hành đòi hỏi ở
ta một lòng can đảm và năng lượng lớn mới có thể phát triển nổi, trong
tĩnh lặng cũng như giữa những sinh hoạt của đời sống. Tự tạo cho mình một
thời gian đặc biệt để thực hiện vô hành, và duy trì nó trong cuộc sống bận
rộn hàng ngày, việc ấy không phải dễ.
Nhưng chúng ta cũng đừng bao
giờ để cho sự vô hành đe dọa những ai cảm thấy rằng họ lúc nào cũng cần
phải làm việc, phải hoạt động. Những hạng người ấy đôi khi khám phá ra
rằng, thái độ vô hành còn giúp cho họ làm được nhiều việc hơn, đạt được
kết quả tốt đẹp hơn! Vì vô hành chỉ có nghĩa là hãy để cho sự việc như là
và cho phép chúng tự khai triển theo đường lối của chúng. Bạn cũng vẫn có
thể dụng công nhiều nếu muốn, nhưng đó sẽ là một sự dụng công khéo léo, có
ý thức, một "hành động không có người hành". Sự tu tập ấy sẽ là suốt cuộc
đời của ta.
Bạn có thể thấy những hành động
không dụng sức này trong các buổi biểu diễn những điệu vũ ở môn thể thao,
vào một trình độ cao nhất. Ðược nhìn những hành động vô hành ấy, có thể
làm cho chúng ta nín thở! Nhưng điều ấy cũng có thể xảy ra ở nhiều lãnh
vực khác nhau trong sinh hoạt hàng ngày của ta nữa, từ hội họa, sửa xe cho
đến dạy dỗ con cái. Với nhiều năm kinh nghiệm thực tập chúng ta có thể
phát triển được một khả năng mới, cho phép hành động của ta khai triển
vượt ra ngoài mọi kỷ thuật, mọi nỗ lực, mọi suy tính. Và khi ấy hành động
của ta sẽ trở thành một sự diễn đạt thuần túy của nghệ thuật, của sự sống,
của sự buông bỏ hết mọi cố gắng - một sự chuyển động hòa hợp của thân tâm.
Mỗi khi nhìn một biểu diễn siêu việt nào của một nhà thể thao hoặc một
nghệ sĩ, chúng ta thường cảm thấy rung động và xao xuyến, vì nó cho phép
ta tham dự vào sự kỳ diệu ấy, cũng như cảm thấy nâng cao tinh thần, dù chỉ
trong một giây phút. Và có lẽ nó còn nhắc nhở rằng, mỗi người trong chúng
ta, tùy theo một cách riêng, đều có thể tiếp xúc được với những giây phút
nhiệm mầu ấy trong sự sống của chính mình.
Ông Thoreau nói: "Ảnh hưởng
được phẩm chất của một ngày, đó mới là nghệ thuật cao thượng nhất". Martha
Graham, nói về nghệ thuật vũ, diễn tả như sau: "Cái quan trọng nhất là
giây phút này đây trong toàn cử động. Hãy làm cho giây phút ấy có sinh khí
và đáng sống. Ðừng bao giờ để nó trôi qua không hay biết và không xử dụng
đến".
Không thiền sư nào còn có thể
diễn đạt chân thật hơn. Ðây là một nghề chúng ta cần phải kiên trì học
hỏi, và bao giờ cũng biết rằng nó là công trình của cả một đời. Vì thái độ
hành động, làm một việc gì đã ăn sâu vào gốc rễ của chúng ta, nên dĩ nhiên
muốn thực tập vô hành sẽ đòi hỏi một nỗ lực rất lớn.
Thiền quán đồng nghĩa với thực
tập vô hành. Chúng ta tu tập không phải vì muốn cho sự việc được trở nên
hoàn hảo hơn, hoặc muốn hành động của ta được tốt đẹp hơn. Chúng ta thực
tập là để nắm bắt và ý thức được sự thật là mỗi việc tự chính nó như vậy
đã là hoàn mỹ rồi. Vì vậy, ta hãy giữ sự trọn vẹn của giây phút hiện tại
này, mà không áp đặt lên đó bất cứ một sự dư thừa nào khác, và nhận thức
được sự tươi mới của tiềm năng làm phát khởi giây phút kế tiếp của nó. Một
khi ta biết những gì mình biết, thấy những gì mình thấy, và ý thức được
những gì mình không biết, chúng ta sẽ có thể hành động, xử sự, tiến tới,
dừng lại, hoặc biết nắm lấy cơ hội một cách tự tại. Ðôi khi người ta ví đó
như là một dòng nước chảy, giây phút này nhẹ nhàng thong thả lướt trôi
sang giây phút kế, không chút nỗ lực và được nâng niu, ôm ấp bởi lòng sông
chánh niệm.
Thực tập:Trong một ngày thử xem
bạn có thể ý thức được sự tươi mới của giây phút hiện tại này không, trong
mỗi khoảnh khắc - trong giây phút bình thường, trong giây phút khó khăn,
và luôn cả những giây phút "chính giữa". Tập cho phép những sự việc trong
cuộc sống được khai mở tự nhiên, không ép buộc và cũng đừng ghét bỏ những
gì không xảy ra đúng như sự mong cầu của ta. Thử xem bạn có thể cảm nhận
được những "chỗ hở", nơi bạn có thể di động mà không cần dụng công, như
người mổ bò của Trang Tử không? Hãy biết rằng, nếu bạn có thể dành ra một
chút thời giờ vào buổi sáng sớm để thật sự sống, không cần chương trình,
điều ấy sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của trọn một ngày. Khi ta biết khẳng
định trước cái gì là chủ yếu của sự sống, ta sẽ có khả năng cảm nhận,
thưởng thức và đáp ứng với sự mới mẻ của mỗi giây mỗi phút hơn.
18.- KIÊN NHẪN
Có những thái độ và đức tánh
đặc biệt có khả năng hỗ trợ cho sự tu tập của ta, và tạo nên một mảnh đất
phì nhiêu cho hạt giống chánh niệm đơm bông kết trái. Khi ta khai phát
những phẩm tính này, là ta đang thực sự canh tác mảnh đất tâm để nó có thể
trở thành một nguồn mạch của từ bi, trí tuệ và những hành động chân chính
trong cuộc sống.
