Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


 

 

 

 

ĐƯỜNG VỀ HỐ THẲM

 

Đại Lãn

 

 

Lời tựa

1. Buông không được thì gánh lên

2. Điểm tâm

3. Cái nào không phải Phật

4. Vân môn cầm trượng

5. Không phải câu

6. Sao nước chưa đầy

7. Mê gặp Đạt-ma

8. Con đường vào ngắn nhất

9. Cái mệt của Mã đại sư

10. Lời nói như điện

11. Trên tuyết thêm sương

12. Một được một mất

13. Nơi không lạnh nóng

14. Ai là người thân

15. Thúy phong bị tên

16. Đầu con mèo chết

17. Chưa đấng trao y bát

18. Pháp thân của Vân Môn

19. Chiếc áo của Triệu Châu

20. Không dụng có, không dụng không

21. Diện mục

22. Cành trúc của thúy vi

23. Bẻ gãy trượng

24. Lưỡi người chết

25. Không thấy diệu giác

26. Cái này

27. Đảnh Diệu phong

28. Người đến làm gì?

29. Ngồi lâu thành mệt

30. Tiến thối không nhà

31. Vòng tròn Mã Tổ

32. Thấy tánh

33. Đạo của hiệp sơn

34. Nước chảy nghịch dòng

35. Lâm tế phá ba mươi hèo của Đức Sơn

36 . Không cửa

37. Chẳng hiểu Phật pháp

38. Núi xanh mây trắng

39. Núi xanh mây trắng

40. Nhất như

41. Nước sâu thế nào?

42. Biết có

43. Đao kiếm của tào sơn

44. Trâu qua khung cửa

45. Không nghĩ thiện không nghĩ ác

46. Triệu châu

47. Đúng và sai

48. Cay sen của trí môn

49. Tánh không hoại

50. Một vật của huệ năng

51. Ra rồi

52. Ơ trước mắt

53. Biết để làm gì

54. Ai nói kinh này?

55. Kẻ điếc tiếp người

56 . Trạnh và rùa

57 . Nghĩa của cánh

58. Cây soan

59. Tịnh không hốt gạo

60 . Phật của chính mình

61. Ra đây! Ra đây!

62. Một câu không kẹt

63. Nơi không sanh tử

64. Người vật vốn không

65. Cái gì không chơn tâm

66. Huệ tịch mang giường

67. Không phải phật

68. Lầm đã qua

69. Mưa tuôn gió phẩy

70. Chỗ trụ của vạn hạnh

71. Không đâu không là tâm phật

72. Nhiều lời sau không ích

73. Làm sao gìn giữ

74. Chớ bận có cùng không

75. Dùng thuyền để làm gì?

76. Xuân của chân không

77. Hủy báng như lai

78. Con chó sủa láo

79. Cái đạp của mã tổ

80. Con chồn con quỷ quái

81. Ai nói đó

82. An thân lập mạng

83. Bao giờ có tin tức

84. Ngọc trong đãy

85. Phương tiện

86. Phật tổ trao truyền

87. Ơ đây không có phật pháp

88. Đồng cốt giáng thần

89. Không tu định huệ

90. Giống hay khác

91. Nhân quả

92. Chân tâm

93. Phật pháp thiền

94. Rơi vào hay không

95. Lầm!

96. Buông hay giữ

97. Y phật

98. Kỵ sắc thinh

99. Vốn vô tâm

100. Cành hoa có ngắn dài

Đại lãn - ngữ lục

 

 

LỜI TỰA

Phật tức tâm, tâm tức Phật; Phật vốn không tâm, tâm không Phật: không tâm, không Phật, không vật v.v… những lập ngôn như vậy, luôn luôn vang vọng không ngừng giữa hố thẳm không đáy của Hư không. Đó là những âm hưởng mời mọc, nhưng không có tính cách biểu thị đường đi nước bước cho lối vào. Vì Thiền tự nó là một bến bờ hiểm ách của hố thẳm Hư không, không có cửa vào. Nhưng nếu ai muốn dấn bước vào, thì cứ nhắm vào phía trong mà xông thẳng dù có cửa hay không có cửa.

Ở đây nếu có ai gan dạ, làm chủ được mình, thì cứ thế an nhiên nhảy vào Hố Thẳm. Lúc này, nếu có chư Phật ba đời, 28 vị Tổ Tây Thiên, hay các vị Tổ Đông Độ hợp nhau kéo lại thì cũng chẳng được nào. Còn nếu không làm chủ được mình, dù có liều mạng cất chân lên để nhảy vào, thì chân kia vẫn cất không lên; cho dù các lão có hợp nhau để xô, cũng không thể nào lay chuyễn.

Đại Lãn tôi, nhân những ngày học đạo, họ muốn khám phá Hố- Thẳm hư không của chính mình, nên mượn những công án ngày xưa, để làm chìa khóa mở tung cửa vô minh giúp họ. Ơ đây, họ có dám nhảy vào hay không, đều tùy thuộc vào chính họ.

Tuy nhiên chúng ta mỗi người ít ra một lần dấn bước, để thể nghiệm bước tiến tâm linh; cho dù tán thân mất mạng đi nữa. Đó là con đường duy nhất để nhảy vào Hố- Thẳm hư không của cuộc sống mà tìm lại DIỆN MỤC của chính mình.

Đầu sào trăm thước

Hố thẳm buông tay

Chết đi sống lại

Muôn kiếp nào phai.

 

 

Quảng Hương Già-lam, mùa an cư 1988

Đại Lãn

 

BUÔNG KHÔNG ĐƯỢC THÌ GÁNH LÊN


CÔNG ÁN:

Một hôm ngoại đạo mang hoa đến dâng Phật, thỉnh Phật khai thị.
Phật bảo:
- Buông hoa xuống.
Ngoại đạo buông hoa xuống.
Phật bảo:
- Buông tay xuống.
Ngoại đạo buông tay xuống.
Phật bảo:
- Buông thân xuống.
Ngoại đạo đang lưỡng lự.
Phật quở:
- Buông không được thì gánh lên đi.
Ngoại đạo hốt nhiên đại ngộ.


LỜI BÀN:

- Lão Thích Ca tới tấp dồn người vào mép rìa sống chết của hố thẳm.Thử hỏi, kẻ ngoại đạo kia còn tiếc nuối cái chi mà không buông thân vào hố thẳm? Ở đây, nếu thấy rõ chổ vướng mắc này thì tự nó là một trở ngại cho đương sự, vừa là một cơ hội quyết định cuối cùng, nhờ đó lão Thích Ca vớt vát phần nào cái thất bại ban đầu của mình, và quyết định tung ra một cú nghịch lý tối hậu, để ngoại đạo tự lặn hụp trong cái đánh phủ đầu này, mà mở cho mình một con đường sống.


LỜI TỤNG:

Xưa nay muôn vật vốn dung thông
Chướng ngại do vì chấp có không
Muốn đạt đến nơi thường tự tại
Chẳng cần gánh lấy chẳng cần buông.

 

[2]

ĐIỂM TÂM

 

CÔNG ÁN:

Trên đường đi Lễ Châu. Đức Sơn hỏi một lão bà để mua đồ ăn điểm tâm. Lão bà hỏi:
- Trong xe của Đại Đức chở sách vở gì đó?
Đức Sơn đáp:
- Mấy bộ sớ sao kinh Kim Cang.
Lão bà nói:
- Cứ như trong kinh dạy: " Tâm hôm qua bắt không được, tâm hôm nay bắt không được, tâm ngày mai bắt không được." Vậy, Đại Đức điểm tâm là điểm tâm nào? Đức Sơn khôngđáp được.

LỜI BÀN:

Đường đường là một chiến tướng tài ba của Giáo Tông, mà không qua nỗi gót giày của lão bà; vậy mà đòi đi dập tắt yếu chỉ Giáo ngoại biệt truyền của Thiền Tông không biết tự hổ. Tuy nhiên lúc ấy nếu có ta, thì cũng gỡ gạt được phần nào cho Đức Sơn chứ chẳng phải không. Thử hỏi, lúc bấy giờ lão bà có đủ sức đem hết tài ba và vốn liếng của cả một đời, chỉ cần điểm vào chỗ không bắt được đó; hỏi lão bà có làm được việc đó không? Nếu lão bà làm được việc đó, thì tự nhiên Đức Sơn đã điểm tâm rồi; cần gì phải lăng xăng chạy ngược chạy xuôi đến Long Đàm làm gì?
Tuy nhiên, xin lão bà cứ điểm cái tâm đang đói của gã đi, kẽo không gã chết mất, thì lão bà sẽ ân hận, gã cũng không nhắm mắt được để gặp Đạt Ma Tổ Sư, và lúc đó lão bà sẽ được an ủi phần nào khi đọc Kinh Văn Thù.

LỜI TỤNG:

Phương tiện lại phương tiện
Văn thù Phật nói sao?
Chớ chấp lầm phương tiện
Kim Cang Phật nói nào?
Tâm đâu lão bà điểm
Tâm đâu Đức Sơn tìm?
Không kẹt tìm và điểm.
Điểm tâm cho gã đi.

 

[3]

CÁI NÀO KHÔNG PHẢI PHẬT

 

CÔNG ÁN:

Có người hỏi Mã Tổ:
- Tâm tức Phật, vậy tâm nào là Phật ?
Mã tổ bảo :
- Ông nghi cái nào không phải Phật chỉ xem?
Người kia không đáp được.

LỜI BÀN:

Người hỏi căn cứ vào câu: "Tâm tức Phật, Phật tức tâm." Nên hỏi tâm nào là Phật . Tổ bảo: "Ông nghi nào không phải Phật chỉ xem?"
Người hỏi vì mê nên khởi lên tâm phân biệt nên có ngăn cách; vì có sự ngăn cách nên có sự nghi ngờ. Ở đây, để phá tâm phân biệt, Mã Tổ không trả lời dong dài lôi thôi, mà chỉ hỏi ngược lại để chẹn họng kẻ hỏi, từ đó đã thông cho họ.

LỜI TỤNG:

Tâm tức Phật là một
Càng ngăn cách đôi đường
Phật tức tâm là khác
Trưởng dưỡng u mê thường

Không một cũng không khác
Ung dung bước quàng xiêng
Không vướng cũng không mắc
Cửa Tổ rộng thênh thang.

[4]

VÂN MÔN CẦM TRƯỢNG

 

CÔNG ÁN:

Vân môn cầm trượng giơ lên bảo:
- Kinh dạy phàm phu cho là thật có, Nhị thừa bảo là không, Duyên giác gọi là huyễn có, Bồ tát bảo đương thể tức không".
- Còn Vân môn bảo:
Nạp Tăng thấy trượng kêu là cầm trượng, đi là đi, ngồi là ngồi, nhưng tất cả không được tâm đắm nhiễm.

LỜI BÀN:

Vân Môn hễ mở miệng ra là nói hoạch toẹt tất cả, không chừa một chỗ nào cho người sau mở miệng. Không phải sao khi ông bảo: "Tất cả không động tâm đắm nhiễm." Thử hỏi, nếu không động tâm đắm nhiễm, thì làm gì có những thứ rắc rối đó; mà tự nhiên cầm trượng kêu là cầm trượng, đi kêu là đi, ngồi kêu là ngồi.

LỜI TỤNG:

Trời rơi trong đáy mắt
Trăng hiện cuối làn mi
Muôn kiếp không nói chi
Nghĩ sao không vướng ý
Nói sao không vướng lời
Động thân không vướng mắc
An lành một kiếp vui.

