Ba Mươi Ngày Thiền Quán
Kim Chỉ Nam Thiền Vipassana
Nguyên tác: The Experience of Insight,
Joseph Goldstein, 1976
Dịch giả:
Nguyễn Duy Nhiên, 1992
05
Buổi tối thứ hai mươi mốt
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
Cũng vì sự bí mật của sanh,
lão, bệnh, tử mà các đức Phật đã xuất
hiện trong cuộc đời. Không một cõi thế
giới nào mà lại không bị chi phối bởi những sự thật này, và sự giác ngộ
của đức Phật chỉ có mỗi một mục đích duy nhất
là để hiểu thấu được các nguyên
nhân gốc rễ của nó. Có lẽ phần uyên thâm nhất của giáo lý
đức Phật là một diễn tả về sự luân
chuyển không ngừng của sợi dây xích hiện hữu này
được gọi là luật Nhân Duyên.
Có mười hai nhân duyên mà chúng
ta thường gọi là Thập Nhị Nhân Duyên, chúng là: Vô minh, Hành, Thức tái
sanh, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Bệnh tử.
Hai nhân duyên
đầu tiên nói về các nhân
được gieo trong nhũng kiếp quá khứ và
làm điều kiện cho kiếp sau này. Nhân
duyên đầu tiên là Vô minh. Vô minh có
nghĩa là u tối, không thấy được chân lý,
không hiểu giáo pháp, không biết được Tứ Diệu Ðế. Cũng vì ta không
ý thức được sự việc một cách rõ ràng,
không thấy đuợc sự thật khổ đau, gốc rễ của
nó và phương pháp giải thoát, cho nên sự Vô minh
đã làm
điều kiện cho nhân thứ hai trong chuỗi Thập Nhị Nhân Duyên là Hành.
Hành có nghĩa là ý chí, ý muốn bắt đầu cho
những hành động của thân, khẩu và
ý. Những hành động này phát sinh lên
do những tâm thiện hay bất thiện. Hành là do Vô minh tạo nên, vì chúng ta
không hiểu được sự thật cho nên ta tạo
tác nên đủ loại nghiệp. Và rồi nghiệp
lực của những hành động này lại làm
điều kiện cho móc nối thứ ba trong chuỗi Nhân
Duyên.
Nhân duyên thứ ba là Thức tái
sanh, có nghĩa là tâm thức đầu tiên
khi ta mới sanh ra. Vì Vô minh làm điều kiện
cho nghiệp lực mà ta đã tạo tác
trong kiếp trước, Thức tái sanh sẽ khởi lên trong giây phút thụ thai. Tâm
Hành là nhân mà Thức tái sanh là quả. Một sự liên hệ có
điều kiện của luật nhân quả. Sự Vô minh sanh
ra tâm Hành tạo nên nhiều nghiệp lực. Những nghiệp lực ấy làm phát
sanh ra Thức tái sanh, điều kiện bắt đầu cho
cuộc sống này. Và cũng vì có tâm thức
đầu tiên ấy mà cả hiện tượng Danh sắc
được khởi lên với đầy đủ mọi phần tử
của thân và mọi yếu tố của tâm. Rồi tự hiện tượng Danh sắc mà Lục
nhập phát sinh. Lục nhập tức những quan năng
của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý,
được phát triển trong giai đoạn ta còn bào thai.
Thức tái sanh trong giây phút
thụ thai làm điều kiện phát sanh nên
hiện tượng Danh sắc. Vì sự có mặt của Danh sắc mà Lục nhập, gồm năm
giác quan và ý thức sanh ra. Rồi Lục nhập lại làm
điều kiện cho Xúc, tức sự tiếp nhận của những
giác quan (Căn), khi tiếp xúc với những đối tượng của chúng (Trần), như là
mắt với màu sắc, tai với tiếng động, mũi với
mùi, lưỡi với vị, thân với cảm giác, ý thức với lại tư tưởng. Xúc
đòi hỏi cả ba yếu tố: Căn
(giác quan), Trần (đối tượng của giác quan) và Thức (sự nghe, thấy,
ngữi, nếm, cảm giác và suy nghĩ). Lục nhập làm phát sinh Xúc. Rồi bởi vì
sự tiếp xúc giữa mắt với màu sắc, tai với tiếng
động, và những Căn
với Trần khác mà Thọ sanh lên. Thọ tức là những cảm giác dễ chịu,
khó chịu hay trung hòa xảy ra trong từng sát na của tâm, khi có sự xúc
chạm. Dù sự tiếp xúc có qua những cánh cửa giác quan hay là qua ý thức,
Thọ lúc nào cũng có mặt, và nó được gọi là
một tâm hành cơ bản. Xúc làm điều kiện phát
sanh của Thọ, tức là những cảm giác của ta.
Bởi vì có Thọ nên mới có Ái. Ái
tức là lòng tham dục, ham muốn, khao khát một vật gì. Chúng ta muốn gì?
Chúng ta muốn những hình ảnh âm thanh dễ chịu, những mùi vị thơm ngon,
những cảm giác, tư tưởng tươi mát, nhẹ nhàng. Chúng ta muốn vứt bỏ mọi
điều gì làm cho mình khó chịu. Ái sanh
ra là bởi có Thọ. Chúng ta bắt đầu khao khát
hoặc là trốn tránh những đối tượng
khác nhau của Lục nhập. Thọ là điều
kiện phát sanh của Ái. Ái là điều kiện
phát sanh ra Thủ. Thủ có nghĩa là nắm giữ, muốn lấy làm của mình.
Bởi vì chúng ta có tham dục nơi các đối tượng
của sáu giác quan, kể cả ý thức, nên ta muốn chiếm giữ, nắm bắt, ta
nhận chúng là mình, gắn bó với chúng. Bởi có Ái nên mới có Thủ.
Rồi bởi vì Thủ mà ta bắt
đầu tạo nghiệp, gây quả, tiếp tục những hành
động trong kiếp trước mà
đã tạo nêm Thức tái sanh cho kiếp này.
Thọ sanh Ái, Ái sanh ra Thủ và Thủ làm điều
kiện cho Hữu tức là một sự tiếp nối trở thành, nó làm năng
lực cho hạt giống luân hồi, Thức tái sanh cho kiếp sau. Từ những nghiệp
lực này, được tạo nên do Thủ,
mà ta lại có Sanh.
Vì Sanh nên mới có Bệnh tật,
chán nản. Có tàn hoại và đau đớn. Có khổ đau,
có Chết. Và bánh xe luân hồi lại tiếp tục xoay tròn, kéo theo một
chuỗi Nhân Duyên vô Ngã.
Vấn
đề của đức Phật và của tất cả chúng
ta, là làm sao tìm được một lối thoát ra khỏi
cái vòng lẩn quẩn Nhân Duyên tiếp nối này. Tương truyền rằng trong
đêm giác ngộ dưới gốc Bồ
đề, đức Phật đã
đi ngược lại dòng Nhân Duyên tìm một
lối thoát. Tại sao có già, có bệnh, có chết? Vì có Sanh. Tại sao lại có
Sanh? Vì có Hành phát khởi do tham, sân, si. Nhưng tại sao chúng ta lại bị
vướng víu vào những hành động này? Vì
có Hữu. Tại sao lại có Hữu? Vì có Ái. Tại sao lại có Ái? Vì có Thọ, vì
những cảm giác dễ chịu, khó chịu khởi lên. Tại sao lại có Thọ? Vì có Xúc.
Tại sao lại có Xúc? Vì có Lục nhập, và cả một hiện tượng Danh và Sắc.
Chúng ta không làm gì
được khi đối diện với tiến trình thân
tâm này. Nó có vì sự Vô minh trong quá khứ và vì chúng ta
đã sanh ra ở
đây. Không có cách nào
để tránh sự tiếp xúc, đụng chạm cả. Chúng ta
không thể nào đóng lại những cửa giác
quan của mình, cho dù chúng ta có muốn. Mà
đã có tiếp xúc,
đụng chạm thì ta không thể nào ngăn
không cho Thọ khỏi phát sinh lên được.
Hễ đã có Xúc thì sẽ có Thọ. Ðó là một tâm hành cơ bản của tâm.
Nhưng cũng ngay ở điểm quan trọng này,
Thọ, mà ta có thể cắt đứt được chuỗi Nhân Duyên
liên tục ấy.
Hiểu
được luật Nhân Duyên, bởi vì cái này
có mà cái kia có, chúng ta có thể chặt đứt đi
sợi dây xích liên tục ấy. Khi một lạc thọ phát sinh, ta không nên
nắm bắt, khi một thọ khổ có mặt, ta không xua
đuổi. Khi có một cảm thọ trung hòa, ta không rơi vào quên lãng,
thất niệm. Ðức Phật dạy con đường của thất
niệm là con đường của sự chết. Và
con đường của chánh niệm và trí tuệ là
con đường đưa đến sự bất tử. Chúng ta có hoàn
toàn tự do để phá tung sợi dây xiềng xích này,
thoát ra khỏi những phản ứng do điều kiện.
Chúng ta phải duy trì một sự tỉnh thức, một chánh niệm vững chãi
trong từng giây phút, để giữ cho cảm Thọ
không khởi sanh lên Ái dục.
Những khi ta thất niệm, cảm thọ
sẽ làm cho ái dục phát sanh. Nếu có điều gì
dễ chịu, ta sanh ra sự ưa thích; còn những gì khó chịu, ta lại có lòng
muốn hủy diệt nó đi. Nhưng nếu thay vì
thất niệm, ta có một chánh niệm và trí tuệ, thì mỗi khi có một cảm thọ
sinh lên, ta chỉ kinh nghiệm nó mà không phản ứng mù quáng theo thói quen
là nắm bắt hay chối bỏ. Ðối với một cảm thọ dễ chịu, ta kinh nghiệm nó
bằng chánh niệm mà không bám víu. Ðối với cảm thọ khó chịu, ta kinh nghiệm
bằng chánh niệm mà không ghét bỏ. Cảm thọ không còn làm phát khởi Ái dục
nữa. Bây giờ chỉ có chánh niệm, vô tư, xả bỏ. Không có Ái dục thì sẽ không
có Thủ, không còn Thủ thì Hữu cũng sẽ không sanh. Mà chúng ta không còn
tạo nên năng lực thì sẽ không có tái
sanh, không bệnh, không già, không chết. Chúng ta hoàn toàn tự do. Không
còn bị lôi cuốn bởi Vô minh và Ái dục, tất cả khối khổ
đau sẽ bị hoàn toàn tiêu trừ.