Những đức tính nội tâm có khả
năng bảo trợ sự thiền tập của ta, không thể nào bị áp đặt, ép buộc hoặc
tuân theo như một đạo luật. Chúng chỉ có thể được nuôi dưỡng và phát triển
mà thôi. Và việc ấy chỉ xảy ra khi nào ta đạt đến một giai đoạn mà ta thôi
không còn muốn đóng góp vào khổ đau, cũng như sự bối rối của chính mình,
và có lẽ là của kẻ khác nữa. Chung quy nó có nghĩa là hành động sao cho có
luân lý, đạo đức - và đối với nhiều người, đây có thể là một ý niệm rất
nguy hại.
Có một lần tôi nghe trên máy
phát thanh, một người nào đó định nghĩa luân lý như là "sự phục tùng theo
những điều không ai bắt buộc được". Cũng hay đó chứ! Bạn làm vì một lý do
nội tại, chứ không phải vì ai đó kiểm soát bạn, hoặc vì bạn sẽ bị trừng
phạt nếu không tuân theo, hay bị bắt gặp. Bạn hành động theo lương tri của
chính mình. Nó là một tiếng nói sâu xa phát xuất từ trong ta, cũng tương
tự như một mảnh đất tâm đang được vun xới cho sự trồng trọt chánh niệm.
Bạn sẽ không thể nào có được sự hòa hợp nếu bạn không tuân theo những hành
động đạo đức. Chúng cũng như là những hàng rào ngăn chận không cho các con
dê vào ăn hết những mầm non trong vườn của bạn.
Tôi thấy một trong những đức
tính đạo đức căn bản này là sự kiên nhẫn. Nếu bạn nuôi dưỡng đức kiên
nhẫn, thì nhất định bạn sẽ nuôi dưỡng chánh niệm, và sự thiền tập của bạn
cũng sẽ từ đó dần dà trở nên thâm sâu hơn và già dặn hơn. Dù sao đi nữa,
trong giây phút hiện tại này, nếu bạn thật sự không cố gắng đi về đâu hết,
kiên nhẫn sẽ tự lo liệu lấy chính nó. Ðức kiên nhẫn nhắc nhở với ta rằng
sự việc sẽ khai triển theo đúng thời điểm của nó. Ta không bao giờ có thể
hối thúc bốn mùa được. Xuân đến thì cỏ xanh lại mọc. Sự vội vã thường
không ích lợi gì cho ai, mà nhiều khi lại còn gây nên nhiều khổ đau - cho
chính ta, đôi khi là cho những người sống quanh ta.
Kiên nhẫn lúc nào cũng là một
liều thuốc chữa cho căn bệnh bất an, bồn chồn và nóng nảy. Nếu bạn nhìn
xuyên qua mặt ngoài của sự bất an, bạn sẽ thấy được nằm bên dưới, dù có
tinh tế hay không, là một sự nóng giận. Ðó là một loại năng lượng mạnh
phát xuất từ việc không muốn thực tại như nó là, và ta đổ lỗi ấy cho một
người nào đó (thường là tự trách mình), hoặc một vật nào đó. Nhưng kiên
nhẫn cũng không có nghĩa là ta sẽ không còn có thể vội vã được nữa, những
lúc cần thiết. Thật ra ta vẫn có thể vội vã một cách kiên trì, trong chánh
niệm và hành động mau mắn, vì ta chọn như thế.
Dưới cái nhìn của kiên nhẫn,
thì cái này xảy ra vì cái kia xảy ra. Không có bất cứ một sự việc nào có
thể tồn tại riêng rẽ hay biệt lập. Không có một nguyên nhân gốc rễ nào là
tuyệt đối, cuối cùng, hoặc chịu trách nhiệm hoàn toàn hết. Giả sử có một
người nào đó dùng cây đánh bạn một cái, bạn sẽ không nổi giận với cây gậy
hoặc cánh tay ấy, mà là bạn tức giận với người có cánh tay đó. Nhưng nếu
bạn nhìn sâu hơn một chút, bạn sẽ không thể nào tìm thấy một nguyên nhân
thỏa đáng cho cơn giận của mình, cho dù ở nơi người kia, vì sự thật anh ta
không hề có ý thức về hành động của mình, cho nên chỉ mù quáng trong lúc
đó mà thôi. Vậy thì chúng ta nên đổ lỗi và trừng phạt ai đây? Có lẽ ta nên
trút cơn giận của mình lên cha mẹ của người ấy chăng, vì có thể anh ta đã
phải chịu sự hành hạ của họ lúc còn bé thơ? Hay là ta nên trách cứ thế
giới này vì đã không có tình thương? Nhưng thế giới này là gì đây? Có phải
chăng trong đó có cả bạn và tôi? Bạn có bao giờ nhận thấy rằng mình cũng
có những cơn giận như thế không, và trong một vài trường hợp nó có những
khuynh hướng rất bạo động, đôi khi có thể là giết người được?
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma không hề
biểu lộ sự tức giận đối với người Trung Hoa, mặc dù trong nhiều năm qua
chính sách của chánh quyền Trung Hoa là muốn diệt chủng dân tộc Tây Tạng
của ông. Họ cố gắng đồng hóa những tín ngưỡng, văn hóa, tục lệ, tất cả
những gì mà người Tây Tạng yêu quý nhất, và muốn thâu gồm luôn mảnh đất
thân yêu mà họ đang sinh sống. Khi lên lãnh giải thưởng thế giới Nobel về
hòa bình, trả lời cho một ký giả hỏi rằng vì sao ngài không thù ghét người
Trung Hoa, đức Ðạt Lai Lạt Ma đáp: "Họ đã cướp hết tất cả những gì chúng
tôi có, không lẽ tôi lại để cho họ lấy luôn sự an lạc của mình hay sao?"
Thái độ ấy tự nó là một biểu lộ
rất đặc thù của hòa bình - niềm an lạc trong nội tâm, ý thức được những gì
thật sự là chính yếu - và sự an lạc bên ngoài, hiện thân của tuệ giác ấy
trong sự sống và hành động. An lạc và thái độ sẵn lòng kiên nhẫn trước một
sự khiêu khích và khổ đau to tát như thế, chỉ có thể phát xuất ở một tâm
từ bao la, một tình thương không chỉ giới hạn cho những người thân, mà cho
luôn cả những ai, vì si mê, đã gây cho ta và những người ta yêu nhiều khổ
đau.
