Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO – HÀ NỘI

PL.2545-Dl.2001

 

DUY LỰC NGỮ LỤC

 

QUYỂN THƯỢNG

 

(TỪ NĂM 1983-1989)

 

HT. THÍCH DUY LỰC

----o0o---

 

Phần 2.  CUỐN 11-20

Hỏi: Xin Sư phụ kể qua vấn đề dịch Kinh như thế nào?

Đáp: Ở Trung Quốc, vấn đề dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán, dịch tràng trên ba trăm đến năm trăm người, người chủ dịch thường là người kiến tánh, thấu suốt Phật pháp, còn người dịch phụ phải qua sự ấn định của Chủ dịch. Ở Việt Nam thường do một người dịch, cũng tùy theo ý của người dịch, người dịch thường tự chẳng có tu chứng, hễ không có tu chứng thì không thể hiểu nổi ý của Phật, của Tổ, vì ý Phật, ý Tổ chẳng phải là sự suy nghĩ thông minh của thế gian có thể hiểu được.

Lai Quả Thiền sư nói: “Thông minh của thế gian chẳng phải là trí huệ của Phật pháp”, Tổ sư gọi là “Thế trí biện thông”. Lại, theo Phật giáo, xem những người thế trí biện thông, bậc tri thức khoa học là hạ căn, vì họ chấp thật những kiến thức khoa học của mình chẳng chịu buông, còn người đầu óc đơn giản, nơi Phật pháp lại cho là thượng căn, tu hành dễ đắc đạo hơn. Nên Phật pháp là nghịch với pháp thế gian.

Trong Niên Phổ của ngài Hư Vân có kể đến câu chuyện “Bá Trượng và con chồn”; chỉ vì đáp sai một chữ phải đọa làm con chồn năm trăm kiếp, nên Phật pháp chẳng phải là muốn nói thế nào cũng được, ấy chẳng phải chuyện chơi. Đối với Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, tội đại vọng ngữ là tội Ba La Di, là tội cao nhất, bằng như tội tử hình của thế gian. Hễ Tỳ Kheo phạm coi như Tỳ kheo ấy đã chết, Tỳ Kheo Ni cũng vậy, muốn khôi phục lại chức danh Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, phải đợi đến kiếp sau mới được. Như Bá Trượng Thiền sư nói: “Nếu pháp sư chỉ giảng được nghĩa hai câu thì pháp sư ấy phải đọa địa ngục; nếu pháp sư giảng thấu ba câu mà người nghe hiểu sai lầm thì lỗi tại người nghe, người nghe đoạ địa ngục chứ không quan hệ đến pháp sư, vì pháp sư đã giảng hết ý rồi.

Hỏi: Thầy giảng những cái đó còn nằm trong ngũ ấm hay đã ra ngoài ngũ ấm?

Đáp: Không có nằm trong ngũ ấm, cũng chẳng ở ngoài ngũ ấm. Tôi thường nói hai chữ “BẤT NHỊ”, hễ có trong có ngoài là nhị, chính cái ngũ ấm chẳng phải là thật, làm sao có trong có ngoài?

Hỏi: Cái biết mà mình không khởi niệm, không tác ý phân biệt để biết, đó có phải là tri tịch không?

Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói rõ “Tri giác nãi chúng sanh”, đã lập tri rồi, mặc dù cái tri ấy không rõ ràng, nhưng cũng là tri. Nếu không khởi ý để biết thì làm sao biết đó không rõ ràng? Biết là “không rõ ràng” đã là biết rồi! “Tri tri” là căn bản vô minh, từ nguồn gốc ấy sinh ra sở tri. Dù yên lặng chẳng có vọng tưởng gì, nhưng năng sở đã rõ ràng, thì chẳng phải cái tri của Tự tánh. Đợi đến biết cái “mờ mờ không rõ ràng ấy” thì trở thành bụi bậm, là sở tri rồi.

Tại sao nói “Cái tri của Tự tánh? Đáng lẽ không có cái tên gọi là TRI, ấy chỉ là thế lưu bố tưởng, thế gian đã gọi là tri thì phải gọi cái tri đó thế gian mới hiểu, nếu không thì gọi bằng cái gì? làm sao diễn đạt? Nên mới có phân biệt thế lưu bố tưởng và trước tưởng. Do đó, nói chữ “TRI” đã là có sự chấp thật; chấp cái năng tri là thật, là căn bản vô minh vậy.

Hỏi: Cái “tri” ấy đã là bất đắc dĩ mà nói, nói cái trạng thái đó là “biết” cũng không được ư?

Đáp: Trong Thiền Thất Khai Thị Lục đề cập khi tham thiền đến trạng thái đó là " Vô tâm không cho hữu tâm biết”. Ví như có người hỏi ông tên gì, nếu còn trả lời được tức còn biết, chưa phải là vô tâm. Ví như nói “tri” và “vô tri”, VÔ TRI tức chẳng còn biết gì nếu còn biết là vô tri ấy là tri. Nếu thật vô tri, ai biết vô tri? “Cảm thấy” cũng là biết.

Hỏi: Vì sao không được tiếp tục ngồi khi trên thân khó chịu?

Đáp: Theo kinh nghiệm của tôi, khi kinh hành chớ nên vừa đi vừa vận động thì máu lưu thông, không sanh ra bệnh. Cũng như ngồi thiền, ngồi lâu thành bệnh, nhiều người chấp vào cái ngồi nên sanh ra bệnh. Lúc nghi tình nặng, ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, nếu có vận động, thì máu lưu thông đều, vẫn tiếp tục kinh hành được, hễ ngồi thì không có sự lưu thông về máu nên dễ sanh bệnh, đôi khi bị chết giấc mà chẳng ai hay biết, nên tôi thường khuyên mọi người không nên chấp ngồi là vậy.

Hỏi: Thế nào là nghi tình phát khởi được và nghi tình phát chẳng khởi?

Đáp: Trong Tham Thiền Cảnh Ngữ của ngài Bác Sơn nói rõ “nghi tình phát chẳng khởi” là chỉ cái chơn nghi, nay chúng ta đều chưa đến chỗ chơn nghi, cũng gọi là nghi tình phát chẳng khởi. Sở dĩ nay ta gọi là “nghi tình” ấy chỉ là tập tham để đến chơn nghi phát khởi nghi tình, phát được chơn nghi cũng tương ưng với pháp thân rồi. Trong Niên Phổ của ngài Hư Vân nói “Khi chơn nghi phát khởi, ấy là sự thình lình đột phát”, chơn nghi phát lên là nghi tình gần thành khối vậy.

Nay chúng ta tham thiền thì chưa có ai phát được chơn nghi, nên gọi là “nghi tình phát chẳng khởi” chứ không phải không có nghi tình. Chúng ta tham thiền đến chỗ thuần thục thì thình lình phát lên chơn nghi, tương ưng với cái lý pháp thân như trong Tham Thiền Cảnh Ngữ nói, thì biết đó là chơn nghi.

Hỏi: Khi ngủ mê làm sao biết có tham thiền?

Đáp: Nay có những người đang ngủ mê mà biết mình tham thiền, ấy là những người không biết mình đang ngủ, nhưng người khác thì thấy họ đang ngủ mê. Chính người ấy có nghi tình và lúc sáng thức dậy vẫn đầy đủ tinh thần, ban ngày làm việc như thường, chẳng thấy mệt mỏi.

Hỏi: Phát khởi chơn nghi đã phá được sơ quan chưa?

Đáp: Phát khởi chơn nghi tương đương với nghi tình thành khối, chưa đến kiến tánh, chưa phá được sơ quan, nhưng rất hy vọng được phá sơ quan.

Hỏi: Chúng ta đang sống trong vọng thức thì làm sao y trí bất y thức?

Đáp: “Y trí bất y thức” là tiêu chuẩn và mục đích của mình, nhưng chúng ta đang suốt ngày sống trong thức tâm phân biệt, hiện nay đang tu ấy là thức, tham thiền đến một ngày nào đó kiến tánh rồi mới không còn phân biệt, mới chuyển thức thành trí được, tức sự automatic của trí bát nhã đã hiện ra.

Hỏi: ý nghĩa của Qui y Tam Bảo như thế nào?

Đáp: Có người hỏi “Qui y Thiền Tông” và “Qui y Tịnh Độ” như thế nào? Tôi giải thích rằng Qui y là Qui y Tam Bảo, còn Thiền tông và Tịnh độ chỉ là pháp môn chứ không phải qui y.

Qui y Tam bảo có hai: Một là thường trụ Tam Bảo, hai là Tự tánh Tam Bảo. Nay chúng ta qui y là Thường trụ Tam Bảo: Tượng Phật đại diện cho Phật Bảo, Kinh Phật đại diện cho Pháp Bảo và

Tăng ni xuất gia đại diện cho Tăng Bảo, nhờ Tăng Bảo giáo hóa để ngộ nhập Tự tánh Tam Bảo tức giải thoát, biết được mình là gì, tự làm chủ cho mình, đạt đến tự do tự tại. Mục đích để qui y Thường trụ Tam Bảo là vậy, chứ chẳng phải như một số người nghĩ rằng “Qui y để có giấy chứng minh, sau khi chết để trong hòm làm giấy thông hành ở âm phủ, ấy là sai lầm”.

Chữ PHẬT là “Người Giác ngộ”, gồm hai nghĩa tự giác và giác tha, giác hạnh viên mãn, hễ ai giác ngộ tức Phật. Tự ngộ rồi phải độ cho chúng sanh, tự mình và chúng sanh đều được tự do tự tại, tức giáo hạnh viên mãn. Nếu chỉ tự giác mà chẳng giác tha thì giác hạnh chẳng thể viên mãn.

Chữ PHÁP là chỉ phương pháp để đạt đến tự do tự tại, nay cách tham Thiền là Pháp Bảo để đưa chúng ta đến chỗ tự do tự tại.

Chữ TĂNG tại sao gọi là Bảo? Vì nếu có Phật có pháp mà chẳng có Tăng để từng đời truyền dạy thì Phật pháp cũng phải tiêu diệt. Nên ở trong Tam Bảo, Tăng Bảo là quan trọng nhất, có Tăng Bảo mới giữ được Phật Bảo và Pháp Bảo.

Hỏi: Thiền sư Nham Đầu là một vị đã kiến tánh, sao còn bị bọn cướp giết? Nếu nói là túc nghiệp phải trả, thì trong Chứng Đạo Ca, ngài Vĩnh Gia Đại sư nói “Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không, vị liểu ưng tu hoàn túc trái”. Lại, trong Kinh Kim Cang có câu: “Người nào thọ trì đọc tụng Kinh Kim Cang mà bị người khinh miệt thì tội nghiệp đời trước của người ấy đáng lẽ phải đoạ tam ác đạo, do đời nay bị người khinh miệt nên tội chướng được tiêu, và đắc Chánh đẳng Chánh giác”, ấy thì giải thích thế nào về cái chết của Thiền Sư Nham Đầu cho hợp lý?