 

[5]

KHÔNG PHẢI CÂU
 


CÔNG ÁN:

Thạch Sương bảo:
- Cần phải biết một câu Giáo Ngoại Biệt Truyền.
Tăng hỏi:
- Một câu Giáo Ngoại Biệt Truyền là gì?
Sương đáp:
- Không phải câu.

LỜI BÀN :

Đã gọi là Giáo Ngoại Biệt Truyền, thì không lập văn tự, đã không lập văn tự thì làm gì có câu. Nhưng ở đây, tại sao Thạch Sương bảo cần phải biết một câu "không phải câu."
Đúng là lão Thạch Sương giỡ trò chơi chữ. Thử hỏi, lão đã cưu mang nó bao lâu rồi, sao không chịu mang xuống tuyền đài cho khỏe, lại đẻ ra nó làm gì khiến cho thiên hạ điên đầu? Ở đây, nếu hiểu câu "không phải câu" là một câu thì Thạch Sương vẫn tầm thường, chả có gì phải nói .
Nếu chúng ta thấu rõ được chúng, thì hiểu được Thạch Sương; còn không, thì dù có ra sức gõ cửa Không, cửa Không vẫn ù lì.

LỜI TỤNG:

Không phải câu tức là câu
Câu, không phải câu là câu
Vượt hai, không phải câu
Không phải câu là như thị.

 

[6]

SAO NƯỚC CHƯA ĐẦY
 


CÔNG ÁN:

Dược Sơn hỏi Tăng:
- Nơi nào lại?
Tăng đáp:
- Hồ Nam.
Sơn hỏi:
- Nước hồ Động Đình đầy chưa?
Tăng đáp:
- Chưa.
Sơn bảo:
- Mưa nhiều sao nước chưa đầy?

LỜI BÀN:

Hỏi đáp càng hóc búa chừng nào thì sẽ tạo cho người hỏi hoặc đáp một cú "Sốc" nặng ký chừng ấy. Trường hợp nếu thấu được thì thấu ngay lập tức, còn không thì mù mịt suốt cả một đời. Ngược lại những câu đáp tỏ ra đơn giản chừng nào, mới nghe qua như rõ ràng minh bạch, nhưng thật ra chính câu hỏi đáp như vậy, mới thật là điên đầu, chúng không đơn giản như ta tưởng. Vì chúng không có đủ sức mạnh để tạo phản cơ mê cho người hỏi hoặc đáp, cho nên khó mà nhận được. Trường hợp này rơi vào công án mà ta đang bàn đến.
Từ trên xuống dưới, hỏi đáp rất bình thường đơn giản, hợp tình lý. Ở đây, nếu khởi lên tâm phân biệt, thì chuyện đầy vơi trở thành rắc rối trong câu hỏi đáp, và vì thế con người trở thành nạn nhân bị các pháp trói buộc. Nhưng thực ra các pháp không có rắc rối và phức tạp. Thử hỏi, vì sao nước không đầy? Chúng có ý gì?

LỜI TỤNG:

Trên đá sao không hoa
Đất bằng sao không sống?
Sáng nay hoa hồng nở
Chúng đâu có lời nào
Ai biết duyên tang hợp
Ai biết duyên đầy vơi
Tâm vật liền dung hợp
Thảnh thơi suốt một đời.
 

[7]

MÊ GẶP ĐẠT MA

 

CÔNG ÁN:

Vân Môn dạy chúng rằng:
- Nghe ít thời ngộ sâu, nghe nhiều thời chẳng ngộ.
Vân Môn tự đáp:
- Mê gặp Đạt Ma.

LỜI BÀN:

Đường đường là một đại Tông sư, mà dưới trướng không một con ngựa hay, đành để Tông Môn hiu quạnh.
Muối góp vui cùng thiên hạ, không cách nào khác hơn là bày ra trò tự hỏi tự đáp. Tuy nhiên, thử hỏi câu trả lời của Vân Môn, có hợp với quan niệm người xưa hay không? Người xưa bảo, hỏi tức là trả lời. Nhưng ở đây, tại sao câu hỏi của Vân Môn vừa đáp ra, lại trở thành một câu hỏi hóc búa khác? Ý là ở chỗ đó. Hãy trả lời nhanh lên !

LỜI TỤNG:

Võ Đế đa văn thành chướng ngại
Mất rồi Đạt Ma ý Tây lai
Cho dù năng nọ không một chữ
Cũng được truyền thừa ý Hoàng Mai
Tuy nhiên như thế chưa là phải
Mê Ngộ hai đường can hệ chi.
 

[8]

CON ĐƯỜNG VÀO NGẮN NHẤT
 


CÔNG ÁN:

Có nguời hỏi Văn Ích:
- Muốn cầu tri kiến Phật, con đường nào ngắn nhất?
Văn Ích bảo:
- Không qua Đây.

LỜI BÀN:

Không biết muốn cầu tri kiến Phật, nhưng tri kiến Phật ở chỗ nào mà cầu con đường ngắn nhất? Đã không biết thì con đường ngắn nhất cũng không; còn biết rồi, thì cũng không có con đường ngắn nhất, vì không qua khỏi đây. Vậy đây là gì?

LỜI TỤNG:

Tri kiến Phật ở đây?
Mà bày trò tìm kiếm
Tự mình là con đường
Việc gì phải tìm ngoài
Nếu không hiểu nghĩa này
Ắt vào địa ngục sớm.


 

[9]

CÁI MỆT CỦA MÃ ĐẠI SƯ
 


CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Mã Đại Sư:
- Ly tứ cú, tuyệt bách phi. Xin sư chỉ ngay ý Tây lai cho con.
Mã Đại Sư bảo:
- Hôm nay ta mệt không thể vì ngươi nói được, nên đi hỏi Trí Tạng.
Trí Tạng bảo:
- Sao không đi hỏi Hòa Thượng?
Tăng đáp:
- Hôm nay ta bị đau đầu, không thể vì ngươi nói được, nên đi hỏi Hải huynh.
Tăng hỏi Hải huynh.
Hải huynh bảo:
- Ta không biết.
Tăng thưa lại Mã Đại Sư.
Mã Sư bảo:
- Tạng đầu trắng, Hải đầu đen.

LỜI BÀN:

Dưới trướng Mã Đại Sư, cũng có lắm kẻ ăcn cơ sắc bén như gươm, nhứt cử nhứt động không qua đôi mắt họ. Tuy nhiên cũng có lắm kẻ ù ù cạt cạt như vị tăng này. Ba lần đi hỏi đều bị từ chối, nhưng tại sao không tự hiểu tự ngộ, mà còn đi hỏi tới hỏi lui? Tại sao lúc ấy Mã Đại Sư không cho ông ta ba đạp, để ông ta hiểu thế nào là ý Tây lai, lại còn đi cà kê dê ngỗng với ông ta làm gì cho mệt xác. Ở đây, thử hỏi Tạng đầu trắng Hải đầu đen có ý gì?

LỜI TỤNG:

Rõ ràng lưỡi kiếm đã trình tâu
Có nhận hay không cũng rơi đầu
Một kiếp phong lưu lìa phân biệt
Thảnh thơi ý Tổ trắng đen đầu.

 

[10]

LỜI NÓI NHƯ ĐIỆN
 


CÔNG ÁN:

Đặng An Phong đến Vi Sơn, liền vào nhà, lên ván cởi y bát. Vi Sơn nghe sư thúc đến liền đẩy đu oai nghi ra khỏi nhà giảng vào thăm. An Phong thấy Vi Sơn đến, liền nằm xuống. Vi Sơn thấy vậy trở về phương trượng. An Phong ra đi; sau đó Sơn hỏi thị giả:
- Sư thúc đâu rồi?
Thưa :
- Đã đi rồi.
- Lúc đi có nói gì không?
Thưa:
- Không nói gì cả.
Vì Sơn hỏi:
- Chớ bảo không nói. Lời nói kia như điện chớp.

LỜI BÀN:

Rõ ràng gã An Phong đến đi không chịu nói. Tuy nhiên, chỉ lừa được thị giả sao lừa được Vi Sơn. Cho dù ông sử dụng lối ngôn ngữ gì đi nữa, ngay đến thứ ngôn ngữ của im lặng và chỉ trỏ, cũng bị Vi Sơn khám phá.

LỜI TỤNG:

Tâm Thông sáu căn thông
Trò chơi của An Phong
Chỉ lừa tên thị giả
Gặp Sơn phơi bày lòng
Tiếng kia như điện chớp
Mắt nọ tựa sao băng
Qua lại có ai hay
Dồn người vào vực thẳm.

 

[11]

TRÊN TUYẾT THÊM SƯƠNG
 


CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tư Phước:
- Có nhân giơ chùy, dựng phất tử có ý chỉ gì?
Tư Phước ậm ự không thành tiếng.
Vân Môn bảo:
- Trên tuyết thêm sương.

LỜI BÀN:

Cái lão Vân Môn này, hễ mở miệng ra là phơi bày ráo trọi cả tim gan phèo phổi của mình; chẳng thà ậm ự như Tư Phước, thì đở khổ cho các sở trường của các vị lão giàtiên bối biết mấy. Tuy nhiên, trên tuyết thêm sương có ý nghĩa gì?

LỜI TỤNG:

Lời quê cũ, mở thân ai nào biết
Ý thị thành, xuôi ngược kẹt hai bên
Lửa đốt lửa, muôn đời không hề hấn
Tuyết thêm sương, không giãm cũng tăng.

[12]

MỘT ĐƯỢC MỘT MẤT

 

CÔNG ÁN:

Pháp Nhãn dùng tay chỉ bức rèm, thời có hai vị tăng cùng đi cuốn rèm.
Nhãn bảo:
- Một được một mất.

LỜI BÀN:

Cùng hai người cuối rèm, tại sao lại một được một mất? Ý là ở chổ đó. Tuy nhiên, nếu bảo cả hai được hết thì cũng không được, mà bảo cả hai mất hết cũng không được. Đó chính là chỗ ngoắt ngoéo của câu đáp; ai hiểu được thì cùng chung với Pháp Nhãn một mắt, còn không thì chịu mù suốt đời.

LỜI TỤNG:

Tâm có Phật liền có
Tâm không Phật liền không
Giết một để một mất
Tha một để một còn.

[13]

NƠI KHÔNG LẠNH NÓNG

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Động Sơn:
- Lạnh Nóng nên tránh nơi nào?
Sơn đáp:
- Sao không tìm nơi không lạnh không nóng mà trành?
Tăng hỏi:
- Thế nào là không lạnh không nóng?
Sơn đáp:
- Lạnh, lạnh giết thầy tăng; nóng, nóng giết thầy tăng.

LỜI BÀN:

Muốn làm Phật mà lìa chúng sanh, muốn cầu Bồ Đề mà rời phiền não, thì thử hỏi Phật và Bồ Đề ở nơi nào mà cầu? Muốn nơi không lạnh không nóng mà lìa lạnh nóng, thì thử hỏi không lạnh không nóng ở nơi nào? Nếu thấu rõ được chổ này, thì cùng với Động Sơn du hí, còn không thì chui vào chổ lạnh, lạnh giết thầy tăng, nóng, nóng giết thầy tăng mà sống.

LỜI TỤNG:

Mùa đông giá rét trời hực nóng
Đỏ lửa mùa hè rơi tuyết đông
Cứ thế an nhiên mà tự tại
Lạnh nóng muôn đời giết ai không.
 

 

[14]

AI LÀ NGƯỜI THÂN

 

CÔNG ÁN:

Lâm Tế hỏi Lạc Phố:
- Từ xưa đến nay, một người dùng hèo một nguời thì quát. Vậy, ai là người thân?
Phố đáp:
- Cả hai chẳng thân.
Tế hỏi:
- Vậy chỗ thân làm sao sanh?
Phố liền quát, Tế liền đánh.