Mức độ vô ngã của tâm từ dựa
trên những gì mà đức Phật gọi là chánh niệm và chánh kiến. Nhưng việc ấy
không phải tự nhiên mà có. Nó cần phải được tu tập và khai triển. Bạn nên
nhớ rằng, không phải tánh giận sẽ không bao giờ khởi lên nữa, nhưng ta có
thể xử dụng nó, kiểm soát nó, và dùng năng lượng ấy để nuôi dưỡng cho tính
kiên nhẫn, từ bi, hòa hài và tuệ giác trong ta, và còn có lẽ trong kẻ khác
nữa.
Trong thiền tập, chúng ta phát
triển tánh kiên nhẫn mỗi khi ta dừng lại và ngồi xuống theo dõi hơi thở
của mình. Và hành động ấy sẽ mời gọi ta biết cởi mở hơn, biết tiếp xúc
hơn, kiên nhẫn hơn với giây phút hiện tại, và giây phút này tự nhiên sẽ
kéo dài sang những thời gian khác trong cuộc sống. Chúng ta ý thức được
rằng, mọi việc sẽ khai mở theo đúng tự tánh của nó. Vì vậy ta cũng phải
biết cho phép sự sống của mình khai mở theo cùng một lối ấy. Ta không cần
phải để cho những lo âu và tham muốn về một tương lai nào đó thống trị
phẩm chất của giây phút hiện tại này, cho dù thực tại có là khổ đau chăng
nữa. Khi nào ta cần phải xô đẩy, hãy cứ xô đẩy. Khi nào ta cần phải lôi
kéo, hãy cứ lôi kéo. Nhưng chúng ta cũng biết khi nào mình không cần phải
xô đẩy, và khi nào không cần phải lôi kéo.
Chung quy là chúng ta cố gắng
đem lại sự quân bình cho giây phút hiện tại, biết rằng tuệ giác nằm trong
sự kiên nhẫn, biết rằng những gì sắp đến sẽ được định doạt bởi con người
của ta trong giờ phút hiện tại này. Nhớ được những điều ấy sẽ giúp ích cho
ta rất nhiều, nhất là những khi ta cảm thấy bất an trong sự tu tập của
mình, hoặc khi ta trở nên nản lòng, buồn chán và tức giận trong cuộc sống.
Thục năng trọc dĩ chỉ,
Tĩnh chi từ thanh.
Thục dĩ an dĩ cửu,
Ðộng chi từ sanh.
Ai hay nhờ tịnh mà đục hóa
trong,
Ai hay nhờ động mà đứng lại đi.
Lão Tử, Ðạo Ðức Kinh.
Tôi hiện hữu như vậy đủ rồi,
Dù không một ai khác biết.
Tôi vẫn ngồi đây mãn nguyện,
Và dù mọi người ai cũng biết.
Tôi vẫn ngồi đây mãn nguyện,
Có một thế giới đang biết, và
đối với tôi.
Nó vĩ đại vô cùng, vì đó là
Tôi,
Và dù tôi có trở về với chính
mình.
Ngày hôm nay,
Hay trong ngàn, triệu năm đi
qua,
Tôi sẽ hân hoan nhận lãnh nó
bây giờ.
Và với cùng một niềm vui,
Vì tôi có thể đợi chờ.
Walt Whitman, Leaves of Grass.
Thực tập: Hãy quan sát sự bất
an và giận dữ mỗi khi chúng khởi lên. Bạn hãy thử tập một cái nhìn mới,
thấy được rằng sự việc sẽ khai mở theo đúng thời điểm của nó. Việc này rất
hữu ích, nhất là những khi bạn cảm thấy căng thẳng, kẹt lối hoặc bối rối
trong công việc bạn cần làm hay muốn làm. Biết rằng khó, nhưng bạn cố gắng
đừng thúc dục dòng sông trong lúc ấy, mà nên lắng nghe nó cho thật cẩn
trọng. Nó muốn nói gì với bạn? Nó khuyên bạn phải làm gì? Nếu không cảm
thấy gì hết, bạn hãy tiếp tục thở trong chánh niệm, để cho sự việc như
chúng là, buông hết cho sự kiên nhẫn và tiếp tục lắng nghe. Nếu dòng sông
khuyên bạn làm gì, bạn hãy thi hành, nhưng phải nhớ là làm trong chánh
niệm. Rồi sau đó, dừng lại, kiên nhẫn chờ đợi và lại lắng nghe.
19.- BUÔNG BỎ
"Buông bỏ" là một thành ngữ vô
cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới
(new age). Nó bị lợi dụng và lạm dụng mỗi ngày. Nhưng tuy vậy, danh từ ấy
diễn tả một thái độ nội tâm rất dũng mãnh, đáng cho ta tìm hiểu dù có là
sáo rỗng hay không!
Buông bỏ có nghĩa y như vậy, là
bảo ta thôi bám víu vào bất cứ một sự việc gì - cho dù đó là một ý tưởng,
một vật, một sự kiện, một thời điểm, một quan niệm, hoặc một tham muốn nào
đó. Buông bỏ là một quyết định có ý thức, với sự chấp nhận hoàn toàn hòa
nhập vào dòng sông hiện tại trong khi hiện hữu đang khai mở. Buông bỏ có
nghĩa là thôi ép buộc, thôi chống cự hoặc tranh đấu, để đổi lấy một cái gì
cường mạnh hơn và trọn vẹn hơn. Nó phát sinh từ một sự cho phép mọi việc
có mặt như chúng là, mà không bị mắc kẹt vào bản chất dính như keo của
lòng tham muốn, của thương và ghét. Hành động ấy cũng tương tự như là ta
mở rộng bàn tay ra, buông bỏ một vật gì mà mình hằng mãi mê nắm giữ.
Nhưng thật ra không phải sự
dính mắc của lòng tham vào ngoại vật đã giam giữ ta. Cũng không phải chúng
ta chỉ nắm giữ bằng đôi tay, chúng ta còn nắm bắt bằng tâm ý của mình nữa.
Chúng ta tự bắt giữ mình, tự giam hãm mình bằng những quan điểm nhỏ hẹp,
bằng những hy vọng và mơ ước nhỏ nhen. Thật ra buông bỏ có nghĩa là ta
được trở nên trong sáng, không để bị ảnh hưởng bởi sự lôi cuốn của lòng ưa
thích và ghét bỏ. Muốn đạt được sự trong sáng đó, ta cần phải biết cho
phép sự sợ hãi và bất an của tự chúng biểu lộ ra dưới ánh sáng quán chiếu
của chánh niệm.