Đáp: Phật pháp luôn luôn không rời khỏi nhân quả, có nhân ắt có quả? Thế gian có nhân quả, xuất thế gian cũng có nhân quả. Nhưng nhân quả là duyên tâm tạo, chẳng thể chấp thật. Chúng sanh thì chấp đó là thật, Phật vì muốn độ chúng sanh nên phải tùy thuận chúng sanh để độ. Cũng như Đức Phật đã kể về câu chuyện “Vua Lưu Ly giết chết cả tộc Thích Ca”:

“Vì đời trước chủng tộc Thích Ca sống trong một làng đánh cá, tiền thân Vua Lưu Ly là con cá lớn, binh sĩ là cá con trong một ao lớn, dân làng ấy xả hết nước ao và bắt con cá lớn và các cá con để ăn, duy chỉ có một đứa bé không bắt không ăn mà chỉ gõ ba cái vào đầu cá lớn. Đến đời Phật Thích Ca thành Phật rồi, vẫn phải bị nhức đầu ba hôm”.

Đó là muốn thể hiện vấn đề nhân quả không thể tránh, nhưng ấy là đối với sơ cơ. Tôi có xem qua một quyển Trụ Sứ Thập Hạnh, trong đó đức Phật bảo: “Nói ta bị nhức đầu ấy chỉ là phương tiện mà thôi, thực tế thì ta có bị nhức đầu đâu!”

Cho nên, chính hai câu “Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không, vị liểu ưng tu hoàn túc trái” trong Chứng đạo Ca, có một người tham Thiền hỏi Tổ kiến tánh:

- Thế nào là nghiệp chướng ?"

Đáp: “Bổn lai không”.

- Thế nào là “Bổn lai không?”

- “Nghiệp chướng”.

Nghiệp chướng vốn chẳng thật, bổn lai vốn không, thì theo nhân duyên nào cũng là nhân quả.

Tổ độ chúng sanh cũng có phương tiện độ và nghiệp độ, như Phật Thích Ca ở quyển kinh này thì nói “Ta bị nhức đầu”, ở quyển kinh khác thì nói “Ta có bị nhức đầu đâu!” Đã thành Phật rồi, cơ thể còn không có, làm sao có nhức đầu ư? Ai nhức? Ấy chỉ là phương tiện để độ chúng sanh mà thôi.

Hỏi: Có người chẳng có qui y Tam bảo, chỉ ở nhà xem qua kinh Phật hoặc nghe được câu thoại đầu mà ở nhà tự tu, vậy có kiến tánh hoặc ngộ đạo không?

Hỏi: Giả sử người ấy chẳng biết có sự qui y mà chỉ tự nghe được câu thoại đầu để tu thì có thể ngộ, nhưng nếu người ấy đã biết được sự qui y, có người khuyên bảo giới thiệu qui y mà tự có ý không qui y Tam Bảo thì người ấy sẽ không ngộ được. Tại sao? Vì người ấy còn chấp, hễ chấp thật thì chẳng thể ngộ được.

Hỏi: Nếu như người ấy do quá nghèo mà không có phương tiện qui y?

Đáp: Qui y Phật pháp rất bình đẳng, chẳng có sự phân biệt giàu nghèo, đến chùa qui y không hạn chế giàu nghèo, có tiền hay không có tiền vẫn qui y được.

Hỏi: Con phát nguyện trong 49 ngày phải kiến tánh, như thế đúng không?

Đáp: Tôi đã nói là phải VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ SỢ, tự nhiên mong cầu trong 49 ngày phải kiến tánh, ấy là cái tâm bức bách, quá gấp thành bệnh. Gặp trường hợp này phải biết cách đối trị: Câu thoại đầu đề cho thật chậm để cho điều hòa lại như Niệm_Phật_là_ai?”. Nên nhớ rằng hễ có sở cầu là không được. Vả lại, trong Thiền tông có thể trải qua mấy lần tiểu ngộ, thình lình được ngộ cái gì chớ có vui mừng quá, e sẽ thành bệnh. Ngộ được cũng phải quét, hễ có ngộ được một cái gì đó thành có sở đắc, nên phải quét.

Hỏi: Khi nghi tình thành khối sẽ như thế nào và làm sao đập bể?

Đáp: Lai Quả Thiền sư thí dụ “Khối này lớn lắm, siêu việt số lượng, bao hàm hư không, nếu như lấy cây đập nó một cái, thì cây đó cũng ở trong khối; lấy chân đá một cái cũng ở trong khối, bất cứ làm cách nào cũng ở trong khối”. Lúc đã thành khối rồi thì nghi tình 24 giờ chẳng giây phút gián đoạn mới được gọi là thành khối, nếu có một giây phút gián đoạn cũng không được gọi là “thành khối”, chính giây phút gián đoạn ấy khiến sanh tử nổi lên, khiến vọng tưởng từ đó nổi lên, khiến Diêm La Vương thấy được, tiểu quỷ bắt được.

Lúc nghi tình thành khối thì câu thoại tự mất, chỉ còn nghi tình, khi ấy muốn tự ý buông bỏ nghi tình, buông bỏ chẳng được; cố ý muốn nổi lên một vọng tưởng nào cũng chẳng được, cảnh giới ấy gọi là “nghi tình thành khối”, là đứng trước đầu sào trăm thuốc, hễ tiến lên một bước, lìa khỏi ý thức là ngộ, chẳng đại ngộ cũng tiểu ngộ, phá được Sơ quan.

Cái tiểu ngộ mà tôi thường nói ấy chỉ là giải ngộ, chẳng phải chứng ngộ, chưa phá được Sơ quan. Vì giải ngộ còn nằm trong ý thức, chưa lìa ý thức, còn đại ngộ là đã lìa ý thức rồi.

Hỏi: Trong năm câu hỏi để tham Thiền, nếu như tự tìm ra giải đáp cho câu hỏi có được không?

Đáp: Ấy là lấy tâm đi tìm hiểu, lọt vào hồ nghi chứ chẳng phải chánh nghi. Tham Thiền chỉ cho chánh nghi, không cho lọt vào hồ nghi. Lại, lấy tâm đi tìm là “ta”; phân biệt chẳng phải là “ta”, là tứ đại giả hợp ... cũng là giải thích thêm để tìm ra câu đáp án, đều là hồ nghi, chẳng phải tham Thiền.

Hỏi: Tướng của nghi tình thế nào? Muốn phá vỡ nghi tình bằng cách nào?

Đáp: Không được nổi ý phá nghi tình, nếu khởi ý muốn phá nghi tình ấy là hồ nghi, chẳng phải chánh nghi, là dùng ý thức đi tìm hiểu, vĩnh viễn phá không được. Chúng ta cứ tham mãi, tham liên tục và miên mật, đến nghi tình thành khối rồi, gặp nhân duyên thuần thục sẽ tự phá. Như quá khứ chư Tổ, có vị bị đập một cái được phá, có vị thình lình thấy con khỉ leo cây cũng được phá v.v... ấy là thình lình tự phá chứ chẳng phải khởi tâm tìm cách muốn phá. Nếu đến được chỗ đầu sào trăm thước rồi, đó là cửa vô minh, chưa có phá được, chưa có qua được, ngoại đạo đến chỗ này, thấy phía trước thanh thanh tịnh tịnh, chẳng còn đường đi, tưởng là cứu cánh, cho là đến cứu cánh Niết bàn, nhưng sự thật thì chưa, cũng còn dính líu ý thức. Đến đây nếu buông nghi tình xuống, không tiếp tục nữa, vẫn còn nằm trong ý thức, là nguồn gốc của ý thức. Như Cõi trời Phi tưởng Phi phi tưởng, mặc dù vọng tưởng không nổi lên trong nửa đại kiếp, nhưng sau đó vọng tưởng vẫn nổi lên.

Hỏi: Trong lúc tham Thiền, giữa tình trạng không phải thức cũng không phải ngủ, thường thấy những cảnh giới khác nhau, vậy có phải là nghiệp không?

Đáp: Ấy gọi là cảnh giới. Cảnh giới tốt cũng không vui thích, cảnh giới xấu cũng không để ý, chỉ cần giữ cái không biết, chỉ biết có câu thoại đầu, có nghi tình, ngoài ra đều không biết tới. Cho dù Phật Thích Ca đến xoa đầu thọ ký cũng phải quét luôn, nhưng cũng không được nổi ý quét, có nghi tình thì tự động quét, chỉ là không để ý, không biết tới. Vọng tưởng nổi lên bao nhiêu đều mặc kệ, chẳng những có vọng tưởng không biết tới, kể cả không có vọng tưởng cũng không biết tới, không cần đối trị, chính câu thoại đầu đối trị tất cả.

Hỏi: sư phụ dạy “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, nhưng Phật tử đa số là mong cầu giải thoát, vậy có phải là sở cầu không?

Đáp: Khi bắt đầu tham Thiền nhưng chưa thực hành thì khởi ý cầu giải thoát, đã thực hành tham Thiền là đi trên con đường giải thoát rồi, không được cầu giải thoát nữa, có cầu là vọng. Cầu ngộ cũng là vọng, cầu thành Phật thì cái vọng ấy càng lớn nữa! Đã đi tất sẽ đến, đâu cần cầu! Ví như chúng ta đang ở Chợ lớn, xin cha mẹ cho đi Sài gòn, nếu cha mẹ chưa cho thì phải cầu xin, cha mẹ đã cho rồi thì cứ đi dọc đường mà nói “Ta cầu đi Sài gòn”, ấy có phải là vọng không?

Hỏi: Một người không xem sách vì sợ kiến giải mà chỉ một mực chú tâm tham thiền, với một người vừa tham thiền vừa nghiên cứu sách, cái nào tốt hơn?

Đáp: Tốt nhất là chuyên tâm tham Thiền. Tôi thường lấy việc ăn cơm để thí dụ: Người xem sách Thiền, hiểu biết kỹ về thiền, cũng như người thông minh tài giỏi, nhà bác học mà nghiên cứu trong chén cơm có bao nhiêu chất bổ, bao nhiêu Vitamine, lại phân tích có bao nhiêu Vitamine A, Vitamine C ... biết rất nhiều nhưng không ăn cơm. Còn người kia dốt nát, không biết gì cả, chỉ biết ăn cơm mà thôi. Người không biết gì cả, chỉ biết ăn cơm thì người ấy được no, còn người thông minh bác học kia biết đủ thứ, nhưng không ăn cơm thì người ấy chịu đói vậy.

Mặc dù người dốt nát kia chẳng biết Vitamine là gì nhưng đã ăn cơm, đã được tiêu hóa rồi, thì nhổ ra nước miếng cũng là Vitamine.

Hỏi: Đối với người biết tham thoại đầu lại chưa có lòng tin thì sao?

Đáp: Hàng tuần thuyết pháp tôi vẫn thường nói: “Tôi chẳng phải giảng giáo lý cao siêu để cho người nghe biết thêm về giáo lý, chỉ là tăng trưởng lòng tin cho mọi người”.

Lòng tin rất cần, nhưng không phải chỉ tin pháp môn là đủ. Trong Tham Thiền Cảnh Ngữ có nói: “Nếu chỉ tin pháp môn tham Thiền này, cho dù tin 100% vẫn chưa đủ. Tại sao? Vì chỉ tin theo pháp môn, chưa tin tự tâm”. Người tham Thiền phải tin rằng “tự tâm mình là Phật”. Trong cuốn Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải có nói: “Nếu tin tự tâm là Phật, gọi là chánh tín; nếu tin ngoài tâm có Phật, ấy là tà tín”. Nên cần nhất phải là tin tự tâm và sau đó mới tin pháp môn.