LỜI BÀN:

- Cơ kia như ánh chớp, ý nọ tựa tên bay; ứng cơ thì tiếp vật, ứng tiếng thì tiếp lời; qua lại không khởi niệm phân biệt, thì đối với đạo không chướng ngại. Ngôn ngữ vì thế, không chỉ hạn hẹp trong lời nói, mà nó còn bàn bạc trong cử chỉ hành động, ngay cả trong im lặng, nếu ai hiểu được chỗ này, thì hiểu được cái đánh của Lâm Tế, tiếng quát của Lạc Phố, còn không thì mịt mờ.

LỜI TỤNG:

Kẻ hèo người quát ai là thân
Lối quỷ đường ma hai chẳng thân
Lại muốn thân sanh thì cũng dễ
Một quát hai hèo thế là thân.
 

 

[15]

THÚY PHONG BỊ TÊN

 

CÔNG ÁN:

Lâm Tế đến Thúy Phong, Phong hỏi:
- Từ đâu lại?
Tế đáp:
- Hoàng Bích lại.
Phong hỏi:
- Hoàng Bích có câu nào dậy người không?
Tế đáp:
- Hoàng Bích không có câu nào.
Phong hỏi:
- Vì sao không có?
Tế đáp:
- Dù có cũng không chỗ cử ra.
Phong bảo:
- Nhưnng thử đưa xem.
Tế đáp:
- Một mũi tên qua khỏi trời tây.

LỜI BÀN:

Về cách sử dụng pháp để dạy người của các vị Tông Sư tiền bối. Với quan niệm ứng cơ tiếp vật, ứng tiếng tiếp lời, đã nảy sinh không biết bao nhiêu là phương tiện sử dụng để ứng đối. Vì thế,trong cách ứng đối, bất cứ phương tiện nào, miễn sao nghĩ suy không vướng ý, nói năng không vướng lời, hành động không vướng mắc mà tỏ ra có khả năng bóc vỏ vô minh, đánh thức tâm cơ; tùy theo lời hỏi và căn cơ mà các lão hạ thủ ngay. Cho dù những lời nói đó, mới nghe ra như vu vơ, không ăn nhập vào đâu; đôi lúc nói đông nói tây, nói nam nói bắc,nói trên nói dưới, nói ngược nói xuôi… đôi dùng cả tay chân đạp đá hét la, trượng hèo phất tử, cử chỉ điệu bộ, hoặc im lặng… đó là những phương cách được sử dụng nhiều nhất về cách dạy trong văn học Thiền .
Bởi vậy, nếu bảo Hoàng Bích có câu để dạy người, thì chính cuộc sống của Hoàng Bích, còn nếu bảo không thỉ như Lâm Tế đã đáp : " Dù có cũng không có chỗ cử ra". Tuy nhiên, Thúy Phong không phải là tay vừa, đã cố ý gài bẫy Lâm Tế, nhưng Lâm Tế lanh cư, khám phá ra cạm bẫy Phong gài. Ong đã dùng mũi tên của Hoàng Bích bắn ra, làm cho Phong tự sập vào bẫy của chinh mình và chẹn được họng của Thúy Phong, không để cho ông cò kè bớt một thêm hai nữa. Nhưng thử hỏi, mũi tên mà Lâm Tế vừa bắn ra, ngoài hai mục tiêu trên, còn có ý nghĩa gì nữa không? Một mũi tên qua khỏi trời tây, chỉ có người sử dụng nó, và đố tượng mới biết có trúng hay không, ngoài ra ai có thể nhận biết được?

LỜI TỤNG:

So đôi tay kiếm biết gia phong
Kèn cựa hai bên chiêu chẳng thông
Cũng muốn gài người vào hố thẳm
Ai ngờ không kiếm hại gia phong.

[16]

ĐẦU CON MÈO CHẾT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tào Sơn:
- Ở trên thế gian vật gì qúi nhất?
Sơn đáp:
- Đầu con mèo chết quí nhất.
Tăng thưa:
- Vì sao đầu con mèo chết lại quí nhất?
Sơn đáp:
- Vì không người đặt giá.

LỜI BÀN:

Câu đáp của Tào Sơn là một mũi tên vừa bắn ra, cùng một lúc hạ hai mục tiêu. Nếu hiểu được chổ này, thì hiểu được hai mục tiêu, còn không thì bị tên vào mắt.

LỜI TỤNG:

Bảo rằng quí, thì tất cả đều quí
Bảo rằng không tất cả đều không
Vì các pháp xưa nay tánh vốn đồng
Bởi tâm phân biệt nên thành ngăn cách

 

[17]

CHƯA ĐẤNG TRAO Y BÁT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Động Sơn:
- "Luôn luôn siêng lau chùi, chớ để bụi nhơ bám"
- Vì sao không được người trao Y Bát?
Sơn bảo:
- Nói thẳng ra thì câu " Xưa nay không một vật", cũng chưa đáng được người trao Y Bát. Thử hỏi, người nào đáng trao?

LỜI BÀN:

Vì sao câu "Xưa nay không một vật", Động Sơn lại bảo chưa đáng được trao Y Bát? Nếu hiểu được chỗ này, thì cùng với Động Sơn đoạt lại Y Bát của Huệ Năng không lỗi. Nhưng thật ra ông ta không nhờ câu nói đó mà được trao Y Bát, mà chính nhờ những lời nói, sau khi nghe kinh Kim Cương đến câu: "ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM" với ngũ Tổ.
Động Sơn đã lầm rồi chăng? Nếu thật sự Động Sơn không lầm, thì đáng đoạt lại thật vậy, thử hỏi người nào đáng đoạt đây? Nếu đã nhận ra được thì biết ngay, còn không dù cò hạ bao ngiêu câu chuyên ngữ cũng không hợp.

LỜI TỤNG:

Mở có rơi đầu
Khép không đụng trán
Ngàn năm ai dấu
Mở miệng không phân.
 

[18]

PHÁP THÂN CỦA VÂN MÔN

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Vân Môn:
- Pháp thân là gì?
Môn đáp:
- Sáu không thâu.

LỜI BÀN:

Có không loạn đa người đời ai hay, mở miệng nói càng ngờ đâu trúng phóc, dòng đời chảy xuôi vì sao nôi sóng? Thử hỏi, trình cơ có ý đáp sao bây giờ? Không lẽ câm mồm nín mãi, mhưng thật ra vẫn không hợp. Vậy sáu không thâu có ý gì?

LỜI TỤNG:

Chung quanh loạn đả, lão vây cờ
Thiếu phụ khóc chồng, đám rước dâu
Mắt điếc tai mù nào tỏ rõ
Ngàn năm ai biết lẽ về đâu?

[19]

CHIẾC ÁO CỦA TRIỆU CHÂU

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Triệu Châu:
- Muôn pháp về một, một về chỗ nào?
Châu bảo:
- Khi ở Thanh Châu, nay một chiếc áo nặng 7 cân.

LỜI BÀN:

Lão Triệu Châu bày trò bịa xạo, một chiếc áo mà nặng tới 7 cân. Thật sự, nếu xét cho kỹ chiếc áo này không có ký lô nào. Nếu hiểu được nghĩa này, thì cùng với Triệu Châu bịa xạo cho thỏa thích.

LỜI TỤNG:

Thân này duyên hết trả về đâu
Bốn đại bảy cân ra từ đâu
Bảo rằng là một hay là khác
Rơi đầu tức khắc sẩy hai câu.
 

[20]

KHÔNG DỤNG CÓ, KHÔNG DỤNG KHÔNG

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tào Sơn:
- Tức tâm tức Phật thì không hỏi, nhưng thế nào là chẳng phải tâm chẳng phải Phật?
Sơn bảo:
- Sừng thỏ không dụng không, sừng trâu không dụng có.

LỜI BÀN:

Lão Tào Sơn há miệng ra là lộ cả tâm can. Thử hỏi tâm can của Tào Sơn ở chổ nào? Nếu hiểu được thì chỗ gút tự mở.

LỜI TỤNG:

Thích Ca không bảo có
Di Lặc không bảo không
Nơi nào dụng có không
Mở miệng rơi đầu lưỡi.
 

[21]

DIỆN MỤC


 

CÔNG ÁN:

Động Sơn nói rằng:
- Trong bụi không nhiễm trẻ trượng phu.
Vân Môn bảo:
- Cầm trượng kêu cầm trượng, tất cả kêu tất cả.

LỜI BÀN:

Về cách sử dụng ngôn ngữ thì đa dạng, nhưng ý thì không khác. Ở đây, hai lão Động Sơn và Vân Môn nói cái gì? Nếu thấu được chỗ này, thì cùng với hai lão có chung mắt, còn không thì mờ mịt.

LỜI TỤNG:

Mắt mờ xem trò huyễn
Đói bụng bảo ăn cơm
Sáu căn không khởi nhiễm
An lành trẻ lên ba.
 

 

[22]

CÀNH TRÚC CỦA THÚY VI


 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Thúy Vi:
- Ý Tổ Sư từ Tây đến đây là gì?
Vi bảo:
- Đợi lúc không người tasẻnói cho ngươi và dẫn vào trong vườn .
Tăng thưa :
- Ở đây không người xin Hòa Thượng chỉ cho con .
Vi liển chỉ cây trúc bảo :
- Cành trúc này dài sao? Cành trúc kia ngắn sao?
Tăng hốt nhiên đại ngộ.

LỜI BÀN:

- Thấy thì thấy ngay, việc gì phải bày ra trò này trò nọ, có nguời với không có nguời chỗ này với chỗ kia làm gì?
Tuy nhiên, đó cũng là chỗ lanh mắt của Thúy Vi . Thử hỏi, chổ lanh mắt này đã tác động đến cơ mê như thế nào, mà vị tăng kia thấy được?

LỜI TỤNG:

Đạt Ma đại sư đến cõi đông
Can chi đến việc có và không
Đói ăn khát uống no nằm nghĩ
Tuyết lạnh muôn đời phu giá bang.
 

 

[23]

BẺ GÃY TRƯỢNG


 

CÔNG ÁN:

Ngũ Duệ đến chỗ Thạch Đầu nói rằng:
- Một lời tương hợp thì ở, không tương hợp thì đi.
Thạch Đầu cứ ngồi. Ngũ Duệ liền đi.
Thạch Đầu theo sau kêu rằng:
- Thầy Tăng ! Thầy Tăng !
Ngũ Duệ quay đầu lại, Thạch Đầu bảo:
- Tử sanh đến tử là cái gì? Quay đầu chuyễn não làm sao?
Ngũ Duệ hốt nhiên đại ngộ.

LỜI BÀN:

Lời tương hợp với không tương hợp là cái gì? Mà đòi ở với đòi đi? Nhõng nhẽo đến thế là cùng. Còn lão Thạch Đầu cưng con cưng cháu cũng không kém, đành lẽo đẽo theo sau dỗ dành này nọ; nhưng cuối cùng cũng không nhịn được, phải hạ tay gõ vào đầu hai cái, làm Ngũ Duệ tá hỏa tam tinh bừng tỉnh. Thế mới biết nuôi con dạy cháu, không phải là một chuyện dễ. Thử hỏi, Ngũ Duệ đã bừng tỉnh như thế nào qua hai câu hỏi đó?

LỜI TỤNG:

Cái vỏ vô minh bạc khởi phân
Tử sanh qua tử đâu có phân
Muốn lìa sanh tử vào sanh tử
Một kiếp phong lưu dẹp các duyên.
 

 

[24]

LƯỠI NGƯỜI CHẾT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Động Sơn:
- Thế nào trong huyền lại huyền.
Sơn bảo:
- Như lưỡi người chết.