Chúng ta chỉ có thể thực sự
buông bỏ khi nào ta biết đem chánh niệm và sự chấp nhận, nhìn thẳng vào
thực chất vô cùng dính mắc của mình. Và nếu ta biết ý thức được những lúc
ta vô tình mang lên một cặp mắt kính màu, đi phân chia chủ thể và đối
tượng, làm cong quẹo và uốn éo cái thấy của ta. Trong những lúc ấy, ta vẫn
có một khả năng cởi mở, nhất là nếu ta có chánh niệm thấy được mình đang
mãi mê theo đuổi, bám víu, buộc tội hoặc chối bỏ sự việc vì một lợi lộc
riêng tư nào đó.
Sự tĩnh lặng, minh triết, tuệ
giác chỉ có thể phát sinh khi ta thật sự an trú trong giờ phút hiện tại,
mà không bám víu hoặc xua đuổi bất cứ một việc gì. Ðiều tôi nói đó bạn có
thể thí nghiệm được. Hãy cứ thử đi cho biết! Bạn hãy thử chứng nghiệm đi,
xem mỗi khi ta buông bỏ một cái gì mà mình rất ưa thích, nó có đem lại cho
ta một sự mãn nguyện sâu xa hơn là sự bám víu vào nó hay không!
20.- KHÔNG PHÊ PHÁN
Bạn không cần phải hành thiền
lâu dài mới nhận ra rằng, một phần của tâm ta lúc nào cũng đánh giá những
kinh nghiệm của mình, so sánh chúng với kinh nghiệm của kẻ khác, hoặc so
đọ với những kỳ vọng và tiêu chuẩn mà ta đã tự đặt ra. Nguyên nhân thường
là vì những nỗi sợ của mình. Sợ rằng mình không xứng đáng, rằng sẽ có việc
không may xảy ra, rằng những gì tốt đẹp không tồn tại lâu, rằng người khác
sẽ làm mình khổ đau, rằng ta không đạt được những gì mình muốn, rằng chỉ
có ta mới là người biết, rằng chỉ có mình ta là không biết gì hết. Chúng
ta có khuynh hướng nhìn sự vật qua một cặp kính màu: sự việc tốt hoặc xấu,
hoặc chúng có phù hợp với niềm tin và triết lý của mình không. Nếu tốt thì
ta ưa thích, nếu xấu thì ta ghét bỏ. Và nếu không tốt cũng không xấu, thì
ta không có một cảm xúc nào đặc biệt hết, và có lẽ cũng chẳng thèm để ý
đến.
Khi ta an trú trong tĩnh lặng,
những tư tưởng phê phán trong ta sẽ phát hiện ra rõ rệt như là những tiếng
còi báo hiệu sương mù ở ven biển. Tôi không ưa cái đau ở chân... Cái này
chán quá... Tôi thích cảm giác tĩnh lặng này... Hôm qua tôi ngồi thiền
thật tốt, nhưng hôm nay thì tệ quá... Cái này không hợp với tôi... Tôi
không giỏi ngồi thiền cho lắm... Thật ra tôi không giỏi chút nào hết...
Những loại tư tưởng này đã từng chế ngự và trì kéo tâm ta xuống. Nó cũng
tương tự như ta đang đội một thúng đá trên đầu vậy. Bạn nghĩ xem, nếu ta
có thể bỏ nó xuống thì sung sướng biết chừng nào! Và bạn hãy tưởng tượng,
nếu chúng ta biết dừng sự phê phán của mình lại, và để cho mỗi giây phút
được như nó là, không cần phán đoán nó là "tốt" hoặc "xấu", ta sẽ cảm thấy
như thế nào! Ðó mới thật sự là tĩnh lặng, là chân giải thoát.
Thiền tập có nghĩa là nuôi
dưỡng và phát triển một thái độ không phê phán những gì đang khởi lên
trong tâm, bất cứ là một sự việc gì. Thiếu thái độ ấy không có nghĩa là sự
phê phán không còn nữa. Lẽ dĩ nhiên nó sẽ vẫn còn đó, vì bản tánh của tâm
ý là hay so sánh, phê phán và đánh giá. Nhưng khi nó có mặt, ta sẽ không
cố gắng ngăn chận hoặc làm lơ nó, hơn bất cứ một tư tưởng nào khác có mặt
trong tâm mình.
Con đường của thiền tập là chỉ
đơn giản chứng kiến bất cứ một sự việc gì khởi lên trong tâm và thân, nhận
diện nó bằng một tâm bình thản, không theo đuổi cũng không ghét bỏ. Ta
cũng ý thức được rằng, sự phán đoán của ta không thể nào tránh được, và ý
tưởng về kinh nghiệm thì rất giới hạn. Ðiều ta muốn có được trong thiền
tập là tiếp xúc trực tiếp với kinh nghiệm của mình. Cho dù đó là một hơi
thở vào, hơi thở ra, một cảm giác hoặc cảm thọ, một âm thanh, một sự thôi
thúc, một tư tưởng, một ý niệm, hoặc một ý nghĩ phê phán. Và ta luôn luôn
tỉnh thức, biết rằng mình rất có thể bị kẹt vào việc đi phê phán chính sự
phê phán ấy, hoặc dán cho chúng nhản hiệu là tốt hay xấu.
Trong khi ý nghĩ của ta hay tô
màu lên mọi kinh nghiệm, những ý nghĩ ấy lại thường không được mấy chính
xác. Lắm khi chúng chỉ là ý kiến cá nhân, là những phản ứng và thiên kiến
dựa trên một kiến thức giới hạn và chịu nhiều ảnh hưởng bởi những điều
kiện trong quá khứ. Bao giờ cũng vậy, khi không nhận thức được chúng,
những tư tưởng ấy có thể ngăn trở không cho ta thấy rõ được thực tại chung
quanh. Chúng ta bị mắc kẹt trong sự suy nghĩ, tưởng rằng ta thật sự biết
những gì mình đang nhìn, đang cảm nhận, và đem tâm phán đoán khéo léo áp
đặt lên mọi việc ta tiếp xúc. Chỉ cần ta ý thức được tập quán cố hữu này
và theo dõi nó mỗi khi nó có mặt, có thể giúp ta phát triển một thái độ
chấp thuận và tiếp nhận mà không phê phán, vô cùng rộng lớn.
