Ba Mươi Ngày Thiền Quán
Kim Chỉ Nam Thiền Vipassana
Nguyên tác: The Experience of Insight,
Joseph Goldstein, 1976
Dịch giả:
Nguyễn Duy Nhiên, 1992
03
Buổi sáng thứ mười
một
TRÒ CHƠI ÐỊNH TÂM
Sáng hôm nay chúng ta sẽ chơi
một trò chơi. Nó gọi là trò chơi định tâm.
Luật chơi như sau: trong vòng một tiếng
đồng hồ sắp tới, mỗi hơi thở ra, bạn đếm một.
Hơi thở kế bạn đếm hai, cho đến mười. Không được thiếu một hơi thở nào.
Mỗi khi bạn thở ra, hay bụng xẹp xuống, đếm
tăng lên một số. Nếu giả sử bạn quên
đếm vì bạn không nhớ là mình đang đếm
tới số mấy - trở lại bắt đầu từ số một. Nếu bạn quên
đếm vì
đầu óc đang suy nghĩ việc gì khác, không chú ý
đến hơi thở - trở lại từ số một. Chỉ chú ý
đến việc đếm hơi thở, quên hết mọi chuyện khác.
Có những chuyện có thể xảy ra.
Hơi thở có thể sẽ trở nên bất thường, khi chậm, khi nhanh, khi sâu, khi
cạn. Cứ việc ở với hơi thở. Tù một cho tới mười. Có lẽ sau năm
phút, bạn sẽ bắt đầu có ý nghĩ: "Cái này thật là ngu, mình bỏ một
tiếng đồng hồ ra ngồi đây để đến một cho tới
mười làm khỉ gì đây?" Hãy cứ
tiếp tục đếm. Và nếu ý nghĩ
đó làm bạn quên
đếm một hơi thở, trở lại từ đầu. Có thể có
nhiều sự khó chịu, đau đớn nổi lên trong thân. Ðừng
để ý đến chúng. Chỉ từ một cho đến mười.
Ðây là một phương pháp đặc biệt dùng
để kiên cố thêm tâm hành
định của ta, tập cho tâm ta có thể ở với một
đối tượng duy nhất. Nếu bạn cảm thấy trò chơi này hữu ích trong
việc tu tập, thỉnh thoảng bạn có thể xen lẫn phương pháp này vào những giờ
ngồi thiền của mình.
Buổi tối thứ mười hai
Ba Trụ Pháp: BA-LA-MẬT
Thực hành và hiểu
được Phật pháp là một
điều hiếm có và vô cùng quí báu. Rất
ít người trên thế giới có được cơ hội này.
Ða số còn bị kẹt trong vòng lẩn quẩn, chạy theo lòng tham và sự si mê,
không ý thức được rằng mình có khả năng
thoát ra khỏi vòng luân hồi, bánh xe của ái dục và sân hận. Cơ hội
tu có được là nhờ vào
điều mà tiếng Pali gọi là Parami hay
là Ba-la-mật. Ba-la-mật có nghĩa là sự tích lũy năng
lực của một tâm trong sạch. Mỗi khi tâm ta không bị ảnh hưởng bởi tham,
sân, si nó sẽ có một năng lực làm cho dòng tâm thức trở nên tinh
khiết. Trên hành trình tiến hóa, chúng ta cũng chỉ tích lũy
được khá nhiều năng lực trong sạch này
trong tâm.
Chữ Parami
đôi khi cũng được diễn dịch một cách rộng rãi
là phần thưởng, công trạng. Nhưng chúng ta
đừng hiểu lầm chúng như là những ngôi sao vàng thưởng cho mỗi việc
thiện. Thật ra, Parami có nghĩa là một năng
lực trong sạch trong tâm. Khi những yếu tố vô tham, vô sân, vô si được
tích lũy đầy đủ, những Parami sẽ trở thành sức mạnh và sanh ra quả
hạnh phúc đủ loại, từ những thú vui sắc dục
thế gian nhất cho đến sự an lạc giải thoát cao tột nhất. Không có gì
trên đời này mà lại xảy ra một cách
ngẩu nhiên hay là vô duyên cớ cả.
Có hai loại Ba-la-mật: sự trong
sạch của hành động và sự trong sạch
của trí tuệ. Các hành động trong sạch là
nhân duyên tạo nên những cảnh vật vui vẻ, hoàn toàn thuận tiện, tình thân
thiết và cơ hội để nghe được Phật pháp. Thí
dụ, khóa tu này không phải ngẩu nhiên mà xảy ra. Nó có
được là nhờ ở sức mạnh của sự trong
sạch có trong mỗi người chúng ta.
Loại Ba la bật thứ hai là sự
trong sạch của trí tuệ, khai triển được nhờ
sự thực tập chánh tư duy. Ba-la-mật này giúp cho tuệ sáng suốt
được tăng trưởng. Cả hai Ba-la-mật, hai năng
lực trong sạch vừa kể, phải được phát triển đầy đủ thì ta mới có cơ
hội để tu tập Phật pháp, cũng như có được một
trí tuệ để lảnh hội.
Có ba trụ Pháp, ba lãnh vực của
hành động giúp vun trồng và củng cố
cho các Ba-la-mật.
1.- Trụ pháp thứ nhất là Bố
thí. Bố thí tức là tâm hành vô tham được
biểu hiện bằng ra hành động. Vô tham
có nghĩa là buông bỏ, không níu kéo, không bám víu. Mỗi khi chúng
ta chia xẻ một việc gì, hay cho một vật gì, nó sẽ củng cố thêm cho tâm
hành thiện này, và rồi một ngày nó sẽ trở thành một năng
lực dũng mạnh trong tâm. Ðức Phật dạy rằng, nếu chúng ta biết
được lợi ích của sự bố thí như ngài,
ta sẽ không bao giờ để một buổi ăn trôi qua mà
không chia xẻ với kẻ khác.
Quả trái của nhân bố thí là sự
sung túc, đầy đủ và sự hòa hợp với
những người chung quanh. Chia xẻ những gì mình có, là một lối cư xử vô
cùng tốt đẹp, tình thân hữu sẽ
được tăng trưởng nhờ đức tính vị tha của ta.
Cao thượng hơn nữa, tâm vô tham có thể là một sức mạnh quan trọng
cho sự giải thoát của mình. Chúng ta bị trói buộc là vì lòng tham và sự ái
dục trong tâm. Thực hành bố thí tức là ta
đang học cách tháo gở và buông bỏ những sợi dây xiềng xích này.
Người ta thường nói có ba hạng
người bố thí. Hạng thứ nhất là hạng người bố thí bần cùng. Hạng người này
chỉ cho sau khi đã do dự, suy tính rất
kỹ, và họ chỉ cho những gì dư thừa, cặn bả của họ. Họ nghĩ: "Mình có nên
cho hay không? Có cho nhiều quá không?" Và có lẽ thì cuối cùng họ sẽ cho
những gì mà họ cũng không thật sự muốn giữ.
Hạng thứ hai là hạng người bố
thí theo nhân đạo. Hạng người này cho
những thứ mà họ cũng có thể cần đến, Họ chia
xẻ những gì của họ, mà không tính toán nhiều với một bàn tay rộng
mở.
