Ba Mươi Ngày Thiền Quán
Kim Chỉ Nam Thiền Vipassana
Nguyên tác: The Experience of Insight,
Joseph Goldstein, 1976
Dịch giả:
Nguyễn Duy Nhiên, 1992
04
Buổi tối thứ thứ mười sáu
NGHIỆP QUẢ
Có một lần, có người hỏi
đức Phật, tại sao có người sanh ra lại giàu
có trong khi những người khác nghèo khổ, có người
được thân thể khỏe mạnh trong khi kẻ khác lại
ốm yếu, bệnh tật. Tại sao có người lại đẹp đẽ và có người lại xấu
xí? Tại sao có người có đông bạn bè,
trong khi có người lại chẳng có một ai? Cái gì có thể giải thích
được sự sai biệt này giữa mọi người
với nhau? Ðức Phật trả lời rằng mỗi người đều
là kẻ thừa kế, thừa hưởng những nghiệp quả của chính họ
đã tạo ra trong quá khứ. Thật ra,
chính vì những việc làm trong quá khứ mà chúng ta sanh ra trong cõi này.
Cuộc sống mà chúng ta đang kinh nghiệm trong
giờ phút hiện tại đây, là kết quả huân tập của những việc ta
đã làm trong quá khứ.
Ðức Phật còn giải thích thêm
những hành động nào sẽ
đưa đến những kết quả ra sao. Ngài nói
những ai giết kẻ khác sẽ bị chết yểu. Những ai phóng sanh sẽ có một cuộc
đời trường thọ. Những người tạo khổ đau cho
kẻ khác sẽ sanh ra ốm yếu bệnh tật. Những ai theo con đường không bạo
động, sẽ có một sức khỏe lành mạnh. Ðức Phật dạy rằng, những ai
tham lam ích kỷ sẽ có một cuộc sống nghèo khó. Những ai biết bố thí, rộng
rãi sẽ được giàu có sung túc. Ðây
chính là sự vay trả luật nhân quả. Mỗi một hành
động sẽ tạo nên một kết quả
đặc biệt.
Những ai buông lỏng trong sự
tức giận, luôn luôn sử dụng ngôn ngữ thô lỗ, sẽ có một bề ngoài khó coi,
xấu xa. Còn những ai thực hành từ bi, ăn nói
dịu dàng, sẽ có một bề ngoài đẹp đẽ,
sáng sủa. Chúng ta là những người thừa tự các kết quả của hành
động tạo mình trong quá khứ. Những
người hay có hành động bất hòa, như là
tà dâm, trộm cắp, sẽ bị giao du với những kẻ mê muội, không có bạn bè
nhiều và sẽ không có cơ hội gặp được Phật
pháp. Còn những ai biết giữ giới luật sẽ
được gặp những hoàn cảnh thuận tiện,
giao du với những thiện trí thức và được
nhiều sự giúp đở trong cuộc sống. Những ai không bao giờ biết thắc mắc về
cuộc sống này, không hề tìm hiểu tâm mình, cũng không cần
để ý phân tách tự thể của sự vật chung quanh,
sẽ sanh ra ngu si và mê muội. Còn những ai biết thắc mắc, tìm hiểu,
luôn đi tìm câu trả lời cho cuộc sống
này, sẽ sanh ra là một người sáng suốt. Tóm lại, tất cả chỉ là một sự vận
hành của luật nhân quả.
Không có ai ở trên trời quyết
định số mạng, vận mệnh của ta hết. Hiểu được
luật nhân quả, ta sẽ có thể tự tạo lập số mệnh cho mình. Có những
con đường dẫn ta đến nơi cao thượng, an lạc,
cũng có những con đường đưa ta xuống chốn khổ đau. Khi chúng ta hiểu được
điều này, ta có được hoàn toàn
tự do trong sự chọn lựa của mình.
Có bốn loại nghiệp quả chánh
tác dụng đến đời sống chúng ta. Loại thứ nhất
được gọi là Nghiệp tái tạo. Chúng là sức mạnh tạo bởi
những hành động mà ta
đã làm, có thể quyết
định được cảnh giới cho kiếp sống tới. Những
hành động này có khả năng
dẫn ta tái sinh vào cảnh giới của người, những cảnh giới thấp hơn,
hay cảnh giới của trời hoặc của A tu la.
Loại thứ hai là Nghiệp
trợ duyên. Ðây là những hành động có
ảnh hưởng duy trì và trợ lực cho nghiệp tái tạo. Thí dụ như ta có
được một nghiệp tái tạo tốt và
được sanh vào cảnh giới người. Ðây là
một sự tái sanh tốt, vào một cảnh giới có hạnh phúc. Nghiệp trợ duyên là
những việc làm giúp cho kiếp sống làm người của ta
được thuận lợi. Chúng duy trì cho
nghiệp tái tạo được tốt và trợ lực cho
các hạnh phúc được khởi sanh.
Loại thứ ba là Nghiệp bổ
đồng. Nó có ảnh hưởng ngăn
trở nghiệp tái tạo. Giả sử ta có những thiện duyên và
được tái sanh làm con người, nhưng
chúng ta lại bị đủ thứ mọi khó khăn, đau đớn,
khổ cực. Ðó là ảnh hưởng của nghiệp bổ
đồng. Sự tái sanh được tốt. Nghiệp dẫn đến sự tái sanh có đầy thiện duyên,
nhưng chúng bị ảnh hưởng của nghiệp bổ đồng làm
suy nhược và trở ngại, khiến ta gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn.
Nhưng nghiệp bổ đồng cũng có tác dụng ngược lại. Giả sử có người bị tái
sanh vào cảnh giới súc sanh. Ðây là một nghiệp tái tạo xấu, vì ta
bị sanh vào một cảnh giới thấp hơn. Nhưng nghiệp bổ
đồng khiến cho kiếp thú đó lại trở nên
rất dễ chịu, cũng giống như những con vật
được nâng niu, chìu chuộng trong xã hội Tây phương. Những con vật
này đôi khi lại còn
được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người khác
trên thế giới. Loại nghiệp này có tác dụng làm trở ngại nghiệp tái
tạo xấu. Nó có ảnh hưởng hai chiều.