LỜI BÀN:

Nếu mà ở đây hiểu được chính xác, thì nên phục hồi cái lưỡi trở lại, còn không thì để cho nó chết luôn. Thật là cái lưỡi không xương nhiều đường lắc léo.

LỜI TỤNG:

Trong huyền lại huyền
Một chém một tha
Lưỡi nguời thay ma
Thế mà được chuyện.

[25]

KHÔNG THẤY DIỆU GIÁC

 

CÔNG ÁN:

Trần Thượng Thư hỏi ngài Sơn Động:
- Trong 52 vị của Bồ Tát, vì sao không thấy diệu giác?
Sơn bảo:
- Thượng thư đã thân kiến Diệu Giác chưa?

LỜI BÀN:

Ở đây, nếu hiểu được cách đáp chẹn họng của Động Sơn, thì sẽ biết có Diệu Giác hay không, nếu không thì tìm kiếm cũng vô ích.

LỜI TỤNG:

Phật trước không chứng
Phật sau không được
Bồ Tát không hành
Diêu Giác có được?

[26]

CÁI NÀY

 

CÔNG ÁN:

Trường Khánh cầm trượng giơ lên bảo rằng:
- Biết được cái này thì việc tham học một đời hoàn tất.
Vân Môn bảo:
- Biết được cái này vì sao không trụ?

LỜI BÀN:

Biết được cái này, vậy cái này là cái gì? Xin hỏi lão Thích Ca,Thích Ca không biết; hỏi lão Đạt Ma, Đạt Ma không hay; hỏi các lão các lão ú ớ. Như vậy, mặc tình phịa nói, dựng chuyện quàng xiên, mà tỏ ra lợi lạc đôi phần.

LỜI TỤNG:

Biết được cái này
Té ra không biết
Không biết cái này
Lại thành hoàn tất.
 

[27]

ĐẢNH DIỆU PHONG


 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Triệu Châu:
- Thế nào là Đảnh Diệu Phong?
Châu bảo:
- Không đáp lời ông.
Tăng hỏi:
- Vì sao không đáp?
Châu bảo:
- Nếu ta đáp thì sẽ bị rơi xuống đất.
Vân Môn đáp ngay:
- Hòa Thượng Câu Chi.

LỜI BÀN:

Một tung một hứng, một giữ một buông, một chém một tha, tỏ ra không lão nào được, không lão nào không được. Nhưng thử hỏi Hòa Thượng Câu Chi mang ý chỉ gì?

LỜI TỤNG:

Sừng sững thái hư Đảnh Diệu Phong
Trong vời muốn gặp được nguồn Tông
Tiến lui không bước đường không có
Nhờ lão ra tay mở một đường.
 

[28]

NGƯỜI ĐẾN LÀM GÌ?

 

CÔNG ÁN:

Một hôm Vi Sơn kêu viện chủ, viện chủ liền đến.
Vi Sơn bảo:
- Ta kêu viện chủ ngươi đến làm gì?
Viện chủ không đáp được.
Lại khiến thị giả kêu chủ tọa, chủ tọa liền đến.
Sơn bảo:
- Ta kêu chủ tọa ngươi đến làm gì? Chủ tọa cũng không đáp được.

LỜI BÀN:

Thiệt lưỡi không xương nhiều đường ngoa ngạnh, ví bằng lưỡi có xương, thì đở khổ cho viện chủ và chủ tọa biết mấy. Chỉ vì không hiểu nổi chổ ngọa ngạnh của Vi Sơn, nên đã không đáp được. Ở đây, thử hỏi sự ngọa ngạnh ấy ở chổ nào?

LỜI TỤNG:

Thật ngữ ngoa ngôn
Đánh hỏng tai Tăng
Lừa đảo ý căn
Xem ra hiệu nghiệm.

[29]

NGỒI LÂU THÀNH MỆT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Long Nha:
- Ý Tổ Sư từ Tây đến đây là gì?
Nha bảo:
- Đợi khi nào chim đá và rùa mở lời thì ta sẽ nói cho nha ngươi nghe.
Tăng lại hỏi Hương Lâm:
- Ý Tổ Sư từ Tây đến đây là gì?
Hương Lâm bảo:
- Ngồi lâu thành mệt.

LỜI BÀN:

Ý tổ sư là cái gì, mà từ trước tới giờ, không biềt bao nhiêu người đã hỏi và không biết bao nhiêu lời đáp án rồi; nhưng vẫn khiến người tham học, càng ngày càng mù tịt.
Ở đây, một câu hỏi mà có hai đáp án khác nhau: Một bảo đợi khi nào đá và rùa mở lời thì mới nói; còn một thì ngồi lâu thành mệt. Đúng là muốn bịa ra sao thì bịa nói; nhưng thật ra sự bịa nói này, không phải là không có dụng ý. Vậy ý chỉ của nó ở chổ nào?

LỜI TỤNG:

Lắng tai nghe bằng mắt
Nhìn thẳng thấy bằng tai
Đầu cành hoa bướm lại
Mắt mù lão điếc câm.

[30]

TIẾN THỐI KHÔNG NHÀ

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Thủ Sơn:
- Phật là gì?
Thủ Sơn bảo:
- Nàng dâu mới, cỡi lừa tiến thối không nhà.

LỜI BÀN:

Lão Thủ Sơn bày trò khó tiêu, tiến thối không đường, nuốt nhả không được; ngậm đắng nuốt cay, nhả sợ người cười. Tuy nhiên, ở đây nếu hạ được một câu chuyển ngữ, thì cùng với Thủ Sơn tiến thối không lỗi, còn không thì chớ chạy bậy mà toi mạng.

LỜI TỤNG:

Sáu căn không lối vào
Phật mà không đường hướng
Tới lui không đường nào?
Từ đây thông mọi hướng.

[31]

VÒNG TRÒN MÃ TỔ

 

CÔNG ÁN:

Mã Tổ thấy Tăng đến, liền vẽ một vòng tròn và bảo:
- Vào cũng bị đánh, không vào cũng bị đánh. Tăng liền vào
Mã Tổ liền đánh.
Tăng thưa:
- Hòa Thượng đáng tôi không được! Mã Tổ liền dừng trượng lại .

LỜI BÀN:

Phàm ham học muốn lọt qua cửa Tổ, phải phí công nhọc sức, cho dù có tán thân mất mạng đi nữa, người học cũng không màng; hướng chi phải chịu một ba hèo? Ở đây, Mã Tổ đã dồn vị Tăng vào bước đường cùng, và chính ông tăng tự mở cho mình một con đường sống.

LỜI TỤNG:

Bước vào không bước vào
Cả hai đường tự tại
Té ra đầu trượng nọ
Vừa có mắt có tai.

[32]

THẤY TÁNH

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tuyết Phong:
- Thanh Văn thấy tánh như ban đêm thấy mặt trăng; Bồ Tát thấy tánh như ngày thấy mặt trời; không hiểu Hòa Thượng thấy tàh như thế nào?
Phong đành cho ba hèo.
Sau tăng đem hỏi Nham Đầu, đầu đành cho ba chưởng.
LỜI BÀN:
Rõ ràng mang kiến giải chồn hoang, mà cũng đòi múa lưỡi khua môi, thấy này thấy nọ, hỏi đây hỏi kia. Tuy nhiên, vị tăng này cũng có đôi chút lửa tham học, nên cũng được các ngài hạ cố ai lân. Thử hỏi, ba hèo ba chưởng có ý gì?

LỜI TỤNG:

Muốn tìm thấy tánh hỏi đường Tông
Dẹp bỏ các duyên mãi cứ xông
Gặp Phật Thánh Phàm giơ chân đá
Muôn kiếp luân hồi vẫn tay không.

[33]

ĐẠO CỦA HIỆP SƠN

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Hiệp Sơn:
- Đạo là gì?
Sơn đáp:
- Anh dương đầy đáy mắt, muôn dặm không gợn mây.

LỜI BÀN:

Nếu ai thấu rõ ở chỗ này, thì được đời tỏ ra đơn giản, không có gì phải bàn cãi lôi thôi; nhưng nếu không thấu được, thì mọi sự rắc rối lôi kéo theo nhau suốt đời.

LỜI TỤNG:

Đói ăn khác uống no nằm thẳng
Ngày đến trời lên đêm có trăng
Muôn việc nếu rằng thông tất Công án
Muôn kiếp an nhàn vui tử sanh.

[34]

NƯỚC CHẢY NGHỊCH DÒNG

 

CÔNG ÁN:

Long Nha hỏi Động Sơn:
- Thế nào là ý Tổ Sư từ Tây lại đây?
Sơn bảo:
- Đợi khi nước chảy nghịch dòng, ta sẽ nói cho ngươi nghe.
Nha liền ngộ yếu chỉ.

LỜI BÀN:

Không biết lão Đạt Ma đến cõi Đông có mang theo được cái gì hay không, mà làm náo loạn nhân tâm đến thế? Hết người này đến kẻ nọ, hỏi tới hỏi lui, túi bụi tùng xèo. Còn người đáp thì mặc tình thỏa thích bịa đặt đủ điều; dối anh lừa chị, khi bác dễ cô tự do lỗ miệng; làm cho kẻ mê càng tối, người trí câm mồn.

LỜI TỤNG:

Ý tổ ý tổ
Lừa chị dối anh
Gõ mạnh vào đầu
Ngờ đâu quên hết
Ý tổ ý tổ
Khi bác dễ cô
Chẹn họng đánh đầu
Nín khe Thin thít
Ý tổ ý tổ
Khát uống đói ăn
Đi đứng nằm ngồi
Không duyên tại thế.

[35]

LÂM TẾ PHÁ BA MƯƠI HÈO CỦA ĐỨC SƠN

 

CÔNG ÁN:

Lâm Tế nghe Đức Sơn đời thứ hai dạy chúng rằng:
- Nói được cũng bị ba mươi hèo, không nói được cũng bị ba mươi hèo.
Lâm Tế sai Lạc Phố đến hỏi: "nói được sao bị ba mươi hèo", và đợi khi nào ông ta đánh, liền tống cho ônh ta một tống, xem ông ta có ý gì?
Phố đến hỏi như lời dạy; Đức Sơn liền đánh, và Phố cũng tống lại cho một tống. Đức Sơn trở về phương trượng.
Phố đem việc này trình lại Lâm Tế.
Tế nói:
- Ta đã nghi trước cái lão hán này. Tuy nhiên, như vậy nhà ngươi đã thấu rõ Đức Sơn chưa?
Phố định nói liền bị Tế đánh.

LỜI BÀN:

Chỗ cơ mật của mình bị người khám phá, tỏ ra đáng hận thật. Nhưng nếu bị Lâm Tế khám phá thì chẳng nói làm chi, đằng này bị người dưới trướng của Lâm Tế phá thế mới đáng hận chứ. Tuy nhiên, nếu hiểu được chỗ khám phá này, thì hiểu được ba mươi hèo của Đức Sơn. Nói được không nói được là cái gì? Làm sao thoát?

LỜI TỤNG:

Cùng hội cùng thuyền chung một cửa
Trông vời muôn hướng hợp về chưa?
Ba mươi hèo nọ chi cho mệt
Chỉ một tống này tỏ mặt xưa.

[36]

KHÔNG CỬA

 

CÔNG ÁN:

Nham Đầu, Tuyết Phong và Khâm Sơn đang ngồi; Động Sơn mang trà vào, Kham bèn mở mắt, Sơn hỏi:
- Từ đâu lại?
Khâm bảo:
- Vào định lại.
Sơn bảo:
- Định vốn không cửa, từ đâu vào?