Nhưng bạn nên nhớ rằng, một
thái độ không phê phán không có nghĩa là ta sẽ không còn biết xử sự hoặc
hành động có trách nhiệm trong xã hội nữa, hoặc là để mặc ai làm gì cũng
được. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta biết hành xử sáng suốt hơn
trong cuộc sống, ta trở nên quân bình hơn, hữu hiệu hơn và có đạo đức hơn
trong mọi sinh hoạt. Vì ta ý thức được rằng, mình đang đắm chìm trong dòng
sông thất niệm, của sự ưa thích và ghét bỏ, chúng ngăn che ta với thế giới
và bản chất thanh tịnh của mình. Tâm thức ưa ghét ấy có thể cư trú thường
trực trong ta, và nó cung cấp nguyện liệu cho những hành động si mê của ta
một cách vô ý thức, trong mọi lãnh vực của sự sống. Khi ta có thể nhận
diện và gọi tên những hạt giống tham lam trong tâm, dù chúng tinh tế đến
đâu - lúc nào cũng muốn theo đuổi sự vật và kết quả mình mong mỏi - và
những hạt giống của sân hận, ghét bỏ, trốn tránh những gì mình không ưa
thích - nó sẽ giúp ta dừng lại trong một khoảnh khắc và tự nhắc nhở rằng,
những năng lực nguy hại ấy đang thực sự có mặt nơi ta. Ta có thể nói rằng
chúng là những vi khuẩn, độc tố rất nguy hiểm, ngăn trở không cho ta nhìn
thấy rõ được thực tại cũng như xử dụng hết chân tiềm lực của mình.
21.- NIỀM TIN
Niềm tin là một cảm giác tự tin
hoặc tin thực rằng, sự việc có thể khai triển trong một khuôn khổ đáng tin
cậy, cũng như nó là hiện thân của trật tự và sự trung thực. Có lẽ không
phải lúc nào chúng ta cũng sẽ có thể hiểu được những gì xảy đến với mình,
với người khác, hoặc sự kiện trong một trường hợp đặc biết nào đó. Nhưng
nếu ta biết đặt niềm tin nơi mình, hoặc người khác, hoặc vào một tiến
trình, một lý tưởng, chúng ta có thể tìm được một yếu tố rất vững vàng, nó
tàng chứa sự an ổn, quân bình và cởi mở trong một niềm tin dựa vào trực
giác mà có thể dẫn dắt và bảo vệ ta khỏi mọi sự nguy hiểm cũng như tự tổn
thương.
Niềm tin rất quan trọng trong
sự tu tập chánh niệm. Vì nếu ta không tin vào khả năng quan sát, cởi mở và
chú ý của mình, cũng như khả năng suy ngẫm về những kinh nghiệm đã qua,
hoặc học hỏi từ sự quán chiếu sâu xa, chúng ta sẽ không bao giờ chịu cố
gắng phát triển những khả năng ấy, và chúng sẽ ngủ vùi hoặc héo khô đi.
Một phần của sự tu tập chánh
niệm là phát huy mọi con tim biết tin tưởng. Chúng ta hãy bắt đầu bằng
cách quay lại nhìn chính mình cho thật sâu. Bạn có tìm được một điều gì ở
mình để cho ta đặt niềm tin không? Nếu bạn còn chút phân vân thì có lẽ bạn
nên quan sát sâu thêm một chút, nên tiếp xúc với chính mình trong hiện
thực và tĩnh lặng lâu hơn một chút. Nếu chúng ta đã quen sống trong sự
thất niệm và không bao giờ cảm thấy bằng lòng với những gì xảy đến trong
cuộc đời mình, thì có lẽ đây là lúc ta nên tập ý thức hơn, biết tiếp xúc
hơn, và chú ý đến những sự chọn lựa của mình, cũng như hậu quả của chúng
về sau.
Có lẽ ta nên thử nghiệm bằng
cách đặt niềm tin vào giây phút hiện tại này, hãy chấp nhận hết những gì
mình đang cảm nhận, suy nghĩ hoặc nhìn thấy trong giây phút này, vì đó là
hiện thực. Nếu ta có thể đứng vững vàng nơi đây và hội nhập được trọn vẹn
vào giây phút này, ta sẽ nhận ra rằng thời gian hiện tại rất đáng được cho
ta tín cẩn. Với những thí nghiệm đó, được kinh nghiệm nhiều lần, ta sẽ
khám phá ra rằng sâu kín trong ta là một cốt lõi rất lành mạnh và đáng
tin. Và trực giác của ta là một sự vang động thâm sâu của hiện thực, nó
rất đáng được tín nhiệm.
Hãy mạnh dạn,
Và an trú trong thân mình.
Nơi dưới chân ta bao giờ cũng
vững chắc,
Hãy suy nghĩ cho tường tận!
Ðừng bỏ đi đâu nữa mà làm gì!
Kabir nói như vầy: "Hãy quẳng
đi hết mọi ý nghĩ và những sự vật tưởng tượng.
Và đứng cho thật vững vàng
trong con người của ta.
Kabir
22.- ÐỨC RỘNG LƯỢNG
Ðức rộng lượng cũng như những
đức tính khác, như là kiên nhẫn, buông bỏ, không phê phán và tin tưởng, nó
cung cấp một nền tảng vững chắc cho sự tu tập chánh niệm của ta. Chúng ta
có thể kinh nghiệm đức rộng lượng như là một phương tiện tự quán chiếu sâu
sắc hoặc là một bài tập bố thí. Và bài tập về đức rộng lượng ấy, chúng ta
nên bắt đầu từ chính ta. Thỉnh thoảng, bạn có thể tự tặng cho mình những
món quà thật sự là quý báu, như là một thái độ tự chấp nhận, hoặc là một
ngày không cần có chương trình và mục đích. Bạn cũng nên tập cảm thấy mình
xứng đáng nhận lãnh những món quà ấy - chỉ cần giản dị tiếp nhận tự chính
ta, và từ vũ trụ.
Bạn có thể tiếp xúc được với
bản chất của con người mình không, nơi ấy giàu có và phong phú hơn tất cả
những gì bạn có thể tìm kiếm được! Hãy để nơi ấy tỏa chiếu năng lượng của
nó ra bên ngoài, tràn ngập thân thể ta, và tỏa phát ra chung quanh ta. Bạn
hãy thí nghiệm sự ban phát năng lượng này - ban đầu một chút thôi - hướng
nó về chính mình và cho những người khác mà không cần mong cầu được lại
một cái gì hết. Hãy cho nhiều hơn là bạn nghĩ mình có thể, và tin rằng ta
giàu có hơn là mình tưởng. Ăn mừng sự giàu có này của ta, hãy ban cho như
là ta có một kho tàng vô tận. Ðó chính là con đường "bố thí theo vương
đạo" trong nhà Phật.
