Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 

 

Đạo Phật An Lành và Tỉnh Thức

 

Thiện Phúc

 

 

 

MỤC LỤC

 

LỜI GIỚI THIỆU

Lời Mở Đầu

  1. Thiền Là Gì?

  2. Thiền Và Thiền Học

  3. Vào Thiền

  4. Thiền Định Của Người Phật Tử Tại Gia

  5. Thiền Cho Xuất Gia Hay Tại Gia?

  6. Thiền Để Chứng Đắc Cái Gì?

  7. Thiền Và Chăn Trâu

  8. Tu Cách Nào Cho Được Định?  Thiền Hay Tịnh Độ?

  9. Phương Pháp Tọa Thiền

  10. Ai Có Thể Hành Thiền

  11. Khi Thiền Mà Nước Miếng Cứ Tuôn Ra Là Sao?

  12. Ngọa Thiền

  13. Thiền Trong Lúc Đi

  14. Thiền Dành Cho Ai?

  15. Thiền Trong Lúc Ăn

  16. Làm Sao Để Có Chánh Niệm

  17. Ba Cõi Và Thiền

  18. Thiền Và Thanh Tịnh

  19. Người Phật Tử Dùng Tâm Nào Để Thiền?

  20. Tu Tâm

  21. Thiền Và Thế Giới Hư Ảo

  22. Tại Sao Tọa Thiền Càng Nhiều Vọng Tưởng Càng Dấy Lên?

  23. Thiền Và Vô Minh

  24. Thiền Và Chánh Niệm

  25. Thiền Là Ném Bỏ Hành Trang cho Kiếp Luân Hồi

  26. Người Mới Bước Vào Thiền Nên Tu Theo Ngài Thần Tú Hay Huệ Năng?

  27. Thiền Và Giác Ngộ

  28. Sống Thiền Thì Cõi Ta Bà Sẽ Trở Thành Niết Bàn

  29. Ngồi Thiền Mà Niệm Khởi Lên Có Sợ Không?

  30. Lúc Tọa Thiền Có Nên Suy Tư Về Một Vấn Đề Gì Không?

  31. Thiền Và Tâm Lý Trị Liệu

  32. Sống Tỉnh Thức

  33. Thiền Và Hơi Thở

  34. Thiền Và Sự Ngưng Suy Tưởng

  35. Thiền Và Sự Căng Thẳng Thần Kinh

  36. Thiền Và Vô Tâm

  37. Hãy Tìm Hiểu Thêm Về Bài Kệ Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma

  38. Thiền Và Sự Không Dính Mắc

  39. Thiền Và Sự Buông Xả

  40. Thiền Và Thế Giới Cực Lạc

  41. Ai Có Thể Dùng Pháp Để Đốn Ngộ Trong Nhà Thiền

  42. Phong Thái Của Người Hành Thiền

  43. Thiền Và Tha Lực

  44. Cái Nhìn Của Người Phật Tử Hành Thiền

  45. Thiền Và Chứng Đắc

  46. Thiền Là Tìm Trở Về Với Cái Phật Tánh Sẵn Có Của Mình

  47. Làm Cách Nào Để Tâm Ta Lúc Nào Cũng Có Chánh Niệm?

  48. Kiến Tánh

  49. Thiền Và Ma

  50. Thiền Và Tám Con Đường Cao Quý

  51. Thiền Và Sự Chú Ý Đơn Giản

  52. Thiền Và Tứ Vô Lượng Tâm

  53. Thiền Trong Đời Sống

  54. Bài Thiền Không Tên

  55. Thiền Và Tâm

  56. Người Hành Thiền Có Nên Phân Biệt Vọng Niệm Để Mà Không Theo Hay Không?

  57. Những Bài Kệ Hay Trong Nhà Thiền

  

LỜI GIỚI THIỆU

Chư thiện hữu tri thức,

Đạo Phật là con đường dẫn đến giác ngộ và giải thoát.  Giác ngộ sự thật muôn đời của vạn sự vạn vật và giải thoát mọi hệ lụy khổ đau trầm thống của chúng sanh là mục đích, là yếu chỉ cho những ai quyết chí tu học theo chánh pháp.