Hạng cao thượng nhất là hạng bố
thí theo vương đạo. Hạng người này sẵn
sàng dâng tặng những gì mà họ quý giá nhất. Họ chia xẻ một cách tự nhiên
và tức thời, không cần sự cân nhắc. Sự bố thí
đã trở thành một thói tự nhiên. Tâm vô tham của họ vững mạnh
đến mức họ có thể cho những gì mà họ
trân quý nhất, bằng một thái độ thoải mái,
nhẹ nhàng. Ðối với một số người, bố thí thật là khó khăn;
tâm tham của họ quá mạnh khiến cho họ luyến ái rất nhiều. Ðối với
một số khác, chuyện bố thí đến rất dễ dàng.
Nhưng vấn đề đó không quan trọng. Dù
chúng ta có bắt đầu ở hạng nào
đi chăng nữa, điều quan trọng là phải
bắt đầu thực hành. Mỗi hành
động bố thí sẽ dần dà làm tâm tham dục
yếu đi. Chia xẻ rộng rải là một lối
sống đẹp trên cuộc
đời này. Bằng sự thực hành, tất cả
chúng ta đều có thể trở thành những
hạng người bố thí theo vương đạo.
Có hai loại tâm thức hiện diện
trong mỗi hành động của ta. Một loại là
tâm thức có tính cách thúc đẩy: đây là
tâm suy nghĩ, tính toán, đắn đo trước mỗi hành
động. Loại thứ hai là tâm thức tự
nhiên, không khích động, nó là một thứ
trực giác. Khi một hành động nào
đã được ý
thức kỹ lưỡng rồi, thì không cần thiết
để đắn đo nữa. Loại tâm thức này hoạt
động trong giây phút hiện tại một cách thật tự nhiên. Bằng sự thực
hành, chúng ta sẽ khai triển loại tâm thức, mà trong
đó sự bố thí chỉ là một biểu lộ tự
nhiên của tâm mình.
Trong một tiền kiếp của
đức Phật, khi còn là một vị Bồ tát,
một hôm ngài đi ngang qua một vách núi nọ,
thấy một con cọp mẹ với hai con cọp nhỏ mới sanh. Cọp mẹ đang bệnh, không
có đủ sữa cho hai đứa con mình bú. Với lòng từ bi, ngài quên
đi sinh mạng của mình, gieo mình xuống
vực núi, hy sinh thân mình làm thực phẩm nuôi cọp mẹ,
để nó có đủ sức khỏe lo cho hai đứa con.
Ðây là một bố thí thuộc vào hạng vương
đạo.
Chắc chúng ta chưa
đạt đến mức vô ngã như thế, nhưng câu
chuyện chỉ cho ta một hướng đi: vun trồng tâm
bố thí vì lòng từ bi đối với tất cả
chúng sanh. Trong nhiều bài pháp, đức
Phật luôn khuyến khích ta hãy thực hành bố thí cho
đến ngày nào nó trở thành một biểu
hiện tự nhiên của sự hiểu biết. Bố thí là một
đại Ba-la-mật, nó được coi như là một
đức đầu tiên trong sự toàn thiện của
đức Phật. Và khi được vun trồng đầy đủ
nó sẽ là nhân của những hạnh phúc lớn trong cuộc sống của chúng
ta.
2.- Trụ thứ hai của giáo pháp,
hay một lãnh vực hành động trong sạch, là
giữ Giới luật. Ðối với bậc cư sĩ thì nó có nghĩa là giữ ngũ giới:
không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không dùng
những chất say nào có thể là mê mờ tâm mình.
a. Mọi chúng sanh
đều muốn được sống và
được an vui. Ai cũng không muốn mình
bị khổ đau. Bảo vệ sự sống bao giờ cũng đem
lại cho ta một tâm nhẹ nhàng, thư thái hơn là
đi hủy hoại nó. Ðem một con ruồi ở
trong nhà thả ra ngoài sân, bao giờ cũng làm cho ta thoải mái hơn là
giết nó. Hãy tôn trọng mọi sự sống.
b. Không trộm cắp có nghĩa là
không lấy giữ những gì không phải là của mình.
c. Không tà dâm có thể hiểu
một cách dễ dàng là đừng làm những
hành động sắc dục nào có thể gây
hại, hay tổn thương cho người khác, hay tạo sự bất an, phiền não cho
chính mình.
d. Không vọng ngữ không phải
chỉ là không nói dối mà còn có nghĩa là tránh nói những câu chuyện vô
ích, nhỏ mọn. Chúng ta thường bỏ rất nhiều thời giờ ra
để bàn những lời
đồn đại vô căn cứ. Chuyện đến trong đầu là
ta cứ nói, mà không cần suy nghĩ xem chúng có ích lợi gì không. Kiểm
soát được lời nói là một cách
để giúp cho tâm mình
được an vui. Ðừng nói những lời gây
gổ hay chửi mắng. Lời nói của ta phải nhã nhặn, gây những hạt giống hòa
ái và thân thiết giữa tất cả mọi người.
e. Trên con
đường giác ngộ, hướng về sự tự do và
sáng suốt, ta nên tránh dùng những chất gì có thể làm cho tâm mình bị mê
mờ và chậm lụt. Nhiều khi vì sự bất cẩn khi ta say sưa, mà mình lại vô
tình phạm những giới cấm khác.
Sự quan trọng và giá trị của
những giới cấm có nhiều mức độ khác nhau.
Giới cấm là một bảo vệ cho ta, giúp ta tránh khỏi tạo tác những ác
nghiệp. Ta sẽ tránh không hành động vì
lòng thâm, sân, si, bởi chúng là nhân của các quả khổ
đau trong tương lai. Khi chánh niệm vẫn còn
đang phát triển, chưa được vững mạnh, sự
quyết tâm giữ gìn giới luật sẽ nhắc nhở mỗi khi chúng ta sắp làm
một hành động bất thiện. Thí dụ như khi bạn
sắp giết một con muỗi, tay bạn dơ lên sửa soạn
đập xuống, thì ngay khi ấy giới cấm
sát sanh sẽ khởi lên và trở thành một nhân của chánh niệm.
Những hành
động bất thiện sẽ tạo nên một trạng
thái mê mờ, hắc ám trong tâm. Còn những hành
động có ý thức, tự chủ không làm các hành
động bất thiện, tạo cho ta một tâm nhẹ nhàng
và sáng suốt. Khi bạn cẩn thận quan sát hoạt
động của tâm trong mọi hành động, bạn
sẽ bắt đầu kinh nghiệm được rằng, những việc làm do tham, sân, si
sẽ khiến cho một tâm nặng nề khởi lên. Giữ giới luật như là một cách sống
giúp cho ta được an lạc, tâm ta luôn cởi mở và
trong sáng. Ðây là một lối sống thật thư thái và
đơn giản. Hiểu được như vầy, thì giới
luật không phải là những thiên lệnh, chúng ta giữ vì chúng có ảnh hưởng
đến giá trị của cuộc sống. Chúng ta không cần
phải thần thánh hóa chúng, vì chúng chỉ là những biểu hiện tự nhiên
của một tâm trong sáng.
Giới luật còn có một ý nghĩa
sâu xa hơn thế nữa trên con đường tu tập.