LỜI BÀN:

Nếu bảo rằng có cửa hay không có cửa, thì đó là kiến giải của ma mà thôi.
Tuy nhiên, ở đây nếu hiểu rõ chỗ dụng công của hai lão được, thì tỏ ra không có lão nào đúng cũng kgônf lão nào sai.

LỜI TỤNG:

Một giấc đánh lèo về quê cũ
Ban sơ mộng thật vẫn y như
Đường vào không lối ra không cửa
Tự tại đôi đường cửa tới lui.

[37]

CHẲNG HIỂU PHẬT PHÁP

 

CÔNG ÁN:

Một vị tăng hỏi Lục Tổ:
- Ý chí của Hoàng Mai ai được?
Lục Tổ đáp:
- Người hiểu Phật pháp được. tăng hỏi:
Hòa Thượng được chăng?
Lục Tổ đáp:
- Tăng chẳng hiểu Phật pháp.

LỜI BÀN:

Đúng là lão bán củi, vì quá hiền nên con cháu muốn làm gì thì làm, mà vẫn tỏ ra bao dung dễ dãi. Thử hỏi, vị tăng này mở miệng ra hỏi như vậy có ý gì? Có lẽ Lục Tổ cũng biết chứ không phải không biết; nhưng vì sao lão vẫn cò kè bớt một thêm hai, đôi co với vị tăng ấy làm gì?

LỜI TỤNG:

Thế gian được mất có và không
Can hệ gì đến Tổ Tông
Gặp Phật đánh bừa tha gì Tổ
Phép mầu đem đốt thế là xong.

[38]

NÚI XANH MÂY TRẮNG

 

CÔNG ÁN:
Tăng hỏi Mục Châu:
- Ý Tồ ý Kinh đồng hay khác?
Châu bảo:
- Núi xanh tự núi xanh
Mây trắng tự mây trắng.

LỜI BÀN:

Muốn hiểu ý Kinh lìa ý Tổ; muốn hiểu ý Tổ lìa ý kinh. Nếu không sẽ rơi vào mê hồn trận, trở thành khùng khùng điên không phương cứu chữa. Thật ra, Phật chưa nói lời nào, Tổ chưa tỏ câu mô.

LỜI TỤNG:

Mở miệng nói đồng rơi vực thẳm
Cam tâm bảo khác bị kiếm đâm
Bốn bề cạm bẫy giăng khắp lối
Dẫn lối hỏi đườpng lão mù câm.
 

[39]

NÚI XANH MÂY TRẮNG

 

CÔNG ÁN:

Phong Huyền bảo rằng:
- Nếu lập một Trần thì nước nhà hưng thịnh còn chẳng lập một Trần thì nước mất nhà tan.
Tuyết Đậu dựng trượng bảo:
- Té ra cùng sanh cùng tử với nạp tăng.

LỜI BÀN:

Việc lập một Trần hay không lập một Trần, việc nước mất nhà tan, hay nước nhà hưng thịnh, chúng không can hệ gì đến pháp tánh thế gian. Cho dù lão Thích Ca có ra đời đo nữa, cũng không làm ngược đi được, vì sự tồn sinh hóa diệt của chúng vẫn như nhiên tự tại. Nếu hiểu được chỗ này, thì sống cho ra sống, chết cho ra chết.

LỜI TỤNG:

Ví rằng tứ đại thiếu một thân
Sừng thỏ lông rùa dư nửa cân
Thử hỏi thế gian còn hay mất
Tứ sanh nào bận việc của duyên.

[40]

NHẤT NHƯ

 

CÔNG ÁN:

Có Thiền khách ở phương Nam đến hỏi Quốc Sư:
- Phật pháp thế gian là gì?
Huệ Trung Quốc Sư đáp:
- Thân tâm nhất như, ngoài tâm không khác. Vân Môn nói:
Núi sông đại địa nơi nào có?

LỜI BÀN:

Quốc Sư đã dốc hết sở trường của mình để trả lời một câu hỏi, tỏ ra không phải là một chuyện dễ. Còn lão Vân Môn, cũng muốn tỏ ra cái sở trường của mình. Nhưng than ôi ! Lão đã dốc ra hết sức mình, mà vẫn đẻ đứa con thiếu tháng. Ở đây, thử hỏi cái thiếu tháng này ở chỗ nào?

LỜI TỤNG:

Tâm vật nhất như pháp tánh đồng
Ngàn sai vạn biệt vốn dung thông
Núi sông đại địa nơi nào có
Pháp tánh thế gian nơi nào không?
 

[41]

NƯỚC SÂU THẾ NÀO?

 

CÔNG ÁN:

Động Sơn cùng Vân Cư qua sông, Động Sơn hỏi:
- Nước sâu thế nào?
Vân Cư đáp:
- Không ướt.
Sơn bảo:
- Người thô.
Vân Cư bảo:
- Thỉnh sư nói cho.
Sơn bảo:
- Chẳng khô.

LỜI BÀN:

Ở đây, nếu hiểu theo kiểu giải cua từng lão thì tỏ ra không lão nào đúng. Vậy, sự hiểm hóc của nước sâu ở chổ nào? Vì hai lão chỉ bày trò nửa vời, nhưng chính vì sự nửa vời này, mà đưa chúng đến chỗ dung hội.

LỜI TỤNG:

Một lão không ướt một lão không khô
Hai lão đánh lừa bà con chòm xóm
Ví rằng nói lại không ướt không khô
Hai lão chung lời Phật kia tha tội.

[42]

BIẾT CÓ

 

CÔNG ÁN:

Nam Tuyền dạy chúng:
- Ba đời chư Phật không biết có; con Li Nô, con trâu trắng thì biết có.

LỜI BÀN:

Lão Nam Tuyền ăn cơm Phật, mặc áo Phật, ở nhà Phật, mà mở miệng ra không còn thể thống nào cả. Thử hỏi, vì sao có việc ăn cháo đá bác như thế? Nếu thấu được thì chẳng có việc gì phải nói, còn không thì tỏ ra con Li Nô con trâu trắng kia cũng trở thành bịa xạo.

LỜI TỤNG:

Thức mà cứ nói chuyện trong mơ
Chư Phật ba đời ở tận mô?
Những việc linh tinh xin gát lại
Đông lạnh đang về mang áo vô.

[43]

ĐAO KIẾM CỦA TÀO SƠN

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tào Sơn:
- Thế nào là không đao kiếm?
Sơn bảo:
- Không phải do ta luyện mà thành.
Tăng hỏi:
- Dụng của nó như thế nào?
Sơn bảo:
- Gặp nó thì mất mạng.
Tăng hỏi:
- Không gặp thì sao?
Sơn bảo:
- Đầu cũng rơi.
Tăng hỏi:
- Gặp mà mất mạng là chuyện dĩ nhiên, nhưng không gặp làm sao rơi đầu?
Sơn bảo:
- Không thấy đạo gồm thâu tất cả hay sao?
Tăng hỏi:
- Sau cùng thì sao?
Sơn bảo:
- Mới biết có kiếm này.

LỜI BÀN:

Về dụng của kiếm đao, khi gặp chúng thì tán thân mất mạng, đó là chuyện thường tình; nhưng không gặp đau kiếm, cũng tán mạng rơi đầu, đó là chuyện khó chấp nhận được. Tuy nhiên, ở đây nếu rã chỗ hiểm hóc của không đạo kiếm không do việc luyện mà thành, thì kiếm kia xin tha, và sẽ biết kiếm này mỗi người tự có.

LỜI TỤNG:

Nếu biết không đao cùng không kiếm
Dụng này thâu cả cõi đại thiên
Thì cả chúng sanh trong ba cõi
Rơi đầu sanhtử Phật xin cam.

[44]

TRÂU QUA KHUNG CỬA

 

CÔNG ÁN:

Ngũ tổ nói:
- Ví như con trâu đi qua khung cửa, đầu sừng, bốn chân qua đã lọt, sao đuôi không lọt được?

LỜI BÀN:

Lão tổ bày ra một cái đuôi thật là kỳ lạ, đến nỗi chư Phật ba đời cùng tất cả các lão hợp nhau lại, mà vẫn không thể kéo nổi. Ơ đây,thử hỏi sự vướng mắc ở cái đuôi là chỗ nào? Nếu thấy được thì cùng với Phật và các lão cùng nắm tay nhau đồng bước, còn không thì muôn kiếp làm bnạ với lối quỷ đường ma.

LỜI TỤNG:

Cửa kia dụng nào có
Đuôi nọ dụng nào không
Thử hỏi cửa thì rõ
Cái đuôi dụng có không.

[45]

KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC

 

CÔNG ÁN:

Huệ Minh làm lễ và thưa:
- Mong hành giả vì tôi mà nói pháp.
Huệ Năng bảo:
- Nhà ngươi đã vì pháp mà đến, thì hãy dẹp bỏ các duyên chớ sanh một niệm. Ta sẽ vì nhà ngươi mà nói rõ trong giây lát.
Huệ Năng bảo:
- Không nghỉ thiện không nghỉ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh Thượng Tọa?
Ngay câu nói đó, Huệ Minh đã ngộ.

LỜI BÀN:

Vô minh Lương lẹo, bắt bóng đuổi hình, nghịch trên nghi dưới, náo loạn đủ điều, cuối cùng chẳng được cái chi, quay ra cầu pháp; nhưng thử hỏi pháp ở đâu mà cầu? Cònlão Huệ Năng đã biết mạng sống của mình như chỉ màng treo chuông, nhưng vẫn đa mang. Như vậy, chứng tỏ lòng từ của lão đối với đàn con, bọn cháu có thua chi lão Thích Ca, miễn sao tạo cho bọn chúng một cuộc sống vô tư thoải mái là được.

LỜI TỤNG:

Tìm mãi không ra cầu chẳng thấy
Bản lai diện mục ở nơi đâu?
Thôi đành dẹp bỏ không lo nghỉ
Bỗng chốc hiện tiền tự trình tâu.
 

[46]

TRIỆU CHÂU

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Triệu Châu:
- Triệu Châu là gì?
Châu đáp:
- Cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc.

LỜI BÀN:

Rõ ràng lão Triệu Châu treo đầu heo bán thịt chó. Nếu ai hiểu thấu tâm can của Triệu Châu, thì cùng với Triệu Châu nhậu một trận tơi bời, còn không thì đợi lúc Châu say ngà ngà thì hỏi; lúc này Châu mới phơi bày diện mục.

LỜI TỤNG:

Diện mục xưa nay vẫn không nhòa
Tổn sanh hóa diệt vốn một nhà
Ra vào tự tại nào ai biết
Tiếng động bên trời Triệu Châu ra.
 

[47]

ĐÚNG VÀ SAI

 

CÔNG ÁN:

Hoàng bá hỏi Bách Trượng:
- Người xưa vì đáp sai một lời chuyễn ngữ, mà bị đọa vào thân chồn hoang năm trăm kiếp. Giả sử như câu nào đáp cũng không sai thì sao?
Bách Trượng bảo:
- Lại gần đây ta nói cho nghe!
Hoàng Bá lại gần, và tát cho Trượng một chưởng. Trượng vỗ tay cười nói:
- Tưởng râu trên Hồ thì đỏ, lại gặp tên Hồ đỏ râu.
LỜI BÀN:
Bốn chín gặp năm mươi, kèn cựa chơi nhau chúy chóe. Lúc ấy nếu có ta, thì vừa đốt râu Hồ vừa chữa cháy. Thử hỏi có thích không?

LỜI TỤNG:

Sai lời thêm lớn vô minh khởi
Đúng nọ càng tăng tà kiến thôi
Một niệm đúng sai xin gữi lại
Hai đường mở miệng bước thảnh thơi.
 