Con đường cao đẹp tuyệt vời ấy, Đức Thích Tôn Từ Phụ của chúng ta đã một lần lên đường và đi đến đích trọn vẹn.  Bằng vào sự nỗ lực tu tập và kinh nghiệm bản thân, Ngài đã hoàn thành chí nguyện cao cả, tự giác, giác tha, và giác  hạnh viên mãn.  Sau khi thành đạt quả vị vô thượng Bồ Đề, Ngài đã dõng dạc tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là những vị Phật đương thành.”  Lời xác chứng nầy cho thấy chúng ta có đầy đủ khả năng và đức tính để thực hiện công trình giác ngộ như Đức Phật nếu chúng ta thực tâm kiên trì trong việc học và hành đúng như lời Phật dạy.  Chúng ta hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi với ngọn đuốc chánh pháp.

Nhằm thực hiện công trình giác ngộ cao thượng ấy, hành giả cần phải trải qua ba giai đoạn tu tập: văn huệ, tư huệ, và tu huệ. Ba yếu tố nầy hổ tương cho nhau, đồng thời chúng trợ giúp hành giả rất đắc lực trong tiến trình học hỏi, tư duy, và nhất là về phương diện hành trì.  Ví dụ nhờ học Phật pháp, chúng ta nhận biết rằng thân người là vô thường tạm bợ: sanh, già, bệnh, chết; cho đến muôn sự muôn vật cũng chỉ là những tấn tuồng huyễn hóa giả tạo: thành, tựu, hoại, không.  Nhờ nhận thức như vậy, chúng ta không chạy theo làm nô lệ cho cái thân giả hợp nầy, chúng ta cũng không cố chấp những việc thị phi trớ trêu thường tình, những đắc thất bỉ thử mà người đời vẫn cứ mải mê đeo đuổi.  Nhờ hiểu rõ được thực trạng của thân và tâm, hành giả sẵn sàng từ bỏ tham dục, sân hận và ngu si vì nhận thức rằng chúng là nguồn gốc của mọi đau khổ và phiền não.  Ba thứ độc hại nầy là động cơ chính đưa đẩy chúng ta vào con đường sanh tử luân hồi, đồng thời chúng cũng là ma chướng cản trở chúng ta trên lộ trình giác ngộ và giải thoát.

Hành giả không những nhận rõ về thực trạng chính nơi thân tâm của mình mà còn thấy biết rõ ràng về tình trạng hiện thực nơi tha nhân, xã hội và ngay cả thế giới nữa.  Bạo lực, thù hận, chiến tranh và sự phá hủy môi sinh đã và đang xô đẩy con người đến một vực thẳm hiểm họa khủng khiếp hầu như vô phương cứu chữa. Con người sống trong xã hội cuồng loạn hôm nay, hơn bao giờ hết, đang cảm thấy một sự bất an toàn diện.  Từ trong phạm vi gia đình, học đường, công sở cho đến ngoài xã hội, hầu hết mọi người đang sống phập phồng trong nỗi lo âu và sợ hãi đủ mọi thứ.  Tình ái, tài sản, công danh và sự nghiệp khi chưa đạt được thì lo lắng mong cầu làm sao đoạt cho kỳ được; đến lúc được rồi thì sợ hãi sầu muộn vì những thứ đó đang từ từ biến mất.  Chủ nghĩa cá nhân, đam mê vật chất và đời sống thác loạn trong xã hội cơ chế kỹ nghệ điện toán đang đẩy đưa con người vào hố sâu của tội lỗi và khổ đau.

Chính nhờ vào năng lực tu tập và quán chiếu tuệ giác qua ba thánh pháp: văn, tư, tu, hành giả không những không tham dự vào sự gia tăng khốn khổ cho bản thân, con người và xã hội mà ngược lại còn tích cực trong việc làm giảm thiểu tình trạng nguy nan mà con người và xã hội thời đại đang khốn đốn đương đầu.  Ngoài ra, hành giả còn biết ứng dụng bốn pháp vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả trong đời sống hàng ngày để đem lại niềm vui và sự an lạc cho mọi người mọi vật và ngay cả cho chúng sanh trong thế giới vô tình như cỏ cây, khoáng vật và thiên nhiên.