Tôi không phải chỉ nói về vấn
đề tiền bạc hay của cải, mặc dù sự chia xẻ giàu có vật chất cũng rất lợi
ích, có thể làm tăng trưởng, nâng cao tâm hồn ta rất nhiều. Nhưng điều tôi
muốn nói là ta nên thực tập chia xẻ sự toàn vẹn của con người mình, một
cái tôi tốt đẹp nhất, nhiệt tình của ta, sức sống của ta, tâm hồn ta, niềm
tin tưởng, sự cởi mở và trên hết tất cả, là sự có mặt của ta. Hãy chia xẻ
nó với chính ta, với gia đình ta, và thế giới chung quanh ta.
Thực tập: Hãy ghi nhận sự thúc
đẩy lại ý muốn bố thí, những lo âu về tương lai, cảm tưởng rằng có lẽ ta
đã cho quá nhiều, không được ai tán thưởng, hoặc giả ta sẽ bị đuối sức,
không được lợi lộc gì hết, hay là mình sẽ không còn lại một cái gì. Bạn
hãy xét lại những lo nghĩ ấy, vì rất có thể chúng không thực chút nào hết.
Chúng có thể chỉ là những hình tướng của một sự lười biếng, nhỏ nhen hoặc
ích kỷ, bắt nguồn từ một sự sợ hãi. Cái ý nghĩ và cảm giác này là những
góc cạnh của thô thiển, gồ ghề của tính tự lợi. Chúng va chạm với thế giới
chung quanh và thường đem lại khổ đau cho ta cũng như cho kẻ khác, một cảm
giác ngăn cách, cô lập và suy tổn. Ðức bố thí sẽ dùi mài và làm phẳng láng
những góc cạnh còn thô ấy và giúp ta trở nên có ý thức hơn về sự giàu có
trong nội tâm của mình. Bằng sự thực tập chánh niệm về đức rộng lượng,
bằng sự bố thí và quan sát ảnh hưởng của chúng trên chính ta và kẻ khác,
ta sẽ bắt đầu tự chuyển hóa, tự thanh lọc và khám phá được một con người
mới của ta rộng lớn hơn.
Có thể bạn phản đối rằng, bạn
không còn đủ năng lượng hoặc nhiệt tình để ban bố bất cứ một cái gì hết,
rằng bạn đã quá mệt mỏi và nghèo túng lắm rồi. Hoặc có thể bạn cảm thấy cả
đời mình chỉ có ban cho và ban cho, mà không ai biết ơn hay để ý gì đến
cả. Cũng có thể bạn xử dụng sự bố thí như là một phương tiện để đi trốn
tránh một nỗi đau và sự sợ hãi, hay vì muốn kẻ khác ưa thích và chịu lệ
thuộc vào mình. Bạn nên chú tâm và quán chiếu những loại bố thí ấy cho
thật cẩn thận. Vì bố thí mà thiếu chánh niệm sẽ không bao giờ lành mạnh,
hoặc rộng lượng. Ðiều quan trọng là bạn phải hiểu được động cơ thúc đẩy
mình bố thí, và ý thức được khi nào sự bố thí của mình bắt nguồn từ sự sợ
hãi và thiếu tự tin, thay vì từ một lòng độ lượng.
Trong sự thực tập bố thí với
chánh niệm, ta không cần thiết phải cho tất cả những gì mình có, mà thật
ra ta không cần phải cho bất cứ một cái gì hết. Và trên hết, đức rộng
lượng là một sự bố thí trong nội tâm, một sự cảm biết, một ý muốn chia xẻ
con người và sự sống của chính ta với thế giới chung quanh. Ðiều quan
trọng nhất là bạn phải biết tin tưởng và tôn trọng trực giác của mình,
nhưng cùng một lúc, bao giờ cũng dám mạo hiểm, dám liều lĩnh để thử
nghiệm. Có thể là bạn cần nên bớt ban cho lại một chút, hoặc tin nơi trực
giác của mình về những sự lạm dụng hay những động cơ thúc đẩy mờ ám. Cũng
có thể bạn cần phải biết cho nhiều hơn nữa, nhưng bằng một lối khác, hoặc
cho những hạng người khác. Và cũng rất có thể, bạn cần phải biết bố thí
cho chính mình trong một thời gian trước đã. Rồi sau đó bạn mới tập bố thí
cho người khác, một chút xíu nhiều hơn là bạn nghĩ bạn có thể, ghi nhận
trong chánh niệm và buông bỏ hết bất cứ một ý nghĩ hoặc mong cầu nào về sự
trả ơn.
Hãy tự động bố thí. Bạn không
cần phải chờ người khác hỏi. Thử xem việc gì sẽ xảy ra - nhất là cho bạn.
Có thể bạn sẽ khám phá ra rằng, bạn đạt được một cái nhìn sáng tỏ hơn về
mình và về những mối tương quan của mình, cũng như bạn sẽ có nhiều năng
lượng hơn, thay vì bị giảm bớt đi. Cũng có thể bạn sẽ cảm thấy thay vì trở
nên đuối sức hoặc nghèo túng, bạn lại được nuôi dưỡng và giàu có thêm lên.
Vì đó là năng lực của sự bố thí vị tha trong chánh niệm. Bạn nên nhớ rằng,
ở một bình diện thâm sâu nhất, thật ra không hề có người cho, không có
người nhận và cũng không có quà tặng... tất cả chỉ là một vũ trụ này, và
nó tự sắp xếp lại mà thôi.
23.- CÁI DŨNG CỦA SỰ YẾU ÐỐI
Nếu bạn là một người có ý chí
mạnh mẽ và thành đạt trong xã hội, có lẽ bạn thường biểu lộ là mình không
khi nào cảm thấy bất an, tổn thương hoặc sút kém bao giờ. Sự kiện này có
thể rất là cô đơn và cuối cùng sẽ đem lại cho ta cũng như người chung
quanh những khổ đau rất lớn. Những người chung quanh sẽ không ngần ngại gì
mà không chấp nhận thái độ ấy của bạn, và họ sẽ cùng thông đồng đem gán
cho bạn có một cá tánh vững như bàn thạch, và từ đó không cho phép bạn
được thật sự biểu lộ ra một cảm tình nào nữa. Thật ra chúng ta rất dễ dàng
bị tách rời với những cảm xúc thật sự của mình, nhất là qua những tấm áo
địa vị và sự hào nhoáng bề ngoài. Sự cô lập này rất thường xảy đến cho
những người chủ trong gia đình và cho bất cứ những ai giữ một chức vụ nào
có chút ít quyền lực, bất cứ ở đâu.