Loại nghiệp chót
được gọi là Nghiệp tiêu diệt.
Nó có khả năng tiêu diệt hoàn toàn năng
lực của một nghiệp khác. Giả sử bạn bắn một mũi tên vào không
trung. Mũi tên bay theo một sức đẩy nhứt định
nào đó, và nếu không bị ngăn
trở, nó sẽ tiếp tục bay cho đến khi hết sức rồi sẽ rơi xuống. Nghiệp tiêu
diệt cũng như một chướng ngại vật chận đứng
sức tiến của mũi tên và làm nó rơi xuống
đất. Có những người bị chết sớm. Những người
này có thể có nghiệp tái tạo và nghiệp trợ duyên tốt
đệp, nhưng vì một hành
động xấu nào
đó trong quá khứ mà nghiệp tiêu diệt
đã làm ngưng
đường bay của mũi tên, tiêu diệt mọi năng
lực của các nghiệp tốt khác.
Trong thời của
đức Phật, có một câu chuyện có thể thí dụ cho
ta thấy sự hoạt động của những nghiệp này. Có một người nọ, ông ta
cúng dường thực phẩm đến một vị A La Hán.
Nhưng sau khi dâng thực phẩm lên, ông lại cảm thấy tiếc rẻ, hối
hận. Chuyện kể rằng trong bảy kiếp liên tiếp, ông ta
được sanh ra làm một nhà triệu phú nhờ
kết quả của việc cúng dường. Cúng dường cho một bậc giác ngộ
được phước báu rất lớn. Nhưng kết quả của sự
hối hận, tiếc rẻ là mặc dù ông ta sanh ra giàu có nhưng lúc nào
cũng keo kiệt, hoàn toàn không hưởng được sự
sung túc của mình. Những nghiệp khác nhau
đem lại những kết quả khác nhau, tùy
thuộc vào trạng thái tâm của ta lúc ấy.
Nghiệp tái tạo rất quan trọng
và cần được hiểu rõ, vì nó có tác dụng
quyết định cảnh giới tái sanh của ta.
Ðây là loại nghiệp hoạt động rất mạnh trong
giây phút cuối cùng của sự sống. Trong giây phút lâm chung này, có
bốn loại nghiệp có thể khởi lên:
- Thứ nhất là Trọng
nghiệp, có thể là thiện hay ác. Trọng nghiệp thuộc về ác có năm
thứ, được gọi là ngũ nghịch đại tội là:
giết cha, giết mẹ, giết một vị A La Hán hay gây thương tích cho
đức Phật và chia rẽ Tăng
chúng. Một trong ngũ tội có khả năng vượt lên trên mọi hành
động trong quá khứ và quyết
định việc tái sanh. Chúng chắc chắn sẽ sanh
quả. Những trọng nghiệp thuộc về thiện là kết quả của người
đã đạt
được trạng thái thiền định và họ giữ
được cho đến khi lâm chung. Kết quả của nghiệp này là
được tái sinh vào cảnh giới của Trời.
Trọng nghiệp bao giờ cũng giữ một địa vị ưu
thế hơn mọi loại nghiệp khác. Những trọng nghiệp khác thuộc về thiện là
kết quả của những giai đoạn giác ngộ khác
nhau. Chúng không quyết định chắc chắn cảnh giới tái sinh của ta, nhưng
điều chắc chắn là nó se đi lên.
Chúng ngăn chận sự tái sanh vào những
thế giới thấp kém.
- Những loại nghiệp không có
một trọng nghiệp nào để làm
điều kiện tái sanh thì
được gọi là Cận nghiệp,
tức là nghiệp tạo bởi những hành vi cuối cùng trước khi lâm chung. Nói một
cách khác hơn, trong giờ phút lâm chung, nếu ta chợt nhớ
đến những việc làm thiện, hay có ai
nhắc nhở ta về những việc làm thiện, hoặc là ngay trước khi lâm chung ta
làm một điều gì tốt, chúng sẽ trở
thành nghiệp quyết định sự tái sinh của mình.
Trong thời đức Phật, có một tên sát
nhận sắp sửa bị treo cổ, lúc ấy hắn chợt nhớ lại trong
đời có một lần hắn đã dâng
đồ ăn cho ngài Sariputra, một
đại đệ tử của đức Phật. Tư tưởng chót của anh
ta trước khi chết là về món quà này. Mặc dù trong suốt cuộc
đời, anh ta đã làm biết bao nhiêu
điều tội lỗi, nhưng kết quả của tư tưởng lành
cuối cùng đó đã giúp anh
được tái sinh lên cõi trời. Và nó cũng
có một tác dụng ngược lại. Nhưng chúng ta
đừng nghĩ rằng những nghiệp thiện, ác tích lũy bấy lâu nay sẽ không theo
ta. Nó chỉ có nghĩa là cận nghiệp, tức những hành
động, những tư tưởng trong giờ lâm chung, có
kết quả ưu tiên. Nó quyết định sự tái
sinh của mình. Nhưng thường thì trong giờ phút lâm chung, tâm ta
rất là tán loạn, sợ hãi, tập trung tâm mình
để chỉ nghĩ về những sự việc, hành
động thiện của mình không phải là một chuyện dễ làm.
- Nếu không có cận nghiệp, thì
Thường nghiệp sẽ hiện diện. Những hành
động lập đi, lập lại nhiều lần, những thói
quen sẽ xuất hiện trong giờ phút lâm chung. Nếu có một người nào
tạo nhiều nghiệp sát sanh, những tưtưởng ấy sẽ xuất hiện trong giờ phút
cuối, vì là kết quả của thường nghiệp. Hoặc nếu có một người nào
đó đã làm nhiều việc thiện, rất rộng
rãi, hay đã ngồi thiền nhiều lần,
trong giờ phút chót anh ta sẽ có thể nhớ lại những hành
động ấy hay thấy lại một hình ảnh mình
đang ngồi thiền trên một tọa cụ. Và nó
sẽ trở thành nghiệp quyết định sự tái sinh kế
tiếp của ta.