Do đó, nếu chuyên tâm thực hành thì trong một hai tuần lễ sẽ nổi được lòng tin, vì thấy mình đã có tiến bộ. Có một vài cụ già sau khi thực hành vài tuần thì cảm thấy phiền não bớt đi nhiều, tự nhiên tăng trưởng lòng tin. Tự tạo được lòng tin thì lòng tin ấy mới mạnh, nếu chỉ dựa vào sách vở, kinh nghiệm của người khác là vô dụng.

Trung Phong Thiền sư có thí dụ về “Con dấu vàng”: Con dấu thể hiện sự tín nhiệm, nhà vua có con dấu vàng của vua, quan chức có con dấu của quan chức, người buôn bán cũng tự có con dấu riêng. Có con dấu thì được mọi người tin cậy, nhưng con dấu đó phải là của chính mình mới được, giả sử cho ông lượm được con dấu bằng vàng, nếu không phải của mình thì rốt cuộc xài chẳng được”.

Con dấu dụ cho cái gì? Dự cho sự ngộ của Phật, của Tổ. Lời nói của Phật, của Tổ thì mọi người tin, nếu lượm được lời của Phật của Tổ mà cho là của mình thì chẳng những không xài được, còn mắc tội nữa! nên coi sách cho nhiều cũng chẳng ích lợi gì, tự ngộ rồi mới là của mình.

* Cảm tưởng của Sư Bà Huê Lâm:

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Kính bạch Thượng Tọa Thiền Sư, hôm nay là ngày viên mãn Thiền thất, con xin đại diện cho tất cả chư hành giả hiện diện, nói lên lời cảm nghĩ của con:

Qua 7 ngày dự đạo tràng tu tập tham Thiền, vừa ngồi thiền và kinh hành trong tám giờ đồng hồ,

Thượng tọa Thiền sư chẳng màng lao nhọc, dìu dắt chúng con, chỉ dạy phương pháp tham Thiền, cả giáo lý lẫn thực hành, rất là kỳ diệu.

- Theo con được hiểu, tham Thiền chẳng phải là giáo lý thiển cận, mà là phô diễn giáo lý tột đỉnh của tất cả tư tườởng Phật giáo, một lý thuyết trực chỉ, có thể đưa chúng sanh đến chỗ giác ngộ, giải thoát viên mãn, con có cảm nghĩ toàn thể bí mật của sự tu tập tham Thiền nằm trọn trong bản giác bình dị, nhưng rất cùng diệu chỉ.

- Kính bạch Thiền Sư, đây là lần đầu tiên con tham dự Thiền thất, nhưng đã cởi mở những điều thắc mắc trong bốn mươi năm qua. Con đã xuất gia hơn bốn mươi năm, tu tập theo pháp môn Mật tông, hôm nay, lần đầu tiên con tham dự Thiền thất do Thiền sư dẫn dắt một cách siêu việt, khiến tâm hồn con thiết tha vô cùng. Con cảm niệm trong sự dạy dỗ của Thiền Sư đối với tất cả chúng con, con cảm động khi thấy sức khỏe của Thiền Sư rất yếu, nhưng từ bi vô lượng. Thiền Sư đã không nài cực nhọc giảng dạy cho chúng con. Vì thế, nên từ đây về sau, con nhiệt thành tham cứu Thiền, và luôn nỗ lực dụng công tham Thiền, đạt đến giác ngộ, để đền đáp tứ trọng ân, trong đó có ơn huệ của Thiền Sư chỉ dạy cho chúng con.

- Chúng con được yên tâm tu tập là nhờ quí Đàn na tín thí giúp đỡ, giờ đây, con xin đại diện toàn thể đại chúng trong Thiên đường, thành tâm cầu chúc Thiền Sư pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, để dẫn dắt chúng sanh đến bờ giải thoát.

Chúng con xin lễ tạ Thiền Sư, ngưỡng mong Thiền Sư chứng minh cho toàn thể đại chúng trong Thiền đường.

Đáp từ của Sư Phụ:

- Lời khen tặng của Sư bà Huê Lâm, tôi tự cảm thấy rất hổ thẹn. Bởi vì xưng tôi là Thiền Sư thì thật ra tôi chưa đủ tư cách làm Thiền sư. Trong giải thất kỳ trước, tôi có kể sơ qua về quá trình ra hoằng pháp Tổ Sư Thiền, chưa kiến tánh mà ra hoằng pháp ấy là sự bất đắc dĩ, vì Hòa Thượng đã tuyên bố, nếu không thực hiện, e làm mất sĩ diện của Hòa Thượng. Nhưng đã bắt đầu hoằng pháp thì tôi phải tận bổn phận của tôi, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu, giới Tỳ kheo là có chức nguyện hoằng pháp. Ở trong Thiền tông cũng có lịch sử rằng “Thầy chưa kiến tánh, trò đi tham học ở ngoài trở về, thầy biết đệ từ ấy đã kiến tánh, nên mời đệ tử lên tòa, lễ bái đệ tử làm thầy, sau đó thầy cũng được kiến tánh”, tôi cũng hy vọng như thế. Tôi thì chưa kiến tánh, nhưng tôi hy vọng quý vị mau kiến tánh hơn tôi, mặc dù tôi dạy tham Thiền, nhưng nếu có vị nào kiến tánh rồi, tôi sẽ trở lại lạy thầy đó để tôi được kiến tánh.

Hỏi: Núi Tu-di là chỉ cho pháp thân và hạt cải là chỉ cho tứ đại phải không?

Đáp: Không phải. Ấy là chỉ cho cái lớn nhỏ tương đối:

Núi Tu-di là lớn, hạt cải thì nhỏ, lớn nhỏ tương đối là lọt vào tứ cú, chướng ngại cho sự dụng của Tự tánh. Kinh liễu nghĩa dạy chúng ta vô sở trụ, cũng là nghĩa lìa tứ cú, tức chẳng trừ cú thứ nhất, nhì, ba hoặc bốn.

Hỏi: Trong thời mạt pháp này, áp dụng pháp tu nhĩ căn viên thông của Quán Thế Âm Bồ Tát, có được kiến tánh không?

Đáp: Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói đến nhĩ căn viên thông và giải thích rất rõ. Bây giờ nhiều người chấp lời nghịch ý, không hiểu Kinh Lăng Nghiêm, chỗ này ngài Hư Vân đã có nói rõ: “Chúng ta tham câu thoại đầu tức phản văn tự tánh, tức nhĩ căn viên thông rồi”. Nếu dùng lỗ tai đi nghe, lấy lỗ tai để phản văn thì vĩnh viễn phản văn không được, bất kể nghe trong nghe ngoài đều là nghe vọng, chẳng nghe động thì nghe tịnh, trong ngoài động tịnh đều là nhị.

Nay tôi sẽ dẫn chứng Kinh Lăng Nghiêm, vì dùng kinh để chứng kinh mới rõ. Kệ rằng:

Dùng nghe giữ lời Phật, đâu bằng nghe bản văn?

Nghe chẳng tự nhiên sanh, do tiếng có tên nghe.

Xoay nghe thoát khỏi tiếng, đặt tên NGHE cho ai?

Lấy nghe trì danh hiệu Phật, không bằng tự nghe cái nghe. Nhưng cái nghe đó chẳng phải tự nhiên sanh ra, là vì âm thanh mới lập cái tên “nghe”, nay xoay cái nghe trở về thì thoát khỏi âm thanh, đã thoát khỏi âm thanh thì đặt cái tên “nghe” cho ai? Tức không được gọi là nghe thì làm sao lại dùng lỗ tai để phản văn? ấy là sai lầm. Nên ngài Hư Vân nói “Chiếu cố thoại đầu tức phản văn tự tánh. Nếu không tham thoại đầu, cứ lấy lỗ tai nghe thì phản văn không được.

Trong cuốn Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, từ đầu đến cuối đều tỏ rõ không được chấp lời mà nghịch ý. Tự tánh chẳng phải do mắt thấy được, chẳng phải lỗ tai có thể nghe được, nếu dùng mắt thấy tai nghe, thì sao Kinh Kim Cang lại nói: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”. Bất năng kiến Như Lai tức không thấy được Tự tánh Phật của mình, tức đi lầm đường, không đúng chánh pháp, vĩnh viễn không được thấy Tự tánh Phật.

Hỏi: Cái biết của lục căn trước khi dấy niệm phân biệt là chơn hay vọng?

Đáp: Cái biết của lục căn nếu lọt vào cái “biết” là vọng. Biết là cú thứ nhất, không biết là cú thứ nhì, cho nên Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn”. Kiến văn giác tri hễ lập thì có chấp thật, tức căn bản của vô minh, biết là “trước khi dấy niệm phân biệt” ấy đã là vọng rồi.

Chữ “Biết” này, như trong Kinh Niết Bàn, Phật gọi là thế lưu bố tưởng, thế gian đã lưu hành, gọi biết là biết; còn phàm phu chấp cái biết đó là thật, lọt vào trước tưởng, gọi là điên đảo tưởng. Cho nên, tri kiến lập tri, tức vô minh bổn, nếu tri kiến không kiến lập, không chấp là thật tức Niết bàn. Hễ có biết là lọt vào điên đảo tưởng, mặc dù cái biết đó chưa khởi lên ý phân biệt.

Hỏi: Ngồi Thiền mà niệm danh hiệu Phật, có được coi là tham thoại đầu không?

Đáp: Không được. Tham thoại đầu là phải khởi nghi tình, niệm danh hiệu Phật không phải là câu hỏi. Câu hỏi là dấu hỏi, nên niệm danh hiệu Phật chỉ là niệm Phật chứ không phải tham thiền. Phải có nghi tình mới là tham thiền, nếu không có nghi tình không được gọi là tham Thiền.

Hỏi: Xin Sư Phụ giảng lại sự tích về ngài Văn Thù không thể làm cho cô gái xuất định.

Đáp: Thủ đoạn của chư Phật chư Tổ là muốn chúng ta khai ngộ kiến tánh mới được giải thoát. Ấy là muốn chúng ta nghi, nghi là không hiểu; không hiểu nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Nếu giải thích ra rồi thì không nghi, nghi là nhân, ngộ là quả, không nhân thì không quả.

Ngài Văn Thù Bồ tát là bậc cao, còn cao hơn Phật Thích Ca, lại thị hiện để giúp Phật hoằng pháp, còn Dõng Minh Bồ tát là bậc thấp, muốn hiểu ý đó, phải tham đến kiến tánh mới được.

Thủ đoạn của Tổ rất nhiều, và rất vô lý. Ví như “Con trâu qua song cửa sổ, đầu và tứ chi đều qua được, tại sao cái đuôi không qua được?” Có nghĩa lý gì đâu? Ý của Tổ là muốn chúng ta nghi vào chỗ đó. Tại sao cái đuôi qua không được?