Chúng giải thoát tâm ta ra khỏi mọi hối hận và lo âu. Mặc cảm tội
lỗi về những chuyện quá khứ không có ích lợi gì mấy, chúng chỉ làm cho ta
lo buồn thêm. Bằng cách tạo dựng một căn bản
trong sạch cho hành động của mình
trong giây phút hiện tại, ta có thể giúp cho tâm mình trở nên thư thái và
an tĩnh một cách dễ dàng. Không có định thì
sẽ không bao giờ có tuệ được. Vì thế
cho nên, nền tảng giới luật là một căn bản vô
cùng cần thiết trên con đường tu tập.
3.- Lãnh vực thứ ba của hành
động trong sạch là Thiền. Thiền
được chia ra làm hai dòng chánh. Thứ
nhất là thiền Chỉ hay định, là khả năng
tập trung tâm mình vào một đối tượng
duy nhất trong một thời gian, mà không hề lo ra hay lơ
đãng. Khi tâm ta tập trung, nhất như,
nó sẽ có một khả năng soi thấu rất mãnh
liệt. Một tâm ý tán loạn không thể nào nhìn thấy
được tự thể của thân và tâm. Sự khai
triển trí huệ đòi hỏi tâm ta phải có
một mức định tối thiểu nào
đó. Nhưng định không thôi cũng chưa đủ. Sức
mạnh của tâm phải được sử dụng để phục vụ cho sự hiểu biết, đó là
loại thiền thứ hai: thiền quán. Quán có nghĩa là nhìn thấy rõ
được chân tướng của mọi hiện tượng, tự tính
của vạn pháp. Mọi vật đều vô thường và luôn luôn biến chuyển, sanh
diệt trong mỗi giây phút. Tâm thức, đối
tượng, các tâm hành, thân: mọi hiện tượng
đều nằm trong dòng sông vô thường. Khi
tâm ta sáng suốt, nó có thể kinh nghiệm được
sự biến chuyển liên tục này trên một bình diện thật vi tế: trong
mỗi sát na chúng ta đang chết đi và
được sanh ra. Không có gì
để nắm giữ, chẳng có gì
để níu kéo. Không có một trạng thái nào
của tâm hay thân, không có hoàn cảnh nào bên ngoài ta
để bám víu, bởi vì tất cả
đều thay đổi ngay trong giây phút này.
Sự phát triển trí tuệ có nghĩa là kinh nghiệm
được dòng vô thường nơi chính ta, để
ta bắt đầu sự buông bỏ, không còn mù quáng ôm chấp vào tiến trình
thân tâm.
Kinh nghiệm
được vô thường, đưa đến một hiểu biết về sự
bất mãn bẩm sinh của tiến trình thân tâm: bất mãn vì nó không có
khả năng đem lại cho ta một hạnh phúc nào
vĩnh viễn. Nếu chúng ta cho rằng thân của mình là một nguồn gốc của một
hạnh phúc, an lạc thường hằng, tức là ta chưa thấy
được sự hủy hoại không thể nào tránh
khỏi của nó. Khi ta trở nên già, bệnh tật, tàn hoại và chết
đi, những ai quyến luyến thân này sẽ
rất khổ đau. Bản chất của bất cứ một vật nào
sanh lên là sẽ tàn hoại đi. Mọi yếu tố của
thân, mọi yếu tố của tâm đều đang sanh lên và diệt
đi trong ngay giây phút này.
Ðặc tánh thứ ba của hiện hữu,
dưới sự quán sát của trí tuệ và chánh niệm, là trong dòng hiện tượng này
không có một cái gì là "Tôi", "Ngã" hay là "Của tôi" hết. Tất cả chỉ là
một dòng hiện tượng vô ngã, trống rỗng. Không có một thực thể nào
đứng phía sau những hiện tượng ấy để kinh
nghiệm. Cá nhân, chủ thể, tự nó cũng chỉ là một phần của tiến
trình. Nếu ta biệt vun trồng trí tuệ bằng chánh niệm, ba
đặc tính này của hiện hữu sẽ tự nhiên
hiển lộ.
Giả sử bạn có một hồ nước,
trong hồ mọc đầy cỏ dại. Giữ giới luật cũng
giống như cúi xuống, lấy tay vẹt cỏ ra hai bên
để lấy nước uống. Cỏ dại vẫn còn
đó, và khi bạn lấy tay ra, chúng sẽ
trở lại phủ đầy mặt hồ. Những khi ta giữ giới
luật tâm ta trở nên trong sạch, nhưng vừa khi chúng ta quên lãng,
những dơ bẩn, ô uế sẽ trở lại với ta. Nếu bạn xây một hàng rào trong bờ
hồ, ngăn chận những cỏ dại rong rêu ra
chung quanh, nước bên trong sẽ trong sạch và có thể dùng
được, vì sự có mặt của hàng rào. Nhưng
những cỏ dại vẫn còn ở đó chung quanh và
nếu ta dời hàng rào đi nơi khác, chúng lại sẽ
lan tràn như xưa. Nó cũng giống như
định lực trong tâm. Ðịnh có khả năng đè
nén những tâm hành bất thiện xuống. Còn trí tuệ cũng giống như khi ta bước
xuống hồ và nhổ đi những cỏ dại, từng cái
một, cho đến khi cả hồ được trong sạch. Khi ta nhổ như thế thì
chúng sẽ không còn mọc trở lại nữa. Trí tuệ là một phương pháp thanh lọc:
khi những sự bất thiện trong tâm được quán
chiếu cặn kẻ và cuối cùng bị bứng nhổ, chúng sẽ không còn khởi lên
được nữa.
Trí tuệ là
điểm cao tột nhất trên con
đường tu tập. Nó được bắt đầu bằng sự thực hành
bố thí, giữ giới và phát triển định lực. Từ
căn bản trong sạch ấy, phát sanh một trí tuệ có khả năng soi thấu được
thực chất của thân và tâm. Bằng cách giữ chánh niệm hoàn toàn trong
giây phút hiện tại, những gì huân tập trong tâm ta từ bấy lâu nay sẽ bắt
đầu hiển lộ. Mọi tư tưởng, mọi tà ý,
tham dục, luyến ái, tình yêu, nghị lực, mọi niềm vui, tất cả những gì
trong phạm vi tâm sẽ được mang lên
bình diện nhận thức. Và bằng sự thực hành chánh niệm, không dính mắc,
không ghét bỏ, không nhận một đối tượng nào
làm mình, tâm ta sẽ trở nên thư thái và tự tại.
Ðức Phật có nói về sức mạnh của
các Ba-la-mật này. Ngài nói rằng sức mạnh của bố thí sẽ
được gia tăng bằng sự trong sạch của người
nhận. Và thực hành từ bi quán với một
định tâm còn hùng mạnh hơn là cúng dường Phật và toàn thể tăng
đoàn của ngài gấp bội lần. Nhưng dũng mãnh hơn vun trồng những tư
tưởng từ bi ấy, là thấy được sự vô thường
trong mọi hiện tượng, vì thấy được vô
thường tức là bắt đầu của sự giải
thoát.
Hỏi: Có một lúc tôi cảm thấy
mình cho nhiều quá; tôi cảm thấy như mình bị lợi dụng. Ông có thể nói thêm
về bản chất của bố thí khi nó đưa đến việc mình
cảm thấy bị lạm dụng không?