- Nếu không có trọng nghiệp,
không có cận nghiệp, cũng không có một thường nghiệp vững mạnh nào thì
Nghiệp tích trữ sẽ xuất hiện để
hướng dẫn sự tái sinh của mình. Nếu cuộc
đời chúng ta chỉ là một chuỗi dài vô
tận của những hành vi thiện, ác lẫn lộn, thì bất cứ một hành
động nào trong quá khứ cũng có thể
khởi lên được trong giờ phút lâm chung.
Một thí dụ cho sự hoạt
động của những nghiệp này là một
đàn bò
được nuôi lẫn lộn trong một vựa thóc. Buổi sáng khi mở cửa, con bò
ra đầu tiên sẽ là một con bò khỏe mạnh
nhất. Nó chen lấn, thúc đẩy những con khác
qua một bên để được ra trước. Giả sử
không có một con bò nào là khỏe mạnh nhất. Thì con ra trước nhất có
thể là một con bò sữa, đứng cạnh cửa chuồng.
Nó chỉ cần nhẹ nhàng tách mình đi ra.
Rồi nếu thí dụ như chẳng có một con nào
đứng gần ở cửa chuồng cả, thì con bò
ra trước sẽ là con bò vẫn có một thói quen hướng dẫn những con khác. Và
nếu như chẳng có con bò nào có thói quen đó,
thì bất cứ con bò nào trong đàn
đều có thể là con ra trước. Nghiệp lực
cũng hoạt động tương tự như thế vào
giây phút chót: Trọng nghiệp, Cận nghiệp, Thường nghiệp và Tích trữ
nghiệp.
Có một yếu tố
để giữ cho ta lúc nào cũng tiến về sự
thanh nhẹ, hạnh phúc và an lạc, đó chính là
chánh niệm. Chánh niệm có ảnh hưởng đến kết
quả của Trọng nghiệp, vì yếu tố giác ngộ. Chánh niệm cũng có ảnh
hưởng đến kết quả ở Cận nghiệp. Nếu chúng ta
có ý thức một cách sâu sắc, thì dù trong giờ phút lâm chung, tâm ta
lúc nào cũng được quân bình và không
bị chi phối bởi những sự bất thiện. Chánh niệm cũng là Thường nghiệp. Nếu
chúng ta thực tập mỗi ngày một cách chuyên cần, chánh niệm sẽ tự
động khởilên trong giây phút lâm
chung. Ý thức chánh niệm mà chúng ta đang tu
tập ở đây, nó là một năng lực vô cùng
quan trọng. Chính nó sẽ là một yếu tố quyết
định nơi loại nghiệp hoạt động trong giờ phút lâm chung.
Hỏi: Những sinh linh ở các cõi
thấp hơn chúng ta có tạo nghiệp không? Thí dụ như một con chó có thể tạo
nghiệp vì sự hiền lành, dễ thương hay hung dữ, bạo
động của nó không?
Ðáp: Ai cũng tạo nghiệp cả,
loài thú cũng vậy. Bạn có thể thấy những con vật rất dữ tợn. Bạn có thể
thấy được sự sợ hãi, giận dữ, thù ghét
ở nơi chúng. Cũng có những con vật rất đẹp,
dễ thương, thoải mái. Tất cả đều tùy thuộc vào phẩm chất của tâm.
Hỏi: Có nghiệp chung cho một
gia đình không?
Ðáp: Có một loại nghiệp
được gọi là Cộng nghiệp. Thí dụ như
một quốc gia theo một chánh sách nào đó, sẽ
tạo nên một cộng nghiệp cho quốc gia ấy. Chúng ta chịu chung nghiệp
với những người khác, nếu chúng ta chấp nhận hành
động của họ. Nếu chúng ta có tư tưởng chấp
nhận việc làm của một người nào, thì nghiệp lực sẽ phát sinh. Bạn
có thể thấy rõ điều này vào thời chiến
tranh. Những ai ủng hộ cuộc chiến sẽ phải cùng nhau chia xẻ nghiệp ấy. Còn
những người không chấp nhận, sẽ tránh khỏi việc chịu chung cộng nghiệp
đó. Khi còn ở Ấn Ðộ, tôi có quen một
người bạn từ Hòa Lan. Anh ta kể lại chuyện gia
đình anh trong kỳ thế chiến thư hai
vừa qua. Anh nói rằng, không hiểu vì sao gia
đình anh lúc nào cũng có đầy đủ thực
phẩm. Mặc dù cả nước đang ở trong một
tình trạng khủng hoảng, thiếu thốn thực phẩm, nhưng
đây đó vẫn có một số người không phải chịu
chung một hoàn cảnh đó. Bạn có thể
thấy được ảnh hưởng của công nghiệp trên những người không tham dự
hay ủng hộ đường lối bất thiện của một quốc
gia, một nhóm; họ không chịu chung một số mệnh. Và những người tán
thành các hành động, chính sách nhân đạo sẽ
huân tập được những thiện nghiệp về sau.
Hỏi: Nhiều khi những dành từ và
thí dụ ông dùng làm cho tôi lộn xộn.
Ðáp: Dẹp qua một bên những thí
dụ. Hãy đi thẳng vào mà kinh nghiệm
thế nào là chánh niệm. Khi có một tư tưởng khởi lên, bạn có hai sự chọn
lựa: tư tưởng có thể khởi lên rồi bạn hoàn toàn bị nó lôi cuốn theo, không
còn ý thức được mình
đang nhgĩ gì. Hay là có sự hiện diện
của chánh niệm và ý thức được rằng có một
tiến trình tư tưởng đang hoạt động.
Mỗi khi có chánh niệm, đối với tư tưởng hay bất cứ một đề mục nào,
chúng sẽ đến rồi đi, nếu được ý thức một cách
rõ ràng, tâm ta sẽ giữ được quân bình
sau khi đó.