Thường thường, đối với thủ đoạn của Tổ sư, người ta hay lọt vào tình giải ý thức, như Tổ Hoài Nhượng độ Mã Tổ: Vì Mã Tổ chấp ngồi có thể thành Phật, Hoài Nhượng Thiền sư bèn đem mài cục gạch, Mã Tổ hỏi:

- Mài gạch để làm gì?

Đáp: Mài gạch để làm gương.

- Cục gạch làm sao thành gương được?”

Hoài Nhượng Thiền sư hỏi lại: “Thế thì tọa thiền làm sao thành Phật ư?”

- Vậy thì phải làm sao?

Đáp: Ví như bò kéo xe, xe không chạy, phải đánh xe hay đánh bò?

Theo lẽ thường tình thì dĩ nhiên là phải đánh bò mới đúng, nhưng nếu hiểu theo như vậy là sai lầm, ấy là tình giải, là theo ý thức phân biệt, đâu phải tự tánh, chỉ là vọng thôi. Mã Tổ nếu hiểu như thế thì chẳng thể kiến tánh vậy. Cho nên, chỉ cho tâm nghi chứ không cho tâm đi tìm hiểu, tâm tìm hiểu là hồ nghi chứ chẳng phải chánh nghi.

Hỏi: Xin hỏi trong đạo tràng này có ai không kẹt vào chấp lời nghịch ý hay không?

Đáp: Nay tôi hỏi thầy trước: Thầy có lọt vào chỗ này hay không? Nếu có người nào ôm chặt câu thoại đầu tham tới nghi tình thành khối thì người ấy mới thoát khỏi được. Nếu chưa đến chỗ đó, vẫn thoát không khỏi, vẫn còn có cái chấp. Đừng nói là trong đạo tràng này, chính tôi vẫn còn. Cho nên, nếu muốn biết qua ai là người không lọt vào cái chấp này thì phải hỏi từng người một, như mỗi lần cuối thất, lúc giải thất, người chủ thất vẫn phải hỏi từng người một mới biết, mặc dù là Thiền sư kiến tánh như Lai Quả Thiền sư, Hư Vân Thiền sư v.v...

Hỏi: Ai tạo ra vũ trụ này?

Đáp: Ý nói ở trong vũ trụ có một vị cao nhất ư? ấy là tư tưởng của ngoại đạo. Theo Phật pháp thì chẳng có ai là cao nhất, tất cả chúng sanh đều là Phật, chứ chẳng phải là Phật có cao hơn. Tại ông có tư tưởng chấp thật mới đưa ra câu hỏi này. Nếu vũ trụ đã chẳng phải thật, thì có ai thật tạo ra? Nên Phật nói là vô thỉ, tức không có bắt đầu.

Nếu có người thật tạo ra vũ trụ, thì thử hỏi người ấy ai tạo ra? Nếu cho là tự nhiên, thì pháp nào cũng phải bình đẳng, người nào cũng tự nhiên được đâu thể chỉ một người đó được tự nhiên, ngoài ra chẳng ai được?

Phật pháp bình đẳng, nếu một người tự nhiên được thì mọi người đều tự nhiên được; đời xưa tự nhiên được đời nay cũng tự nhiên được.

Đối với vũ trụ vạn vật, Phật pháp nói là “Nhất thiết duy tâm tạo”, do vọng tâm hoạt động mới biến hiện ra, chứ không phải có một vị nào cao nhất để tạo ra. Bây giờ thân của ông rõ ràng do cha mẹ sanh, và cha mẹ của ông cũng có cha mẹ sanh, rồi cha mẹ đầu tiên có không? Giã sử có, từ vô lượng vô biên kiếp có một đôi nam nữ, là cha mẹ đầu tiên của ông, thì tôi xin hỏi: Cha mẹ đầu tiên đó có cha mẹ không? Nếu ở trên còn cha mẹ thì không được gọi là cha mẹ đầu tiên, nếu không có thì hai vị đó từ đâu sanh? Nếu nói là do Thượng Đế tạo ra, ai tạo ra Thượng đế? Cho nên tìm mãi vẫn không tìm ra sự bắt đầu, nên Phật nói là “Vô thỉ”. Nếu có ai chấp thật phải có người tạo ra, ấy là ngoại đạo, chẳng phải Phật giáo.

Hỏi: Vạn pháp duy thức như thế nào?

Đáp: Nói về Duy thức, Phật pháp cũng có tông phái Duy Thức. Như tôi đã nói “Nhất thiết duy tâm tạo”, duy tâm thì duy thức. Bốn câu kệ ở Kinh Hoa Nghiêm:

Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật,

Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo.

Phật cũng là duy tâm tạo, vũ trụ pháp giới, chẳng có cái nào không phải duy tâm tạo. Nói do ý thức biến hiện tức duy tâm tạo, bất kể là do độc đầu ý thức biến hiện nhắm mắt chiêm bao, hay do đồng thời ý thức biến hiện mở mắt chiêm bao, đều là do ý thức biến hiện. Do tâm tạo thì chẳng thật, hễ chấp thật là sai lầm, ngoại đạo chấp nhắm mắt chiêm bao là giả, cho mở mắt chiêm bao là thật, cũng là sai lầm.

Hỏi: Trong Kinh Kim Cang có nói “Tu Đà Hoàn còn biết mình chứng quả Tu Đà Hoàn thì chẳng phải Tu Đà Hoàn”, như vậy, trong kinh Phật còn thừa nhận có quả vị để chứng đắc, thế có trái với tinh thần Thiền tông không?

Đáp: Tôi đã nói “Người tham thiền mà tự nói ta tham thiền” thì không phải người tham thiền. Tham thiền sẽ được ngộ, nhưng nếu có tâm muốn cầu ngộ, chờ ngộ lại chẳng phải rồi, vĩnh viễn không được ngộ.

Tu Đà Hoàn là Sơ quả, còn có cái chấp là chưa được chứng. Ví như từ Chợ lớn đi Sài gòn, hễ đi thì sẽ đến, chứ đâu cần dọc đường cứ phải la lên rằng “Ta đi Sài Gòn, ta đi Sài gòn” đâu!

Trung Phong Thiền sư ở trong Trung Phong Pháp Ngữ khai thị rằng: “Người tham thiền đề câu thoại đầu khởi nghi tình, biết câu thoại đầu thuần thục là không được, biết câu thoại đầu không thuần thục cũng không được”, biết có chứng quả Tu Đà Hoàn hay chưa chứng quả đều không được, biết và không biết là đối đãi, là lọt vào tứ cú, là vọng; biết là vọng biết, không biết là vọng không biết, đều là vọng.

Trong Phật pháp phải phá ngã chấp, bất cứ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, đều phải phá ngã chấp, chứ chẳng phải bỏ bên đây mà chấp qua bên kia, ấy là biên kiến, cũng là lọt vào năm thứ ác kiến.

Hỏi: Theo Thiền tông, chưa phá được Sơ quan mà khối nghi đã bùng vở, thì làm sao nghi tiếp để tiến đến Trùng quan?

Đáp: Đến Sơ quan phá được bổn tham thì bổn tham mất đi, nhưng theo công án của Tổ, có chỗ thấu được và có chỗ chưa thấu được, chỗ chưa thấu được vẫn phải nghi nữa, bởi vì nghi căn chưa cắt dứt, còn phải nghi tiếp cho đến triệt ngộ.

Hỏi: A La Hán có kiến tánh không? Nếu không, làm sao xuất luân hồi? Vì còn căn bản vô minh. Nếu có, Tiểu thừa không có nghi tình, làm sao kiến tánh? Vì như lời thầy nói “Có nghi mới có ngộ, không nghi thì không ngộ”.

Đáp: Theo lời của Tổ, A La Hán chưa phá được căn bản vô minh, chưa kiến tánh, nhưng vì phá được nhơn ngã chấp, nên được ra khỏi sanh tử luân hồi. Sanh tử có hai thứ: Phần đoạn sanh tử và Biến dịch sanh tử. A La Hán phá được ngã chấp, dứt được phần đoạn sanh tử, nhưng vì chưa kiến tánh, chưa phá được pháp chấp, nên chưa dứt Biến dịch sanh tử, cần phải tiến tu thêm. Do chấp quả A La Hán là thật, tưởng đã đến Cứu cánh Niết bàn, nên bị Phật quở là ngu si.

Hỏi: Theo Bát Nhã Tâm Kinh, quét tri kiến Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cho đến Phật. Vậy nếu đã vào hàng Thanh Văn, đã vào hàng Thánh, sao chưa đạt đến trí huệ Bát Nhã mà còn kẹt vào tri kiến?

Đáp: Lời Phật ở Bát Nhã Tâm Kinh là muốn quét sự chấp của chúng ta, không được chấp cái nào là thật, tức vô sở trụ; không được trụ ở bất cứ nơi nào, trụ nơi tri kiến phàm phu cũng không được, trụ nơi tri kiến thừa Thanh văn, thừa Duyên giác, Đại thừa Bồ tát, kể cả tri kiến Phật cũng không được. Lời Tổ có nói: “Hễ trụ nơi tri kiến Phật thì bị Phật trói buộc, trụ nơi Bồ tát thì bị Bồ tát trói buộc, chẳng phải là cái nghĩa Vô sở trụ”.

Nghĩa Vô sở trụ là hoạt bát vạn năng, nếu có sở trụ thì tánh hoạt bát vạn năng bị mất. Hễ có trụ là chưa có tư cách thành Phật, nên tri kiến Phật cũng phải quét.

“Đại tâm vô y”, vô y tức vô trụ. Nên Bát Nhã Tâm Kinh quét sạch tất cả chấp, phá tất cả chấp; cao nhất là chấp Phật, cũng không được. Đến chỗ “Đại tâm vô y” thì sự dụng hoạt bát vạn năng mới phát huy khắp hư không pháp giới.

Lời của Phật, của Tổ, tất cả kinh Đại thừa liễu nghĩa đều là để trị bệnh chấp của chúng ta. Nhưng nói “chấp thật” chẳng phải là không chấp cái Có mà lại chấp cái Không; chẳng chấp cái Chơn lại chấp cái giả, nếu chấp không, chấp giả, chấp vọng thì bệnh chấp ấy càng nặng hơn, càng khó trị, chấp huyễn cũng vậy. Hễ chấp huyễn trụ nơi huyễn, chấp vọng trụ nơi vọng, đều là chấp cả. Tri kiến Phật còn chấp không được, huống là chấp huyễn chấp vọng! Chấp vào chỗ nào là chướng ngại chỗ đó.

Hỏi: Bài kệ của ngài Trung Phong Thiền sư tặng cho Thái tử nước Hàn như thế nào?

Đáp: Bài kệ ấy là:

Đời người giống như huyễn trung huyễn

Trần thế gặp nhau ai là ai?

Cha mẹ chưa sanh ai là ta?

Một hơi không vào ta là ai?

Đời người cũng như huyễn ở trong huyễn, huyễn đã chẳng phải thật rồi, lại huyễn ở trong huyễn, bây giờ ở ngoài thế gian gặp nhau, tự mình còn chưa biết mình, biết ai là ai ? Chỉ biết việc ở ngoài mà chẳng biết mình thì làm chủ cho mình chẳng được chẳng làm chủ cho mình được thì chẳng thể tự do tự tại, phải luôn chịu khổ. Tấm thân này khi cha mẹ đã sanh là ta, lúc cha mẹ chưa sanh ai là ta? Một hơi thở chẳng hít vào thì ta lại là ai? Thai trâu bụng ngựa cũng không biết, làm chó làm mèo cũng không biết.