Ðáp: Chúng ta
đều có những trình
độ khác nhau. Chúng ta không phải đang ở trình
độ của một vị Bồ tát dám hy sinh thân mình
để nuôi cọp mẹ và hai
đứa con của nó. Có thể đôi khi ta có những
thúc dục để làm những chuyện như vậy,
để rồi theo sau là những hối hận. Ðó không phải là một phương pháp
thiện xảo. Chúng ta phải ý thức được trong
giờ phút này mình đang ở đâu và
vun trồng sự bố thí sao cho thích hợp với mình. Nó sẽ phát triển. Khi
chúng ta thực hành bố thí, thì dần dần nó sẽ trở nên tự nhiên. Và khi ta
đạt được một sự quân bình, nó sẽ trở
thành hòa hợp, không có một mảy may hối tiếc nào theo sau cả.
Hỏi: Những giới luật có thể là
sự chỉ đạo ở một trình
độ nào
đó, nhưng chấp cứng vào nó có nguy hiểm không? Giới cũng có thể là
một trở ngại vì dù sao thì nó cũng chỉ là những ý niệm? Có những hành
động có thể vì lòng từ bi nhưng lại
phạm giới, như là nói dối để cứu một người nào.
Khi giới luật và trực giác xung khắc với nhau thì sao?
Ðáp: Tất cả các hành
động thiện phải được hiểu theo những tâm hành
mà chúng đang vun trồng, chứ không phải tự ở
những hành động đó. Nếu chúng ta hành
động vì lòng từ bi thì
đó là hành vi thiện. Nhưng thường thì
chúng ta chưa tới trình độ tỉnh thức đủ để mình
có thể nhận thấy mọi yếu tố liên quan đến hành
động của mình. Chừng nào ta có thể ý
thức được mọi động lực khiến ta hành
động, để nhận định thiện ác, các giới luật
vẫn được coi như là những quy tắc rất hữu ích. Một vị sư
đến than phiền với đức Phật rằng ông không
thể nào nhớ hết hơn hai trăm giới luật
dành cho các Tăng, chứ đừng nói gì
đến việc giữ cho đừng phạm. Ðức Phật
nói: "Vậy ông có thể nhớ được một giới luật
thôi không?" Vị Tăng trả lời rằng ông có thể nhớ được. Ðức Phật nói
tiếp: "Giữ chánh niệm!" Mọi điều khác đều đến
từ chỗ chánh niệm. Nếu bạn có thể giữ chánh niệm cho tinh chuyên,
tự nhiên mọi hành động sẽ trở thành
chân chánh.
Hỏi: Tôi thấy có một sự xung
đột giữa việc theo con đường bố thí vương đạo
và có một cuộc sống được bảo đảm.
Ðáp: Sự vun trồng bố thí theo
vương đạo không cần thiết có nghĩa là
ta ra đường cho hết tài sản của mình
cho kẻ khác. Nó chỉ có nghĩa là ta bố thí với một tâm
đại lượng, thích hợp với hoàn cảnh.
Chúng ta cũng có trách nhiệm đối với chính mình,
phải biết duy trì một mức sống vừa đủ để mình
có thể tu tâm và vun trống những yếu tố giác ngộ. Mức
độ của sự bố thí sẽ tùy thuộc vào rất
nhiều trình độ tiến hóa của tâm mình.
Chúng ta không nên có một ý niệm cứng ngắc về sự bố thí rồi tự cưỡng ép,
cố gắng sống theo như vậy. Chỉ cần giản dị, trong giây phút hiện tại, chụp
lấy những cơ hội để vun trồng tâm hành
vô thăm. Nó không phức tạp gì
đâu, hãy
để nó tự nhiên hiển lộ. Ðến khi nào bạn cảm thấy sẵn sàng gieo mình
xuống vực thẳm để nuôi những con cọp, bạn sẽ
làm chuyện ấy.
Hỏi: Tôi cảm thấy hơi bối rối
về việc nói láo. Khi ta không lên tiếng nói những gì mà ta nghĩ rằng nó
chân thật và thích hợp với hoàn cảnh, như vậy có gọi là nói láo không?
Ðáp: Có những việc có thể là sự
thật, một ý niệm chân chánh, nhưng nó không có ích lợi gì cho người khác,
bởi vì người ấy không ở vào một địa vị mà
họ có thể nghe và hiểu được. Chúng ta chỉ nên
nói sự thật khi nào nó có ích lợi. Sống với sự thinh lặng tâm ý rất là
đẹp và an lạc. Nhưng
điều ấy đòi hỏi nhiều chánh niệm, vì
chúng ta rất dễ bị lôi cuốn để nói. Lời nói
thoát ra ngay cả trước khi mình ý thức
được rằng mình có điều gì muốn
nói. Chúng rất là máy móc. Nhưng khi chánh niệm
được giũa mài sắc bén, chúng ta sẽ bắt
đầu có ý thức trước khi mình nói - tác
ý muốn nói khởi lên và ta lập tức có chánh niệm về nó. Và khi ấy ta có thể
nhận xét rằng chúng có thân thật và có ích lợi gì không.
Buổi tối thứ mười ba
THÁNH JOHN OF THE CROSS,
THÁNH FRANCIS DE SALES
Một số nhà thần học Công giáo
có viết những áng văn rất hay, tương tự với
sự thực hành của ta ở đây. Từ Thánh
John of the Cross:
Không phải vì ý muốn mà ta
đã không viết cho các ông, thật sự
thì ta luôn chúc lành cho các ông; nhưng bởi vì ta thấy những gì lợi ích
cho các ông ta đã nói hết rồi, và sự
cần thiết (nếu thật sự có một điều gì
cần thiết) không phải là sự giảng thuyết hay viết thêm - bởi ta nghĩ
đã đủ
lắm rồi - mà phải là thinh lặng và thực hành. Trong khi sự giảng
thuyết làm cho các ông bối rối, lo ra, thì im lặng và hành
động sẽ tập trung lại tâm ý ta và
nâng cao linh hồn. Một khi các ông đã
hiểu được những gì ta muốn dạy cho
các ông là tốt, thì thôi đừng bàn
luận hay tìm nghe giảng thêm làm gì nữa; hãy lo kiên trì mà thực hành
những gì các ông đã học
được, trong thinh lặng và chánh
niệm.
Những việc chúng ta làm ở
đây không phải là dễ, sự tu tập và
thanh lọc tâm. Chuyện ấy đời hỏi một sự kiên
nhẫn và nghị lực rất lớn. Nó không thể nào tự một mình xảy ra
được. Nhưng bằng một sự bền gan, vững chí mọi
chuyện đều có thể đạt được.
Thánh Francis de Sales có
viết:
Mỗi khi tâm ông bị lo ra hay
phân tán, hãy nhẹ nhàng kéo nó trở lại với sự suy niệm... Và cho dù nếu
ông có bỏ ra cả một giờ, chỉ để ngồi để cố
đem tâm ý của mình trở lại, để rồi
nó lại đi mất ngay sau đó, thì một giờ ấy cũng
đã được
sử dụng một cách rất hữu ích.