Với tất cả những danh từ, chữ
nghĩa mà tôi dùng có người lãnh hội được, có
người không điều đó không quan trọng. Hãy dùng những danh từ, ý
niệm nào giúp bạn làm sáng tỏ được vấn đề, còn
lại thì cứ bỏ hết. Chỉ có kinh nghiệm được
những gì đang xảy ra mới là
quan trọng, chứ không phải mê tín, chấp nhận vào những
điều gì người khác nói. Trí tuệ phát
xuất từ một nội tâm thinh lặng, chứ không phải qua những lời phân tích,
bàn luận về các chuyện đang xảy ra.
Hỏi: Nhưng mà nhiều khi người
ta ăn một cái bánh vì bề ngoài, màu
sắc của nó.
Ðáp: Cứ việc dùng bề ngoài, bất
cứ màu sắc nào hấp dẫn bạn. Nhưng nhớ phải ăn
cái bánh! Có một câu chuyện sau đây:
Có một ông giáo sư
đại học nọ đi biển trên một chiếc tàu
nhỏ. Một đêm nọ ông
đi gặp người thủy thủ già và nói:
- Này ông già kia, ông biết gì
về Ðại dương học?
Người thủy thủ già thật ra
chẳng hiểu danh từ đó có nghĩa là gì.
Ông giáo sư nói:
- Ông thật
đã phí một phần tư cuộc
đời mình! Sống cả
đời trên biển mà lại không biết gì về
Ðại dương học.
Ðêm kế
đó, ông giáo sư lại đi tìm người thủy
thủ già và nói:
- Ông già kia! Ông biết gì về
Khí tượng học?
Một lần nữa, ông thủy thủ già
cũng chưa từng nghe danh từ đó bao giờ.
- Môn học về thời tiết
đó!
- Vậy à, thật ra tôi chẳng biết
gì về môn đó cả.
- Vậy là ông
đã phí cả nửa
đời mình rồi!
Ðêm kế
đến, ông giáo sư lại đi tìm người thủy
thủ già, nói:
- Ông biết gì về Thiên văn
học?
- Tôi không biết gì cả.
- Ông
đi biển cả đời, ông cần những vì sao
để định phương hướng mà ông lại không
biết gì về Thiên văn học cả. Ông thật đã
hoang phí cả ba phần tư đời mình rồi!
Uổng thật.
Ðêm hôm sau, người thủy thủ già
vội vã đi tìm ông giáo sư già và nói:
- Giáo sư, ông biết gì về Bơi
lội học?
Ông giáo sư lắc
đầu:
- Tôi không biết gì hết, tôi
chưa có học bơi bao giờ cả.
- Ồ, vậy thì tội nghiệp cho
giáo sư quá, tàu đang chìm! Giáo sư
đã hoang phí cả cuộc
đời mình rồi!
Chỉ có môn Bơi lội học mới thật
sự là quan trọng.
Buổi tối thứ mười bảy
Bài tập: HÔN TRẦM
Mỗi khi có một cơn
đau xuất hiện ở đâu đó trong thân, ta thường
có khuynh hướng phản ứng bằng cách căng thẳng những bắp thịt ở một nơi
khác. Vì vậy thỉnh thoảng ta nên buông thư, thả lỏng toàn thân,
từng bộ phận một, buông thả sự căng thẳng
tích tụ vì những phản ứng sâu kín đối
với các cảm giác khó chịu. Nhờ vậy ta có thể tiếp tục ngồi lại mà
quán chiếu các hiện tượng một cách dễ dàng hơn.
Hãy lợi dụng những quyết
định về các giờ ngồi yên của mình,
để ngồi một giờ mà hoàn toàn không cử
động hay nhúc nhích. Sự cương quyết này
sẽ làm gia tăng sức mạnh của tâm trên
nhiều lãnh vực khác nhau. Sự tinh tấn và năng
lực sẽ được thêm vững mạnh, và sự yên lặng của thân sẽ làm tăng
trưởng định lực và chánh niệm. Thông thường thì thân ta có phản ứng
đối với mọi cảm giác hay cảm thọ khó chịu, dù
chúng thật nhỏ nhặt, bằng cách nhúc nhích thân thể. Nhưng chúng ta ít khi
ý thức được tiến trình
đó: cảm thấy hơi khó chịu, cho nên
đổi tư thế một chút. Bằng cách cương quyết
không cử động trong một giờ đồng hồ, chúng ta sẽ không thể nào trốn
chạy, bị bắt buộc phải ý thức những giây phút khó chịu ấy và những phản
ứng của ta đối với chúng. Bạn cũng có thể
tăng những giờ ấy lên. Nếu bạn thấy nó trở nên dịu dàng, hãy quyết
định ngồi lâu hơn.
Khi
định lực phát triển, đôi khi tâm ta có thể bị
đi vào một trạng thái dễ chịu giống như mê ngủ. Ðây chính là hôn
trầm. Bạn có thể ngồi được thật lâu trong
trạng thái này. Hãy tỉnh thức, đừng đẻ
chánh niệm của ta bị xao lãng. Khi nào bạn cảm thấy mình
đang đi vào một trạng thái hôm trầm,
hãy cố gắng gia tăng chánh niệm, để ta lúc nào
cũng ý thức được những gì
đang xảy ra trong giờ phút hiện tại.
Ðược như vậy, trí tuệ sẽ khai triển, ta sẽ kinh nghiệm
được tức khắc sự sanh diệt của tư tưởng, của
cảm thọ, hơi thở, những trạng thái của tâm thức. Ðừng
để tâm mình rơi vào một trạng thái hôn
trầm. Ðiều này có thể xảy ra khi ta ngồi yên quá lâu. Hãy giữ chánh niệm.
Ðó chính là căn bản của trí tuệ. Phải luôn
luôn giữ một ý thức sáng suốt.