Mỗi giây phút của chánh niệm,
tỉnh thức là một nhát búa đập xuống sợi dây
xiềng xích Nhân Duyên này. Những nhát búa giáng xuống với sức mạnh
của trí tuệ, của ý thức sẽ làm cho sợi dây xích càng lúc càng yếu
đi, cho đến khi nó bị đứt tung. Những gì
chúng ta đang thực hành ở
đây là quán chiếu thẳm thấu vào trong
chân lý của luật Nhân Duyên, để giải thoát
tâm ta ra khỏi sự ràng buộc của chúng.
Hỏi: Tôi thấy rằng càng
đi sâu vào sự tu tập, tôi lại càng cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của giáo pháp, tự
tính của mọi sự vật.
Ðáp: Hạnh phúc cao thượng nhất
là hạnh phúc của Vipassana, hạnh phúc của trí tuệ, nhìn thấy
được tự tướng của vạn hữu. Khi ta bắt đầu cảm
nhận bằng một sơ tâm của đứa trẻ thơ, mỗi giây phút đều là mới lạ,
tươi mát, thì trạng thái này an lạc lắm. Cũng vậy, sự sống của ta sẽ là
một niềm vui lớn nếu ta biết sống với cái sơ tâm ấy, một tâm không bị
điều kiện chi phối, một tâm biết trực nghiệm
thay vì cứ tưởng tượng. Ðức Phật dạy rằng mùi vị của
đạo pháp siêu diệu hơn mọi thứ mùi vị
khác. Nó đem lại cho ta một cảm giác sáng
suốt, hiểu biết, để nhìn thấy rõ tự thể của vạn hữu,
để hòa hợp chung một giai
điệu và trở thành một với Ðạo lớn.
Nhưng trên con
đường đi đến sự hòa
điệu hoàn toàn ấy,
đôi khi ta phải trải qua một kinh nghiệm bất
mãn rất sâu đậm. Một khổ đau mà
ta đã thừa hưởng từ luật vô thường của
cuộc sống. Có nhiều người đã phải nếm
qua mùi vị của sự chán nản này. Những ai đã
từng trải qua cảnh ngộ ấy, thường được một
lợi lộc là có một thái độ ung dung tự
tại, Vì khi ta kinh nghiệm được một
cách sâu xa những nỗi khổ đau của thân và tâm, ta sẽ hiểu rõ ràng
giá trị của một thái độ vô chấp, xả bỏ, ta sẽ
không còn muốn nắm giữ nữa. Ta biết chúng chẳng có gì
đáng để cho mình ham muốn. Và từ sự vô
chấp ấy, tâm của ta sẽ trở nên quân bình và có thể nhìn sự thay
đổi của mọi vật bằng một thái độ ung dung,
với một ý thức sáng tỏ và an lạc.
Hỏi: Muốn
đạt được giác ngộ, ta có cần phải chết đi
không?
Ðáp: Giác ngộ có nghĩa là sự
chết của tham, sân và si. Lý do chúng ta sợ chết là vì ta không hiểu rằng
tiến trình của sự chết đang xảy ra trong giờ
phút này. Cho nên đối với những người
không tu tập, họ có nỗi sợ phải mất đi thân này. Thật ra thì không
có một ai chết cả, vì đâu có một cá nhân nào
đứng phía sau tiến trình ấy. Sự thật
chỉ là một chuỗi sanh diệt, sanh diệt liên tục tiếp nối nhau... theo sự
lôi cuốn của Ái và Thủ. Muốn giải trừ những
điều kiện ấy, giải thoát tâm ta ra khỏi sự đam mê và bám víu ta
phải biết kinh nghiệm được sự an vui lúc nào
cũng đang hiện có mặt, nhưng vì ái dục
mà ta không thấy được. Cũng giống như mốt con
khỉ đang nắm chặt bàn tay, nó chẳng bị một ai trói buộc ngoài trừ
lòng tham dục của chính nó. Nó chỉ cần mở rộng bàn tay ra là thoát
được. Chúng ta cũng vậy, chỉ cần buông xả là
có thể tự tại bước đi.
-ooOoo-
Buổi tối thứ hai mươi hai
CHẾT VÀ TỪ BI
Một hình ảnh thường
được dùng
để diễn tả sự tu tập thiền quán, trí tuệ là một người
đang đi trên một sợi dây treo trên
không. Khi chúng ta đi trên một sợi
dây treo lơ lững giữa trời, thì điều cần phải
quan tâm là sự cân bằng: luôn luôn giữ một thái
độ ung dung, quân bình. Khi ta
đang đi, sẽ có nhiều sự vật bay ngang qua:
những hình ảnh, những âm thanh, tình cảm, tư tưởng và ý niệm khác
nhau. Nếu ta ưa thích, ta sẽ có khuynh hướng vói ra, cố nắm bắt, muốn giữ
lại. Còn nếu những âm thanh, hình ảnh kia là khó chịu, bực mình, ta cũng
có một khuynh hướng vói ra để xua đuổi, đẩy
chúng đi nơi khác. Trong cả hai trường hợp, ta đều ngả mình tới,
mất đi quân bình và có thể té
được.
Cả hai phản ứng ưa thích và
ghét bỏ đều có cùng một nguy hiểm như
nhau. Bất cứ một việc gì, dù có huy hoàng hay ghê sợ
đến đâu, nếu chúng khiến ta mất đi tâm quân bình,
sẽ làm ta ngả. Cho nên lúc nào chúng ta cũng phải cứ tiếp tục và tiếp tục,
đào luyện một tâm an nhiên, không phản
ứng bằng cách nắm bắt hay xua đuổi bất cứ một
đối tượng nào. Hãy tu tập một tâm vô chấp, không dính mắc vào
đau cả, vào bất cứ một chuyện gì, cứ
để chúng tự nhiên
đến rồi đi.
Sự vô chấp phát sinh từ một sự
hiểu biết thâm sâu vào lý vô thường. Trên một bình diện, trí tuệ này nhận
thức được sự cấp bách và tính cách tất
nhiên của cái chết. Trong Áo Nghĩa Thư (Bhagavad-Cita) có câu hỏi: "Trong
mọi điều kỳ lạ tên thế giới này, sự
việc nào là kỳ lạ nhất?". Và câu trả lời: "Ðó là không có một người nào,
mặc dù thấy những người chung quanh mình chết, vẫn không tin rằng rồi một
ngày mình cũng sẽ chết".
Thường vì thất niệm nơi số phận
của mình mà ta thường đi tham lam thu thập và
chiếm hữu, muốn mình trở thành một nhân vật quan trọng. Chúng ta chấp vào
các việc làm của những tâm ý nhỏ nhen, coi những tham vọng, cái tôi của
mình là quan trọng nhất. Chúng ta đánh mất đi
viễn tượng của một tâm lớn, về một cái chết của mình.
Don Juan xem cái chết như là
một vị thầy; biết ý thức được cái chết không
thể nào tránh khỏi của mình với một thái
độ sáng suốt và chấp nhận, mà không hề
hối tiếc, buồn lo hay sợ hãi. Hồi tưởng về cái chết của mình sẽ
đem lại cho ta một sức mạnh, giúp cho ta biết
trân quý và sống trọn vẹn mỗi giây phút, mỗi hành
động.
Trong tâm thức của mỗi chúng ta
đều có những khuôn mẫu, tạo nên bởi
các hành động của mình. Thường thường
thì đa số những hành
động là các thói quen xấu như giận dữ,
yếm thế. Nhưng ta cũng có thể đem vào
tâm một ý thức về cái chết, và dùng nó để
chiếu soi lên trên mọi sinh hoạt của mình. Nếu ta biết lấy cái chết
làm thầy, chúng ta sẽ sống mỗi phút thật trọn vẹn và chí tình, như là một
nỗ lực cuối cùng trên quả đất này
vậy.
Khi ta biết giữ cái chết trong
tầm tay với, ta sẽ bớt đi đam mê và
quyến luyến những giây phút vui thú, thỏa mản tạm thời. Vì khi tâm ta
không còn bị mê mờ vì ái dục và ảo tưởng, chúng ta sẽ bớt
đi khuynh hướng muốn chiếm hữu và có
thể đem ban bố tình thương và sự
độ lượng của mình. Chánh niệm về cái
chết, cho ta một khoảng không gian sáng tỏ, giúp ta hiểu
được thật sự mình là ai và ai là người
sẽ phải chết.
Trên bình diện này, hiểu
được lý vô thường có nghĩa là ý thức
được những giai đoạn chuyển tiếp, tính cách
tạm thời của mọi hiện tượng trong giây phút này sang giây phút kế.
Trong mỗi sát na, tiến trình thân tân, cả vũ trụ này,
đang khởi lên và mất
đi, sanh và diệt tiếp nối nhau không
ngừng nghỉ. Sự tu tập của ta là để đào
luyện một tâm tĩnh lặng và an nhiên, không hề xao
động trước một sự thay đổi lớn lao như vậy.
Cả phương pháp tu tập này bắt
nguồn từ một công thức duy nhất là: giản dị ý thức
được những gì
đang xảy ra trong giờ phút hiện tại mà
không phản ứng. Một thiền sư ở Ấn Ðộ có dạy rằng, chúng ta chỉ cần ngồi và
ý thức được rõ ràng là mình
đang ngồi, rồi thì cả giáo pháp sẽ tự
nhiên hiển bày. Bạn sẽ thấy được thông suốt
tự tính của vạn vật, và bây giờ giáo pháp sẽ thật sự trở thành là
bạn.
Trong giai
đoạn chuyển hóa này, nhờ ở sự quân
bình và vô chấp, những đức tính tốt đẹp và
tự tại của tâm sẽ bắt đầu hiển lộ. Một trong
những đức tính này là lòng Từ (Metta). Lòng Từ có nghĩa là lòng
thương mình, bằng một sự chấp nhận, không phê phán, giữ một không gian
thanh thản trong tâm; và lòng thương kẻ khác, nhưng không vì lòng quyến
luyến, muốn chiếm hữu. Ðây không phải là một thứ tình thương có
điều kiện - thương người khác vì một
đức tính hay đặc điểm nào
đó, và nếu họ thay
đổi, tình thương của ta cũng chấm dứt.
Nó không phải là một loại tình thương "đổi
chác" - "Tôi thương bạn nếu bạn thương tôi".
Lòng Từ phát xuất do trí tuệ là
một thứ tình thương vô điều kiện, một lòng
đại từ - một tình thân hữu, ấm áp
đối với mọi loài ở mọi nơi. Tình
thương ấy không chỉ có giới hạn trong những người
đang có liên hệ với mình. Nhưng không
phải ta đi tìm kiếm người khác vì nhu
cầu, vì mong muốn, mà do sự phát tỏa tự nhiên của một tình thương vô bờ
bến.