Ðừng
để bị chán nãn vì sự phân tâm hay vì
những mơ mộng viễn vông của mình. Mỗi khi ý thức
được tâm mình phóng
đi một nơi khác, nhẹ nhàng
đem nó trở về với hơi thở hoặc là cảm
giác của ta. Không cần biết nó xảy ra bao nhiêu lần, nếu cứ mỗi lần tâm ta
phóng đi, ta lại đem nó trở về, thì
giờ ngồi thiền ấy sẽ rất có ích lợi. Hãy từ tốn với chính mình. Hãy kiên
trì. Mặc dù có thể ta không nhận thấy rõ ràng, nhưng
đang có một sự chuyển hóa lớn lao xảy ra nơi
ta. Ðây cũng giống như trái cây đang
chín trên cành. Ánh sáng mặt trờichiếu soi, quả trái chín dần, mặc
dù ngày này sang ngày khác ta không nhận thức
được sự biến đổi ấy. Tương tự như vậy, sự biến đổi và chín mùi
trong tâm ta cũng đang tiến triển. Và
như Thánh John of the Cross nói, chính trong sự thinh lặng và thực hành mà
sự chuyển hóa này được hoàn tất.
Buổi tối thứ mười bốn
TỨ DIỆU ÐẾ
Trên thế giới này
đầy dẫy những khổ đau. Mỗi ngày có
hằng triệu người không đủ thực phẩm để nuôi
thân, phải chịu đựng những cơn đói. Có hằng triệu người không đủ quần áo,
nhà cửa che thân, sống dưới những cơn mưa lạnh hoặc những ngày nắng
cháy da. Lại có hằng triệu người phải gánh chịu những cơn
đau gây ra do bệnh tật, mặc dù
đã có phương pháp trị liệu, nhưng họ
vẫn không có được một phương tiện chữa trị nào.
Sự khổ đau trong việc sanh sản. Cái đau của
người mẹ. Và hơn nữa, cái đau của
người con khi được sanh ra, bị đẩy qua người mẹ, ra thế giới bên
ngoài đầy những yếu tố va chạm, xây xát. Tấm
thân nhuốm bệnh, già yếu và suy nhược, sự khổ
đau của cái chết.
Có biết bao nhiêu người trên
thế giới này đang sống bất lực trong tay kẻ
thù, trong tay những người muốn giết hại họ. Trong nhiều quốc gia
trên thế giới ngay giờ phút này có những tù nhân
đang bị tra tấn, đánh đập. Rồi còn sự
tàn bạo của chiến tranh. Những con người có tình cảm giống như chúng ta,
bất lực khi đối mặt khổ đau, họ không thể làm
gì khác hơn được. Có biết bao nhiêu
lần ta phải đối diện với những hoàn
cảnh giống như thế, và trong tương lai sẽ còn biết bao nhiêu lần nữa. Chỉ
cần một chuyển động nhẹ của bánh xe nghiệp
quả là ta có thể trở thành những con người
đó. Mang tấm thân này là ta mang trên
người bao cơ hội để khổ đau. Ðã bao
lần ta kinh nghiệm chúng, và sẽ còn bao nhiêu lần nữa trong tương lai?
Những yếu tố vật chất trong
thân ta được gọi là Tứ
đại. Chúng được gọi là "đại",
có nghĩa là lớn, vì năng lực tàn
hoại của chúng. Bốn yếu tố cấu tạo nên thân ta cũng chính là bốn yếu tố
cấu tạo nên quả đất này, mặt trời, các
hành tinh, và những vì tinh tú trong vũ trụ. Chính bốn yếu tố này mà ta
đang kinh nghiệm trong thân, chúng hoạt động
theo một định luật tự nhiên, cũng là nguyên nhân tạo dựng và tan rã
của những thái dương hệ hoặc các dãy ngân hà. Năng
lượng của chúng rất là vĩ đại. Trong
một thời gian ngắn ngủi, tứ đại hòa hợp với nhau. Sự hòa hợp tạm bợ
này làm ta quên đi bản chất tàn hoại
của chúng, cho đến khi chúng biến đổi theo
định luật tự nhiên, trở nên mất thăng
bằng và khiến sự tàn hoại, tan rã của thân thể,
đau khổ và chết. Chúng ta như những
đứa trẻ con vui chơi trong một căn nhà
đang bị cháy. Những đứa trẻ con đang mãi
mê chơi đùa, ham mê nhũng thú vui tạm
bợ, hoàn toàn quên đi chung quanh mình
lửa đang bừng bừng thiêu
đốt. Nhưng trời đất vẫn còn lòng nhân
từ, đã sai sứ giả
đến báo trước những nguy hiểm, những khổ đau
đang hiện diện trong mọi khía cạnh.
- Ngươi có thấy trong cuộc
đời này có những ông lão, bà lão 80,
90 hay 100 tuổi, yếu đuối, cong vòng
như mái nhà, cúi xuống vịn người trên chiếc gậy, chập chững bước, suy
nhược, tuổi trẻ đã mất lâu rồi, với răng
rụng, tóc bạc thưa. Và có bao giờ ngươi nghĩ rằng, rồi một ngày,
mình cũng sẽ bị tàn tạ như vậy? Ngay chính cả ngươi cũng sẽ không thể nào
trốn tránh khỏi?
- Ngươi có thấy trong cuộc
đời này có những người
đàn ông,
đàn bà bệnh hoạn, đau khổ vì
các chứng bệnh nan y, nằm trên những xú uế của chính mình, phải nhờ người
này đỡ ngồi dậy, nhờ người kia đặt xuống
giường. Và có bao giờ ngươi nghĩ rằng, rồi một ngày mình cũng sẽ bị
bệnh hoạn như vậy? Ngay cả chính ngươi cũng không thể nào thoát khỏi?
- Ngươi có bao giờ thấy trên
cõi đời này, thây ma của một người,
một, hai hoặc ba ngày sau khi chết, xình lên, màu bầm tím, hôi thúi. Và có
bao giờ ngươi nghĩ rằng, một ngày nào đó mình
cũng sẽ bị cái chết tìm đến. Ngay cả chính
ngươi cũng không thể nào thoát khỏi?
Chúng ta cũng thế,
đều bị chi phối bởi những sự ấy. Cái chết
không chừa bất cứ một ai. Nó là sự chấm dứt của tất cả. Không ai có
thể trốn tránh sự thật này.
Rồi còn những nỗi
đau của tâm. Buồn khổ, thất vọng, lo âu, hồi
họp, tức giận, căm hờn, sợ hãi, ái dục, chán nản. Chúng ta còn phải
chịu vướng trong cái bẫy xập của sanh tử luân hồi, lôi kéo bởi tham dục và
si mê trong bao lâu nữa? Nỗi khổ của sự bất tận này, mỗi sáng thức dậy với
những màu sắc và mùi vị, âm thanh và cảm giác, ý nghĩ lập
đi lập lại vô tận. Chúng ta sống một ngày,
qua một giấc ngũ, rồi lại thức dậy với cũng bấy nhiêu màu sắc, mùi vị, âm
thanh, cảm giác và ý nghĩ, trở đi, trở lại
không dứt.
Cũng giống như những
đứa trẻ con mê chơi trong căn
nhà lửa, chúng ta không chịu mở mắt nhìn những nỗi
đau trong cuộc sống của mình. Chúng ta
đi nhốt những người già, người bệnh
vào nhà thương, viện dưỡng lão để ta khỏi
phải chứng kiến những nỗi sầu khổ của họ. Chúng ta đuổi những kẻ ăn mày
ra khỏi đường phố của mình,
để ta khỏi thấy những nhục nhằn của nghèo
khổ. Chúng ta chưng diện cho những thây ma để
che dấu đi cái chết.