Buổi tối thứ mười tám
SỰ TRONG SẠCH VÀ HẠNH PHÚC
Mark Twain có kể câu chuyện về
một người được sanh lên thiên
đàng. Khi anh ta
đến nơi, người ta ban cho anh một đôi cánh và
một cây thụ cầm. Những ngày đầu, anh dùng
đôi cánh của mình
để bay đi đây đó, và mỗi khi muốn nghe
nhạc trên cõi trời, anh chỉ cầm cây thụ cầm của mình lên gảy. Nhưng sau
một thời gian, cả hai thứ ấy trở thành một gánh nặng cho anh. Cuối cùng
anh khám phá ra rằng trên trời mình không cần
đến đôi cánh để đi đây đó, và chỉ cần khởi ý muốn, là tự nhiên
những nhạc công trên trời sẽ hiện ra và bắt
đầu hòa tấu nhạc cho mình nghe. Sau cùng anh ta bỏ
đôi cánh và cây thụ cầm xuống, và anh
thật sự bắt đầu vui chơi.
Cũng vậy, chúng ta
đôi khi tự giới hạn chính mình bằng
những ý niệm về vấn đề trong sạch và
hạnh phúc. Chúng ta tự mang lên trên người những
đôi cánh, cây đàn, hào quang không cần
thiết, khi nghĩ rằng hạnh phúc có nghĩa là phải có một cái gì hay là phải
hành động theo một đường lối đặc biệt nào
đó. Khi chúng ta dẹp qua một bên những
quan niệm hẹp hòi của mình, ta sẽ có thể bắt
đầu kinh nghiệm được những niềm vui sâu xa hơn.
Có nhiều loại hạnh phúc khác
nhau, chúng tùy thuộc vào mức độ trong sạch
của mình. Sắc dục hay là thú vui qua các giác quan là loại hạnh
phúc đầu tiên mà ta có thể cảm nhận
được: nhìn những cảnh
đẹp, nghe những âm thanh êm tai, ngữi
nếm những mùi vị thơm ngon, có những cảm giác thoải mái. Là con người,
chúng ta ai cũng đã nhiều lần
được hưởng những thú vui này. Mặc dù
chúng chỉ tạm bợ, nhung chúng cũng đã
đem lại cho ta một phần nào thú vị,
hạnh phúc thoải mái.
Lại còn có một loại hạnh phúc
sắc dục cao quý hơn được tả lại trong kinh
sách, về những cõi trời, nơi mà mọi vật
đều tuyệt mỹ và tươi mát. Dân chúng ở
đây có thân làm bằng ánh sáng, không
bao giờ biết đau đớn hay khó chịu. Mọi thú
vui ham muốn đều được thỏa mãn. Nơi
đây có những lâu đài làm bằng ngọc quý, có những nhạc công thiên
thần, cùng tiên thánh và các hàng bồ tát. Kinh nói rằng
đức bồ tát Di Lặc, vị Phật tương lai, hiện
đang ngự trị ở một cõi trời như vầy và
đang thuyết pháp cho dân ở đó nghe. Hạnh phúc ở cõi thiên thứ thuộc
vào loại cao quý hơn.
Con
đường đưa đến hạnh phúc trong sạch trong cõi
Dục giới là những hành động trong sạch,giai
đoạn đầu tiên của sụ tinh luyện. Những hành
động trong sạch có nghĩa là thực hành
bố thí, trì giới, không chạy theo tham, sân, si. Những hành
động trong sạch này là nhân sanh những
quả tốt lành, hạnh phúc, để cho ta được hưởng
thụ cả trong hai cõi người và trời.
Có một loại hạnh phúc cao hơn
cả hạnh phúc của cõi trời. Ðó chính là sự hạnh phúc và an lạc của thiền
định. Khi tâm ta đã phát triển
được một định lực cao độ, nó sẽ có một niềm
an lạc siêu diệu, vượt lên trên mọi khoái lạc về sắc dục. Tâm ta
lúc ấy không còn chạy theo những đối tượng
của các giác quan và hoàn toàn bị thu hút vào một
đề mục duy nhất. Hạnh phúc này vững
bền hơn những khoái lạc của các giác quan vì những hạnh phúc của sắc dục
đến và đi
rất mau chóng.
Có những trạng thái của tâm, có
thể đạt đến qua sức mạnh của thiền định, gọi
là cõi Phạm, thiên hay cõi của Tứ Vô Lượng Tâm. Chúng có tên gọi
như vậy là vì phẩm chất của tâm lúc đó tương
đương với cõi trời Phạm Thiên, một thế giới cao tột nhất mà ta có
thể kinh nghiệm được.
- Vô lượng tâm
đầu tiên là lòng
đại Từ. Từ ở đây không có nghĩa là
lòng thương người vì sự quyến luyến hay vì chiếm hữu, mà là một tình
thương phát xuất ở một lòng đại từ, muốn cho
chúng sanh khắp mọi nơi đều được an lạc và hạnh phúc. Ở trạng thái
này, tâm ta có một định lực rất mạnh, nó có
khả năng phóng tình thương vô tận của mình
đi khắp mọi phương hướng.
- Vô lượng tâm thứ hai là lòng
đại Bi, có nghĩa là lòng thương xót
mọi loại đang bi đau khổ - muốn làm
vơi đi những nỗi khổ của kẻ khác.
- Vô lượng tâm thứ ba là lòng
Hỷ, có nghĩa là chia xẻ nỗi mừng với hạnh phúc, an lạc của kẻ khác, cảm
thấy người khác được hạnh phúc mà mình
cũng cảm thấy được vui lây. So với thói
thường là, ngược lại, người ta thường hay ghen tức, cạnh trạnh với
hạnh phúc của kẻ khác. Một tâm biết hân hoan với niềm vui của người khác
thì sẽ tỏa sáng và thanh nhẹ.
- Vô lượng tâm cuối cùng là
lòng Xả, có nghĩa là một tâm quân bình, hoàn toàn không bị chi phối bởi
những thăng trầm, buồn vui của cuộc đời. Một
tâm lúc nào cũng giữ được sự quân bình
và an ổn.
Hạnh phúc của Tứ Vô Lượng Tâm:
Từ, Bi, Hỷ, Xã, sẽ xuất hiện khi định lực của
ta được phát triển đầy đủ. Cũng như là sự trong sạch của phẩm hạnh
tùy thuộc vào hành động, sự trong sạch của
tâm tùy thuộc vào định lực của ta.