Một
đức tính nữa cũng bắt đầu hiển lộ là
đức Bi. Ðức Bi không phảilà lòng tự
thương hại hoặc thương hại người khác. Nó tức là thấy
được sự đau khổ của mình và cảm nhận
được những khổ đau của người khác. Chữ Pali
"Kilesa" thường được dịch ra là những gì bất thiện, nó cũng có một
nghĩa đặc biệt là "khổ tâm". Những sự
giận dữ, tham lam, các tâm bất thiện đều có
thể gây ra đau khổ. Chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của chúng
đối với thân tâm mình, nếu ta biết
quán chiếu khi chúng khởi sanh lên. Một khi chúng ta hiểu sâu giáo pháp,
ta sẽ cảm thấy thương xót chứ không phê phán hay lên án những tính xấu của
mình và ta sẽ thông cảm được nỗi khổ đau của
người khác khi họ bị những trạng thái như vậy. Thấy được tấm màn
lưới chằng chịt của khổ đau mà tất cả
chúng ta đang vướng vào, ta sẽ có lòng
thương xót đối với nhau hơn.
Một biểu lộ cao quí nhất trong
những đức tính này là sự phô bày của
một cái rỗng không - vô ngã. Khi đã
không còn "Tôi" thì sẽ không còn "người khác". Không có "ngã" thì cũng sẽ
không có "Nhân". Cảm tưởng phân chia sẽ biến mất. Lúc này ta cũng sẽ kinh
nghiệm được cái Một, sự đồng nhất của vạn
vật.
Albert Einstein có viét: "Con
người là một phần nhỏ của một cái lớn mà chúng ta quen gọi là vũ trụ, phần
nhỏ ấy bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Anh ta kinh nghiệm mình,
tư tưởng của mình, cảm giác của mình như là những gì riêng biệt với tất
cả, đây chỉ là một loại Vọng tưởng.
Vọng tưởng này là một thứ ngục tù của chúng ta, giới hạn ta vào một số
tham vọng cá nhân và tình thương đối với một
số người lân cận. Phận sự của ta là tự giải thoát mình ra khỏi ngục
tù này, bằng cách mở rộng lòng Từ Bi ra để ôm
trọn mọi sinh linh, mọi loài và toàn cõi thiên nhiên trong vẻ
đẹp vô cùng của nó".
Ánh sáng của
đức Từ Bi trong tâm ta bấy lâu nay bị tham,
sân, si che phủ. Khi chúng ta phá tan những đám mây mù này bằng sự
quán chiếu của trí tuệ, thì đức tính từ bi sẽ
lại bắt đầu chiếu soi một cách tự tại như xưa.
Ðức Phật có dạy cho ta một
phương pháp tu tập, để khai triển mạnh mẽ
những dức tính này trong đời sống của
mình. Pháp tu này được gọilà
"Metta Bhavana" hay là Từ Bi Quán. Thực hành phương pháp này sẽ làm cho
thiền Vipassana được thêm phong phú,
vì khoảng không gian thênh thang và sự nhẹ nhàng trong tâm mà nó có thể
tạo nên. Nó củng cố khả năng quan sát mà
không phê phán và giúp cho ta tránh được một
khuynh hướng thường tình trong con
đường tu tập, và mong muốn được trở thành
một nhân vật nào khác.
Trên suốt con
đường tu tập, bạn sẽ nhận thấy rằng phương
tiện và mục đích chỉ là một.
Muốn đạt đến một mục đích an lạc, chánh niệm
và tình thương, ta phải biết tập cách thực hiện nó trong mỗi giây
phút hiện tại.
Thường thường thì chúng ta thực
hành Từ Bi Quán khoảng chừng năm hay mười
phút trước hoặc sau, đôi khi cả hai, mỗi lần ngồi thiền. Vào những
giờ trước khi ngồi thiền, nó sẽ tạo nên một khoảng không gian cởi mở mà ta
có thể đem áp dụng vào sự chú ý
đơn thuần, và vào cuối giờ thiền thì
những tư tưởng Từ Bi có một ảnh hưởng rất mạnh vì tâm ta lúc
đó đã
được định.
Phương pháp này rất giản dị.
Ngồi lại trong một vị thế cho thoải mái. Trước hết, chúng ta phải giải
thoát tâm mình ra khỏi mọi sự căng thẳng hay
thù hận, nếu có, bằng cách xin và ban bố sự tha thứ: "Nếu tôi
đã từng làm ai
đau khổ hay thương tổn bằng tư tưởng, lời nói
hay hành động, tôi xin được tha thứ. Và
tôi cũng hoàn toàn tha thứ cho những ai đã
từng làm tôi đau khổ hay tổn thương". Lập đi
lập lại câu này trong im lặng, chừng một hai lần là một phương pháp
hiệu quả, để gột rửa tâm mình không
còn những cặn bả của niềm hận thù hay tức giận.
Tiếp
đó chừng trong một vài phút, hãy hồi
hướng những tư tưởng tốt lành đến cho mình:
"Xin cho tôi được hạnh phúc, xin cho tôi được
an lạc, xin cho tôi được thoát ra những khổ đau. Xin cho tôi được hạnh
phúc, xin cho tôi được an lạc, xin cho tôi được thoát ra những khổ đau".
Tập trung vào ý nghĩa của những câu ấy. Chúng ta không thể nào thật
sự thương một người khác được, nếu ta không
thể chấp nhận và thương chính mình. Những danh từ, cách dùng chữ
không quan trọng. Bạn hãy chọn những câu nào có thể gây một sự rung
động trong bạn. Biến chúng trở thành
một câu thần chú của tình thương.
Tiếp tục thực hành, bắt
đầu phóng những tư tưởng và cảm tình
này đến những người khác: "Cũng như tôi muốn
được hạnh phúc, cầu xin cho tất cả mọi loài
được hạnh phúc. Cũng như tôi muốn được an
lạc, cầu xin cho mọi loài đều được an
lạc. Cũng như tôi muốn được thoát ra khỏi khổ đau, cầu xin cho mọi loài
đều được thoát ra sự khổ đau". Lập lại câu này
trong đầu vài lần, rồi bắt
đầu phóng tư tưởng Từ Bi đến những người
khác. Những câu ấy có thể được rút gọn lại một cách nhịp nhàng và
ta có thể tụng torng vòng năm hay mười phút:
"Xin cho tất cả được hạnh phúc, an lạc và không bị khổ
đau".
Bạn cũng có thể hướng những tư
tưởng này đến một số người chọn lọc nào
đó, có thể là những người thân mà bạn
đang mến yêu, hay là những người mà
bạn đang tức giận hay có một mối hiềm thu,
như là cách cởi mở ra với lòng nhân hậu. Hãy tưởng tượng ra họ
trong đầu khi bạn niệm những lời này.
Và sau cùng hết, một lần nữa, phóng tâm từ
đến với mọi loài ở mọi nơi.
Những lúc
đầu, phưong pháp này có vẻ như là máy
móc, nhưng khi bạn thực tập đều đặn, cố gắng
tập trung vào ý nghĩa của những lời ấy, vào sự chúc lành của bạn
đến kẻ khác, dần dần tâm Từ Bi sẽ phát triển
và trở nên vững mạnh.
Hỏi: Xin ông vui lòng giải
thích thêm về sự liên hệ của Từ Bi và Trí Tuệ?
Ðáp: Sự phát triển tâm Từ là
một loại thiền định, làm cho tâm ta
tập trung vào một điểm duy nhất là
tình thương. Nó hoạt động trên một
bình diện thuộc về khái niệm, với một khái niệm "trở thành". Ðây là một
phương pháp sử dụng khái niệm vô cùng thiện xảo, và nó tạo nên một khoảng
không gian, nhờ đó mà chánh niệm có
thể hoạt động hiệu quả hơn. Nói tóm lại nó sử
dụng Ðịnh để đem lại một sự yên
nhẹ trong tâm, nhờ đó ta có thể đi sâu hơn vào
một bình diện trí tuệ khác.
Hỏi: Ông có thể nói thêm một
chút về vấn đề sáng tỏ được không?
Ðáp: Trong những giờ ngồi
thiền, có thể bạn đã có những kinh
nghiệm là đôi khi tâm mình rất sắc bén
và sáng suốt, nó có thể ý thức được mọi
chuyện đang xảy ra trong mỗi giây phút. Và cũng có những lúc tâm
bạn bị mù mờ, lộn xộn, không nhận diện được
sự việc một cách rõ ràng, mọi vật có vẻ mơ hồ. Nó cũng giống như
một căn phòng tối lờ mờ, nếu chúng ta
vặn đèn lên, thì mọi vật sẽ trở nên rõ
rệt và sáng tỏ hơn. Khi tâm ta không có đủ
ánh sáng, ta không thể nào thấy rõ sự vật
được, ta có thể thấy lờ mờ bóng dáng của
chúng, chứ không thấy những chi tiết được. Còn khi tâm ta có
đủ ánh sáng, mọi vật đều có thể được phân
biệt rõ ràng và nhờ vậy mọi tiến trình
đều trở thành sáng tỏ, dễ hiểu. Ánh sáng
đó chính là ánh sáng của ý thức và
chánh niệm.
Hỏi: Nhưng rồi ta có bị chấp
vào sự sáng tỏ đó không?
Ðáp: Bạn có thể lắm chứ. Ta gọi
đó là sự hư hoại của trí tuệ. Bạn phải
ý thức được tự thân của sự sáng tỏ, để khỏi
phải bị vướng mắc hay chấp cho nó là mình. Bởi vì sự sáng tỏ cũng
chỉ là một phần của tiến trình. Khi chánh niệm và
định lực mới bắt đầu phát triển, người ta
thường tưởng rằng lúc này là mình đã
được giác ngộ, đã
đến đích rồi, không còn gì nữa
để làm. Bởi vì lúc ấy ta cảm thấy thư
thái, nhẹ nhàng, an lạc và hạnh phúc lắm. Lúc ấy vai trò của vị thầy rất
là quan trọng, ông chỉ khuyên: "Hãy cứ tiếp tục ngồi thiền".
Hỏi: Sự sáng tỏ ấy ở với ta qua
mọi giai đoạn hay là chúng cũng chỉ
đến rồi đi như những hiện tượng khác?