Chân lý
đầu tiên của
đức Phật là sự khổ. Dù chúng ta có
chối bỏ đến đâu đi nữa, thân này rồi
một ngày sẽ già và bệnh hoạn. Nó sẽ chết, dù ta có tìm quên lãng trong
những thú vui bao nhiêu đi chăng nữa, thì
sự có mặt của giận hờn, thù ghét, lo âu, bối rối và căng
thẳng vẫn còn tồn tại. Chúng ta bị thiêu
đốt trong ngọn lửa tham sân. Chân lý đầu tiên,
sự thật của đau khổ.
Ðức Phật không dừng lại ở
đó. Sau khi chỉ cho ta thấy sự thật khổ đau,
ngài giải thích cho ta nghe về nguyên nhân của chúng. Cái gì
đã trói cột chúng ta vào vòng bánh xe
khổ lụy này? Ðức Phật thấy rằng sự trói buộc ấy nằm ngay nơi trong tâm của
mỗi người chúng ta, chúng ta bị trói buộc vì lòng ái dục. Chúng ta lăn
theo bánh xe khổ đau vì ta đeo theo
nó, và chúng ta bám đeo theo nó cũng
chỉ vì vô minh của mình.
Có bốn sự si mê lớn là nguyên
nhân chánh hằng trói cột chúng ta vào vòng bánh xe khổ
đau. Mối đam mê
đầu tiên là sắc dục. Sắc
dục khiến ta lúc nào cũng đi tìm những
âm thanh và hình ảnh dễ chịu, những mùi vị ưa thích, những cảm giác êm ái
của thân thể. Chúng ta cứ mãi mê đi tìm
những thú vui tạm bợ, mỏng manh. Ta đeo đuổi
chúng như là như chúng có thể giải quyết những khó khăn
của mình, như là chúng có thể đem đến
sự chấm dứt khổ đau. Chúng ta sống đời mình trong sự mong
đợi hai tuần nghĩ hè sắp tới, một liên
hệ tình cảm kế tiếp, một cái gì đó để chiếm
hữu: lúc nào cũng chờ đợi ở một hạnh
phúc nào đó trong tương lai, ngoài
tầm tay với.
Có một câu chuyện về Mulla
Nazrudin, ông là một tu sĩ nổi danh của Hồi giáo. Một hôm ông
đi xuống chợ và thấy một thúng ớt cay
bán hạ giá. Ông mua hết cả thúng, đem về nhà,
và bắt đầu ngồi ăn. Những đệ tử của ông nhìn
thấy ông mặt mày đỏ ké, nước mắt tuôn chảy,
miệng lưỡi bị nóng phỏng, bèn kêu lên:
- Thầy ơi, tại sao khổ như thế
mà thầy lại cứ ngồi ăn hoài vậy?
Nazrudin lấy tay bốc thêm một
trái ớt bỏ vào miệng rồi đáp:
- Ta hy vọng rồi sẽ có một trái
ớt ngọt!
Mối si mê thứ hai là sự
cố chấp vào ý kiến và quan điểm của mình.
Chúng ta có rất nhiều ý kiến về những sự việc chung quanh, biết bao nhiêu
là thành kiến. Cố chấp vào quan điểm của mình
là một trở ngại rất to tát. Nó ngăn chận
không cho ta nhìn thấy chân tướng của sự vật, nó như là một lăng
kính màu làm sai đi sự thật qua những
thành kiến cá nhân của mình. Một thiền sư Thái Lan khi
được hỏi, những học trò của ông bị trở
ngại nào lớn nhất, ông đáp: "Ý kiến, quan
điểm, ý niệm về mọi việc. Về chính họ, về phương pháp tu tập, về giáo lý
của đức Phật. Ðầu óc họ lúc nào cũng
đầy dẫy những ý kiến. Họ cho mình là khôn khéo nên không thèm lắng
nghe ai nữa hết. Cũng giống như một tách nước vậy. Nếu tách ấy chứa
đầy nước dơ, bẩn đục thì cũng chỉ là
vô dụng. Chỉ khi nào đổ đi nước cũ thì
ta mới có thể sử dụng tách ấy lại được. Các
ông phải bỏ qua một bên những ý kiến của mình chừng
đó mới có thể thấy được".
Vị tổ thiền tông thứ ba ở Trung
Hoa là Tăng Xáng, có viết: "Ðừng
đi tìm kiếm chân lý. Hãy thôi nâng niu
những ý kiến của mình". Nếu chúng ta dẹp được
mối si mê này, cà giáo pháp sẽ phô bày. Mọi hiện hữu sẽ có mặt.
Chúng ta cần phải buông bỏ những thành kiến có sẵn của mình về bản chất
của sự vật, và những mơ ước của mình về chúng. Buông bỏ mọi cố chấp vào
những ý kiến đáng yêu của mình. Ðây
chính là mối ràng buộc lớn thứ hai, đã
giữ chúng ta trong vòng bánh xe luân hồi, bánh xe của khổ
đau.
Sự si mê thứ ba là cố
chấp vào các lễ nghi và hình thức: cho rằng chỉ cần thắp một nén
nhang hay đốt một ngọn nến đặt trên
bàn thờ là mọi việc sẽ trở nên suôn sẻ. Những phưong pháp tu tập, các nghi
lễ đều được thức hành với hy vọng rằng
đốt một nén hương, một ngọn nến, đọc một bài
kinh, một câu thần chú sẽ có khả năng làm
chấm dứt được khổ đau này. Ngay chính
việc cố chấp vào những pháp tu, cố gắng trở nên
đạo đức, hay bất cứ một hình thức tâm
linh duy vật nào cũng đều là những sợi
dây xích trói ta.
Si mê thứ tư và cũng rất kín
đáo và sâu xa là sự chấp ngã,
chấp có một cái ta riêng biệt cùng những sở hữu của nó. Tin tưởng rằng có
một tự thể thường hằng trong thân tâm để kinh
nghiệm những gì đang xảy ra, Cũng bởi
vì tin tưởng này, mà chúng ta đã
lao đầu vào những hành
động bất thiện, đủ mọi tham, sân, si chỉ để
cố thỏa mãn cái ta này, một cái ta mà không hề có thật. Cái chấp
ngã này rất là sâu đậm, mọi hành
động của ta đều xoay vần chung quanh nó, càng
lúc càng buộc chặt ta vào một khối khổ đau.
Chân lý thứ hai của
đức Phật là nguyên nhân của khổ
đau: lòng ái dục. Ðam mê sắc dục, cố
chấp vào quan điểm và ý kiến của mình,
mê tín tin rằng những lễ nghi, hình thức bên ngoài có khả năng
diệt được khổ đau, và nhất là cố chấp vào một cái tôi thường hằng,
bất biến. Không một ai bắt ta phải cố chấp. Không có một quyền lực nào bên
ngoài chúng ta giữ ta trong vòng sanh tử luân hồi. Chỉ có mỗi sự cố chấp,
luyến ái trong tâm mình là có thể làm được
chuyện đó mà thôi.