Hiện nay chúng ta đang khỏe mạnh, nếu không y theo lời của Tổ, của Phật để tham cứu, chỉ biết ở ngoài, chỉ biết người khác mà chẳng biết mình là cái gì, khổ sẽ còn mãi mãi, không biết chừng nào hết.

Hỏi: Khi tham thiền, vọng tưởng nổi nhiều phải làm sao?

Đáp: Không cần để ý đến vọng tưởng, vọng tưởng nổi lên bao nhiêu mặc kệ, đừng biết tới, chỉ chú ý câu thoại đầu, hỏi thầm trong bụng, có hỏi thì có đáp, hỏi không hiểu, đáp không ra, cứ hỏi tới mãi, khi thoại đầu quen thuộc rồi vọng tưởng tự nhiên nổi không lên. Vì nghi tình là cây chổi automatic, khỏi cần tác ý muốn quét, nó tự động quét sạch.

Hỏi: Tại sao nói “Sanh tử là việc lớn?”

Đáp: Trung Phong Pháp Ngữ nói “Phải xem sanh tử là việc lớn”, trong Thiên Thất Khai Thị Lục, ngài Lai Quả nói: “Tự mình có bệnh lớn mà không hay, cứ cho rằng mỗi ngày ta ăn ba tô cơm thì làm sao có bệnh ư? Ấy là bệnh gì? Là bệnh sanh tử vậy”. Bệnh sanh tử này từ vô thỉ đến bây giờ, cứ bệnh hoài, chưa dứt. Tại sao ? Nay chúng ta được cái thân người này, không biết trải qua bao nhiêu kiếp trong thai trâu bụng ngựa, con chó con heo ... mới được thân người, nếu mất thân này rồi, không biết lại phải trải qua bao nhiêu kiếp mới được trở lại làm người nữa. Nên phải biết đến bệnh sanh tử và rất cần trị cho hết, mới được tự do tự tại, không bị sanh tử trói buộc, khiến mình lại phải chịu khổ.

THAM THOẠI ĐẦU LÀ GIẢI QUYẾT VIỆC SANH TỬ. Lai Quả Thiền sư nói: “Bệnh sanh tử chỉ có thuốc thoại đầu mới trị được”, nay chúng ta tham thoại đầu là trúng thuốc trị bệnh sanh tử. Đời xưa ngộ đạo được thì đời nay cũng ngộ đạo được, xưa với nay vốn chẳng khác, khác là do cái chấp tâm phân biệt của mình.

Hồi thời Phật Thích Ca, khi Ngài đưa lên một nhánh bông mà chẳng nói gì cả, trong hội có hơn muôn người, chỉ một mình Ca Diếp ngộ được, ngoài ra một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo, chỉ chứng quả A La Hán, là đi ở nữa đường, chưa về đến nhà. Còn ở Trung Quốc, dưới Mã Tổ có một trăm ba mươi chín người kiến tánh, thế thì chứng tỏ xưa với nay chẳng khác. Nói mạt pháp chuyển thành chánh pháp, hạ căn chuyển thành thượng căn, ấy là do quyết tâm của mình, chứ chẳng phải do đời xưa hay đời nay. Đời nay ít người ngộ đạo vì đuổi theo vật chất, ham hưởng thụ vật chất, chứ chẳng phải người đời nay không bằng người đời xưa.

Hỏi: “Thế nào là Tức tâm là Phật?”

Đáp: Lời nói của Phật, của Tổ chỉ là phương tiện tạm thời đối với đương cơ lúc đó, nên Kinh Lăng Nghiêm nói “Phàm hữu ngôn thuyết, giai phi thật nghĩa” . Trong Kinh Lăng Già, Phật tự nói: “Lời nói của ta chỉ là ngôn ngữ vọng tưởng, đừng có chấp thật”, tức bệnh của chúng sanh là bệnh giả, lời nói của Phật là thuốc giả, lấy thuốc giả để trị bệnh giả, bệnh giả hết thuốc giả cũng vô dụng, chứ chẳng phải có thuốc thật.

Nói đến “Tức tâm là Phật”, trong Thiền tông có một công án:

Ngài Mã Tổ là một vị Tổ rất danh tiếng, dưới ngài có một trăm ba mươi chín người kiến tánh, từ đời Phật Thích Ca đến nay chưa ai bằng. Có người hỏi Mã Tổ:

- Tại sao nói tức tâm là Phật?

- Tại muốn gạt con nít nín khóc.

- Hỏi: Sau khi nín thế nào?

- Chẳng phải tâm chẳng phải Phật.

Nên biết, ấy chỉ là phương tiện tạm thời để gạt con nít nín khóc thôi. Tổ Sư Thiền chỉ chú trọng thực hành, rất kỵ lý luận, chỉ muốn người tham thiền thực hành đến ngộ, lý luận là sở tri chướng, cho nên không cho tâm đi tìm hiểu; muốn hiểu thiền hiểu đạo cũng còn không cho, nói gì đến lý!

Hỏi: “Ngoài bặt các duyên, tâm như tường vách”, có phải là công phu không?

Đáp: Nói “Ngoài bặt các duyên, làm sao bặt được? Nay người đời cứ hễ niệm Phật thì lấy câu danh hiệu Phật trừ vọng tưởng, trì chú thì lấy câu chú để trừ vọng tưởng, quán tưởng lấy cái sở quán trừ vọng tưởng, ấy là sai, nhưng tham câu thoại đầu chẳng phải vậy. Tham thoại đầu không được trừ vọng tưởng, không được buông bỏ vọng tưởng, không được đè nén vọng tưởng. Tại sao? Vì nếu lấy đó làm chánh, mặc dù không có vọng tưởng, vẫn là bệnh, những người khác cho không có vọng tưởng là tốt, nhưng ở Tổ Sư Thiền thì vẫn là thiền bệnh.

Lại, khỏi cần trừ vọng tưởng, vọng tưởng nổi lên bao nhiêu mặc kệ, chỉ đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình, nghi tình là cây chổi tự động quét; không những có vọng tưởng quét, không có vọng tưởng cũng quét. Như tôi đã nói ở trên, cái chánh là trị bệnh sanh tử chứ không phải trừ vọng tưởng, tại chấp vọng tưởng là thật, nên mới có sanh tử.

Hỏi: Xin Sư Phụ giải thích những việc thông thường trong Thiền thất.

Đáp: Nói “Thiền thất” là tham thiềh liên tục trong bảy  ngày. Nhiều người tưởng “thất” là căn nhà, ấy là sai. Cũng như nhiều người Việt cho “bế quan” là nhập thất, kỳ thật, ý nghĩa hai chữ “Nhập thất” ở tiếng Hán là: Vị bổn sư cho phép mấy đệ từ sắp kiến tánh được tự do vào Trượng thất để tham hỏi, tức trong cả ngàn người đệ tử, chỉ có vài chục người được quyền tự do ra vào phòng của Hòa thượng Trụ trì để tham vấn, nên gọi là “Đệ tử nhập thất”, chứ không phải đi vào một căn phòng để bế quan.

Ở chốn tòng lâm hay Thiền đường Trung Quốc, chỉ có tu sĩ, không có người tại gia, khi cử hành Thiền thất, cũng như đi vào trường thi, phải thi đậu kiến tánh chứ không phải để tập tham thiền. Bây giờ ở đây cử hành Thiền thất là để cho tập tham, cách ngồi tự do, không nhất thiết phải ngồi kiết già, sở dĩ ngồi vì đi mỏi thì ngồi, ngồi mỏi thì đi, chứ không phải cần sự ngồi.

Khi xưa không có đồng hồ, người ta đốt lên một cây nhang, ngồi hết cây nhang thì đi, đi hết cây nhang thì ngồi, nên gọi tọa hương và đi hương, bảo hương thì phải chạy như bay. Trong thiền đường có người tuần hương, hễ ai nói chuyện, cười giòn, là phạm qui củ, bị đánh hương bảng. Lai Quả Thiền sư lúc mới vào Thiền đường, một ngày bị đánh bốn trăm hương bảng, nhưng Ngài hai mươi tám tuổi đã kiến tánh.

Hỏi: Xin thầy cho biết con người không sanh tử như thế nào?

Đáp: Muốn biết con người không sanh tử phải đề câu thoại đầu lên tham, rồi mới biết được. Bây giờ tôi nói cho ông biết, ông làm sao biết được? Ví như tôi đã ăn đường thì biết vị ngọt như thế nào, ông chưa từng ăn qua, dù tôi giải thích chữ “ngọt” từ sáng đến chiều, ngày này qua tháng kia, năm này qua năm kia cũng chẳng thể hiểu. Nay chỉ cần cho ông nếm thử một miếng đường thì “ồ”, hóa ra đường là như thế! Cho nên, chỉ có tự mình tham tự mình ngộ, nếu nói ra được là không cần tham rồi!

Chỉ cần Phật Thích Ca nói cho chúng ta biết là được đâu cần tu chi cho cực khổ! Nếu nói ra, cho biết được, ấy là tri giải, chẳng dính dáng đến sự sanh tử.

Pháp môn Tổ Sư thiền này rất kỵ sự tri giải, nay không học tham thiền mà cầu tri giải, là nghịch ý của Tổ sư. Tri giải là của người khác, chẳng phải của mình, như ngài Trung Phong Thiền sư thí dụ “con dấu”, Con dấu là gì? Là lời nói của Phật, của Tổ, do Phật tự ngộ, Tổ từ ngộ rồi nói ra. Nếu lượm những lời nói của Phật, của Tổ mà cho là của mình thì là giả mạo, vì đó chẳng phải của mình, của mình phải tự ngộ mới được.

Hỏi: Cách thức trong khi dựng công tham thiền như thế nào?

Đáp: Lúc tán loạn phải nhắm mắt tham, hôn trầm phải mở mắt tham. Nếu không bị tán loạn và hôn trầm thì mắt hơi mở, không nhắm hẳn. Người tham thiền chẳng cần biết có nghi tình hay không, cứ hỏi tới hoài, nhưng hỏi từ từ, đừng nên hồ gấp quá, không được để ý vọng tưởng, hơi thở, cảnh giới tốt xấu ... tất cả đều không được để ý. Hễ hôn trầm quá thì lấy nước lạnh rửa mặt, hoặc kiếm công việc khác để làm, vừa làm việc vừa tham là tốt. Tổ sư là muốn chúng ta ở trong động hạ thủ công phu, chứ không muốn chúng ta tìm nơi vắng vẻ để tham. Ở trong động tập tham lâu nhập nhưng mau kiến tánh, còn ở nơi vắng lặng tập tham mau nhập nhưng lâu kiến tánh, ba trăm năm không được kiến tánh, muốn mau lại thành chậm, nhiều người sơ cơ cứ cho là ở trong động khó tập, mặc dù khó nhưng lâu ngày cũng có thể thâm nhập được.