Ðáp: Khi ta tu tập tiến bộ, nó
ở với ta lâu hơn, mặc dù không phải là mãi mãi. Nó là một tâm hành phát
triển mạnh theo sự thực hành của mình. Bạn sẽ trải qua những giai
đoạn tiến bộ của sự sáng tỏ, cho dù ở
những giai đoạn này ta không còn cảm
thấy vui thú hay hỷ lạc nữa. Trong những trạng thái khổ
đau cũng vẫn có thể có sự sáng tỏ. Bạn sẽ
trải qua những giai đoạn mà bạn kinh nghiệm một sự khổ
đau vô bờ cũng như niềm an lạc bất tận. Trong
cả hai trạng thái đều có một sự sáng tỏ. Con đường, như Don Juan đã
nói, là để đạt đến một sự toàn vẹn của
con người. Không phải chỉ để kinh nghiệm một
khía cạnh, nhưng là để kinh nghiệm
niềm hạnh phúc, nỗi khổ đau, sự trong sáng, tất cả. Thấy được một cách
trọn vẹn ta là ai.
Hỏi: Có phải Từ Bi chỉ ảnh
hưởng tới tâm của mình mà thôi?
Ðáp: Sức mạnh của một tâm từ
khi được trợ lực bởi sự tập trung của tâm ý
thì tất là mãnh liệt. Có một câu chuện về
đức Phật và người em họ của ngài là Ðề
Bà Ðạt Ða, ông này muốn giết Phật để trở thành
giáo chủ của Tăng đoàn. Ðề Bà Ðạt Ða
biết rằng ông không thể nào giết Phật một cách
đường hoàng
được, nên ông sắp
đặt để cho một con voi điên cuồng chạy
xuống chỗ đức Phật đi khất thức. Ông nghĩ
rằng, một là đức Phật sẽ sợ hãi
bỏ chạy, như vầy thì uy tín của ngài sẽ bị tiêu tan; hai là nếu ngài ở lại
thì sẽ bị con voi điên kia giày xéo
chết. Ngày hôm sau, khi đức Phật đang đi khất
thực trên con đường nhỏ hẹp, Ðề
Bà Ðạt Ða thả con voi điên ấy ra. Ðức
Phật không hề hoảng sợ hay bỏ chạy. Ngài vẫn
đứng đấy điềm nhiên, với một tâm định
kiên cố, ngài phóng những tư tưởng từ bi
đến con voi điên ấy. Kinh kể lại, tâm
của con voi bị tâm Từ của đức Phật biến trở
thành hoàn toàn lặng lẽ, và con voi từ từ quỳ xuống khuất phục dưới
chân ngài.
Hỏi: Tâm Từ biểu lộ ra bằng
cách nào?
Ðáp: Lòng Từ Bi không nhất
thiết phải theo một luật hành động nhất định
nào. Nó chỉ có nghĩa là cố hết sức của mình
để hành
động bằng tình thương, bằng tâm từ qua những phương thức thích hợp
với hoàn cảnh. Ðiều quan trọng là không nên tìm kiếm một công thức hành
động nhất định để đem áp dụng cho mọi hoàn
cảnh, vì bạn phải rất là thành thực với chính mình, với những gì mình
đang cảm nghĩ. Trong giai đoạn đầu thì
cách thực hành Từ Bi Quán rất là máy móc. Tâm Từ là một tâm hành của ta,
nó không phải là một cái gì huyền bí mà ta nghĩ rằng mình có hay không có.
Trên phương diện này, nó cũng giống như là chánh niệm, tâm
định, trí tuệ hay là tham, sân. Nếu ta
biết trau dồi, nó sẽ phát triển, còn nếu bỏ quên, nó sẽ héo hon
đi. Lúc đầu thì nó không có vẻ tự
nhiên, nó đòi hỏi một sự cố gắng,
nhưng khi luyện tập tiến bộ ta sẽ trở thành thông thạo và tâm Từ sẽ tự nó
phát khởi lên.
-ooOoo-
Buổi tối thứ hai mươi l
ăm
ÐẠO
Trong
đạo Lão có một câu chuyện về một thân
cây mọc trên rừng. Cây ấy già và cong queo, các cành
đèu cằn cội và
đầy những u bướu. Có người đi ngang qua và
phê bình với Trang Tử rằng cây ấy thật là vô dụng, vì thân và cành
đều cong vòng, khúc khuỷu cho nên
không thể dùng vào việc gì được hết.
Trang Tử
đáp:
- Cây trên núi là tự vời người
đến đốn phá. Mỡ chứa lửa là tự làm cho
mình bị thiêu đốt. Cây quế ăn được nên
bị chặt. Cây sơn dùng được nên bị cắt.
Người biết dùng cái dùng được, mà
không ai biết dùng cái không dùng được.
Sự vô dụng của cây là yếu tố
bảo vệ cho nó. Vì không ai cần nó nên chẳng ai
đốn xuống, nhờ vậy mà nó
được yên thân, sống thọ, hưởng trọn
kiếp thiên nhiên của mình.
"Không mấy ai biết dùng cái
không dùng được". Vô dụng có nghĩa là
gì? Nó có nghĩa là rỗng không, không nỗ lực
để trở thành một cái gì quan trọng, hay bất cứ một cái gì khác,
giải thoát tâm mình ra khỏi tư tưởng mong cầu. Trở nên vô dụng có nghĩa là
ổn định xuống và
để cho tự tính của mình
được phát hiện một cách giản dị và tự
nhiên.
Có một vị sư nổi tiếng ở Thái
Lan đã tóm tắt thái
độ này, và có lẽ trọn vẹn cả giáo pháp
trong một câu ngắn gọn. Ông ta nói: "Không có gì
để trở thành, không có gì
để làm, không có gì
để giữ". Chẳng có gì là quan trọng
hết. Mọi vật đều vô thường và luôn
luôn trôi chảy, chuyển hóa. Nếu chúng ta có thể tự giải thoát ra khỏi nỗ
lực để trở thành một người nào quan
trọng, theo một đường hướng nào
đó, hay là
để đạt được một điều gì - không còn
ham muốn hành động, trở thành và chiếm
hữu - chúng ta có thể an trú trong sự phô bày của giáo pháp.
Ðạo Lão thường bàn nhiều về vấn
đề trở nên vô hình trong cuộc
đời. Có câu chuyện kể về một vị hoàng
tử đi săn khỉ. Khi ông ta vừa vào
đến rừng, thì những con khỉ thấy bóng
dáng ông ta là đã chạy tán loạn
đi trốn hết. Nhưng duy có một con khỉ vẫn cứ
ngồi yên trên cành, không có vẽ gì sợ hãi. Hoàng tử bèn lấp tên vào
cung và bắn. Nhanh như chớp, con khỉ đưa tay
ra bắt lấy mũi tên trong khi nó vẫn còn
đang bay tới. Thấy vậy, vị hoàng tử ra
lệnh cho tất cả quân lính của ông lấp tên vào cung bắn một lượt. Con khỉ
bị trúng tên ngã xuống.
Bởi vì con khỉ ấy
đã phô trương tài năng
của nó, tự kiêu một cách vô lối, nên tài năng
ấy đã trở thành nguyên nhân cho sự diệt vong. Tương tự như vậy, khi
chúng ta hành động với một ý khoe khoan, muốn
phô trương cái hay cái giỏi của mình, hay khi những hành
động phát xuất từ một sự chấp ngã,
chúng sẽ tạo ra một lực đối kháng lại, gây
cho ta những sự xung đột và mâu thuẩn. Bước
đi trong cuộc đời một cách vô hình có
nghĩa là không quá khích quả quyết tài năng
hay đức tính của mình. Không phô trương. Ðây chính là một thái
độ của sự vô ngã, không có một ý niệm
tự quan trọng hay tự nỗ lực nào. Chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại, sống
hòa hợp với hoàn cảnh chung quanh.
Một trong những khám phá quan
trọng nhất khi tôi mới bắt đầu tu thiền, là
có biết bao nhiêu hành động bắt nguồn từ ý
muốn tạo nên một hình ảnh về mình: trang sức theo một lối riêng,
đối xử với người chung quanh theo một cách nào
đó. Tất cả đều xoay chung quanh ý niệm về một
cái Tôi, mà tôi đã bỏ công tạo
dựng và rồi cố gắng duy trì nó. Cứ mang vác theo một hình ảnh về mình là
một gánh nặng gây ra một sự mâu thuẩn, đối
chọi giữa con người thật của mình trong giây phút hiện tại với hình
ảnh mà mình mong muốn. Vấn đề không phải là
hành động một cách vô hình, mà là hành
động với một sự vô ngã, giúp ta an trú
trong giáo pháp, trong Ðạo lớn. Chẳng có gì
đặc biệt để ta trở thành, chẳng có gì
đặc biệt để ta làm, chẳng có gì đặc
biệt để ta giữ. Chúng ta có thể buông bỏ những hình ảnh về mình,
buông bỏ những phóng ảnh, và mọi cố gắng nỗ lực
để duy trì chúng. Hãy an trú trong
hiện tại và để cho nó tự hiển lộ, mà
không mảy may có một thành kiến nào về con người thật của mình hết.
Suzuki Roshi trong quyển "Thiền
Tâm, Sơ Tâm" có đưa một thí dụ về sự thư thái
và bao la của tâm ấy. Ông nói rằng một cách hay nhất
để kiểm soát một con bò là cho nó một
đồng cỏ thật rộng. Khó mà có thể kiểm
soát được một con bò trong một khoảng
không gian nhỏ bé và giới hạn. Nhưng nếu bạn cho nó một bầu trời bao la,
thì khoảng trời rộng lớn ấy sẽ giữ con bò lại. Cũng vậy, một cách
để kiểm soát tâm mình là
để cho nó được thoải mái. Không cần gì
phải nhốt hay kềm hảm nó lại trong một khoảng không gian chật hẹp. Hãy thư
thái và để cho nó tự nhiên hiện hữu,
thoát ra ngoài mọi cố gắng, ý niệm muốn đạt
một việc gì. Hãy cho nó một cánh đồng
cỏ bao la và nhìn nó tỏa bày. Thái độ
cố gắng để thực hiện một điều gì, để
trở thành một người nào, đôi khi cũng
lan tràng trong lãnh vực tu hành. Ý niệm tăng
tiến, thủ đắc là một chướng ngại rất lớn cho sự tu tập. Tất cả cũng
vì ta không hiểu được tự thể rỗng không của
mọi vật, của Ðạo lớn.