Chư thiện hữu tri thức,

Người biết tu tập theo chánh pháp là người đang đi trên con đường giải thoát và giác ngộ, lợi lạc an vui cho bản thân, cho gia đình và xã hội.  Người đó khéo học hỏi và áp dụng pháp tri-hành hợp nhất.  Người đó có đôi mắt sáng suốt và đôi chân khỏe mạnh không ngừng nghỉ, không mệt mỏi trong chí nguyện tự lợi và tự tha, xứng đáng là bậc hiền giả trong xã hội con người vậy.

Trong thời gian hướng dẫn Phật tử trong các khóa tu học tại Đạo tràng Huệ Quang, tôi được đệ tử Thiện Phúc trao bản thảo quyển “Đạo Phật, An Lạc và Tỉnh Thức” với lời thỉnh cầu: “Nhờ Thầy duyệt và bổ túc cho những chỗ cần thiết.”  Tôi đón nhận với tâm hoan hỷ vì đây là một việc làm đáng tán dương trong công cuộc xiển dương đạo pháp.  Tập sách tuy chưa đầy 250 trang với 56 chủ đề liên quan đến Thiền, nhưng tự nó cũng đã nói lên được phần nào đó trong tinh thần hoằng pháp lợi sanh.  Với sự tham cứu Kinh-Luận, những lời chỉ dạy của chư Tăng, và qua thực nghiệm tự thân, tác giả đã thành tâm biên soạn quyển sách nầy với ý nguyện trước cúng dường lên ngôi Pháp Bảo và sau là để chia sẻ phần nào pháp lạc cùng chư huynh đệ đồng học đồng tu.

Tôi đã xem kỹ và bổ chính đôi phần cho phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ trong đạo Phật.  Dĩ nhiên đây không phải là một công trình nghiên cứu về Thiền một cách hoàn bị.  Ngược lại, tập sách nầy nhắm đến vấn đề căn bản và đơn giản tối đa cốt để cung hiến cho những ai mới bước vào ngưỡng cửa tu tập.  Với 56 chủ đề liên quan tới Thiền, tác giả cố ý giúp cho những vị sơ cơ có được một cái nhìn tổng quan tương đối về các vấn đề mà người mới tu tập thường hay gặp phải.  Do vậy, các chủ đề nầy được trình bày một cách cô đọng và ngắn gọn để cho dễ hiểu, thay vì chúng cần phải được tra cứu và phân tích một cách tường tận.  Hơn nữa, các đề tài đề cập trong tập sách nầy được sắp xếp độc lập, không theo một khuôn khổ hay hệ thống nào cả; và do đó, độc giả hoàn toàn tùy nghi muốn xem bất kỳ phần nào, trước hoặc sau cũng được, không nhất thiết phải đọc một cách tương tục.

Hy vọng tập sách nầy sẽ đem lại phần nào pháp vị hỷ lạc cho chư hành giả sơ cơ đang trên bước đường tu tập, nương tựa chánh pháp; đồng thời nó cũng đánh thức cho những ai đang còn mải mê trong vòng lẩn quẩn lợi danh thường tình biết quay về với Phật đạo, phát tâm Bồ Đề, thực hiện chí nguyện tu học cho đến ngày thành tựu quả vị chánh giác.  Đó vốn là tâm nguyện của tác giả, và cũng là tựa đề cho quyển sách nầy vậy.

Tôi nhất tâm tùy hỷ công đức hộ pháp và hoằng pháp của đệ tử Thiện Phúc và đại chúng tu học đạo tràng Huệ Quang.  Chân thành dâng lên ngôi Tam Bảo chứng minh đạo tâm của quý vị và cầu nguyện chư thiện tín, gia quyến cùng pháp giới chúng sanh phước trí nhị nghiêm trong ánh từ quang Phật Tổ.