Ở Á Châu người ta có một cái
bẫy dùng để bắt khỉ, rất là
đặc biệt. Một trái dừa được khoét rỗng ở bên
trong, cột vào một sợi dây hay là cắm vào một cái cây cột
đóng trên mặt
đất. Phía dưới trái dừa, người ta đục một lỗ
nhỏ và bỏ vào phía trong một thứ đồ ăn
có chất ngọt. Cái lỗ ấy được khoét rộng vừa đủ để cho con khỉ có thể đút
tay vào nếu bàn tay mó mở, nhưng nếu nó nắm tay lại, bàn tay sẽ
không thể nào qua lọt. Con khỉ đánh hơi được
mùi ngọt sẽ tìm tới, nó sẽ đút tay vào
để bốc thức ăn rồi không lấy tay ra được. Bàn
tay nắm chặt sẽ không thoát qua khỏi lỗ hổng ấy. Khi người thợ săn
đến, con khỉ sẽ trở nên quýnh quáng nhưng không cách nào chạy
đi đâu được. Nhưng không có ai bắt giữ nó ở
đó, ngoại trừ lòng tham dục của chính nó. Muốn thoát
đi nó chỉ cần giản dị mở rộng bàn tay
ra. Nhưng vì lòng tham dục quá mạnh, nên hiếm khi có một con khỉ nào có
thể thoát đi được. Chính vì lòng tham
dục và quyến luyến trong tâm đã giữ
chúng ta trong bẫy sanh tử này. Chúng ta chỉ cần mở bàn tay mình ra, buông
bỏ những cố chấp, những tham muốn là có thể bước
đi trong tự do.
Chân lý thứ ba của
đức Phật là sự chấm dứt của khổ
đau. Niết bàn là một trạng thái thoát
ra ngoài tiến trình thân tâm, không còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi bản
chất khổ đau của chúng. Tự tại, an lạc, thanh
tịnh, tươi mát, buông xả. Như là bỏ xuống một gánh nặng trên vai.
Niết bàn có hai loại: Loại thứ
nhất là Niết bàn nhất thời, tức là sự tự tại của một tâm thức không bị chi
phối bởi tham, sân, si trong từng giây, từng phút. Mỗi giây phút không bị
ảnh hưởng bởi những sự bất thiện là một giây phút của tươi mát và an lạc.
Còn loại Niết bàn thứ nhì là một trạng thái thoát ra ngoài mọi tiến trình,
sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau, dập tắt
hẳn đi ngọn lửa đang thiêu đốt.
Thí dụ như có những người
đang sống trên một vùng sa mạc khô
cằn. Nước rất hiếm, thực phẩm không có đủ, và
không có gì để bảo vệ họ khỏi ánh nắng thiêu
đốt của mặt trời. Nhưng những người ấy đã
quen sống trong hoàn cảnh ấy từ thuở nhỏ, cha ông của họ cũng
đều như vậy, nên họ cho
đó là tự nhiên và lấy
đó làm hài lòng. Cho
đến một ngày kia, có một người trong
bọn họ đi đến một nơi có thời tiết mát mẻ,
thực phẩm đầy đủ, đến chứng ấy anh ta mới ý thức đến những điều kiện và
hoàn cảnh bất lợi, cực khổ mà anh đã
từng phải chịu đựng. So với sự an lạc, tươi
mát và thinh lặng của Niết bàn thì những tiến trình dài vô tận của
thân tâm, sự sanh diệt không ngừng là một gánh nặng to lớn, một khổ
đau vĩ đại. Chân lý thứ ba là sự an
lạc mà đức Phật đã nói rằng trên
đời này không còn gì là hạnh phúc
hơn.
Ðức Phật cũng
đã chỉ cho chúng ta con
đường để đi đến sự an lạc này. Ðây
không phải là một giáo lý bí mật chỉ để dành
cho một số người. Chân lý thứ tư là Bát chánh
đạo, một phương pháp để cởi bỏ gánh nặng của mình.
Ðây không phải là con
đường quá khích. Nó không đòi hỏi ta
phải hành hạ thân tâm mình. Nó không bắt ta phải
đi tìm
đến một hang động hẻo lánh nào. Nó không phải là con
đường khổ hạnh, cũng không phải là con
đường của sự xoa đọa trong sắc dục.
Ðây chính là con đường trung đạo. Còn
đường của sự tỉnh thức. Có chánh niệm về
những gì đang xảy ra chung quanh mình.
Có một ý thức rõ ràng, không quyến luyến, không ghét bỏ. Không nhận lầm
những hiện tượng là Tôi, là Ngã. Giải thoát tâm mình ra khỏi những
điều bất thiện trong mỗi giây phút.
Sự thật về khổ
đau phải được ý thức. Sự thật về nguyên
nhân của khổ đau phải được hiểu rõ.
Chân lý về sự chấm dứt khổ đau phải được kinh
nghiệm. Và con đường để chấm dứt khổ
đau ấy phải được bước đi bởi mỗi người trong chúng ta. Sự giác ngộ của đức
Phật giải quyết những vấn đề cho ngài, chứ không giải quyết những
khổ đau của ta được, ngoại trừ chỉ cho ta
thấy một con đường để đi tới. Không có một công thức huyền bí nào
có thể đem ta ra khỏi những khổ đau này.
Mỗi người chúng ta phải tự thanh lọc tâm mình, bởi vì chỉ có những ái dục
trong tâm mới có khả năng trói buộc được ta mà
thôi.
Buổi tối thứ mười lăm
SỰ CƯƠNG QUYẾT NỬA VỜI
Trong khi ngồi thiền, giữ cho
thân được an tịnh có một ảnh hưởng rất lớn
đến sự an tịnh của tâm. Một phương cách để gia tăng định lực là
trước mỗi giờ ngồi thiền, bạn nên nhất quyết rằng mình sẽ không thay
đổi thế ngồi trong suốt một giờ đó. Những lần
đầu có thể rất là khó khăn, nhưng nếu
bạn có một nghị lực vững mạnh, bạn có thể ngồi và quan sát bất cứ
chuyện gì xay ra. Cho dù bạn có cảm thấy tâm mình trở nên bất an, bồn
chồn, căng thẳng hay là
đang đương đầu với cái đau, điều trọng yếu là
khi đã quyết
định một cái gì rồi bạn hãy giữ nó cho
đến cùng. Ðịnh lực và sự tinh tấn của
bạn sẽ được tăng trưởng mãnh liệt và
sau vài lần ngồi như vậy, bạn sẽ cảm thấy việc ngồi yên trở nên dễ dàng
hơn.
Hãy giữ cho tâm bạn luôn ở
trong một trạng thái bất bạo động, khi quán
chiếu bất cứ một đối tượng nào. Ðược như vậy thì sẽ không có gì lại
là một chướng ngại hay khó khăn cả. Mọi đối
tượng của thân hay tâm, nội hay ngoại, đều đi ngang qua trong một không
gian chánh niệm. Ðừng vận dụng tâm để
chạy theo hay là trốn tránh bất cứ một
đối tượng nào: một sự bất động của tâm
ý. Khi ấy tâm ta sẽ trở nên tĩnh lặng và quân bình, nhờ
đó ta có thể nhìn thấy một cách rõ
ràng, trong mỗi giây phút, sự sanh diệt của từng hơi thở, từng cảm thọ, tư
tưởng, cảm giác, âm thanh, mùi vị và hình ảnh.