Có một văn
hào tên là Wei Wu Wei đã diễn
tả một cách thật hàm súc về vấn đề an trú
trong hiện tại và không cần nỗ lực. Ông nói: "Cái gì mà ta
đang tìm kiếm là cái gì
đang tìm kiếm". Không có cái gì ở bên
ngoài ta để cho ta tìm kiếm, nắm giữ
hay là đạt đến. Ông nói: "Chỉ có một câu hỏi,
và hỏi tức là trả lời". Hỏi tức là việc xảy ra trong giờ phút hiện
tại. Và đó cũng là câu trả lời cho câu
hỏi. Câu trả lời không phải là một cái gì "ở bên ngoài" mà ta cần phải tìm
kiếm hay khám phá. Câu trả lời cho câu hỏi trọng
đại "ta là ai", chính là việc nêu lên
nghi vấn ấy.
Ðiều này giúp ta hiểu
được truyền thống thiền của Zen và
việc sử dụng các công án, là những vấn đề
không thể giải quyết được. Chúng ta bắt tâm mình phải suy nghĩ về
những câu hỏi mà không thể nào có một sự giải
đáp hữu lý được, như là: "Hãy nói cho ta nghe về tiếng vỗ của một
bàn tay?" Khi mà ta đi tìm câu trả lời
bằng cách cố gắng giải quyết vấn đề, tức là
ta đã không hiểu gì hết. Câu hỏi mà
vấn đề đưa ra, nghi vấn của một công án, tự
chính nó là câu trả lời. Và sự thật thì lời giải
đáp cho một công án, là không có một
câu trả lời nhất định nào hết. Nó
chính là khả năng ứng đối hoàn toàn
trong giây phút hiện tại. Thì đây cũng là
mục đích cho sự tu tập của chúng ta: hoàn
toàn sống trong giờ phút hiện tại - trong câu hỏi và trong câu trả lời.
Không phải đi tìm giải
đáp bằng cách mong cầu một loại trí thức,
hiểu biết hay kiến thức nào cả, nhưng là kinh nghiệm một cách trọn
vẹn tiến trình xảy ra trong giờ phút hiện tại.
Trở ngại to tát nhất cho sự ổn
định là sự cố chấp vào một hình ảnh, ý
niệm về mình và những mơ tưởng về một nhân vật mà mình muốn
được trở thành. Chúng làm phức tạp một
cách không cần thiết cái kinh nghiệm giản dị của việc sống trong hiện tại.
Thường thường thì những người trên con đường
tu hành thường hay bị chấp kẹt vào một hình ảnh. Một hình ảnh về
một nhà tu, một thiền sư, một đạo sư mà
họ tự tạo nên, rồi cố gắng bó buộc mình phải hành
động, sống theo giống như vậy.
Trong thời gian tu tập ở Ấn Ðộ,
tôi có ba vị thầy khác nhau. Qua những vị thầy tôi học
được một bài học vô cùng quan trọng:
tôi hiểu rằng không có một phương pháp nào là duy nhất hết. Sự giác ngộ
không được diễn tả qua một cá tính, hay một
tác phong duy nhất nào. Mỗi vị thầy
đều có một cá tính riêng, theo một cách thức hoàn toàn khác nhau.
Mỗi ngưòi đều là hiện thân của trí
tuệ, tình thương và sức mạnh, nhưng hoàn toàn không có một ý niệm rằng
hiện thân này phải được biểu hiện bằng một
cách này hay một cách khác.
Wei Wu Wei nói rằng
đức khiêm tốn chính là sự vắng mặt của
một cá nhân kiêu hảnh. Nó không phải là một vị thế của thân hay của cá
tính. Một khiêm tốn thật sự chính là sự vô ngã. Những vị thầy của tôi biểu
lộ sự "vắng mặt" này theo một lối riêng tự nhiên của họ. Thấy
được giáo pháp có thể biểu lộ qua nhiều cách
khác nhau, giúp ta hiểu rằng không có một đường lối nhất định bắt buộc ta
phải theo cả. Trong sự tinh luyện này, ta không phải
đảm đương hay bắt chước theo một tác phong nào
hết. Cứ thoải mái và để cho những cá tính của
ta hiển bày một cách tự nhiên, hãy để
giáo pháp phô bày. Không có việc gì để
làm, không có một ai để trở thành
và cũng không có gì để lấy. Và với
thái độ đó ta có thể làm, ta có thể
trở thành và ta có thể lấy, một cách vô cùng tự tại.
Có một câu chuyện thiền nói về
ý niệm chấp có mình và có người khác. Ngài tổng
đốc của Kyoto đến thăm một vị thiền sư. Ngài
tổng đốc sai người hầu đem tấm thiệp vào
đưa vị thiền sư. Trên thiệp có ghi tên
ông với hàng chữ: "Tổng đốc của Kyoto". Vị
thiền sư xem xong tấm thiệp, nói với người hầu:
- Ta không biết người này là ai
cả! Ngươi hãy bảo ông ấy cút đi cho khuất mắt
ta!
Người hầu ra kể lại với lời xin
lỗi.
- Chết!
đó là lỗi của ta.
Ngài tổng
đốc nói rồi lấy bút ra gạch bỏ hàng
chữ "Tổng đốc của Kyoto".
- Xin anh
đem vào trình lại với thiền sư dùm
tôi.
Vị thiền sư
đọc xong tấm thiệp rồi la lên:
- À! té ra là ông ấy! Mời ông
vào ngay, ta đang muốn gặp ông ta đây!
Khi ông ta tự cho mình là "Tổng
đốc của Kyoto", ông đã xa lìa
đạo pháp. Và khi ông tự giới thiệu
mình như là trong giờ phút hiện tại, không hình ảnh, không chức tước,
không một ý niệm, ông chỉ là ông trong giờ phút
đó thì ông
được vào gặp vị thiền sư. Một khả năng
đối xử với người khác, không bị gìới hạn trong một hình ảnh nào,
giúp cho ta có được sự tự tại trong những liên
hệ với mình. Thói thường thì ta hay đem tự
dồn nhét mình với người khác vào trong những hộp hay những ngăn
tâm lý - "Hắn là như vậy đó, tôi biết
quá mà!" Mối liên hệ của ta đối với
người khác rất là cố định, qua tấm màn
thành kiến. Mà sự vật thì thay đổi trong mỗi
giây phút: tâm ta, thân ta, hoàn cảnh chung quanh ta. Ta phải biết
uyển chuyển thoát ra khỏi các thành kiến về mình hay người khác,
để cho những sự thay đổi này cùng sự
hiểu biết của ta được cởi mở và không
bị ngăn ngại.
Cuộc
đời của chúng ta phần nhiều quay chung quanh
ý niệm về cái Tôi của mình, và nỗ lực
để bảo vệ và thỏa mãn nó. Năng lực này,
khi mang vào trong sự tu tập thì ngược lại, trở thành một ý
định muốn chiến đấu với cái Tôi ấy, cho rằng
nó là một cái gì cần phải bị tiêu diệt. Nhưng chiến
đấu với cái Tôi tức là ta vẫn chưa
hiểu được tự tánh của sự vật.
Wei Wu Wei có viết một ngụ ngôn
gọi là: "Con vịt trời":
Muốn diệt cái Ngã ư? Săn
nó, đập nó, đánh hơi nó, nói cho ta nghe nó trốn ở chỗ nào? Vui thú
là cái chắc. Nhưng, nó ở đâu? Có phải ta nên
cần tìm thấy nó trước chăng? Hình như
người ta có nói ta phải bắt được con vịt trời
trước cái đã, rồi hãy nói đến chuyện làm
thịt nó?
Mà vấn
đề khó khăn ở đây là không có một con
vịt trời nào cả.
Mọi nỗ lực, mọi công phu, cố
gắng để diệt trừ cái ngã... nhưng nó
có hề hiện hữu bao giờ đâu nà
để cho ta tiêu diệt. Không có gì
để cho ta ra sức đeo đuổi và cũng
không có gì để loại trừ. Chúng ta cần phải
chấm dứt việc tạo dựng lên một cái Tôi trong mỗi giây phút. Hãy
sống trong giờ phút hiện tại mà không dùng ý niệm, hình ảnh. Sống một cách
giản dị và thư thái. Không có một mảy may tranh
đấu hay khích động trong một cụôc sống vô hình,
vô dụng công ấy.
Có một bài văn
thật đẹp diễn tả về một lối sống này:
Thế nào là bậc Chân nhân? Bậc
chân nhân ngày xưa không nghịch với ai, dù là thiểu số, không cầu công,
không cầu danh. Người như vậy, mất không tiếc,
được không mừng... Bậc chân nhân ngày
xưa ngủ không mộng mị, thức chẳng lo âu, ăn
không cầu ngon, thở hít thì thâm sâu... Bậc chân nhân ngày xưa
không tham sống, không sợ chết. Lúc ra không hăm
hở, lúc vào không do dự. Thản nhiên mà
đến, thản nhiên mà đi. Họ không quên
lúc bắt đầu, không cầu lúc sau chót. Nhậnlãnh
cuộc sống thì vui với đó, mà quên
đi, khi cái chết đến, phải trở về. Ðó
gọi là không lấy cái "người" nơi mình mà làm trở ngại lẽ "trời" nơi mình.
Thế gọi là chân nhân. Nhờ được thế mà
lòng của họ luôn luôn vững vàng,, cử chỉ điềm
đạm, gương mặt bình thản. Lạnh như mùa thu mà ấm như mùa xuân. Tất
cả luân chuyển như bốn mùa nên cùng vạn vật hợp nhau, không biết
đâu là cùng.
Hỏi: Làm sao mà ta lại có thể
nỗ lực mà không có một sự cố gắng được?
Ðáp: Chính nỗ lực của ta là
để không còn cố gắng an trú và có
chánh niệm trong hiện tại. Có lẽ một vài bạn
đã có kinh nghiệm, khi chánh niệm tăng
trưởng, không còn bị vướng mắc vào những thành kiến, mơ tưởng của
mình. Khi tâm ta ở trong trạng thái đó, chẳng
có gì để làm cả.Khi ta ngồi,
chỉ có ngồi, và ta ý thức được bất cứ một
chuyện gì xảy ra một cách không cố gắng.
Hỏi: Dường như bây giờ, tình
trạng tu của tôi có thể được diễn tả như là
một người mơ ngủ trong thất niệm. Mặc dù kiên nhẫn, tôi vẫn mong chờ nó
qua đi, nhìn vượt qua giai
đoạn này. Dường như là tôi chỉ có thể
làm được bấy nhiêu
đó mà thôi...