Với tất cả niềm tin và ý nghĩa trên, tôi xin trân trọng giới thiệu quyển “Đạo Phật, An Lạc và Tỉnh Thức” đến cùng chư thiện hữu tri thức và Phật tử gần xa.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

Tác Đại Chứng Minh

California, mùa An Cư năm Bính Tý (1996)

Tỳ Kheo Thích Vân Đàm

 

THIỀN KHÔNG TÊN

Thật là như vậy, vì không tên nên khó có một ai diễn tả được hết ý nghĩa của thiền. Vì không tên nên thiền không có kích thước và thời gian giới hạn nào.  Nơi nào cũng có thiền, nhiều khi có mà không thấy.  Nhiều khi nó ở trước mặt sờ sờ mà chẳng bao giờ ta nắm bắt được nó.  Không có một từ ngữ nào khả dĩ diễn tả được nên miễn cưỡng gọi là thiền.  Tuy nhiên, một khi đã mang tên thiền thì mọi người lại đua nhau học thiền, nghiên cứu thiền và tu thiền.  Thiền là gì mà quan trọng như thế?  Tại sao gọi Thiền là huyết mạch của Phật giáo chúng ta?

Nếu có một người tu Tịnh Độ đến mà hỏi tôi rằng: Thiền là gi?  Thì tôi sẽ đáp ngay rằng: Thiền là Lục Tự Di Đà.  Đối với một người xuất gia thì Thiền là hòa chúng, là từ, bi, hỷ, xả, vân vân và vân vân.  Còn đối với những người Phật tử tu tại gia thì tôi sẽ đáp rằng Thiền là ăn chay, niệm Phật, là bái sám, tụng kinh.  Còn riêng đối với tác giả của quyển sách nầy thì tôi sẽ đáp ngay rằng: Thiền là thiền, là mây trắng trôi lửng lờ trên bầu trời xanh thẳm, là ánh nhật nguyệt, là xuân sanh, hạ trưởng, thu liễu, đông tàn, là hơi thở, là nhịp điệu của cung đàn, là không tên.

Tóm lại, Thiền là như thế đó.

Nam Mô Tận Hư Không Biến Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo.

Cư sĩ Minh Tuấn

 

THIỀN ĐỊNH TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CHÚNG TA

Thiền Môn mở rộng chốn Ta Bà

Định rõ nẻo đàng chỗ thoát ra

Trong tâm ngoài tánh thể một nhà

Đời nầy thấy rõ chẳng đâu xa

Sống với chơn như khỏi vạy tà

Của cải tiền tài tựa huyễn ma

Chúng sanh giác ngộ kiến Di Đà

Ta Bà Tịnh Độ chính do ta.

Cư sĩ Minh Bình

 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xã hội quay cuồng hiện tại, tâm trạng con người, không nhiều thì ít, đều mang những nỗi lo âu sợ sệt.  Lo sợ già, bịnh, khổ, nghèo, cơ cực, và nỗi lo sợ to lớn nhất của con người từ xưa đến nay vẫn là cái chết.  Chúng sanh đã lăn trôi trong vòng luân hồi sanh tử không cùng không tận cũng chỉ vì những lo sợ nầy.  Vì lo sợ mà cố cưỡng lại luật vô thường.  Vì cố cưỡng lại luật vô thường mà mê lầm gây ra ác nghiệp để rồi từ đó cứ mãi lặn ngụp trong bể khổ sanh tử luân hồi. 

Chính Đức Từ Phụ đã nhìn thấy rõ những điều nầy nên Ngài đã quyết từ bỏ cung vàng điện ngọc, cắt ái ly gia để tìm cho ra con đường giải thoát.  Ngài đã khó công tu trì và đạt thành đạo quả Bồ Đề Vô thượng.  Ngài đã thấu triệt những nguyên lý của vũ trụ và vạn vật.  Ngài đã nhìn thấy trên đường sanh tử của chúng sanh nó trùng trùng điệp điệp những mộng mị, mộng đẹp thì ít mà ác mộng thì nhiều.  Chính vì bị những mộng mị chập chùng ấy mà chúng sanh đã quên mất nẻo về; chúng sanh đã đánh mất quê hương Chân Như, hay nói trắng ra là đã đánh mất chính mình.