Nhưng còn có một niềm hạnh phúc
to tát bội phần hơn cả cõi Phạm Thiên, là của thiền
định. Ðó là hạnh phúc của Vipassana,
hạnh phúc của trí tuệ. Tâm thức đó có khả
năng quán chiếu, thẳm thấu vào tự thể của mọi vật, kinh nghiệm
được sự sanh diệt của mọi hiện tượng một cách
rõ rệt. Hạnh phúc của Vipassana bao giờ cũng siêu việt hơn tất cả,
vì trong nhận thức sáng suốt hành giả được
nếm mùi vị của tự do, giải thoát. Không phải chỉ
đắm chìm trong những khoái lạc của sắc
dục, cũng không phải chỉ bị thu hút vào trong một trạng thái an vui của
thiền định. Niềm hạnh phúc ở đây là
của trí tuệ, khi tâm ta trở nên rực rỡ và tri giác tỏa chiếu sự trong sáng
của nó. Ðây cũng giống như khi ta lau chùi một ly thủy tinh cho
đến khi nó chiếu sáng lấp lánh. Bằng sự tu
tập chánh niệm, của Vipassana, tâm ta cũng có thể đạt đến một sự rực rỡ
như vậy, và hưởng được niền an lạc vô
biên bắt nguồn từ một trí tuệ thâm sâu.
Có một giai
đoạn tinh luyện, gọi là quan niệm chân
chánh, có thể làm khởi lên hạnh phúc Vipassana. Quan niệm chân chánh ở
đây có nghĩa là thoát ra khỏi
được ý niệm về một cái Ngã, mê chấp
rằng ta có một tự thể riêng biệt. Thật ra chúng ta chỉ là một quá trình
diễn tiến của thân và tâm, luôn hoạt động và
chuyển biến. Có một lần đức Phật giảng một bài
pháp gọi là "Tất cả". Bài kinh có tên "Tất cả" vì ngài diễn tả mọi hiện
tượng trong vỏn vẹn sáu câu: "Mắt và đối
tượng của mắt. Tai và âm thanh. Mũi và mùi hương. Lưỡi và vị nếm.
Thân và cảm giác. Tâm thức và ý niệm hay những
đối tượng của nó".
Tất cả chỉ có vậy, ngoài những
điều ấy không còn gì khác hơn nữa. Ðức
Phật thường hay nói rằng, cả thế giới này chỉ hiện hữu trong phạm vi tâm
thân dài mấy thước này mà thôi. Hiểu được các
giác quan căn bản và những đối tượng
của chúng, là ta hiểu được sự sanh
diệt liên tục của sáu thức: nhản, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức,
khi đối diện với các đối tượng của chúng là
sáu trần. Cả vũ trụ của ta chỉ là một tập hợp của những chuỗi liên tục,
xảy ra thật lẹ, của các sự nghe, thấy, ngữi, nếm, cảm giác và kinh nghiệm
những ý niệm khác nhau. Chỉ có sáu đối tượng
và sáu thức để nhận biết chúng: chúng
ta chỉ là một tiến trình liên tục này. Những sự kiện ấy chẳng xảy
đến cho một cá nhân nào hết. Không có
một tự thể riêng biệt nào để ta có thể gọi
rằng: "cái này chính là tôi", bởi vì mỗi thức và
đối tượng của nó sanh lên và diệt
đi trong từng khoảnh khắc.
Ðức Phật có diễn lại giáo lý
này một cách thật cô đọng như sau: Trong cái
thấy, chỉ có cái bị thấy; trong cái nghe, chỉ có cái bị nghe; trong cái
cảm giác (ngữi, nếm, đụng chạm) chỉ có cái bị cảm giác; trong cái suy nghĩ
chỉ có cái bị suy nghĩ". Không có gì ngoài những
điều đó hết, hoàn toàn không có một cá
nhân nào để cho nó xảy đến.
Nghe, thấy, ngữi, nếm, cảm giác
ở thân, ý thức. Hiện hữu của ta chỉ là một sự liên tục của sáu tiến trình
này. Chúng ta đặt tên cho sự vật rất
nhiều. Có vô số ý niệm để diễn tả những kinh
nghiệm của mình. Nhưng mắt ta chỉ thấy màu sắc và hình dáng, nó
không thấy cái "tên gọi". Chúng ta chỉ nghe âm thanh. Chúng ta
đặt tên cho những âm thanh khác khau,
nhưng thật ra chúng chỉ là sự rung động trong
không khí chạm vào lỗ tai, khiến cho nhĩ thức khởi sanh lên. Một
liên lạc giản dị giữa nhân và quả. Chẳng có ai ở
đó. Sự việc xảy ra quá nhanh chóng, chúng
gieo cho ta một ảo giác là những việc ấy xảy
đến cho một người nào. Khi tâm ta yên
lặng, ta sẽ bắt đầu kinh nghiệm được sự tinh
luyện trong nhận thức của mình, ta sẽ thấy rằng cái ta của mình chỉ
là một tiến trình của thức và trần, thoát ra ngoài ý niệm về một tự thể
riêng biệt. VÀ khi sự tinh luyện được thâm
sâu, chúng ta sẽ trở thành là một với dòng biến chuyển, thay vì u
mê đi níu kéo, chấp vào nó. Quan niệm
chân chánh có nghĩa là có một ý thức rõ ràng, nhìn sự vật bằng chân tướng
của nó, một bắt đầu cho cái nhìn biến
thể. Ðây chính là hạnh phúc đầu tiên
của mùi vị giải thoát.
Hiểu
được tự thân của sự vật là cánh cửa
đi vào một hạnh phúc cao tột nhất:
niềm vui của Niết bàn, giác ngộ. Nơi đây có
một sự an tĩnh, nghỉ ngơi, tươi mát vượt ra ngoài tiến trình thân
tâm. Và một điều huyền diệu của giáo pháp nữa
là, mọi loại hạnh phúc sẽ xảy đến với
ta khi ta hướng về sự tự do cao tột nhất.