Ðáp: Có loại trí tuệ phát xuất
từ việc ý thức rằng mình đang mơ mộng viễn
vông. Chỉ cần nhìn thoáng qua được cái
tâm thơ thẩn, lang thang đó cũng đã chứng tỏ khả năng
sống mà không bị lệ thuộc vào những bóng dáng và ý niệm ấy.
Hỏi: Như thế thì ta chọn lựa
một lối sống bằng cách nào?
Ðáp: Nó có thể
được thực hiện bằng cách ý thức về những nhu
cầu cần thiết của mình, hơn là những phưong tiện
để phô trương cái Tôi. Thay vì coi nó
như là sự hoàn tất của một ước vọng cán nhân nào
đó, chúng ta có thể làm những gì thích
hợp trong giây phút hiện tại, sẵn sàng để
phục vụ và khởi sự vì lòng từ bi. Rồi nó sẽ tự trôi chảy một cách
giản dị và thư thả. Không có gì là đạc biệt
để làm, để trở thành hay
để có.
Hỏi: Thế còn những dự
định phải thực hiện thì sao?
Ðáp: Tâm suy tính, hoạch
định cũng chỉ xảy ra trong giờ phút hiện tại.
Hãy ý thức rằng tâm dự định là
một biểu hiệu của hiện tại. Sống với những gì
đang xảy ra, sử dụng tiến trình tư tưởng và cả toàn thể khuôn khổ
của khái niệm để đối phó với cuộc đời, nhưng
bao giờ cũng vẫn đứng vững bằng một nhận thức rằng tất cả là bây
giờ. Hành động nhưng không mong cầu vào
kết quả của chúng.
Hỏi: Khi tôi nói chuyện, tôi có
rất nhiều ý kiến về những gì tôi muốn nói. Tôi muốn biết, khi ta thật sự
biết nghe và nói trong chánh niệm nó ra thế nào?
Ðáp: Chỉ có mỗi một cách
để biết được. Ðó cũng là thông
điệp của những công án Zen. Một thiền sư trao
cho người đệ tử của mình công án về chữ Vô. Người
đệ tử, ngồi đấy trên tọa cụ, suy nghĩ:
"Vô, Vô, Vô... Biết sẽ nói gì với thầy khi ông hỏi mình về công án này
đây?... Vô, Vô". Hay bất cứ một công án nào
khác cũng vậy. Và người đệ tử đi vào
trình pháp với vị thầy, lúc nào cũng suy nghĩ: " Biết nói gì
đây?" Khi vị thiền sư hỏi về khám phá của anh
ta trong công án Vô, anh sẽ tìm cách trả lời loanh quanh. Vị thầy
sẽ lấy cây mà đánh cho anh một hèo.
Anh đã không chịu sống trong giờ phút
hiện tại. Câu trả lời cho một công án là không có một câu trả lời nào hết,
ngoại trừ sống thật trong ngay giờ phút đó.
Một sự đáp ứng trọn vẹn, vô Ngã, là lời giải
đáp cho câu hỏi ấy. Câu hỏi tức là câu
trả lời. Cái gì mà ta đang tìm kiếm là
sự tìm kiếm. Tất cả là ngay bây giờ, trong lúc này. Nhưng tâm ta thì luôn
luôn muốn đi tìm một câu trả lời dễ
dàng của kẻ khác trao cho. Tưởng rằng khi tôi biết câu trả lời, tức là tôi
"giác ngộ". Ðó là khi mà ta bị một hèo lên
đầu. Bị đánh một hèo lên đầu xảy ra
trong hiện tại, nó ngay ở giờ phút này
đây.
Hỏi: Thế còn nghe nhạc thì
sao?
Ðáp: Âm nhạc là một thí dụ rất
hay để thấy rằng, nếu ta không ở trong hiện
tại, ta sẽ hụt nó. Nếu bạn đang lắng nghe nhạc và tâm bắt
đầu suy nghĩ, âm nhạc không dừng lại để chờ
bạn. Trong thời gian bạn lo ra, bạn sẽ không lắng nghe. Ðây có thể
là một bài thực tập rất hay khi cố gắng giữ tâm mình ở với dòng sông âm
thanh. Sự vô thường rất rõ rệt. Âm nhạc không phải là một sự kiện
đơn nhất, nhưng là một sự liên tục
khởi lên và mất đi tiếp nối nhau.
Hỏi: Hình như cái gì cũng có
hai điều rõ rệt là sự tỉnh thức và sự
chú tâm vào một vấn đề. Tôi có thể bị thu hút
vào trong âm nhạc, mà không hề có chánh niệm; rất là ở trong hiện
tại, nhưng không ý thức được là mình
đang sống trong hiện tại.
Ðáp: Ðó là sự khác biệt giữa
Ðịnh và Quán. Ta có thể tập trung nhất tâm vào trong âm nhạc mà không hề
có chánh niệm, mặc dù có những chuyện đang
xảy ra để cho ta ý thức. Lúc này tâm hành của Ðịnh
đang trội lên hơn hết, tâm ta không bị
lay động. Chỉ cần thêm vào
đó một chánh niệm sắc bén là
đủ, bạn sẽ có được một phưong pháp tu tập
trọn vẹn.
Hỏi: Làm thế nào
để mình
được trở nên trong sạch?
Ðáp: Cái
đẹp của phát tu này là chánh niệm tự
nó sẽ thanh lọc tất cả. Ta không cần phải thiết lập một chương trình nào
cho mình, "Tôi sẽ trở nên thanh tịnh", vì nó cũng hơi mâu thuẩn. Ý thức
được những gì
đang xảy ra trong giờ phút này là sự
thanh lọc, để ta thấy được rằng không có gì
để lấy hay để trở thành, chẳng có gì
đặc biệt để làm hay giữ lại; chỉ cần
ngồi lại với một sự tỉnh thức.
Hỏi: Các bậc thánh nhân từ ngàn
xưa đến giờ đã bỏ công ra truyền bá,
viết sách, chơi nhạc, sáng tạo... Ðó có phải là những sự phô trương của họ
hay không?
Ðáp: Khi bạn
đã là vô hình, khi bạn không còn một
tham vọng để làm hay
đạt được bất cứ một cái gì, thi thật
ra bạn có thể làm, hay trở thành, hay có bất cứ một cái gì trên
đời này. Thật vậy, nhiều bậc giác ngộ
đã diễn tả sự hiểu biết của mình một
cách tự khởi, trình bày giáo pháp qua văn
chương, nghệ thuật, nhưng họ không làm với một thái
độ phô trương hay khoe khoang một điều gì.
Nó chỉ là một phần của sự phô bày tự nhiên, tự khởi, phát xuất từ một trực
nhận, chứ không phải vì một cái Tôi, cái ngã hay là "coi ta
đây". Có rất nhiều vị thầy là các nhà
thơ, nhà nghệ sĩ, nhưng những nghệ thuật, sáng tạo ấy, phát xuất từ một sự
trống không.
Hỏi: Có thể nào ta vẫn còn sự
ham muốn thực hiện một điều gì, giúp
đở người khác, mà không là ích kỷ
không?
Ðáp: Trong môn Ý Nghĩa Học có
một vấn đề về việc sử dụng chữ "tham muốn",
nó có hai trạng thái. Một là cái muốn của lòng ái dục, của lòng
tham bắt giữ một cái gì; hai là cái muốn của sự phát
động. Cái muốn của sự phát động có thể bắt
nguồn tư một trống không, từ trí tuệ hay từ tình thương. Sự phát
động này khác xa với những hành
động bắt nguồn từ sự chấp ngã, chấp
thủ. Ðức Phật sau khi thành đạo, đã
đi giảng dạy trên bốn mươi lăm
năm. Ngài đã làm biết bao nhiêu
việc, nhưng chẳng có ai ở phía sau những hành
động ấy cả. Nó là một sự phô bày tự nhiên của giáo pháp. Và cuộc
sống của ta cũng nên phô bày tự nhiên theo một lối riêng của nó,
để biểu lộ tác phong và tự tính của
ta. Nếu ta có thể hành động, nhưng không với
một ý nghĩ "Tôi phải thực hiện điều này
để trở thành một nhân vật quan trọng,để
được danh tiếng hay giàu có", chỉ để
cho nó tự phô bày trong giây phút hiện tại, thì mọi vật
đều có thể thực hiện được. Ðây là một
cánh cửa rộng lớn để đi vào sự tự do.
Nếu chúng ta có thể thoát ra ngoài sự chấp ngã và thành kiến về mình, ta
có thể trở nên tự nhiên và dễ cảm nhận đối
với hoàn cảnh thay đổi chung quanh.
Nhưng nếu ta có bất cứ một hình ảnh nào về mình, về hành
động của mình, những ý niệm ấy sẽ trở
thành một khăn che mắt, đưa ta vào con
đường nhỏ hẹp, giới hạn bởi sự cố chấp, thành
kiến về mình, mất đi khả năng ứng phó với hoàn
cảnh thay đổi chung quanh ta. Nếu chúng ta
biết giữ sự cởi mở và tính cảm nhận, toàn tiến trình sẽ trở thành
một sự trao đổi có hòa
điệu. Không cần phải tự giới hạn mình
trong một khuôn khổ, hình ảnh để làm
gì. Giữ sự linh hoạt. Giữ sự cởi mở.
-ooOoo-
Buổi tối thứ hai mươi sáu
THẤT GIÁC CHI
Ðức Phật
đã diễn tả rất rõ ràng con
đường đi đến giải thoát. Con đường này
gồm có sự phát triển của bảy tâm hành hay là bảy chi nhánh của sự giác
ngộ, còn được gọi là Thất Giác Chi.
Khi những tâm hành này được vun trồng, nuôi
dưỡng đến mức trưởng thành, ta sẽ được
giải thoát ra mọi sự trói buộc, mọi khổ đau. Tất cả những phương pháp tu
tập khác nhau, cũng chỉ với mục đích là
để phát triển một vài hay tất cả bảy
chi nhánh của sự giác ngộ này.
1.- Chi nhánh giác ngộ
đầu tiên là Niệm. Niệm
tức là khả năng ghi nhận, ý thức được những gì
đang xảy ra trong giờ phút hiện tại, không để
tâm rơi vào sự quên lãng. Ðức Phật nói rằng ngài không biết có một
yếu tố nào hùng mạnh bằng Niệm, vì Niệm có một khả năng
vun trồng những tâm thiện và làm suy giảm những tâm bất thiện.
Chúng ta không cần làm một việc gì đặc biệt
để diệt trừ những tâm xấu và phát huy những tâm tốt, ngoại trừ có ý
thức trong giờ phút hiện tại. Chánh niệm tự nó là một năng
lực thanh lọc.