[48]

CÂY SEN CỦA TRÍ MÔN

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Trí Môn:
- Khi hoa sen chưa ra khỏi mặt nước, thì gọi là gì?
Môn đáp:
- Hoa sen.
Tăng hỏi:
- Khi ra khỏi mặt nước, thì gọi là gì?
Môn đáp:
- Cánh sen.

LỜI BÀN:

Trí Môn dùng pháp ứng cơ tiếp vật. Thử hỏi, hoa sen ra khỏi mặt nước với hoa sen chưa ra khỏi mặt nước, là một hay là hai? Nếu được chổ này, thì cùng một mắt với môn, tuy nhiên nếu bảo là một cũng không đúng, bảo là hai cũng không đúng. Vậy ở đây ý là ở chỗ nào?

LỜI TỤNG:

Tướng kia thành đạt theo duyên khởi
Dụng nọ chuyền đi khắp mọi nơi
Cho dù ba cõi tan thành bụi
Diện mục muôn đời vẫn không vơi.
 

[49]

TÁNH KHÔNG HOẠI

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Triệu Châu:
- Chưa có thế giới đã có tánh rồi. Thế giới hoại đi, tánh này không hoại. Vậy tánh không hoại là gì?
Châu đáp: - Bốn đại năm uẩn.
Tăng thưa:
- Chúng cũng bị hoại, vậy tánh không hoại là gì?
Châu đáp: - Bốn đại năm uẩn.

LỜI BÀN:

Muôn vật xưa nay vốn là không; vậy thì có cái gì để hoại, và có cái gì để không hoại? Người hỏi thì chấp vào tánh mà bỏ quên đi sự tướng; cho nên không lý hội được câu trả lời của Triệu Châu, và do đó chúng trở thành đối nghịch ngăn cách nhau. Ở đây, nếu ai thấu rõ câu đáp của Châu, thì cùng với Châu chung bước; nếu không thì tánh ở nơi nào mà biết hoại với không?

LỜI TỤNG:

Thế giới hợp tan duyên khởi sanh
Nhờ hoại cho nên tướng sanh thành
Nếu ai biết được duyên trong ấy
Tánh nọ muôn đời vẫn không sanh.
 

[50]

MỘT VẬT CỦA HUỆ NĂNG

 

CÔNG ÁN:

Một hôm huệ năng bảo chúng rằng:
- Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không chữ, không lưng không mặt; các ngươi có biết không?
Thần Hội bước ra thưa:
- Đó là bản nguyên của chu Phật, Phật tánh của Thần Hội.
Huệ Năng dạy:
- Ta đã nói với con là không tên không chữ sao còn gọi bản nguyên Phật tánh! Như vậy, con chỉ lấy cỏ che đầu mà đi, cũng chỉ là tông đồ biết kiến giải giỏi mà thôi.

LỜI BÀN:

Lục tổ đã đưa ra một cái bẩy để gài ngươi, chứng tả ông ta không phải một tên bán củi quê mùa, mà là một gã thợ săn chính hiệu.
Thần Hội đã bị mắt vào bẩy, chỉ vì tánh háo thắng; còn những người khác thì sao? Chẳng thà như Thần Hội tiểu sư, thì đỡ ấm ức trong lòng, còn hơn là biết mà không dám nói ra sợ bị kẹt vào bẩy, khó mà tiêu được. Đã thế, chẳng hơn gì Thần Hội tiểu sư, chỉ vì tránh vào bên này nên bị kẹt vào bên kia. Ở đây, thử hạ một đáp án, để gỡ gạc phần nào nổi ấm ức mọi người cùng tiểu sư Thần Hội được không? nếu im lặng như mọi người, thì cũng bị mắt bẩy; còn nếu mở miệng ra, thì cũng bị mắt kẹt như Thần Hội tiểu sư. Nếu thấu rõ được chỗ này, thì cũng có một vật như tổ sư không khác, mà không bị kẹt vào vẫy. Hỏi nhưng không chờ đáp án.

LỜI TỤNG:

Duyên kia không vướng vật dung thông
Ý nọ không vướng thể pháp đồng
Ngàn sai vạn biệt về một lối
Hiện tiền không ngạn vật về không.

[51]

RA RỒI

 

CÔNG ÁN:
Lục Hoàng đại phu hỏi Nam Tuyền:
- Người xưa có nuôi một con ngỗng trong bình, ngỗng càng ngày càng lớn lên không thể ra được. Giờ đây không được đập vở bình, không được giết ngỗng. Hòa Thượng làm sao cho con ngỗng ra được? Nam Tuyên gọi:
- Đại phu!
Đại phu ứng tiếng dạ!
Nam Tuyền bảo:
- Ra rồi.
Lục đại phu nhân đây liền tỏ ngộ, lễ bái.

LỜI BÀN:

Con ngỗng và tiếng dạ một hay là hai? Sao mà cách xa ngàn trồng như thế? Nếu ở đây, ai thấu được thì cùng với lão đồng bước dạo chơi; còn không thì ngàn trùng xa cách.
LỜI TỤNG:
Bỗng dưng sanh ngỗng ở trong bình
Tự buộc tâm mình với tử sanh
Ngỗng ơi! Muốn thoát quay đầu lại
Cùng với vô tâm tiếng dạ trình.

[52]

Ở TRƯỚC MẮT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Duy Khoang:
- Đạo ở nơi nào?
Khoang đáp:
- Ở trước mắt.
Tăng thưa:
- Sao tôi không thấy?
Khoang đáp:
- Bởi ông có ngã nên không thấy.
Tăng thưa:
- Tôi có ngã nên không thấy, Hòa Thượng thấy không?
Khoang đáp:
- Có ông có ta lăng xăng nên không thấy luôn.
Tăng thưa:
- Không, tôi không Hòa Thượng có thấy không?
Khoang đap:
- Không ông không ta, nào ai cầu thấy?

LỜI BÀN:

Con người luôn luôn bị tha hóa bỡi những đối tượng bên ngoài, cho nên bỏ xa cuộc sống, đang là của chính mình, mà tìm cầu những cái không có được ở bên ngoài. Ở đây, vị tăng này cũng rơi vào tình trạng đó, nên hỏi đạo ở nơi nào? Trong khi tâm bình thường luôn luôn thể hiện trong cuộc sống mà không nhận ra. Hơn nữa vị tăng này cũng không nhận ra tình trạng tha hóa của chính mình là một trạng thái trá hình của chấp ngã. Vì thế chop nên đạo với vị tăng trở thành xa lạ ở ngoài tầm tay của mình cần phải tìm thấy.

LỜI TỤNG:

Chấp có cháp không
Mắt có thấy mù
Không cháp có không
Mắt không thấy suốt.
 

[53]

BIẾT ĐỂ LÀM GÌ

 

CÔNG ÁN:

Pháp Hiền đến gặp Tì Ni Đa Lưu Chi, Tổ hỏi:
- Nhà ngươi họ chi?
Hiền hỏi lại:
- Hòa Thượng họ chi?
Tổ bảo:
- Nhà ngươi không có họ sao?
Hiền đáp:
- Họ thì chẳng phải không, Hòa Thượng làm sao biết được?
Tổ bảo:
- Biết để làm gì?
Hiền tỉnh ngộ và sụp lại.

LỜI BÀN:

Lão pháp Hiền muốn đem kiến giải nhà ma, định hơn thua cùng tổ. Nhưng tổ đã lanh cơ lẹ mồm nên dồn lão pháp hiền vào đường cùng, và từ đó mở cho lão một đường sống.

LỜI TỤNG:

Biết cùng không biết can hệ chi
Cuộc sống đang là vẫn chuyển di
Phật trước Phật sau đâu tông tổ
Một niệm hiện tiền không khứ lai.

[54]

AI NÓI KINH NÀY?

 

CÔNG ÁN:

Thanh Biện chuyên thọ trì kinh Kim Cương, nhưng không hiểu ý kinh; đến Huệ Nghiêm xin giải quyết nghi, sau khi đã hiểu ý kinh, bị Huệ Nghiêm hỏi:
- Ai nói kinh này?
Biện thưa:
- Không phải Như Lai nói sao?
Huệ Nghiêm nói:
- Trong kinh này :"Nếu bảo Như Lai nói pháp là chê bai Phật, người này không hiểu nghĩa ta nói". Vì sao? Vì nếu bảo kinh này không phải Phật nói là chê bai kinh; nếu bảo Phật nói là chê bai Phật . Nhà ngươi phải nói sao? Nói mau! Nói mau!
Biện toan mở miệng, Huệ Nghiêm vầm phất tử đánh vào miệng. Biện bỗng nhiên tỏ ngộ liền lạy tạ.

LỜI BÀN:

Thanh Biện nếu không bị phất tử vào miệng có lẽ muôn kiếp ngàn đời, lão ta vẫn mang kiến giải nhà ma. Thử hỏi, ở đây lão đã tỏ ngộ như thế nào qua cái đánh vào miệng; trong khi lão đã bị Huệ Nghiêm dồn vào chỗ không còn đất đứng?

LỜI TỤNG:

Như Lai có nói hay là không
Chuyện đó hai đường vẫn chẳng thông
Chỉ cần phất tử đưa lên quất
Quét sạch các duyên các pháp thông.

[55]

KẺ ĐIẾC TIẾP NGƯỜI

 

CÔNG ÁN:

Đinh Hương hỏi Đa Bảo:
- Làm sao thấy được chân tâm?
Bảo đáp:
- Ngươi tự nhọc.
Hương thưa:
- Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con.
Bảo hỏi:
- Hiểu chưa?
Hương thưa:
- Hiểu rồi lại như chưa hiểu.
Bảo nói:
- Cần giữ gìn cái đó.
Hương bịt tai xây lưng đứng.
Bảo liền nạt:
- Đi!
Hương sụp lạy.
Bảo dạy:
- Sau này nhà ngươi như kẻ điếc tiếp người.

LỜI BÀN:

Kẻ chín lạng người một cân. Ở đây, nếu hiểu được câu: "Hiểu rồi cũng như chưa hiểu", thì mới hiểu được câu đáp của Đa Bảo, còn nếu không mà bắt chước Định Hượng bịt tai, thì đó cũng là hành động của bọn ma mà thôi.

LỜI TỤNG:

Diện mục xưa nay như thế nào
Nhọc công tìm kiếm được hay sao?
Hốt nhiên chạm mặt nào đâu khác
Buông xả các duyên tự tại vào.

[56]

TRẠNH VÀ RÙA

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Viên Chiếu:
- Tất cả chúng sanh từ đâu đến? Sau khi chết đi về đâu?
Chiếu đáp:
- Rùa mù soi vách đá.
Trạnh què lên núi cao.

LỜI BÀN:

Ơ đây, nếu thấu rõ chỗ quàng xiên lắc léo trong câu đáp của Viên Chiếu, thì sự hiện hữu của chúng sanh trong cuộc đời chả có chi để nói và thắc mắc. Còn không thì chuyện đến đi, chuyện sanh tử sẽ dày vò muôn kiếp.

LỜI TỤNG:

Sát na sanh diệt chuyện trùng vây
Hiện tại nơi nào định được đây?
Quá khứ tương lai thành không tưởng
Đang là giữ lấy sống phây phây.

[57]

NGHĨA CỦA CÁNH

 

CÔNG ÁN:

Cứu chỉ tham thỉnh định hương; Cứu Chỉ nói:
- Cứu cánh là gì?
Định Hương im lặng giây lâu, hỏi lại:
- Hiểu chưa?
Cứu Chỉ thưa:
- Chưa hiểu.
Định Hương bảo:
- Ta đã nói cho ngươi nghĩa cứu cánh. Cứu Chỉ đang suy nghĩ.
Định Hương bảo:
- Lầm qua rồi!
Ngay câu nói này, Cứu Chỉ thấy rõ yếu chỉ.