Lời dạy của Đức Từ Phụ tuy đã hơn hai ngàn năm trăm năm nay, vẫn là những chân lý hiện hữu tuyệt vời, không thể suy lường và luận bàn được.  Dãy Ngân Hà và những Thái Dương hệ cũng như địa cầu mà chúng ta đang ở, có thể một ngày không xa nào đó, sẽ bị nổ tung và tan ra làm từng mảnh vụn, chứ những lời Phật dạy lúc nào cũng là những chân lý bất di bất dịch.  Giáo pháp của Ngài chẳng những đã đưa con người của xã hội loạn động tại Ấn Độ thời bấy giờ đến chỗ yên vui, mà còn giúp cho con người của muôn vạn đời sau biết đường biết nẻo mà trở về quê hương của chính mình.

Từ vô thỉ chúng sanh đã đi trong bóng đêm dày đặc của vô minh, không biết mình là ai, không biết mình từ đâu tới.  Đến đâu và đi đâu cũng không biết nốt.  Chỉ biết mượn giả làm chân và cứ mãi làm thân “Lữ Khách” dừng hết trạm nầy đến trạm khác.  Đức Từ Phụ, vì lòng từ bi mẫn chúng, đã đem hết những gì Ngài liễu ngộ ra chỉ dạy cho chúng sanh, những mong ai nấy cũng đều giác ngộ như Ngài, và những mong cái thế giới Ta Bà uế trược khổ đau nầy sẽ biến thành một ao sen khổng lồ, ngát hương thanh khiết và thanh tịnh.  Giáo pháp của Ngài tuy có cao siêu vượt cách; tuy nhiên, nó không khó cho những ai thành tâm cầu tu giải thoát, mà nó sẽ khó khăn không cùng cho những kẻ cứ lặn lội trong vòng hí luận của ngôn từ.

Đức Từ Phụ đã ân cần dặn dò chúng đệ tử là đừng phí công biện luận, vì biện luận không khéo sẽ trở thành ngụy biện.  Thí dụ như những ai chưa đầy đủ căn cơ mà còn ăn thịt chúng sanh thì cứ thành tâm mà chấp nhận đi để rồi từ từ chuyển hóa, chứ đừng biện bạch thế nầy thế nọ, càng biện bạch càng sa lầy.  Ngày nào mà chúng ta hãy còn lẩn quẩn trong vòng mê mờ, không nhận ra đường chánh nẻo tà, đem vọng tưởng mà tạo các nghiệp không thiện của việc làm và lời nói, thì ngày đó tâm thức của chúng ta vẫn chưa thực sự trở về nguồn an tịnh.  Muốn có được một đời sống an lạc và tỉnh giác thật sự, chúng ta nên nỗ lực thực hành những lời dạy cao quý của Đức Từ Phụ.  Nhờ vào công phu tu tập hằng giờ hằng ngày, chúng ta có thể chuyển hóa những hạt giống trong tâm thức của mỗi chúng ta, tham lam ích kỷ thành phóng xả lợi tha, nóng giận sợ hãi thành an nhiên bình tĩnh, mê lầm cố chấp thành sáng suốt hỷ xả.  Khi tâm thức chúng ta chuyển đổi trên chiều hướng thượng và giải thoát thì, không những riêng ta được an vui tự tại mà những người chung quanh chúng ta như thân nhân, bằng hữu và xóm giềng xa gần đều được lợi lạc vô cùng do sự học hỏi và hành trì giáo pháp mà mỗi chúng ta ngày đêm thực nghiệm.