Hãy ý thức
được dòng vô thường. Không có gì
để cho ta nắm bắt, không có gì
để quyến luyến cả. Trong đoạn cuối của Mount
Analogue, có ví dụ cho ta thấy sức mạnh của sự vô thường và một
thái độ thích hợp cho ta:
Ðừng bao giờ dừng lại trên một
triền núi cao. Cho dù anh có nghĩ rằng bàn chân mình
đang đứng vững vàng, vì khi anh dừng
lại để thở và nhìn trời cao, thì
đất dưới chân cũng đang bắt đầu lún xuống vì
sức nặng của anh. Những viên đá sỏi sẽ rơi ra
từ từ và rồi đột nhiên tất cả
sẽ sụp đổ dưới chân anh và phóng anh
đi như một chiếc tàu hạ thủy. Ngọn núi
lúc nào cũng chờ đợi một cơ hội để hất ngả
anh.
Không có thì giờ
để cho ta ngừng nghỉ, cho dù trong một
chốc, để ta nắm bắt. Mỗi khi ta cố gắng níu
kéo một cái gì, ta sẽ bị lôi cuốn, kéo trôi lăn
theo những ý nghĩ, ý niệm và sự tưởng tượng về nó.
Khóa tu này cũng
đã kéo dài gần phân nửa rồi. Thường
thì vào khoảng nửa chương trình, không cần biết khóa tu học dài bao lâu,
tâm ta thường đâm ra chán nản. Nó trở nên
hơi lười biếng, dễ duôi và bồn chồn một chút. Ta tự nghĩ rằng, mình
đã cố gắng tinh tấn từ lúc mới bắt
đầu đến giờ, lúc này mình có thể nghỉ
ngơi một chút được.
Hãy có chánh niệm về việc này.
Ðây là lúc để ta gia tăng nghị lực, chứ không
phải là lúc để giải đãi. Hãy
nghĩ lại công lao tu tập của bạn trong hai tuần vừa qua. Nhớ lại giai
đoạn mới bắt đầu, ngồi yên trong một
tiếng đồng hồ nó khó khăn đến đâu. Bây giờ thì
bạn đã khai triển
được một sức mạnh trong tâm, một năng lực của
định và quán. Giai đoạn đầu của khóa
tu là để xây nền móng, để vượt qua
những khó khăn thô lậu, những loại trở ngại không cho bạn ngồi yên
trong một tiếng đồng hồ. Những khó khăn đó có
lẽ cũng đã được ta vượt qua hết một
phần nào rồi. Tâm ta đã tĩnh
lặng xuống. Nó bắt đầu thẳm thấu, bắt đầu
quán chiếu và thấy được tiến trình
làm việc của thân tâm. Trí tuệ đang trưởng thành.
Sự biến đổi của thân tâm rất khó có thể nhận
diện được, vì nó thay đổi một cách vô
tri giác trong mỗi giây phút. Nhưng sự tu tập đang dần dần trở nên
thâm thúy. Trong thời gian còn lại, chúng ta hoàn tất nhiều lắm. Lúc này
ta phải biết vận dụng năng lực để giữ cho tâm
mình đừng rơi vào tình trạng mê
ngủ, hôn trầm.
Một lần nữa, ta hãy nhất quyết
duy trì một sự thinh lặng. Thinh lặng là cội nguồn của sức mạnh. Nó tạo
nên một sự trong sáng, nhờ vậy mà mọi hình trạng của tâm
đều có thể được hiển bày rõ ràng. Nếu
cứ mỗi lần những bồn chồn, lười biếng, uể oải trong ta khởi lên, ta lại mở
miệng để nói, thì ta sẽ mất
đi một dịp để quán chiếu chúng. Sự thinh lặng
giúp cho ta ý thức được những gì đang
xảy ra, những thăng và trầm. Mục đích
của thiền quán không phải là để ngồi yên
với sự an lạc trong một tháng trời. Nhưng là
để kinh nghiệm được sự nhất như của thân và tâm. Kinh nghiệm một
cách trọn vẹn mọi đau nhức, mọi cảm giác an
lạc, tất cả những uể oải, buồn chán và những khi tâm ta
đạt được một sự tập trung sắc bén. Sự thinh
lặng tạo cho ta một không gian tĩnh mịch, để cho ta có thể quán sát được
các hiện trạng này. Nói chuyện nhiều sẽ tạo nên một vòng xoắn ốc
đi xuống. Khi ta bất an, ta bắt đầu nói
chuyện, sự nói chuyện khiến cho ta mất định lực và vì vậy tâm ta
lại càng thêm bất an. Tinh tấn, nghị lực và tạo một không gian tĩnh lặng
chung quanh mình sẽ làm gia tăng thêm
sức mạnh cho sự tu tập. Ðâu ai có thể biết chắc
được chừng nào ta mới lại có một dịp
tu tập như thế này. Trong hoàn cảnh này chúng ta
đang có những điều kiện rất là
đặc biệt. Nơi đây rất là lý tưởng
để ta có thể thám hiểm vào chính mình,
tìm thử coi ta thật sự là ai. Ðừng lãng phí
đi cơ hội quí báu này.
Một yếu tố nữa có thể giúp ta
gia tăng chánh niệm là từ tốn lại,
chậm lại. Hành động một cách chậm rãi.
Hãy coi mỗi hành động của ta trong ngày
như là một đối tượng của thiền quán. Từ khi
vừa mới thức dậy cho đến khi đi ngủ, ghi nhận mọi việc xảy ra một cách rõ
ràng và sáng suốt: trong mỗi hành động khi
tắm rửa, khi thay đồ, khi ăn uống. Chúng ta bấy lâu nay có thói quen làm
việc gì cũng phải vội vã, đổ nhào tới
giây phút tương lai, lao vào một hoạt động kế
tiếp lúc nào cũng ở trong một giai
đoạn chuyển dịch, nối tiếp. Hãy cố gắng an trú trong giây phút hiện
tại này. Không có gì đáng để cho ta phải vội
vã hết. Không có một nơi chốn nào để
đi đến cả. Mục đích của chúng ta ở đây là
để vun xới khả năng ghi nhận những gì
đang xảy ra trong giây phút hiện tại.
Ðừng ép buộc, cũng đừng nỗ lực quá. Hãy
an trú trong giây phút này, đừng toan tính
hay dự liệu một cái gì trong tương lai. Giữ tâm mình cho
được thoải mái, nhưng với một chánh niệm sâu
sắc. Tâm ta sẽ dần dà thâm nhập vào những trình
độ sâu thẳm hơn. Sự thinh lặng và thái
độ từ tốn không những chỉ giúp ích cho chính
mình, mà còn cho những người chung quanh ta nữa. Khi chúng ta thấy
một người nào đó đang vội vã, nó sẽ
khơi dậy tính hấp tấp trong ta. Và khi ta thấy một người hành
động khoan thai, có chánh niệm, tự nhiên
ta cũng sẽ giữ chánh niệm. Hãy ý thức được
giá trị và ích lợi của mình đối với
những người khác. Khóa tu là một sự quân bình thật
đẹp: tự tu trong thinh lặng và tĩnh
mịch, nhưng cũng vừa tạo một môi trường giúp
đỡ cho cả nhóm.
---o0o---
Mục Lục >> 1 >>
2 >> 3
>> 4 >>
5
---o0o---
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen
Trình bày:
Linh Thoại
Cập
nhật: 6-2008