LỜI BÀN:

Lão Định Huơng vì muốn con cháu như mình, nên vội nhét trái hiểu vào tai Cứu Chỉ, bắt ông ta phải nuốt cho bằng được. trong khi đó, ông không biết rằng làm như vậy vượt qua khỏi giới hạn của ý nghĩa câu trả lời, và khả năng của Cứu Chỉ. Tuy nhiên, cuối cùng mọi việc đều trót lọt.

LỜI TỤNG:

Cứu cánh lý nào có
Sự kia nghĩa nào không?
Ngàn thánh không hề biết
Các lão biết hoàn không.
 

[58]

CÂY SOAN

 

CÔNG ÁN:

Vô Ngôn Thông khi còn ở Quảng Châu, có người hỏi:
- Thầy có phải là Thiền sư không?
Thông đáp:
- Bần đạo chưa tầng học Thiền.
Thông yên lặng một lúc và gọi người kia.
Người kia đáp:
- Dạ!
Thông chỉ vào cây soan.

LỜI BÀN:

Nếu thấu rõ được chỗ đáp của Vô Ngôn Thông, thì trước đókhông có người truyền, và sau này sẽ không có người nhận. Thử hỏi, Thiền ở chỗ nào?

LỜI TỤNG:

Lời kia chưa nói đã thành câu
Y nọ chưa vong đã rõ đầu
Ấy thế xưa nay bao người hiểu
Bắt tiếng đuổi lời lỗi tại đâu?

[59]

TỊNH KHÔNG HỐT GẠO

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tịnh Không:
- Hòa Thượng có việc kỳ đặc, tại sao không nói cho người nghe?
Tịnh Không đáp:
- Người thổi lửa, ta hốt gạo; người khất thực ta giữ bát. Ai có phụ ngươi? Tăng nghe xong liền khai ngộ.

LỜI BÀN:

Rõ ràng lão Tịnh Không đã trút hết cả ruột gan tim phổi choo vị tăng. Vậy thì, ở đây ai cố phụ ai? Nếu thấu rõ được chỗ này, thì mới hiểu được câu đáp của Tịnh Không, cùng chỗ ngộ của vị tăng nọ; còn không thì suốt đời làm kẻ cô phụ mọi vật.

LỜI TỤNG:

Phật kia dù có ra đời
Chuyện sanh diệt nọ có vơi bao giờ?
Vì mê nên mộng ra mơ
Bỏ xa cuộc sống đơn sơ tầm gì?

[60]

PHẬT CỦA CHÍNH MÌNH

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Tuệ Trung Thượng Sỹ:
- Thế nào là Phật của chính mình?
Thượng Sỹ đáp:
- Chẳng xoay qua rượu Bồ Đào.
Sao gặp được người đập hũ.
Tăng hỏi:
- Phải hiểu thế nào?
Thượng Sỹ đáp:
- Nhà lớn một đêm ngủ.
Sông dài chung đò qua.
LỜI BÀN:
Kẻ hỏi đã rõ rằng, người đáp càng minh bạch. Ở đây, chỉ cần xoay lại, mở gút kẹt nơi chính mình.
Thì sẽ thông tất cả.
LỜI TỤNG:
Ngàn năm quên bẵng xa nguồn cội
Một sớ quay về cũng không phai
Té ra muôn vật không ngăn cách
Một niệm hiện tiền biết khắp nơi.

[61]

RA ĐÂY! RA ĐÂY!

 

CÔNG ÁN:

Sư Tổ Trúc Lâm Hương Vân lên tòa bảo:
- Thích ca Văn Phật vì một đại sư mà suất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi, mà chưa từng nói một lời? Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?
Ngồi giây lâu lão ngâm:
- Tiếng Quyên lại điểm, trăng càng tỏ đâu phải tầm thường không qua xuân? Rồi võ bàn một cái, bảo:
- Không có gì sao? Ra đây! Ra đấy!

LỜI BÀN:

Lão Hương Vân lại giở trò bịa xạo. Thử hỏi, suốt 49 năm chuyển động đôi môi. Mà sao chưa từng nói một lời? Vậy thì 12 phần giáo ai nói ra?
Tuy nhiên, nếu thấu rõ được chỗ này,thì té ra lão Thích Ca cũng bịa xạo, chứ không riêng gì lão Hương Vân!

LỜI TỤNG:

Có nói hay không đều bịa xạo
Trò kia nghỉ lại cũng không sao
Ba ngàn thế giới thành hay hoại
Dưới dạ trên kêu có khác nào?

[62]

MỘT CÂU KHÔNG KẸT

 

CÔNG ÁN:

Pháp Loa hỏi Hương Vân:
- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim; đều thuộc loại nói đùa. Trong ngôn ngữ, một câu không bị kẹt làm sao nói? Vân đáp:
- Gió Đông hây hẩy ngàn hoa nở. Lách cách vành xe một tiếng vang.
Pháp loa toan mở miệng, Vân bảo:
- Chim hót máu tuôn thành vô dụng, non Tây như trước phủ mây chiều.

LỜI BÀN:

Người trình cơ tỏ ra cũng có đôi chút lửa, nhưng tại sao không tự khơi sáng lên để bước vào cửa, mà phải đợi đến ngọn gió vô tình thổi bùng lên? Đã thế nhưng vẫn chưa nhận ra, lại toan dập tắt, buộc lão Hương Vân một lần nữa phải lận đận.

LỜI TỤNG:

Hoa vừa hé nụ bướm ong sang
Nắng vỡ lung linh ánh nguyệt vàng
Suối biếc Hoa Nghiêm trùng trùng dậy
Một lời không buộc ý thong dong.
 

[63]

NƠI KHÔNG SANH TỬ

 

CÔNG ÁN:

Minh Lương đến tham vấn Chuyết Công:
- Khi sanh tử đến làm sao trốn?
Công đáp:
- Tìm nơi không sanh tử mà trốn.
Luơng hỏi:
- Thế nào là nơi không sanh tử?
Công đáp:
- Nhận lấy sanh tử.
Lương vẫn chưa ngộ, Công bảo:
- Lui đi chiều đến.
Chiều đến Lương vào phương trượng. Công bảo:
- Đợi sáng mai sẽ minh chứng cho nhà ngươi.
Lương bỗng tỉnh ngộ.

LỜI BÀN:

Tùy ý cơ mà phương tiện, đó là pháp dạy người của các bậc Tông sư. Ở đây, tại sao Công bảo: " Muốn trốn sanh tử lại vào sang tử". Nếu hiểu được chỗ này, thì có thể khơi dậy con đường sống cho chính mình; còn không thì tự vùi dập mình trong đường sanh tử.

LỜI TỤNG:

Sanh tử Niết Bàn ở nơi nao
Bỏ nọ tầm kia kiếm được nào
Xưa nay muôn vật về một thể
Thể dụng dung thông mặc bước vào.
 

[64]

NGƯỜI VẬT VỐN KHÔNG

 

CÔNG ÁN:

Từ Phong Hải Quýnh đến Bảo Sơn Tính Dược xin thế độ. Tính Dược bảo:
- Thân ngươi như mọi rợ, làm sao kham lãnh đại pháp?
Hải Quýnh thưa:
- Thân tuy mọi rợ, tâm đồng Phật tổ.
Tính Dược bảo:
- Ta hỏi một câu ngươi mà đáp được ta thế độ cho; nếu đáp không được,ta cho một tiền đi làm thiện tri thức khác.
Hải Quýnh thưa:
- Thỉnh Hòa Thượng hỏi.
Tính Dược hỏi:
- Ngươi là người hay là Phật? là thật hay là giả?
Hải Quýnh thưa:
- Người Phật vốn không huống chi là thật giả.

LỜI BÀN:

Người hỏi qua câu ướm thử, sau đó dồn người đáp vào mép bờ vực thẳm. Còn người đáp thì an nhiên tự tại, mà lao vào hố thẳm không đáy. Ở đây, thử hỏi căn cơ của hai lão ai hơn ai?

LỜI TỤNG:

Khi mê Thật- Giả Phật cùng Người
Ngàn biệt thiên sai khởi nơi nơi
Lúc ngộ ra rồi không một vật
Hiện tiền không khởi niệm thông thôi.

[65]

CÁI GÌ KHÔNG CHƠN TÂM

 

CÔNG ÁN:

Đạo Hạnh hỏi Sùng Phạm:
- Chơn tâm là gì?
Sùng Phạm đáp:
- Cái gì không phải chơn tâm?
Đạo Hạnh đại ngộ và hỏi:
- Làm sao giữ gìn?
Sùng Phạm đáp:
- Đói ăn khác uống.
Đạo Hạnh lễ bái rồi lui.

LỜI BÀN:

Phương pháp hỏi ngược lại thay vào câu đáp là để chẹn họng người hỏi, tạo cho họ một mối nghi tình, và từ đó mở cho họ một con đường thông; đó là phương pháp dạy người của các lão. Ở đây, Sùng Phạm vừa cột vừa hé một cái mối để cho chính Đạo Hạnh tự mở.

LỜI TỤNG:

Không chơn cũng không vọng
Chơn tâm lại hiện tiền
Không giữ cũng không buông
Đói ăn cùng khát uống.

[66]

HUỆ TỊCH MANG GIƯỜNG

 

CÔNG ÁN:

Một hôm Vô Ngôn Thông sai Huệ Tịch mang giường lại, Huệ tịch mang đến.
Thông bảo:
- Mang về chỗ cũ.
Huệ Tịch làm theo.
Thông bảo:
- Cái giường khi ở bên này là vật gì?
Tịch đáp:
- Không vật.
Thông hỏi:
- Cái giường khi ở bên kia là vật chi?
Tịch đáp:
- Không vật.
Thông gọi:
- Huệ Tịch!
Tịch dạ!
Thông bảo :
- Đi!

LỜI BÀN:

Dưới trướng của Bách Trượng đã xuất hiện những chiến trướng tài ba kiệt xuất. Về đàn con gồm những Hoàng Bá, Linh Hựu, Vô Ngôn… về bọn cháu thì có những Nghĩa Huyền ( Lâm Tế ), Huệ Tịch ( Qui Ngưỡng )… Có lẽ Thiền đường Bách Trượng lúv bấy giờ vung lên tiếng cười, tiếng quát sang sảng của các lão; tạo nên một thể cách sinh hoạt, vừa độc đáo vừa lôi cuốn mọi người.
Ở đó Vô Ngô Thông cũng góp mặt cùng mọi người, qua côngán trên. Ở đây, rõ ràng chú cháu không ai phụ ai, nhưng thật sự nếu thấy liền như vậy, thì chẳng cần nhọn sức và dụng công nhiều cầu làm Phật làm chi cho khổ, mà chỉ sợ e rằng bắt lời vướng ý, khiến cho mọi người nhận lầm hướng đi. Đâu biết rằng người trí mới nghe qua phải bịt đôi tai chạy đến mệt nghỉ!

LỜI TỤNG:

Cội nguồn muôn vật nếu thấy thông
Ý nọ đã thông lại hoàn không
Muôn vật xưa nay không vướng mắc
Nhân lầm phương tiện kẹt vào không.