Trong một bài pháp nổi tiếng,
đức Phật dạy rằng chính sự tu tập bốn lãnh
vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ) là con đường duy
nhất để đi đến giải thoát. Chánh niệm, tỉnh thức được gọi bằng nhiều tên
khác nhau trong những truyền thống khác nhau. Nhưng vấn
đề danh xưng không quan trọng. Chính sự khai
triển khả năng tỉnh thức, chánh niệm mới thật sự là con
đường giải thoát.
Có bốn lãnh vực
để ta áp dụng chánh niệm:
a. Lãnh vực
đầu tiên là chánh niệm nơi Thân: Hơi
thở, cảm giác, những cử động và oai
nghi khác nhau. Ý thức và cảm nhận được mọi
sự thay đổi của thân thể.
b. Lãnh vực thứ hai của chánh
niệm là Cảm thọ, tức những tính chất dễ chịu, khó chịu hay trung hòa
khởi lên trong giây phút của tâm. Mỗi đối
tượng đều có một cảm thọ đi kèm theo. Khi những cảm thọ này trội
lên hơn hết, khi ta có một cảm giác dễ chịu hay khó chịu mạnh mẽ, chúng
trở thành đề mục của thiền quán. Cảm thọ vô
cùng quan trọng, vì chúng làm điều
kiện cho sự ưa thích của ta. Vì cảm thọ dễ chịu mà ta ham muốn
một sự vật gì. Vì cảm thọ khó chịu mà ta tức giận hay có ác cảm
đối với một việc gì. Sự áp dụng thứ
hai của chánh niệm là ghi nhận những cảm thọ này mỗi khi chúng sanh lên
và diệt đi, không ưa thích những gì
dể chịu, không ghét bỏ những gì khó chịu.
c. Lãnh vực thứ ba của chánh
niệm là Tâm thức. Ý thức được mọi tâm hành
cùng những thức tùy tùng của nó. Khi ta có một sự tức giận, ý thức
được tâm nóng giận; khi ta có một sự ái
dục, ý thức được tâm ái dục đó, hay là tâm sợ hãi khi nó có mặt.
Ý thức được tâm của mình khi nó bị
nhuộm màu bởi những yếu tố khác nhau, mà không thương ghét, không phê
phán, không đánh giá, không thêm
bớt. Cái giận không phải là ta, nó chỉ là một tâm hành
đang nhuộm màu tâm thức của ta trong
giây phút ấy. Ngồi lại và nhìn sự đến rồi
đi của chúng. Với một thái độ quan sát không chọn lựa, ta không còn
một tâm hành nào có khả năng chi phối tâm
của ta. Chúng chỉ là một màn của một tuồng hát qua
đường. Chẳng có gì
đáng để ta phải hớn hở hay lo buồn. Chỉ
giản dị giữ chánh niệm, tỉnh thức.
d. Lãnh vực cuối cùng của
chánh niệm là Pháp, tức là sự nhận thức chân lý, luật tự nhiên, ba tính
chất của hiện hữu và Tứ Diệu Ðế. Thấy được
khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự
chấm dứt khổ đau và con đường đi đến
sự chấm dứt khổ đau. Có chánh niệm về những trí tuệ này khi chúng
khởi lên. Chánh niệm về Pháp.
Có nhiều phưong pháp thực hành
Vipassana khác nhau, mỗi cách thức chú trọng vào một vài hay tất cả bốn
lãnh vực vừa kể. Thực hành theo bất cứ cách nào cũng sẽ
đạt được mục đích là
đem tâm ta đến một trạng thái sáng suốt, quân
bình. Tùy theo tánh khí, kinh nghiệm, tánh tình và
điều kiện, mà những phương pháp khác
nhau thích hợp cho những hạng người khác nhau. Nhưng ta không nên chấp vào
phương pháp, điều quan trọng là phải
phát triển chánh niệm.
2.- Chi thứ hai của giác ngộ là
Trạch pháp, hay là khảo sát giáo pháp. Trạch pháp có nghĩa
là tìm hiểu, khám phá, phân tách một cách sâu sắc tiến trình của thân tâm,
không dùng tư tưởng, không dùng khái niệm, nhưng với một tâm thức yên lặng
và an lạc. Sử dụng trực giác và kinh nghiệm,
để trực tiếp tìm hiểu coi hoạt động
của toàn thể tiến trình xảy ra như thế nào. Ðây cũng là một tên gọi
khác của trí tuệ, ánh sáng trong tâm soi sáng tất cả những việc gì
đang xảy ra. Khi Trạch pháp được trau dồi, ta
sẽ thấy rằng mọi hiện tượng trong tâm và thân ta luôn luôn ở trong
một trạng thái chuyển động. Không có gì
thưuờng hằng, mọi vật sanh lên và diệt đi liên
tục. Cả hai tâm thức và đối tượng của chúng,
đến và đi không ngừng nghỉ. Không có
một nơi nào để nương tựa, không có
chốn nào để ta có thể ẩn náo. Mọi sự
đều đang ở trong một trạng thái chuyển hóa không ngừng. Với chi Trạch pháp
này, kinh nghiệm về vô thường sẽ phối hợp,
ăn sâu vào trong nhận thức của ta.
Chúng ta sẽ kinh nghiệm được, trên một
bình diện sâu xa hơn, tâm thức chỉ là một dòng sông trôi chảy của các hiện
tượng, tư tưởng, hình ảnh, tình cảm, tánh khí. Thân ta chỉ là một tập hợp
của sự rung động cảm giác, không có thể đặt,
không có gì để ta giữ lại. Từ những
kinh nghiệm về vô thường này phát sinh ra một trực kiến rằng không
có gì trong tiến trình thân tâm này là có thể
đem lại một hạnh phúc vĩnh cữu hết. Không có một sự thỏa mãn nào là
lâu bền. Không có gì là hoàn tất mãi mãi, vì tất cả
đều sẽ tiếp tục đi qua. Nó cũng giống như đi
tìm hạnh phúc an ổn trong một bong bóng nước. Vừa khi
đụng đến là nó vỡ tung. Sự hủy hoại có
mặt trong mỗi giây phút. Một bản chất bất an ninh. Cùng với sự vô thường
và tính chất bất an, là một nhận thức về vô ngã. Không có một nơi nào
trong thân và tâm mà ta có thể tìm được một
thực thể nào là thường hằng, để có thể
gọi đó là Ta, là ngã. Không có một ai ở phía sau các tiến trình
hành động cả.
"Trong sự thấy chỉ có cái bị
thấy; trong sự nghe chỉ có cái bị nghe; trong cảm giác chỉ có cái bị cảm;
trong sự suy nghĩ chỉ có cái bị suy nghĩ". Tất cả chỉ là một dòng sông
trôi chảy của tiến trình. Sự thấy, sự nghe, sự ngữi, sự nếm, sự
đụng chạm và sự suy nghĩ. Toàn thể vũ
trụ của ta chỉ thu gồm trong sáu tiến trình này. Những hiện tượng rỗng
không tiếp tục trôi lăn. Không có Tôi, không
có ngã. Các đặc tính đó được trực
nghiệm trên một bình diện thâm sâu, khi chi Trạch pháp
được phát triển. Nó là trí tuệ soi
sáng tâm thức của ta.
Một trong những trợ lực bên
ngoài cho sự khai triển trí tuệ là yếu tố Tịnh, hay là sự sạch sẽ của thân
thể, của quần áo, của ngoại cảnh. Thí dụ như một ngọn
đèn dầu. Nếu lồng kiếng, tim
đèn, dầu, tất cả
đền dơ bẩn, ánh sáng tỏa từ ngọn đèn
không được sáng tỏ cho lắm. Còn nếu
như kiếng trong trẻo, tim và dầu đều sạch thì
ánh sáng sẽ rất là tỏ, và ta có thể thấy mọi vật dễ dàng.
3.- Chi thứ ba của giác ngộ là
Tinh tấn. Không có một việc gì thành công mà không có một cố
gắng. Nếu chúng ta muốn đạt được bất cứ một
điều gì trên cuộc đời, tiền bạc hay là
một năng khiếu nào
đó, ít nhất ta phải bỏ ra một chút nỗ lực.
Những gì chúng ta đang làm nơi
đây là vun trồng một lợi ích cao
thượng. Ta phải biết nỗ lực, tinh tấn. Ðức Phật chỉ là người chỉ
đường, mỗi chúng ta phải tự mình
đi. Không có ai có thể giác ngộ dùm
một kẻ khác được. Tham, sân, si hiện hữu
trong tâm của ta. Không có ai đem nó vào. Không có ai có thể lấy nó
ra. Chúng ta phải tự thanh lọc. Mỗi người chúng ta phải tự nỗ lực
để đi trên con
đường thanh tịnh. Tinh tấn là một yếu
tố rất mãnh liệt, khi được trau dồi và
phát triển nó có thể loại trừ được những hôn
trầm, lười biếng, dã dượi trong tâm. Khi gặp phải những khó khăn,
trở ngại trên đường, nỗ lực tinh tấn
sẽ nâng cao tinh thần. Ðây là một trợ lực quan trọng, một phần ắt
có của con đường đi đến giải thoát.
4.- Chi thứ tư của giác ngộ là
Phỉ. Phỉ có nghĩa là sự đam mê
vào một đối tượng. Nó được diễn tả như là
một niềm vui hớn hở. Một niềm vui thú ham thích chuyện
đang xảy ra trước mặt. Ví dụ như có người đi
lạc nhiều ngày trong sa mạc, nóng bức và mệt mỏi, dơ và khát. Cách
đó không xa, anh thấy một hồ nước trong vắt.
Tâm của anh lúc đó chỉ biết hồ nước trước mặt, niềm sung sướng của anh bây
giờ cũng tương tự như là chi giác ngộ Phỉ lạc. Phỉ lạc là khoảng
không gian thênh thanh trong tâm, vì không cố chấp, bám víu hay nắm chặt
vào sự vật.
Một phương cách
để trau dồi yếu tố này là quán tưởng
về mười sự hoàn toàn trong sự giác ngộ của
đức Phật. Sự hoàn toàn trong việc bố thí. Bố thí vì muốn làm vơi
đi khổ đau của mọi loài. Ðức Phật
không hề dừng lại để thắc mắc, người này
đáng được cho, còn người kia thì
không. Lòng độ lượng vô bờ bến. Sự hoàn
toàn trong việc giữ giới. Không làm hại một sinh vật nào. Từ bỏ. tinh tấn.