Và khi ta chấp nhận rằng thiền
tập sẽ làm cho ta trở nên vững mạnh hơn, việc ấy cũng có thể tạo nên một
hoàn cảnh khốn khó tương tự. Ta có thể bắt đầu tin thật sự và đi đóng vai
một người hoàn toàn bất lay động, không gì có thể xúc phạm tới, một thiền
sinh chân chánh - là người biết giữ mọi việc trong sự kiểm soát của mình,
có trí tuệ đủ để đối với mọi chuyện mà không bị mắc kẹt vào những phản ứng
cảm xúc. Nhưng trong quá trình ấy, ta có thể vô tình đi ngăn chận chính sự
phát triển của mình một các khéo léo mà không hề hay biết. Chúng ta ai
cũng có một đời sống tình cảm. Chối bỏ nó chỉ tự đem lại hiễm họa cho mình
mà thôi.
Vì thế, mỗi khi bạn cảm thấy
mình đang xây dựng một hình ảnh của sự bất lay chuyển, của sức mạnh, của
một kiến thức sâu rộng hay là một tuệ giác, dựa trên kinh nghiệm thiền tập
của bạn, cho rằng có lẽ mình đã đạt đến một trình độ nào đó rồi và bạn bắt
đầu thích bàn nhiều về thiền theo chiều hướng tự đề cao, tự thổi phồng,
những lúc ấy bạn nên đem chánh niệm trở về để ý thức được những tâm ý ấy
của mình. Bạn hãy tự hỏi, có phải ta đang trốn chạy những yếu đuối của
mình hay không, hay có lẽ vì một nỗi khổ đau, hoặc cũng có thể là vì một
sự sợ hãi nào đó trong tâm. Vì nếu bạn thực sự vững mạnh, bạn sẽ không bao
giờ cảm thấy cần thiết phải chứng tỏ điều ấy với chính mình hoặc người
khác. Cách hay nhất là hãy chọn lựa một con đường hoàn toàn khác hẳn, là
hướng sự chú ý của mình vào nơi nào mà mình cảm thấy sợ hãi nhất. Bạn có
thể thực hiện được việc ấy bằng cách cho phép mình dám cảm xúc, dám khóc
nếu muốn, rằng ta không cần phải có ý kiến về mọi vấn đề, không cần phải
làm ra vẻ như mình là vô song hoặc không có một cảm xúc gì đối với người
khác. Thay vào đó, bạn hãy tập tiếp xúc và cởi mở, một cách thích hợp với
những cảm xúc của mình. Những gì bề ngoài có vẻ như yếu đuối thường thường
lại ẩn tàng một sức mạnh thật sự. Và những gì dường như là sức mạnh nhiều
khi lại là một sự yếu đuối. Chúng chỉ là những bộ mặt và hành động giả tạo
bề ngoài mà thôi, cho dù đối với ta và người khác chúng có vẻ đáng tin đến
đâu đi chăng nữa.
Thực tập: Ghi nhận đường lối
gay gắt của mình mỗi khi ta đối phó với những khó khăn trong cuộc sống.
Hãy thử kinh nghiệm, giữ cho mình được mềm dịu mỗi khi ta cảm thấy muốn
cứng rắn, rộng rãi khi ta cảm thấy muốn ích kỷ, cởi mở ra mỗi khi ta cảm
thấy muốn đóng kín, khép chặt tình cảm lại. Khi nào ta có những buồn khổ
hay sầu muộn, cố gắng cho phép nó có mặt. Hãy cho phép ta cảm xúc những gì
mình đang cảm xúc. Chú ý đến những danh hiệu ta dán cho những giọt nước
mắt và cảm giác dễ bị thương tổn. Buông bỏ hết đi những danh hiệu ấy, chỉ
cần cảm giác những gì mình đang cảm giác, và luôn duy trì chánh niệm trong
từng giây phút, cởi trên đầu những ngọn sóng "thăng" và "trầm", "tốt" và
"xấu", "mạnh" và "yếu", cho đến khi bạn thấy rằng chúng không hề có khả
năng diễn tả trọn vẹn được hết những kinh nghiệm của mình. Sống với chính
kinh nghiệm ấy. Hãy đặt niềm tin nơi sức mạnh thâm sâu nhất của ta: có mặt
trong giờ phút hiện tại, sống tỉnh thức.
24.- ÐỨC ÐƠN GIẢN TỰ NGUYỆN
Trong tôi bao giờ cũng có một
sự thúc đẩy muốn dồn nhét thêm một điều này hoặc việc nọ trong trong giây
phút hiện tại. Chỉ cần một cú điện thoại nữa thôi, dừng lại thêm một chỗ
này thôi trên đường đi đến chỗ kia. Cho dù có ngược đường đi chăng nữa
cũng mặc kệ.
Tôi đã học cách nhận diện được
những cảm xúc thúc đẩy này và bất tin nơi chúng, tôi cố gắng tập cách từ
chối chúng. Ðôi khi tôi bắt gặp mình đang ngồi ăn sáng, trong khi mắt dính
chặt vào hộp bánh ngũ cốc (Cereal), đọc đi đọc lại có lẽ hằng trăm lần tấm
bảng liệt kê những chi tiết về dinh dưỡng, hoặc tờ quảng cáo đồ biếu không
của công ty thực phẩm. Sự thúc đẩy này không cần biết là nó đang được cấp
dưỡng từ những gì, hễ được cung cấp là đủ rồi. Báo chí cũng là một sự hấp
dẫn đặc biệt khác, hoặc là những sách quảng cáo hàng hóa, hay bất cứ những
gì chung quanh mà ánh mắt tôi có thể bắt gặp. Sự thúc đẩy ấy bươi móc tìm
kiếm để giết thì giờ, nó đồng lõa với tâm ý để giữ tôi trong thất niệm, ru
ngủ tôi trong sương mù của sự tê lặng, đủ để làm cho tôi đầy bụng hoặc tức
bụng trong khi hoàn toàn bỏ lỡ mất buổi ăn sáng. Nó khiến tôi không hề
thật sự có mặt với những người chung quanh, không biết đến ánh sáng bình
minh loáng thoáng trên bàn, những mùi hương thơm trong gian phòng, những
năng lượng trong giây phút hiện tại, kể cả những tranh cải và thảo luận,
khi chúng tôi cùng ngồi lại với nhau trong ngày trước khi mỗi người phải
đi một nơi.