Hỏi: Sao tham thiền hay quên những việc ở ngoài?

Đáp: Có quên là tiến bộ, quên là quên việc ở ngoài, còn câu thoại đầu thì không quên. Việc ở ngoài quên nhiều chừng nào tốt chừng nấy, như ngài Lai Quả nói: “Sau cùng phải quên cả thế giới, quên đi thân tâm, mới đạt đến cảnh giới chơn tham”. “Vô tham tức chơn tham”, vô tham tức không biết mình đang tham, quên cả việc đang tham thiền, nhưng nghi tình vẫn còn, lúc đó đã đến thoại đầu rồi, nên những gì thông minh lanh lợi xưa nay trở nên khó ngốc, nhưng thật tế là tiến bộ.

Muốn đạt đến cảnh giới chơn tham, như Lai Quả Thiền sư nói: “Hễ người ta gọi tên tuổi của mình, vẫn biết trả lời được tức chưa phải chơn tham; người khác hỏi mà mình quên cả tên gọi, mới là chơn tham”.

Hỏi: Khi tham thiền quên hết, gặp việc thì thế nào?

Đáp: Chẳng có sao cả, ví như ngài Hư Vân, hai ba tháng quên ăn cũng chẳng sao, lại sống đến 120 tuổi. Chỉ cần giữ được căn bản “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” thì sự dụng của Tự tánh mau được hiện ra, tự động chứ không cần phải lo sợ. Cái gì cũng phải quên, chỉ có thoại đầu là không được quên.

Hỏi: Sao câu thoại đầu có lúc đề lên rõ ràng và có lúc không rõ ràng?

Đáp: Nếu không rõ ràng phải đề chậm một chút, từng chữ một, rõ ràng phân minh, hễ đề gấp quá thì không rõ ràng. Đối với một số người, tâm quá gấp bách, cứ muốn đề mau, dễ khiến thần kinh căng thẳng, ấy cũng không được, phải đề chậm lại, nếu quá căng thẳng phải đề cho thật chậm.

Hỏi: Tại sao chúng sanh tạp dụng tâm?

Đáp: Hàng ngày chúng ta mặc áo ăn cơm là tạp dụng tâm, nhưng Tổ sư đã kiến tánh rồi thì mặc áo ăn cơm không tạp dụng tâm. Tại sao nói mặc áo ăn cơm là tạp dụng tâm? Có một công án: Một ông quan hỏi một vị Thiền sư đã kiến tánh:

- Ngài có tu hành không?

Đáp: - Có chứ.

- Tu bằng cách nào?

- Đói bụng thì ăn cơm, buồn ngủ thì đi ngủ.

- Vậy thì ai ai cũng tu hành rồi! Ai lại chẳng đói ăn mệt ngủ!

- Khác.

- Khác ở chỗ nào?

- Ta ăn cơm chỉ là ăn cơm, còn quý vị ăn cơm chẳng chịu ăn cơm, cứ so đo đủ thứ; ta ngủ chỉ là ngủ, còn quý vị chẳng chịu ngủ, trăm điều suy nghĩ, ấy là tạp dụng tâm.

Hỏi: “Sao gọi câu thoại đầu của mình” và “Câu thoại đầu của người ta?”

Đáp: Ý nói niệm thoại đầu là câu thoại đầu của người ta; nếu chỉ ở trong bụng thầm niệm câu thoại đầu mà không có nghi tình, là câu thoại đầu của người ta. Còn câu thoại đầu của mình là hỏi, vừa hỏi vừa thắc mắc, không hiểu nổi, đáp không ra, hỏi tiếp mãi, ấy là câu thoại đầu của mình.

Hỏi: Thế nào là chánh tín?

Đáp: Tin tự tâm là Phật gọi là chánh tín, tin ngoài tâm có phật là tà tín. Tham thiền phải tin tự tâm, nếu không tin tự tâm thì dụng công thế nào cũng không được kiến tánh. Vì kiến tánh là kiến cái tự tâm, kiến tự tánh Phật, nếu không tin tự tâm thì làm sao kiến? Chỉ tin pháp môn, dù thực hành bao nhiêu năm, cực khổ bấy nhiêu cũng không thể kiến tánh được, nên phải tin tự tâm.

Hỏi: Thiền tông giảng kinh có lọt vào kiến giải như Giáo môn không?

Đáp: Sự giảng kinh của tôi khác hơn các Pháp sư giảng kinh Giáo môn. Vì tôi giảng kinh là muốn mọi người tăng trưởng lòng tin tự tâm, chứ không phải là giải thích giáo lý cho người ta biết thêm về giáo lý cao siêu. Lúc tôi giảng kinh là quét giáo lý, dù giáo lý cao siêu hơn Phật cũng quét luôn, chỉ lấy tất cả tinh thần chú vào câu thoại đầu để được mau kiến tánh.

Hỏi: Sự minh tâm kiến tánh của người tu và học thuyết khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Minh tâm tức kiến tánh, kiến tánh tức minh tâm. Bốn chữ “Minh tâm kiến tánh” với sự thật thân chứng còn cách xa lắm, vì minh tâm kiến tánh là lời nói văn tự, còn thật chứng của mình nói không được, ngôn ngữ tiếp xúc không được, tư tưởng suy lường cũng tiếp xúc không được. Nói “Minh tâm kiến tánh” là giả danh, chỉ là phương tiện đặt ra danh từ để hiểu phần nào thôi, thuộc về lý luận, chẳng phải là thật chứng. Thật chứng phải kinh nghiệm.

Hỏi: Tham thiền có cần cố ý khởi nghi tình không?

Đáp: Bắt đầu tập tham phải cố ý khởi nghi tình, tập cho quen. Còn “dụng công ít phí sức” của ngài Trung Phong nói, là phải lấy việc sanh tử làm thiết yếu; vì không chừng ngày mai là mình chết rồi, chết thì chẳng biết đi về đâu, nay còn mạnh khỏe, phải tranh thủ giải quyết cho xong. Cho nên lấy việc sanh tử làm sự thống thiết, lâu ngày trở nên ít phí sức ban đầu phải từ lạ tập thành quen.

Hỏi: Làm thế nào để tin tự tâm là Phật?

Đáp: Ấy là do chấp thật vào lời nói; lời nói chỉ là phương tiện tạm thời, dù là lời nói của Phật, nhưng hễ chấp thật là sai. Phải ở trong lời nói hiểu ý Phật. Đức Phật thường thí dụ rằng: “Lời nói chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, nếu hiểu theo ngón tay là sai lầm, phải nhờ ngón tay chỉ mà ngó thấy mặt trăng”. Ý của Phật muốn chúng ta nhờ vào ngón tay chỉ mà thấy được mặt trăng, chứ không phải muốn chúng ta hiểu về ngón tay.

Hỏi: Khi nào chư Tổ dùng “khẩu đầu thiền” để khiến người khai ngộ?

Đáp: Khẩu đầu Thiền là nói những người không có ngộ, chỉ mượn nước miếng của người khác để dạy người, nên gọi khẩu đầu thiền, chỉ là nói bằng miệng, với kinh nghiệm thật tế chẳng dính dáng gì.

Sự ngộ là do người tham đến cảnh giới đó được ngộ, chứ chẳng phải là nhờ khẩu đầu thiền được ngộ. Đến khi công phu thành khối rồi, gặp nhân duyên gì cũng có thể được ngộ.

Hỏi: Theo lẽ thường, Sa di theo thầy học đạo 15 năm, khi thầy xét thấy vị Sa di đó có giữ giới, có đạo hạnh, thì thầy mới dạy Thiền. Nếu theo lời Sư phụ dạy, có phải thi phần nào không?

Đáp: Thầy đó không phải là tôi. Tôi dạy pháp tham Tổ Sư Thiền, pháp thiền này ai cũng tu được, bà lão 80 - 90 tuổi cũng tham được, con nít 6 - 7 tuổi cũng tham được, chưa làm Sa di cũng tham được, huống chi đã là Sa di rồi! Còn vị thầy mà cô nói, thầy dạy thiền gì tôi không biết, cho nên không thể nói là đúng hay không đúng. Theo giới luật thì con nít 7 tuổi là có thể làm Sa di, trong giới luật gọi là Khu-ô Sa di, tức biết đuổi quạ là có thể làm Sa di.

Hỏi: Khi tham, câu thoại đầu bị lạc qua câu khác, có được không?

Đáp: Không được, phải trở về câu bổn tham, giữ câu bổn tham của mình, không được lạc qua câu khác.

Hỏi: Thế nào là hữu tình, vô tình thuyết pháp?

Đáp: Hữu tình là do tâm tạo, vô tình cũng do tâm tạo. Nói “Vô tình thuyết pháp” là khi người dụng công tham đến nghi tình thành khối rồi, gặp vô tình nào cũng thuyết pháp cho mình ngộ được, chứ chẳng phải thật có vô tình thuyết pháp.

Hỏi: Thế nào là thấy bản lai diện mục?

Đáp: Thấy bản lai diện mục tức kiến tánh. Ngộ có chứng ngộ và giải ngộ, kiến tánh là chứng ngộ, còn giải ngộ chẳng phải chứng ngộ, đối với sanh tử chẳng dính dáng gì cả.

Hỏi: Làm sao phá bỏ năng tri và sở tri?

Đáp: Không cần phá bỏ. Tôi dạy mọi người không được buông bỏ vọng tưởng, không được đè nén vọng tưởng. Không được phá trừ, cũng không cần tác ý phá trừ, chỉ đề khởi câu thoại đầu tham tới mãi nghi tình là cây chổi tự động quét sạch.

Về vấn đề năng tri và sở tri: Lục căn là dùng để tri, phải không ? Nhưng trong Tâm Kinh nói “Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý”, chữ VÔ là cây chổi để phá lục căn, vì cái tri do lục căn tiếp xúc lục trần, sánh ra lục thức, ấy là vọng tri. Trong quyển 2 của Kinh Lăng Nghiêm, Phật thí dụ rằng do con mắt bệnh nên thấy hoa đốm trên không, thật ra trên không chẳng có hoa đốm! Cũng như thấy có núi sông đất đai, có quốc độ chúng sanh, có Phật, Bồ tát v.v... tất cả đều do con mắt bệnh từ vô thỉ, do có biết mới thấy như thế.

Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri giác nãi chúng sanh”. Có tri giác tức thành chúng sanh. Chư Phật chẳng phải không có tri giác như gỗ đá, nhưng tri giác của Phật chẳng năng sở đối đãi, không có năng tri sở tri, năng giác sở giác, vì năng sở đối đãi là do tâm tạo, là vọng.

Trong Kinh Lăng Nghiêm còn nói “Dẫu cho diệt hết tất cả kiến,văn, giác, tri, trong giữ u nhàn, vẫn là bóng phân biệt của pháp trần”, huống là lấy cái tri của lục căn tiếp xúc lục trần! Có cái tri rõ ràng, cũng là cái vọng rõ ràng.

Hỏi: Tham thiền có cần kiến giải không?