Trí tuệ. Kiên trì, luôn luôn gìn giữ. Kiên nhẫn là một
đức tinh rất quí trên con
đường tu tập. Lòng từ bi. Sự bình an.
Ðức cương quyết. Lòng chân thật. Những đúc
tánh này đem lại sự hoàn toàn
cho sự giác ngộ của đức Phật. Chúng ta có thể
làm yếu tố Phỉ lạc phát huy trong ta bằng cách quán tưởng về
đức Phật và ý thức rằng ta cũng
đang vun trồng những dức tánh ấy. Trong mỗi hành
động bố thí, trong mỗi sự kiên nhẫn
hay chân thật và những đức khác, chúng ta
đang cùng chia xẻ sự hoàn toàn của một Phật tánh. Quán tưởng về
những việc làm tốt và sự tu tập của mình, sẽ
đem lại một niềm vui. Suy nghĩ về giáo pháp: Tứ Diệu Ðế, Vô thường,
Vô ngã - những chân lý cho mọi thời, mọi người. Quán tưởng về sự chân thật
của giáo pháp, qua chính kinh nghiêm của mình, và tính chất "hãy thử rồi
sẽ thấy" hơn là "bạn phải tin" của đạo Phật.
Sự tán dưong chân lý mang lại cho ta một niềm vui lớn và phát huy
sự Phỉ lạc trong tâm. Niềm hạnh phúc siêu diệu khi
đi vào chân lý sẽ
đem lại cho ta một tâm vô cùng thanh
nhẹ.
5.- Chi thứ năm
của giác ngộ là An tĩnh. Một thí dụ về sự an tĩnh này
là giống như một người đang đi đường mệt lả,
dừng chân lại dưới một tàng bóng mát mẻ dưới một gốc cây. Cảm giác
tươi mát, dễ chịu của người đó giống như là
yếu tố An tĩnh. Khi mọi tham dục đã
không còn, tâm ta sẽ trở lại tươi mát vì không còn bị lửa sân hận, ái dục
thiêu đốt.
6.- Chi thứ sáu của giác ngộ là
Ðịnh. Ðịnh có nghĩa là khả năng
tập trung tư tưởng lại vào một điểm
duy nhất, giữ tâm yên ở đó mà
không bị xao động. Một tâm không có định thì
rất là nông cạn, nó sẽ lang thang từ một đối
tượng này sang đối tượng khác.
Ðịnh đem một sức mạnh và khả năng
quán chiếu lại cho tâm. Có hai loại định. Loại thứ nhất được tập luyện
bằng cách đặt tâm mình vào một điểm, và
phát triển cho đến mức nó thấm sâu vào
trong đề mục ấy. Loại định này là căn
bản cho một số thần thông. Còn loại
định thứ hai, được phát triển trong thiền quán, được gọi là
định nhất thời. Loại định này tập
trung tâm ý vào nhiều đối tượng khác nhau.
cũng chính loại định thứ hai này, phối hợp với những yếu tố giác
ngộ khác, đưa ta đến sự giải thoát.
7.- Chi cuối cùng của sự giác
ngộ là Xả. Xả có nghĩa là một tâm không thiên vị. Khi mọi
việc suông sẻ, không có sự hân hoan quá trớn. Khi gặp khó khăn,
trở ngại, không buồn nản hay thất vọng. Xả có nghĩa là không thiên
vị đối với bất cứ một hiện tượng nào,
coi mọi sự việc bình đẳng như nhau. Một thí
dụ về yếu tố Xả là ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt
đất. Mặt trời không hề chọn lựa chiếu soi một
nơi này mà từ chối một nơi khác. Nó chiếu tỏa ánh nắng một cách
bình đẳng đến mọi vật. Yếu tố Xả tức là
chấp nhận và tiếp đải mọi vật như nhau. Một
phưong pháp để trau dồi yếu tố Xả, nhất là trong việc
đối xử với kẻ khác, là nhớ rằng chúng
ta chỉ là người thừa tự những nghiệp quả của mình. Thế cho nên khi gặp
người đang hạnh phúc, ta có thể chung vui với
họ trong một tâm Xả, vì hiểu rằng, họ dang hưởng những quả trái của
kiếp trước. Hoặc khi thấy người đang bị khổ
đau, ta có thể khởi lòng từ bi, làm vơi
đi nỗi khổ của họ, nhưng với một tâm không
động, vì hiểu rằng đây chỉ là
sự bù trừ của luật nhân quả. Nhưng tâm Xả không phải là một sự lãnh
đạm, thờ ơ, mà là một sự quân bình của
tâm. Trong thiền quán, khi tâm ta đạt đến một
trình độ có thể ý thức được tiến trình
biến đổi một cách thật chi tiết và
chính xác, yếu tố Xả giữ cho mọi sự được quân
bình, an tĩnh.
Có bảy chi nhánh của giác ngộ
mà ta cần phải khai triển trong con đường tu
tập. Ba chi thuộc về những yếu tố làm phát khởi, và ba chi thuộc về
những yếu tố làm an tâm. Trí tuệ, tinh tấn và Phỉ lạc làm khích
động tâm, khiến cho nó được tỉnh thức và
mẫn tiệp. An tĩnh, Ðịnh và Xả làm cho tâm trở nên yên ổn, lặng lẻ. Những
yếu tố ấy phải hoàn toàn hòa hợp với nhau: nếu có nhiều sự khích
động quá ta sẽ trở nên bồn chồn, còn
nhiều sự an tĩnh quá ta lại trở nên hôn trầm. Yếu tố Niệm thật vô cùng
quan trọng, vì nó chẳng những hỗ trợ cho những yếu tố giác ngộ khác mà còn
giữ cho chúng ở trong một sự hòa hợp, quân bình.
Sự tiến hoá của tâm trong
đoạn đường này có thể
đem lại cho ta một niềm khích lệ và
phấn khởi vô biên. Hãy tưởng tượng một tâm khi
đã được
khai triển đầy đủ những yếu tố Niệm, Trí tuệ, Tinh tấn, Phỉ lạc, An tĩnh,
Ðịnh và Xả. Tâm ấy sẽ chói sáng và tràn
đầy hạnh phúc. Ðó là những gì mà chúng
ta đang tu tập ở đây. Những chi nhánh của
giác ngộ không những chỉ mang lại hạnh phúc trong giờ phút hiện tại, mà
còn xuôi hướng về Niết bàn, về giác ngộ, về giải thoát.
Ngày qua ngày,
đôi khi chúng ta dễ quên
đi lý do vì sao mình lại ngồi
đối diện với những sự bức rức, đau đớn, nhức
mỏi, lo ra. Nhưng những gì đang xảy ra
mà ta không nhận thấy được - một cách
chắc chắn, đều đặn và tấn tới - là sự phát triển của những chi
nhánh giác ngộ này. Ðây là một công trình vĩ
đại. Ðây là một tiến hóa cao tột nhất của tâm.
Hỏi: Giác ngộ
đến một cách dần dần (tiệm ngộ) hay xảy ra
trong chớp nhoáng (đốn ngộ).
Ðáp: Cả hai. Giác ngộ lúc nào
cũng là chớp nhoáng, theo nghĩa nó là một trực nhận của trí tuệ. Ðây không
phải là chuyện mà ta có thể suy nghĩ ra được.
Nó phát xuất từ một tâm, im lặng, một trực kiến, bất ngờ, một sự hiểu biết
không thể nghĩ bàn. Nhung trực giác ấy không phải xảy ra một cách
ngẩu nhiên. Trong tâm phải đạt đến một sự
quân bình đáng kể nào
đó, thì sự giác ngộ này mới có thể xảy
ra.
Hỏi: Và khi một người có
được một sự hiểu biết nào
đó, họ có hành
động theo trí tuệ ấy không. Dường như bây giờ
tôi có được một chút nào hiểu biết, nhưng tôi thấy mình không làm
đúng theo nó.
Ðáp: Chỉ cần sự thật là bạn có
chánh niệm hơn một chút là cũng đã
thay đổi hành
động của bạn rồi. Chánh niệm rất có hiệu lực.
Một khi bạn đã thử tập ngồi nhìn những sự việc xảy ra, bạn sẽ khó
mà có thể bị lôi cuốn vào những phản ứng như khi xưa, mặc dù hoàn cảnh
cũng giống hệt như vậy. Cũng giống như có một tiếng nói trong bạn: "Mình
đang làm gì thế?" Một chút chánh niệm
tu tập ấy sẽ trở thành một năng lực mãnh
liệt. Và dần dần, sự hiểu biết sẽ phối hợp vào với hành
đông của ta một cách trọn vẹn hơn.
Hỏi: Tôi có một thắc mắc về sự
vô thường của hạnh phúc. Tôi biết có những người yêu Thượng
đế một cách mãnh liệt và dường như họ
lúc nào cũng phát ra một nguồn an lạc, hạnh phúc cả?
Ðáp: Ðiều này có thể hiểu bằng
hai cách: thứ nhất, mọi trạng thái đều vô
thường trong nhất thời; có nghĩa là, hạnh phúc không thể thường
hằng trong tâm, vì tâm tự nó sanh diệt trong mỗi giây phút. Trên căn
bản đó, giây phút của tâm thức, thì nó là vô thường. Không có gì là
thường hằng, không có gì là bất động. Theo
cách hiểu thứ nhì, thì những người yêu thượng
đế, họ muốn trở về với thượng đế, ý thức được
thượng đế qua một phương pháp thiền định. Họ có thể hưởng được một hạnh
phúc lâu dài. Mặc dù nó ở trong một tiến trình thay
đổi, nhưng những trạng thái ấy liên
tục nhau. Cũng vậy, trạng thái ấy tuy dài lâu nhưng vẫn là vô thường. Khi
mà điều kiện thương yêu thượng
đế vẫn còn
đó, và khi mà
định lực vẫn còn
đầy đủ, nó sẽ sinh ra quả hạnh phúc. Nhưng
khi có một sự mê mờ nào khởi lên trong tâm, mà hạnh phúc
được duy trì là nhờ có
định lực thì tâm ta lại trở nên mờ mịt
vì những tham, sân, si. Ðịnh lực có khả năng
đè nén những tâm bất thiện, khi nào
định lực còn đầy đủ, mọi vật sẽ an
vui, hạnh phúc. Ðến chừng khi định lực
bị suy chuyển, những tâm bất thiện bị dồn nén sẽ trở lại hoạt động như
xưa. Bởi vậy cho nên điều quan trọng là
ta phải biết dùng trí tuệ để nhổ tận gốc rễ
của khổ đau, để chúng không còn khả năng
khởi l