Tôi muốn tự nguyện tập cho mình
một đức giản dị để đối trị những cảm xúc thúc đẩy ấy, và muốn đoan chắc
rằng sự dinh dưỡng phải được bắt nguồn từ một bình diện sâu sắc. Tôi thực
tập có ý thức, cố ý bao giờ cũng chỉ làm một việc thôi, và thật sự có mặt
ở đó. Có biết bao nhiêu cơ hội để tôi luyện tập như khi đi dạo chẳng hạn,
hay khi đùa chơi với con chó của mình, tôi thực sự có mặt với nó. Ðức đơn
giản tự nguyện có nghĩa là trong một ngày tôi ít đi đây đó hơn, tôi nhìn
ít lại để có thể thấy được nhiều hơn, làm ít lại để tôi có thể hoàn tất
nhiều hơn, thu thập ít lại để được giàu có hơn. Tất cả mọi việc điều dính
liền với nhau. Là một người cha của mấy đứa con còn nhỏ dại, là một trụ
cột của gia đình, một người chồng, một người con trưởng, một người rất yêu
công việc của mình, tôi không thể nào chọn con đường bỏ đi đến hồ Walden
hay một nơi hẻo lánh nào đó, và ngồi dưới gốc cây trong vài năm, lắng nghe
tiếng cây cỏ đổi thay và bốn mùa chuyển hóa, mặc dù sự thúc đẩy ấy đã vẫy
gọi tôi biết bao nhiêu lần. Nhưng sống giữa những hỗn loạn có trật tự này,
giữa những phúc tạp của đời sống gia đình và việc làm, với mọi đòi hỏi
cũng như trách nhiệm của chúng, những sự nản lòng và niềm vui vô tận, vẫn
có dư thừa cơ hội để ta thực tập sự giản dị bằng những đường lối nho nhỏ.
Chậm rãi lại trong mọi việc là
một phần rất lớn của sự thực tập. Biết bao nhiêu lần tôi đã phải bảo thân
tâm mình ở với đứa con gái thay vì phóng đi trả lời chuông điện thọai,
không phản ứng theo dự thúc dục gọi điện thoại cho một người nào đó đang
"cần gọi" ngay bây giờ, không thu mua những món đồ mới, và ngay cả những
tạp chí, truyện hình, phim chuyện theo một sự thúc dục nhất thời. Ðó là
một trong những cách có thể giúp ta làm đơn giản hóa cuộc sống của mình
một chút. Cũng còn những cách khác nữa như: một buổi chiều chỉ ngồi nghỉ
không cần phải làm gì hết, hoặc đọc sách, hoặc đi dạo một mình, với một em
bé hay một người thân thương, chất thêm đống củi cho đầy, nhìn trăng, cảm
giác gió mát trên mặt khi đứng dưới gốc cây, hoặc là đi ngủ sớm...
Tôi tập nói "không" để giữ cho
đời sống mình được giản dị và tôi thấy rằng mình không bao giờ có thể làm
đủ. Sự tu tập ấy tự nó là một kỷ luật rất cam go nhưng vô cùng đáng giá.
Tuy vậy cũng rất là tế nhị. Trong cuộc sống bao giờ cũng sẽ có những nhu
cầu và cơ hội đòi hỏi sự đáp ứng tức thì của ta. Sự cương quyết sống đơn
giản giữa cuộc đời là một hành động giữ quân bình rất tinh tế. Chúng ta
bao giờ cũng phải biết quay trở về, tìm hiểu thêm và có ý thức hơn. Nhưng
tôi thấy rằng, quan niệm về sự đơn giản tự nguyện giúp cho tôi ý thức được
những gì thực sự quan trọng, về một môi sinh (Ecology) của thân, tâm và
thế giới chung quanh, trong đó mọi sự đều có một tương quan mật thiết với
nhau và mỗi sự chọn lựa của ta đều có những hậu quả rất sâu xa. Ta không
bao giờ có thể kiểm soát được tất cả mọi chuyện. Nhưng chọn sự đơn giản,
mỗi khi được, sẽ đem lại cho sự sống của ta một yếu tố tự do rộng lớn, mà
cũng rất có thể bị đánh mất thật dễ dàng. Và tôi đã khám phá ra rằng "ít"
đôi khi mới thật sự là "nhiều".
Ðơn giản, đơn giản, đơn giản!
Tôi nói rằng một số công việc của bạn phải là hai hay ba, chứ đừng để là
trăm hay ngàn; thay vì là một triệu hãy đếm chừng nửa tá thôi... Giữa đại
dương sóng vỗ bập bềnh của đời sống văn minh, có mây đen và giông bão và
vùng cát lầy và một ngàn lẻ một món đồ cho phép mang theo, nếu một người
muốn sinh tồn, nếu người ấy không về đến bến bị đắm chìm dưới lòng đại
dương sâu thẳm, xem như là đã chết, và chỉ có những ai là bậc tính toán
đại tài mới có thể thành công. Hãy giản dị hóa và giản dị hóa.
Thoreau, Walden.
25.- ÐỊNH
Ðịnh là nền tảng của sự tu tập
chánh niệm. Năng lực chánh niệm của ta hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng
tĩnh lặng, mặt hồ chánh niệm sẽ bị gợn sóng và lao chao, nó không thế nào
phản ảnh được sự thật một cách rõ ràng và chính xác.
Ðịnh có thể được thực tập chung
với chánh niệm hoặc riêng rẽ. Bạn có thể nghĩ đến định như là khả năng của
tâm, giúp ta duy trì sự chú ý của mình vào một đối tượng quan sát mà không
xao lãng. Ðịnh có thể được thực tập bằng cách chú tâm vào một vật mà thôi,
thí dụ hơi thở chẳng hạn, và giới hạn sự chú ý của ta vào nơi đó. Trong
tiếng Phạn, định được gọi là Samadhi hay là "nhất điểm". S