Hỏi: Ông có thể diễn tả hạnh
phúc của Niết bàn được không?
Ðáp: Niết bàn có ba thứ hạnh
phúc: Các hạnh phúc này được coi như là
những niềm vui khác nhau, phát xuất từ sự hoàn toàn chấm dứt khổ
đau.
Khi tôi còn ở Ấn Ðộ, chúng tôi
sống trên đỉnh một ngọn núi, và cách
đó một khoảng chừng nửa tiếng đi bộ, phía
dưới một dốc núi khá cao, là một khu chợ trời. Ở
đây đa số hàng hóa
đều được chuyên chở bằng cách mang vác
trên lưng. Có một số các bà lão người Tây Tạng, mang trên lưng những thân
cây thật to, leo lên núi mỗi ngày. Họ lê từng bước, uốn cong người xuống,
vác gánh nặng trên lưng đi lên dốc.
Bạn hãy tưởng tượng đến sự nhẹ nhàng,
thoải mái của họ khi lên đến nơi và bỏ
gánh nặng xuống! Một cảm giác thư thái vô cùng, khi ta có thể trút bỏ
đi gánh nặng ấy.
Hạnh phúc của Niết bàn là trút
bỏ được gánh nặng của khổ đau. Ðây là
một hạnh phúc cao tột nhất. Hiểu được con
đường phải đi và kinh nghiệm giác ngộ ra sao, có lẽ ta cũng nên
biết qua về những hạnh phúc khác nhau của Niết bàn và các hoạt
động của chúng.
- Hạnh phúc
đầu tiên hết là hạnh phúc do sự tích
lũy của trí tuệ và chánh kiến, được gọi là
con đường Tâm thức - Đạo Tâm thức.
Ðây mới chỉ là một cái nhìn thoáng qua, một kinh nghiệm
đầu tiên của Niết bàn. Con
đường tâm thức này có công dụng nhổ
tung hết mọi gốc rễ của khổ đau như sấm sét.
Ở đây ta không đè nén khổ đau như
trong khi thiền định, nhưng là nhổ bứng tận gốc rễ, bức tung mọi
xiềng xích trong tâm. Trong giai đoạn này
ta diệt trừ được ba sợi dây xiềng xích hằng
trói buộc ta vào vòng sanh tử luân hồi từ bấy lâu nay. Chúng là sự
hoài nghi, mê tín vào những hình thức, lễ nghi (như là một phưong tiện dẫn
đến giác ngộ) và chấp Ngã. Ba chướng
ngại này sẽ bị loại trừ ra khỏi tâm ta một cách chớp nhoáng, bằng con
đường Tâm thức với đối tượng là Niết
bàn.
- Ngay tiếp sau
đó là loại hạnh phúc Niết bàn thứ hai,
được gọi là Quả Tâm thức.
Ta kinh nghiệm quả trái của con đường tu, mà
đối tượng cũng là Niết bàn. Trong giai
đoạn kết quả, không có gì
để ta nhổ bứng, những việc ấy đã
được hoàn tất trong giai
đoạn thứ nhất. Giai đoạn kết quả này
là lúc mà ta kinh nghiệm được sự an lạc của
Niết bàn. Những ai có một định lực kiên
cố, có thể đi vào trạng thái quả Niết
bàn này bất cứ khi nào họ muốn. Họ ngồi xuống và có thể tự ý
đi vào trong trạng thái này, hay trụ ở
đây trong vòng nửa tiếng, một tiếng
hay một vài ngày. Kinh nói rằng người ta có thể trụ trong sự an lạc của
Niết bàn trong thời gian tối đa là bảy
ngày mỗi lần. Yên lặng, tươi mát, xả bỏ, tự do. Một khi ta ra khỏi trạng
thái quả trái ấy, vì tâm vẫn còn vướng víu những sự bất thiện khác, ta vẫn
phải tiếp tục đi theo con đường thiền quán.
Cũng giống như những gì chúng ta đang
làm bây giờ đây, sự thực hành
được tiếp tục. Bạn thấy được sự sanh diệt của
mọi hiện tượng, bạn đi qua những trạng thái khác nhau. Bạn kinh nghiệm
được giai đoạn tâm thức thứ hai, nó diệt thêm một số
điều bất thiện trong tâm. Có tất cả bốn giai
đoạn tâm thức, mỗi giai đoạn sẽ lần lượt thay phiên nhau cắt
đứt những sợi dây xiềng xích, hằng trói buộc
ta vào bánh xe sanh tử luân hồi.
- Niết bàn cao tột nhất
được gọi là Ðại Niết bàn
(Parinirvana), trạng thái của một người
đã hoàn toàn giác ngộ
đi đến sau khi chết. Sẽ không còn luân
hồi, không còn nhiên liệu, không còn ái dục
để tái sanh. Nó cũng giống như một ngọn lửa đang bừng bừng cháy, giờ đã
hoàn toàn bi dập tắt. Ngọn lửa thiêu đốt đã
tắt, giờ chỉ còn một trạng thái an lạc, yên lặng, và tươi mát. Một hạnh
phúc cao tột nhất. Ðôi khi có người lại sợ đi
đến Niết bàn sớm quá, họ muốn được coi
thêm vài cuốn phim nữa, được hưởng thêm
một chút sắc dục nữa, hay là được ở trên
cõi trời lâu thêm một chút. Nhưng nếu bạn nhắm mục tiêu vào một hạnh phúc
cao thượng nhất, thì mọi thứ hạnh phúc khác tự nhiên cũng sẽ
đến.
Hỏi: Có thể nào chúng ta
đang làm người rồi kiếp sau bị sanh
làm thú vật hay không? Có cách nào sinh trở lại làm người
được không?
Ðáp: Lý do kiếp người vô cùng
quý giá là bởi vì khi ta bị sanh vào một cõi thấp, sẽ rất khó
để sanh trở lại vào một kiếp cao hơn.
Vấn đề không phải là không thể
được, nhưng thời gian sẽ rát là lâu.