Nay nhờ sự chỉ dạy của quý  thầy và qua tham biện Phật kinh, vì thấy quá lợi lạc cho chính bản thân mình, nên tôi quyết biên soạn lại quyển Đạo Phật, An Lạc và Tỉnh Thức.  Quyển sách nhỏ nầy không nhằm mục đích nào cao xa, mà chỉ nhằm giúp giới thiệu cho những ai đang mong mỏi được đi trên con đường thanh tịnh mà năm xưa Đức Từ Phụ đã đi.  Những lời chỉ dạy của Đức Từ Phụ và quý thầy không phải là những kỹ thuật tầm thường mà là những kinh nghiệm thực tiễn.  Những kinh nghiệm chẳng những đã đưa Phật về chỗ vô sanh mà còn đưa các thầy tổ về chỗ tịnh tịch nữa.  Hỡi những ai thực tâm muốn giác ngộ để tu trì giải thoát, hãy vững niềm tin: “Phật là Phật đã thành, chúng ta là Phật sẽ thành.”  Thì như vậy sẽ đưa ta đến chỗ có tâm niệm chân chánh, thực hành đúng phương pháp của Phật dạy, chánh tâm nghiên cứu, và không bao giờ nghi ngờ Phật pháp.  Liễu ngộ được như vậy thì cho dù rừng thiền có mênh mông, nhưng nẻo thiền của chúng ta sẽ hiển lộ.  Đơn giản thôi, hãy hành trì những gì Phật dạy thì không lo gì không được về quê hương mình.  Ví bằng cứ mãi mê chấp thì không sớm thì chầy sẽ rơi vào tà thuyết mê tín mà uổng cho một đời.

Trong quyển sách nầy, quý vị sẽ không bao giờ tìm thấy bất cứ cái gì mà không có lợi lạc cho đời sống của chúng ta.  Quý vị sẽ không bao giờ tìm thấy bất cứ một công án nào.  Quý vị sẽ không cần tới một chút nghi tình nào, hoặc không phải suy nghĩ một chút xíu nào khi hành thiền, mà ngược lại quý vị sẽ chỉ tìm thấy những gì có lợi ích thiết thực.  Quý vị sẽ tìm thấy những lời nói đơn giản mà đi thẳng vào nội tâm và quý vị cũng sẽ thấy rằng con đường duy nhất để tìm lại chân tâm là phải tự trở về với chính mình, thực nghiệm nơi chính bản thân của mỗi chúng ta.

Kính thưa quý bạn,

Thời gian coi vậy mà sẽ không còn nhiều nữa đâu, thoáng một cái mà ta đâu còn ở tuổi hai mươi, rồi thoáng một cái nữa ta đã ba mươi, rồi bốn mươi, rồi năm mươi, rồi hết một đời.  Không lẽ ta đến với cuộc đời bằng tiếng khóc, rồi cũng lại ra đi bằng tiếng khóc của trĩu nặng khổ đau và phiền muộn sao?  Mong cho ai nấy đều sớm quay về với chính thực tại của mình, sống đời tỉnh thức và thực nghiệm nơi chính bản thân mình để một ngày không xa nào đó Pháp Giới Chúng Sanh đều tìm lại được cái chân như thường hằng miên viễn mà chúng ta đã một lần dại dột bỏ quên.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Viết tại California mùa Hè năm 1996

Thiện Phúc

 

1. THIỀN LÀ GÌ?

Nếu những ai cố đi tìm một định nghĩa đặc thù cho Thiền, hoặc những lý thuyết về Thiền, hoặc một công án cho Thiền… sẽ vô cùng thất vọng với quyển sách nầy vì họ sẽ chẳng bao giờ tìm thấy những điều họ muốn đâu.  Ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại những gì mà Đức Từ Phụ cũng như quý thầy đã giảng dạy mà thôi.  Vì thấy nó vô cùng lợi lạc cho mình nên bèn đem chia sẻ cho những ai đang tìm đường nẻo vào Thiền.  Theo Phật, thiền là thực hành cho bằng được cái nhiếp tâm và giữ ý với lòng từ bi bao la.  Chẳng hạn như khi rửa tay, ta biết thứ nhứt ta đang rửa sạch những bụi bặm của thế gian; thứ nhì ta nguyện tâm ta cũng được tẩy sạch; và thứ ba ta mong cho ai nấy đều có được đôi tay sạch như ta, ấy là ta đang hành thiền một cách rốt ráo.  Khi ngồi thiền, lòng ta thanh thản và tĩnh lặng, ta cũng mong cho mọi người được thanh thản và tĩnh lặng như ta.  Khi đại tiểu tiện, ta tống khứ những ô uế bất tịnh, ta nguyện tâm ta cũng tống khứ những thứ tham, sân, si và chướng nghiệp, rồi ta cũng nguyện cho người người đều tống khứ đi những ô uế bất tịnh như ta, ấy là thiền.  Thiền là cái gì đơn giản và dễ thực hiện vô cùng.  Tuy nhiên, thiền cũng là cái gì mà những người hay vấn nan đạo pháp không bao giờ tìm thấy.