[67]

KHÔNG PHẢI PHẬT

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Ngộ Ấn:
- Đại đạo là gì?
Ấn đáp:
- Đường lớn.
Tăng thưa:
- Con hỏi đại đạo, Hòa Thượng đáp đường lớn, không biết bao giờ mới đạt được đại đạo?
Ấn đáp:
- Mèo con chưa biết bắt chuột.
Tăng hỏi:
- Mèo con có Phật tánh không?
Ấn đáp:
- Không
Tăng hỏi:
- Hòa Thượng có Phật tánh không?
Ấn đáp:
- Không.
Tăng hỏi:
- Tất cả hàm linh đều có Phật tánh, sao riêng Hòa Thượng không có Phật tánh?
Ấn đáp:
- Vì sao không phải hàm lin.
Tăng hỏi:
- Không phải hàm linh tức Phật chăng?
Ấn đáp:
- Ta không phải Phật cũng không phải hàm linh.

LỜI BÀN:

Muốn thấy được đạo mà đuối tiếng bắt lời, thì muôn kiếp ngàn đời không thể thấy được.
Ở đây, Ngộ Ấn dùng phương pháp phản cơ mê, phá bỏ định kiến sai lầm chấp ngã chấp pháp. Muốn tạo cho người hỏi một mối nghi tình, và đẩy chúng đến chỗ không còn đất đứng, từ đó mở cho người hỏi một con đường nhưng vị tăng này chưa đủ sức tự phản để hội thông.

LỜI TỤNG:

Bỗng dưng khởi giữ buông
Chấp có cùng chấp không
Coi chừng Không của lão
Vượt cả có cùng không.

[68]

LẦM ĐÃ QUA

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Cảm Thành:
- Thế nào là Phật?
Thành đáp:
- Khắp cả mọi nơi.
Tăng hỏi:
- Thế nào là tâm Phật?
Thành đáp:
- Chưa từng che giấu.
Tăng thưa:
- Không hiểu.
Thành bảo:
- Lầm đã qua.

LỜI BÀN:

Người hỏi đã đến ngoài cửa, người đáp đã mở toan cửa ra; nhưng tại sao người hỏi không bước vào được? Vậy tỏ ra, muốn bước vào cửa Tổ không phải là chuyện dễ dàng; nếu còn mang kiến giải nhà ma, cho dù kiến giải đó chỉ cho một niệm ngộ đi chăng nữa thì cũng không thể được.

LỜI TỤNG:

Phật vẫn hiện tiền khắp mọi nơi
Xưa nay tâm nọvẫn khơi khơi
Đem tâm tìm Phật nơi nào có
Lầm đã qua rồi tâm Phật rơi.

[69]

MƯA TUÔN GIÓ PHẨY

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Viên Chiếu:
- Tâm pháp cả hai đều quên, tánh tức chơn. Vậy, thế nào là chơn?
Chiếu đáp:
- Mưa tuôn hoa núi, nữ thần khóc.
Gió phẩy tre sân, Bá Nha đàn.

LỜI BÀN:

Hỏi đã đến nơi sao chưa chịu thấu; không những tự chuốc lận đận vào người, mà còn kéo lôi kẻ khác giở trò ma quái. Ở đây, không lẻ Viên Chiếu phải câm miệng hến, nhưng nếu ra lại phụ chính mình, nên đành phải giở trò bê bối lôi thôi, nào biết đúng hai sai.

LỜI TỤNG:

Đông về đơm nhụy xuân khoe sắc
Bán hạ chuyển mùa thu lá bay
Một niệm không còn danh và sắc
Hiện tiền nào biết đúng hay sai.

[70]

CHỖ TRỤ CỦA VẠN HẠNH

 

CÔNG ÁN:

Vạn trước khi sắp thị tịch dạy chúng rằng:
- Các ngươi trụ chỗ nào?
Tăng hỏi: không lấy chỗ trụ mà trụ, không dựa vào không chỗ trụ mà trụ.

LỜI BÀN:

Rõ ràng lão Vạn Hạnh đang chạy đua cùng tử thần, nên vội vàng hấp tấp nhét cái kiến giải cuối cùng vào tai mọi người, mà không cần biết họ nuốt trôi hay không? Ở đây, nếu thấu rõ được chỗ trụ của Vạn Hạnh, thì tỏ ra không cô phụ lão; còn không, thì không những cô phụ lão mà còn phản bội lại chính mình.

LỜI TỤNG:

Ở đi nào biết giữ cũng buông
Tự tại đời đời muôn cửa thông
Chấp có cùng không thành cửa bệnh
Muôn đời sanh tử vẫn đeo luôn.
 


[71]

KHÔNG ĐÂU KHÔNG LÀ TÂM PHẬT

 

CÔNG ÁN:

Một hôm Thiện Hội vào thất hỏi Cảm Thành:
- Trong kinh dạy: " Đức Thích Ca Như Lai, đã trãi qua vô số kiếp tu hành mới được thành Phật". Nay thầy chỉ dạy: "Tức tâm tức Phật". Con chưa hiểu lý này, mong thầy chỉ dạy.
Cảm Thành hỏi:
- Ai nói kinh?
Hội thưa:
- Không phải Phật sao?
Thành bảo:
- Nếu Phật nói, thì tại sao trong kinh Văn Thù dạy rằng: " 49 năm ở đời, chưa từng dạy một lời". Cổ Đức nói: " Tìm vào văn tự, chấp vào chỗ chứng càng thêm trói buộc, khổ của Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm cầu Phật là ma". Vậy, tâm nào không phải Phật, tâm nào là Phật?
Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: "Tấm tức Phật, Tâm nào là Phật? Mã tổ bảo: Ông nghi cái nào không phải là Phật chỉ coi? "Ngộ thì khắp cảnh, mê thì ngăn cách" . Nhà ngươi hiểu sao câu này?
Hội thưa:
- Con đã hiểu.
Thành hỏi:
- Hiểu thế nào?
Hội thưa:
- Không đâu không là tâm Phật .

LỜI BÀN:

Thiện Hội hỏi một câu mà Cảm Thành phải dốc hết sở học cả một đời; dẫn đông dẫn tây, bàn kim luận cổ để thù đáp. Thế cũng chưa phải là khổ mà cái khổ ở nơi Thiện Hội, ông đang bị cái mê nó bỏ cái ngộ. Nhưng rốt cuộc rồi mọi chuyện cũng được êm xuôi, cả hai đều được lợi lạc.

LỜI TỤNG:

Duyên xưa gửi lại sóng trùng dương
Dẩn bước đi về không khởi tưởng
Một niệm hiện tiền tâm không ngại
Trùng trùng tâm Phật hiện mười phương.

[72]

NHIỀU LỜI SAU KHÔNG ÍCH

 

CÔNG ÁN:

Lý Thánh Tông hỏi Thiền Lão:
- Hòa Thượng ở núi này bao lâu?
Thiền Lão đáp:
- Chỉ biết ngày tháng này ai rành xuân thu trước.
Vua hỏi:
- Hòa Thượng hằng ngày làm gì?
Thiền Lão đáp:
- Hoa vàng trúc biếc không ngoài cảnh, mây trắng trang thanh hiện toàn chơn.
Vua hỏi:
- Có ý chỉ gì?
Thiền Lão đáp:
- Nhiều lời sau không ích. Vua hốt nhiên tỏ ngộ.
LỜI BÀN:
Một đàn hỏi dồn dập như bảo táp phong ba một đàn đáp như giòng suối trôi chảy êm ái nhẹ nhàng bất tận, không vướng bận đôi bờ.
Đó chính là ý chỉ của người đáp, muốn gửi gấm lại người sau. Ở đây, nếu ai thấu rõ được chỗ gửi gấm này, thì cùng sống với lão, còn không thì tìm kiếm cũng vô ích.

LỜI TỤNG:

Ngày xưa Phật ở trong mơ
Mốt mai Phật ở bên bờ mộng mơ
Ô hay! Bờ mộng bến mơ
Sáng nay hoa nở tình cờ nào hay.

[73]

LÀM SAO GÌN GIỮ

 

CÔNG ÁN:

Đa Bảo vào thất hỏi Khuông Việt:
- Thế nào là trước sau học đạo?
Việt đáp:
- Trước sau không vãt tợ hư không, hiểu được chơn như thế tự đồng.
Bảo thưa:
- Làm sao gìn giữ?
Việt bảo:
- Không chỗ nào người giữ lấy.
Bảo thưa:
- Hòa Thượng đã nói rồi.
Việt bảo:
- Ngươi hiểu thế nào?
Bảo liền hét lên.

LỜI BÀN:

Kẻ chín lạng người một cân, giành giựt nhau đất sống. Thử hỏi, mấy lão đang giở trò ma quái gì vậy? Trong khi căn cơ họ tỏ ra đồng?

LỜI TỤNG:

Sự tưởng xưa nay vật tự thông
Ngàn biệt thiên sai vốn dung thông
Nếu đem sai biệt tìm tự thể
Muôn kiếp nghìn đời giữ không xong.

[74]

CHỚ BẬN CÓ CÙNG KHÔNG

 

CÔNG ÁN:

Tăng hỏi Đạo Hạnh:
- Đi đứng nằm ngồi đều là tâm Phật, vậy tâm Phật là gì?
Đạo Hạnh dùng kệ đáp:
- Có thì muôn vật có
Không thì tất cả không.
Có không như trăng nước
Chớ bận có cùng không.
Đạo Hạnh lại tiếp:
- Trời trăng treo đầu núi
Người người mất hết châu
Kẻ giàu có ngựa hay
Bộ hành không ngựa cỡi.

LỜI BÀN:

Ở đây Đạo Hạnh không cần dùng phương pháp phủ định để hiển bày tâm Phật ; mà chỉ cần đưa ra thí dụ trăng nước, để biểu thị cái tâm tự tại không vướng bận của người hỏi, và làm sụp đổ mọi kiến giải có được ở trần gian này, về quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, mà chính con người bỏ quên cuộc sống đang là của họ.

LỜI TỤNG:

Duyên kia đã hết có gì mong
Việc nọ chưa thành đã ngóng trông
Hiện hữu Đang Là sao chẳng sống
Duyên thành dứt bặt có cùng không.

[75]

DÙNG THUYỀN ĐỂ LÀM GÌ?

 

CÔNG ÁN:

Khánh Hỷ cùng Tịnh Nhãn, Tịnh Như đứng hầu thầy, Bổn Tịch bảo:
- Các ngươi đối trước môn học của Tăng hỏi, còn điều gì thưa hỏi nữa không? Trong những ngày qua tại sao các ngươi không trình kiến giải của mình, để ta xem xét chỗ tiến đạo của các ngươi như thế nào? Tịnh Nhãn Tịnh Như toan mở miệng, Khánh Hỷ liền nói to:
- Một khi mắt bị bệnh, hoa đớm rơi loạn giữa hư không.
Bổn Tịch khen:
- Thầy tăng Khánh Hỷ! Tại sao dùng thuyền lại đập bể gàu múc nước?
Khánh Hỷ thưa:
- Dùng thuyền làm gì?
Bổn Tịch bảo:
- Kẻ lanh lợi chớ mở tác hoác; ngươi chỉ giỏi nói việc bên này, còn việc bên kia vẫn chưa mộng thấy!
Bổn Tịch lại tiếp:
- Tuy nhiên, vẫn chỉ là Y.

LỜI BÀN:

Ở đây, nếu thấu rõ chỗ trình cơ của Khánh Hỷ, thì biết chỗ dụng tâm của Bổn Tịch; nếu không thì sẽ bị sụp vào bẫy của Lão. Tuy nhiên, việc bên này cũng như việc bên kia, không phải là Y cũng không phải là Y. Vậy Y là gì?

LỜI TỤNG:

Không hoa kiến giải khác gì đâu
Một bệnh mà ra chấp có nhau
Mộng thật hai đường dù cách trở
Không lìa chẳng giữ bỗng như như.

<