Ðức Phật có kể một thí dụ như sau để cho ta
thấy khoảng thời gian ấy. Giả sử như có một con rùa mù mắt, sống ở
dưới đáy một đại dương. Trên mặt
đại dương, đâu đó có một chiếc vòng
bằng gổ nổi trôi bấp bênh đây đó theo chiều
gió. Cứ mỗi một trăm năm con rùa ấy trồi lên mặt nước một lần. Cơ
hội để con rùa áy có thể
đút đầu vào chiếc vòng bằng gổ, nhiều
hơn là cơ hội ta có thể được tái sinh làm
người. Ðây là lý do vì sao được sanh làm
người là một điều vô cùng quý giá, vì
vậy ta không nên hoang phí nó đi.
Hỏi: Tôi thấy rất khó có thể
hiểu được làm cách nào mà ta có thể
biết được những gì xảy ra trước khi
sanh và sau khi chết?
Ðáp: Có hai cách
để hiểu điều này. Một cách mà ta có
thể dễ dàng liên nghĩ tới được là hiểu
rõ tiến trình hoạt động của các hiện tượng
trong mỗi giây phút. Sự sanh ra và hoại
đi đang xảy ra liên tục, tâm thức của
ta đang khởi lên và diệt
đi không ngừng. Sự hoại diệt của tâm thức
chính là cái chết. Không có một cái gì của tâm thức
đó được đem qua giai đoạn kế tiếp hết. Qua
kinh nghiệm của trí tuệ, bằng thiền quán,ta có thể đạt được một kinh
nghiệm nhứt thời của sanh tử. Nó sẽ giúp cho ta có được một trực nhận về
sự sanh diệt của tâm thức xảy ra giống y hệt như thế. Trong khi tu tập
thiền định, với một định lực mãnh liệt ta có thể làm phát triển một
số thần thông. Có nhiều đạo sĩ trong các tôn
giáo khác đã tu luyện được những thần
thông này. Một trong những thần thông ấy là không những ta có khả năng
nhìn thấy được những cõi khác,
mà còn thấy được những sinh linh đang sanh tử
luân hồi. Có người có được loạithiên nhản này. Vị thầy của tôi, khi
bàn về vấn đề này, thường
đi vào chi tiết, diễn tả những cõi
trời khác nhau, và những thần thông phép lạ mà người ta có thể làm
được. Nhưng bao giờ ông cũng kết luận bằng
câu: "Các ông không cần phải tin tôi. Sự thật là như vậy
đó, nhưng không ai bắt buộc các ông phải
tin". Không một tín ngưỡng nào cần phải
được chấp nhận trên con
đường thiền quán để tự hiểu mình. Trí
tuệ đến bằng một phưong pháp giản dị là
biết ý thức được sự vật một cách chính xác và
thâm sâu, thoát ra khỏi mọi thành kiến và ý niệm có sẵn.
Buổi tối thứ mười chín
TÍN NGƯỠNG
Một trong những yếu tố tâm
linh, và cũng là một trợ lực vững mạnh trên con
đường tu tập, là sự tín ngưỡng hay
lòng tự tin. Một khi chúng ta có đức tin vào
chuyện mình đang làm, thì bất cứ một
nỗi nghi ngờ, chán nản nào làm ta chùng bước, cũng sẽ trở nên bất lực.
Có nhiều loại
đức tin khác nhau có thể phát hiện. Loại thấp
nhất là khi ta có một đức tin hay một
tín ngưỡng đối với người nào hay điều
gì, chỉ vì ta cảm thấy ưa thích nó. Chúng
đem lại cho ta một cảm giác nhẹ nhàng,
hứng khởi, nên ta đặt đức tin của mình
vào đấy. Những loại tín ngưỡng này thì
dễ đi đến mù quáng. Một loại
đức tin cao hơn là khi ta cảm nhận
được một số đức tốt trong một người khác, như
là trí tuệ và lòng từ bi. Ðức tin này rất là hữu ích, vì sự cảm
phục cũng là một đức tốt của tâm, nó khuyến
khích ta bắt chước theo những điều hay đẹp đó.
Cũng có những
đức tin và lòng tín ngưỡng phát xuất
từ một kinh nghiệm về chân lý của mình. Khi ta bắt
đầu kinh nghiệm được sự hoạt động của thân
tâm một cách thâm sâu, ta sẽ có được một niềm vui và lòng tin bất
tận vào giáo pháp. Nó không dựa trên một tình cảm mù quáng hay ở sự kính
phục một người khác, mà được xuất phát từ một
trí tuệ quán chiếu nhìn thấy tự thân của sự vật. Và
điều này dẫn
đến một đức tin cao thượng nhất, khai triển
qua kinh nghiệm giác ngộ. Bằng một quán chiếu thẳm thấu, thấy được chân
lý, đức tin của ta sẽ không bao giờ bị lay chuyển.
Khi
đức Phật sắp nhập diệt, Ananda hỏi Phật, các
ông không biết rồi sẽ lấy ai để làm thầy. Ngài trả lời:
"Hãy tự thắp
đuốc lên mà
đi. Hãy nương tựa vào nơi chính
mình. Các ông đừng đi tìm kiếm một
nơi trú ẩn nào ở bên ngoài hết. Hãy xem chân lý như là ngọn
đuốc dẫn đường. Hãy xem chân lý như
là nơi trú ẩn. Này Ananda, những ai trong lúc ta còn sống hay sau khi ta
đã nhập diệt, biết tự thắp
đuốc lên mà
đi lên mà
đi, không tìm kiếm bất cứ một sự
nương tựa nào ở bên ngoài, lúc nào cũng xem chân lý như là một ngọn
đuốc dẫn đường, một nơi trú ẩn, những người
ấy sẽ đạt đến một trình độ cao
thượng nhất, nhưng họ phải biết luôn luôn cố gắng học hỏi"
---o0o---
Mục Lục >> 1 >>
2 >> 3
>> 4 >>
5
---o0o---
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen
Trình bày:
Linh Thoại
Cập
nhật: 6-2008