Đáp: Về Giáo môn là phải tìm hiểu giáo lý, nhưng giáo lý chỉ thuộc về lý luận, theo Giáo môn là tín, giải, hành, chứng, bất cứ pháp môn nào, trước tiên phải tin, giải là hiểu, hiểu được giáo lý rồi phải thực hành, có thực hành mới chứng theo từng cấp bậc. Còn Thiền môn cũng có tín, có giải, nhưng sau khi bắt đầu thực hành thì mọi sự hiểu biết, kiến giải phải cắt đứt, gọi là hành khởi giải tuyệt. Nên đã thực hành tham Thiền rồi còn đi tìm hiểu, ấy là hồ nghi chứ chẳng phải chánh nghi.

Hỏi: Tu thiền một thời gian được phát huệ, sau đó lại trở nên khờ khao, vậy có mâu thuẫn không?

Đáp: Đó không phải là mâu thuẫn, mà là tùy theo căn cơ trình độ của mỗi người có khác, nên có sai biệt. Có người phát huệ được tiểu ngộ, tức trải qua nhiều giải ngộ, đó đối với những người ham tri giải có thể được, nhưng không phải cần thiết, vì có một số người sau khi phát huệ tiểu ngộ rồi, lại bị cái huệ đó chướng ngại, chẳng được tiến tới nữa. Đối với những người không cầu tri giải thì khỏi cần tiểu ngộ mà trực chứng đại ngộ, ấy là tốt hơn.

Thật ra việc phát huệ không phải có ích mà là có hại, bởi vì thường do được phát huệ rồi lại tăng thêm ngã chấp, Phật pháp phải phá ngã chấp, nếu không phá được ngã chấp lại còn tăng thêm tà có hại. Nhưng vì lúc ban đầu chỉ có một mình tôi hoằng dương pháp Tổ Sư Thiền, do muốn tăng trưởng lòng tin cho mọi người, nên đưa ra sự thật về việc phát huệ của Phật tử cho người ta dễ tin, sau này lòng tin của mọi người vững rồi, thì tôi nói với Phật tử rằng sự phát huệ đó không cần thiết. Nếu như phát huệ mà không khởi chấp thì còn được, nhưng hễ chấp vào đó thì bị chướng ngại vô cùng.

Bên Giáo môn muốn phát huệ mà không được, còn Thiền môn đạt được phát huệ là phải quét, chẳng những giải ngộ phải quét, chứng ngộ cũng phải quét! Sau khi phá được Sơ quan xong không quét sạch là chẳng thể tiến đến Trùng quan; phá được trùng quan mà không quét thì chẳng thể tiến đến mạt hậu Lao quan. Do đó, chứng đại ngộ rồi cũng còn phải quét, chứ chẳng phải chỉ quét tiểu ngộ mà thôi.

Hỏi: Học thuyết của Lão Trang có giống tông chỉ pháp môn Tổ Sư Thiền không?

Đáp: Khác. Học thuyết Lão Trang còn ngã chấp; chấp chỗ thanh tịnh vô vi là tốt, còn đốt với Tổ Sư Thiền thì thanh tịnh gọi là thiền bệnh. Tổ Sư Thiền lấy Vô Sở Trụ làm căn bản, chẳng lọt vào bên động, chẳng lọt vào bên tịnh, cũng chẳng lọt vào trung đạo, chẳng lọt vào chỗ nào cả.

Hỏi: Mình nhờ người khác cứu độ được không?

Đáp: Trồng bí được bí, trồng đậu được đậu, nếu không trồng bí mà mong cầu Phật cho mình quả bí, có được không? Có nhân mới có quả, không gieo nhân muốn có quả, ấy thành chẳng có nhân quả rồi. Nếu không có nhân quả tạo không có Phật pháp.

Nói đến vấn đề “Cầu”, có cầu là phá hoại nhân quả, tức phá hoại Phật pháp. Nếu khỏi cần nhân mà có quả là không có nhân quả, không có nhân quả thì làm ác cũng chẳng sao, làm ác nhân rồi cầu Phật cho mình thiện quả cũng được vậy! Vả lại, cầu là thuộc về mê tín, Phật pháp là chánh tín, chánh tín phải phá trừ mê tín mới có thể giải thoát sanh tử, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn, nên phải tự độ độ tha.

Hỏi: Thế nào là ác kiến ngoại đạo?

Đáp: Theo Giáo môn, ác kiến có năm thứ: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ:

Thân kiến là chấp cái thân ta là thật, tất cả đều qui về thân ta trên hết.

Biên kiến là chấp về tương đối, chẳng chấp có thì chấp không, chẳng chấp thường thì chấp đoạn, chẳng chấp chơn thì chấp giả v.v...

Tà kiến là chấp không có nhân quả, hễ có sở cầu là lọt vào tà kiến, vì không cần nhân mà mong cầu được quả.

Kiến thủ là chấp vào ý kiến nào cao nhất, ví như nói vũ trụ là do một vị chúa tể nào tạo ra ...

Giới cấm thủ: Ví như ở Ấn Độ có phong tục không ăn thịt heo, vì cho rằng ăn thịt heo không được giải thoát, nay dám phá giới cấm ấy, gọi là giới cấm thủ.

Hỏi: Thiền tông lấy tâm truyền tâm, tại sao lại có truyền y bát?

Đáp: Về việc truyền y bát, bởi trước khi Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc, người Trung Quốc chưa biết pháp môn Tổ Sư Thiền, nên có việc truyền y bát để làm vật tin cho người. Đến đời Lục Tổ thì việc truyền y bát trở thành sự tranh giành, và lòng tin của mọi người đã vững, nên không cần truyền y bát nữa.

Còn về vấn đề truyền tâm ấn, nói là truyền, kỳ thật không phải có tâm ấn thật để truyền, chỉ là trò kiến tánh rồi thầy ấn chứng cho, gọi là truyền tâm ấn. Nhưng đến đời sau này thì dù trò chưa kiến tánh, thầy vẫn ấn chứng, khiến việc truyền tâm ấn bị gián đoạn, tức sự ngộ bị gián đoạn. Thời nay, nói đến chữ “truyền” chỉ là truyền thừa sự thực hành đúng theo chánh pháp mà thôi. Như ngài Hư Vân đã ngộ, nhưng thầy của ngài chưa kiến tánh; Lai Quả Thiền sư đã ngộ mà thầy của ngài cũng chưa ngộ.

Cũng như tôi chưa kiến tánh, chưa được truyền tâm ấn, nhưng vì tôi may mắn biết được cách thực hành tham Tổ Sư Thiền, nên tôi chỉ truyền lại cho quý vị về cách thực hành Tổ sư Thiền. Về cách thực hành, nếu siêng năng, quyết tử tham sẽ được ngộ, còn lôi thôi thỉ chẳng được ngộ. Trong lịch sử Thiền tông, cũng có trường hợp trò được ngộ mà thầy chưa kiến tánh, thầy lễ trò trộ lại làm thầy, còn tâm ấn thì không có truyền nữa.

Hỏi: Tham thiền đến đầu sào trăm thước thế nào?

Đáp: Tham Thiền đến đầu sào trăm thước vẫn còn nằm trong ý thức, công phu thành khối vẫn nằm trong ý thức, phải lìa ý thức mới kiến tánh. Nói KIẾN TÁNH, nếu chấp “thật có Phật tánh” ấy là thêm, nếu chấp “không có Phật tánh” ấy là bớt, tự tánh chẳng thể thêm bớt, nên không thể dùng ngôn ngữ văn tự diễn đạt được, phải tự ngộ tự biết.

Hỏi: Tu hành đến một lúc nào đó sẽ có thần thông, phải không?

Đáp: Theo pháp môn khác như Mật tông thì tôi không biết rõ, nhưng theo pháp môn Tổ Sư Thiền rất kỵ thần thông. Lịch đạt Tổ sư kiến tánh rồi đều có thần thông nhưng không cho ai biết, có khi sơ hở lộ ra cho người biết rồi liền thị tịch. Thần thông là bản tánh mọi người sẵn có, chứ không phải do học mà được, nhưng cái thiết yếu là cần phải đạt đến tự do tự tại, giải thoát vĩnh viễn, còn về thần thông, theo trong Kinh Lăng Nghiêm, tà ma ngoại đạo cũng có thần thông, nhưng chỉ khiến tạo thêm tội địa ngục chứ chẳng thể giải thoát. Cho nên Tổ Sư Thiền rất kỵ thần thông.

Hỏi: Thế nào là “Bọt nước hư không trong biển giác?”

Đáp: Trong Kinh Lăng Nghiêm có thí dụ: “Giác tánh của mình là một biển lớn, hư không chỉ là một bọt nước trong biển, còn các thế giới như thế giới Ta Bà, thế giới Cực Lạc, thế giới Lưu Ly v.v...thì kiến lập ở trong bọt nước đó. Hễ bọt nước bể là hư không tan nát, qui về biển Giác, không có hư không thì thế giới còn không? Thế giới kiến lập ở đâu? Nếu đã hiểu Kinh Lăng Nghiêm thì vấn đề này không cần hỏi nữa.

Hỏi: Kiến tánh rồi có thành Phật không? Như vậy là có sở cầu có sở đắc không?

Đáp: Kiến tánh không phải có Phật để đắc, Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói: “Nếu ta có thật chứng đắc A Nâu Đa La Tam Miêu Tam Bồ Đề, thì Phật Nhiên Đăng đã không thọ ký cho ta thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni, vì vô sở đắc nên Phật Nhiên Đăng thọ ký cho ta thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni”. Sau khi ngộ rồi mới biết trước kia chưa từng mê, thực sự ngộ ấy chỉ là biết mình là cái gì, biết mình đã sẵn có thôi, chứ không phải có đắc thêm cái gì từ bên ngoài.

Hỏi: Trước kia đề lên câu thoại đầu khó khởi nghi tình, nay tham được dễ dàng rồi lại khởi vọng niệm muốn giúp cho người này, người kia, ấy là thế nào?

Đáp: Ấy là do thói quen từ xưa nay, đừng nên để ý, cũng đừng nổi niệm muốn giúp hay không muốn giúp, nói “muốn giúp” cũng không được, nói “không muốn giúp” cũng không được, chỉ để ý câu thoại đầu. Tham Thiền chỉ là một câu thoại đầu, ngoài nghi tình ra, không được nổi thêm một niệm nào, cũng đừng có nói là quyết tử hay không quyết tử. NGOÀI CÂU THOẠI ĐẦU RA, HỄ NỔI LÊN MỘT NIỆM KHÁC LÀ BIỆT NIỆM, LÀ THIỀN BỆNH. Cho dù nổi niệm muốn độ hết tất cả chúng sanh cũng là biệt niệm, muốn hiểu thiền hiểu đạo cũng là biệt niệm.

Hỏi: Dụng công cách nào khi thân thể có bệnh?

Đáp: Chẳng có phương tiện gì khác, chỉ có một câu thoại đầu: Hôn trầm cũng đề câu thoại đầu, tán loạn cũng đề câu thoại đầu, chỉ để ý câu thoại đầu, ngoài ra bất cứ hôn trầm, tán loạn, vọng tưởng, thanh tịnh v.v... cũng chỉ là đề câu thoại đầu.

Lúc vọng tưởng nhiều, không biết tới; lúc không có vọng tưởng, được yên tịnh, cũng không biết tới, đừng có sợ hôn trầm, vọng tưởng, tất cả đều không biết tới.

Hỏi: Phạm tứ trọng giới, tu lại có thành Phật không?

Đáp: Trong Đại Tạng Kinh và Chứng Đạo Ca đều nói: “Tất cả chúng sanh đều được thành Phật”. Tỳ kheo Dũng Thí phạm hai giới Ba la Di: Sát và dâm, sau khi phạm ăn năn sám hối, muốn tự tử và nhảy từ trên cao xuống, nhưng được cứu sống, sau đó quyết tử tu nên nay đã thành Phật. Ý nghĩa của hai chữ sám hối: SÁM là diệt tội phá giới, HỐI là sau này không được tái phạm. Nếu còn tái phạm thì sự sám lần trước không tác dụng, tội còn nặng thêm. Có người buổi sáng sám hối, buổi chiều lại tái phạm, vậy làm sao diệt tội?

Sám hối diệt tội chỉ có thể diệt tội phá giới, còn tội nhân quả thì chẳng thể diệt được, cho nên, khi phạm tứ trọng giới Ba La Di của Tỳ kheo, nếu triệt để sám hối, quyết tử tham thiền có thể thành Phật.

Hỏi: Tham thiền đến khi phát khởi chơn nghi, sự khai ngộ có bằng với chư Tổ không?

Đáp: Nếu đã đạt đến chơn nghi thì có thể khai ngộ bằng với chư Tổ, bằng Phật nữa. Nói Tham thiền kiến tánh thành Phật, ấy là cái lý, còn về sự, do tập khí lâu đời, nên khi kiến tánh thì sự ngộ bằng Phật, nhưng sức dụng so với Phật còn xa lắm, phải dứt sạch hết tập khí thế gian, tập khí xuất thế gian.

Hỏi: Khi tu pháp môn Tổ Sư Thiền, kiến tánh rồi có còn tiếp tục tu nữa không?

Đáp: Nói “Kiến tánh là tự tánh tự hiện, gọi là kiến tánh thành Phật. Tổ Sư Thiền có ba lớp: Sơ quan, trùng quan, mạt hậu lao quan.

- Phá sơ quan rồi cũng gọi là kiến tánh, nhưng chưa rốt ráo, thấy thì thấy nhưng rất mơ hồ, phải tiến thêm .

- Đến khi phá được trùng quan, cũng gọi là kiến tánh, thấy thì thấy rõ, nhưng chính vì còn ghi nhớ cái thấy rõ ấy, còn giữ cảnh giới ngộ, không tan rã được; hễ còn ngộ tức sự mê chưa hết, vì mê với ngộ là tương đối, mê là bệnh, ngộ là thuốc, cảnh giới ngộ còn ghi nhớ trong lòng là không được triệt để cứu cánh.

- Đến chỗ mạt hậu lao quan, cái ghi nhớ, rõ ràng ấy lan rã hết, là đến mạt hậu lao quan, nên nói “Ngộ rồi đồng như chưa ngộ”.

Mặc dù đến đó, phàm phu ngộ cũng đến đó, Thập Địa Bồ tát ngộ cũng đến đó, sự ngộ bằng nhau, nhưng sự dụng thì khác xa nhiều. Tại sao? Vì phàm phu dù ngộ triệt để nhưng tập khí thế gian và xuất thế gian còn nguyên, Thập Địa Bồ tát ngộ triệt để, tập khí thế gian đã sạch, tập khí xuất thế gian còn chút ít, rất vi tế. Nên sức dụng của Thập Địa Bồ tát mạnh hơn sức dụng của phàm phu.

Phàm phu nếu ngộ triệt để rồi tập khí cũng sẽ tự hết dần, cuối cùng cũng bằng với Thập Địa Bồ tát, bằng với Phật, thần thông biến hóa, vô lượng vô biên, tất cả đều sẵn có.

Hỏi: Ơn cha mẹ lớn hay ơn Phật lớn?

Đáp: Ở trong Phật giáo có Tứ ơn: ơn Phật, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn chúng sanh, tứ ơn đều bằng nhau, không có lớn nhỏ cao thấp. Cho nên, Đức Phật hy vọng mọi người đều thành Phật, chứ không có Phật phải cao hơn, chúng sanh phải thấp hơn. Lại, nói đến tứ ơn thì tất cả chúng sanh; Phật, cha mẹ, sư trưởng, cũng là ở trong chúng sanh, nên hễ báo đáp ơn của chúng sanh là báo đáp hết tứ ơn.

Hỏi: Làm thế nào để đền ơn cha mẹ?

Đáp: Nay chúng ta sanh ở kiếp này thì kiếp này có một cha một mẹ, nếu muốn đền đáp công ơn cha mẹ, phải khiến cha mẹ đạt đến tự do tự tại, vĩnh viễn giải thoát tất cả khổ, ấy mới là triệt để. Nếu chỉ nuôi dưỡng cha mẹ thì khổ của cha mẹ không thể hết được. Cho nên, người xuất gia không có nuôi dưỡng cha mẹ, theo thế gian là bất hiếu, nhưng ở trong Phật pháp gọi là đại hiếu. Sao gọi đại hiếu? Dù ở nhà phụng dưỡng cha mẹ, cha mẹ cũng phải già, phải bệnh và cuối cùng phải chết, chết rồi tùy theo nghiệp báo chịu khổ sanh tử luân hồi, không được giải thoát.

Còn người xuất gia, nếu tự chẳng làm tròn bổn phận, tự chẳng giải thoát được là phụ ơn cha mẹ; phải tận bổn phận của mình, tự giác giác tha, tự mình giác ngộ thành Phật rồi, giác ngộ tất cả chúng sanh. Trong tất cả chúng sanh có cha mẹ của mình, chẳng những cha mẹ kiếp này, kể cả cha mẹ từ vô lượng kiếp cũng bao gồm trong đó.

Cho nên, Phật pháp gọi là đại hiếu, hiếu ấy mới triệt để.

Nay chúng ta tham Thiền, nếu siêng năng quyết tử tham đến kiến tánh thành Phật thì được viên mãn đại hiếu vậy.

Hỏi: Phật Quán Âm có ngàn tay, ngàn mắt nghĩa như thế nào?

Đáp: Ấy là hình dung cái dụng của Phật tánh, tức dụng của tự tánh. Phật tánh của mọi chúng sánh đều sẵn đủ sự dụng, vô lượng vô biên, mắt thấy khắp tất cả vi trần vô lương vô biên thế giới, tay có thể lấy tất cả vật trong tất cả thế giới, đâu có hạn chế bởi ngàn tay ngàn mắt! Vì nói vô lượng vô biên thì mọi người khó hiểu, nên lấy ước số một ngàn, chứ chẳng phải một người có ngàn tay ngàn mắt.

Hỏi: Tham thiền có chướng ngại việc làm không?

Đáp: Tham Thiền đâu có cấm người đi kiếm cơm ăn việc làm! Chẳng những không chướng ngại đời sống của mình, còn có giúp ích cho đời sống; người nào làm nghề gì cứ chiếu theo nghề cũ, vẫn nuôi nấng cha mẹ, Tổ dạy là phải ở trong lao động mà tham, lúc đang làm cũng là lúc đang tham, đâu có chướng ngại! Nên tôi thường nói “Tham Thiền đệ nhất, đời sống đệ nhị”, vì nhất thiết do tâm tạo, sinh sống là có nhân quả, còn tham thiền có thể sửa đổi nhân quả, khi tâm lực mạnh rồi nhân quả có thể sửa lại được.

Hỏi: Cầu siêu cho cha mẹ bằng cách nào tốt hơn?

Đáp: Mục đích cầu siêu cho cha mẹ là muốn cha mẹ giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại, phải không? Vậy tụng kinh lễ sám có thể đạt đến mục đích này không? Nếu không được thì phải có cách khác. Ví như Lai Quả Thiền sư nói: “Chỉ có câu thoại đầu mới được giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại”, nếu muốn cầu siêu cho cha mẹ, tự mình phải quyết tử tham thiền, ấy mới là thật tế. Còn về tụng kinh lễ sám, cũng như Lai Quả Thiền Sư nói: “Chỉ gieo trồng được thiện nhân, để muôn ngàn kiếp sau, khi thiện nhân chín mùi mới bắt đầu tham thiền”. Như vậy nay ta bắt đầu tham thiền có phải mau hơn không?

Hỏi: Kiếp này chết rồi, kiếp sau làm sao biết có nhân duyên hay không?

Đáp: Về vấn đề sanh tử, trước mắt chúng ta thấy có sanh tử rõ ràng, nhưng kỳ thật ấy là do vọng tâm của mình ngày đêm hoạt động chẳng ngừng, sanh ra cảm giác sai lầm, mới thấy có sanh tử luân hồi. Tự tánh xưa nay vẫn như thế, vốn chẳng có sanh tử. Hạt giống nhân duyên nằm trong thức thứ tám, cũng như hạt lúa trong kho, dù cất giữ mươi năm, trăm năm, vẫn là hạt lúa, không có mất, khi nào gặp trợ duyên, khởi lên hiện hành rồi mới tàn. Hạt lúa là nhân, nhân công trồng trọt, nước tưới, phân bón, nắng mưa ... ấy là trợ duyên giúp cho hạt lúa trưởng thành, nên gọi là nhân duyên.

Hỏi: Người tham Thiền đối với tình cảm vợ chồng như thế nào?

Đáp: Theo ngũ giới của bậc cư sĩ chỉ cấm tà dâm, không cấm chánh dâm, vợ chồng chính thức thuộc chánh dâm. Còn theo Tổ Sư Thiền thì không để ý những vấn đề đó, chỉ để ý câu thoại đầu. Nếu đã tập trung tinh thần về câu thoại đầu thì những vấn đề trên đều quét sạch. Nay có nhiều Phật tử, xưa kia thích đi chơi, xem phim, mặc áo đẹp, tham thiền một thời gian sau không thích nữa. Đối với tình vợ chồng cũng thế, khi đi đến cảnh giới đó rồi tự nhiên quét sạch. Lại, nếu muốn chứng quả thì tất cả tình cảm cha mẹ, anh em, bạn bè đều dứt, không chỉ riêng tình cảm vợ chồng. Vì hễ tình sanh thì trí cách.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tất cả sát, đạo, dâm đều lọt vào ma đạo, không có sát, đạo, dâm thì lọt vào Cõi Trời, vẫn chưa ra khỏi luân hồi, vì còn ở trong tương đối”. Nên trong Tổ sư Thiền có và không đều quét sạch.

Hỏi: Về công án “Động Sơn qua cầu, Huyền Sa qua núi” như thế nào?

Đáp: Công án và sự tích của Tổ sư rất nhiều, một ngàn bảy trăm Tổ, sau này đến bảy ngàn công án. Nói tóm lại, Huyền Sa qua núi, đá nhằm cục đá liền ngộ; Động Sơn qua cầu, thấy bóng trong nước cũng ngộ ... Bóng nước, cục đá v.v... chỉ là trợ duyên cho sự ngộ, chứ cái ngộ chẳng phải do những thứ đó. Cái chính là do công phu của mình