Thiền là sự giác ngộ từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày từ cái đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, trò chuyện, làm việc … làm cái gì biết mình đang làm cái đó.  Thiền là sống tỉnh thức, là hòa hợp cuộc sống hàng ngày của chúng ta vào thiên nhiên, một sự hòa hợp trọn vẹn của cả thân lẫn tâm.  Làm những điều trên một cách tỉnh thức là tự tạo cho mình một niềm vui thanh thản tự nhiên và giản dị.  Thiền là sự buông xả một cách thoải mái những động tác cũng như ý niệm hằng ngày.  Thiền là chú tâm nhưng không hề đè nén.  Thiền là biết rõ tất cả những gì đang diễn tiến mà không chạy theo một cái gì cả.  Như chúng ta thấy đó, mỗi ngày chúng ta suy nghĩ, ghi nhớ và cảm nhận không biết bao nhiêu thứ; nếu chúng ta chạy theo các thứ ấy thì thời giờ đâu mà theo?  Thân tâm đâu mà chứa cho hết?

Thiền là bầu trời trong xanh thăm thẳm, không vướng một vầng mây.  Mây có kéo đến rồi kéo đi, ta không màng mời nhận, kềm giữ, hay đuổi chúng đi.  Thiền là hình ảnh nhạn bay qua hồ, nhạn không muốn bỏ bóng lại hồ, mà hồ cũng chẳng buồn lưu giữ chi hình bóng nhạn.  Muốn đạt được tiến trình nầy đâu phải dễ, chúng ta phải trải qua một sự cố gắng tích cực, chứ đâu phải vắng lặng tuyệt đối.  Vắng lặng tuyệt đối làm sao được khi ta vẫn còn có hồ, có nhạn?  Những ai nói rằng họ đã đạt được vắng lặng tuyệt đối là họ chưa bao giờ thiền.  Nếu ta quan sát cho kỹ một chút, lắng nghe một chút ta vẫn thấy có nhạn bay ngang hồ; hồ đây là hồ tâm, nhạn đây là những niệm khởi lên.  Tuy nhiên, nhạn không để bóng lại hồ, mà hồ cũng chẳng lưu chi bóng nhạn.  Lúc đó chúng ta tợ như một bộ máy tinh vi, vẫn hoạt động liên tục mà không hề gây ra một tiếng động nào cả.  Khi nói đến thiền là nói đến kinh nghiệm của từng cá nhân; một kinh nghiệm mà không bút mực nào có thể lột trần được.  Chính vì vậy mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dõng dạc tuyên bố: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật.”

Nên tu thiền với ai?

Những người con Phật tu thiền, cũng sinh hoạt bình thường như bao người, cũng đi, cũng đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ… Tuy nhiên, điểm đặc biệt là khi đi, đứng, nằm, ngồi… họ biết là họ đang đi, đứng, nằm, ngồi… Nghĩa là thiền đã giúp cho họ giữ được chánh niệm, mà chánh niệm là bí quyết thắp sáng thực tại, tạo nên định lực đưa tới trí huệ.  Nếu chúng ta sống mà chúng ta không biết là chúng ta đang sống thì có khác gì chúng ta đang chết đâu?  Thế mà có biết bao nhiêu kẻ đang sống như người chết chung quanh ta, kể cả ta.

Thiền giúp ta tỉnh thức, biết mình đang làm gì, biết ai đang ăn, đang uống, ai đang mải mê lý luận, ai đang tụm năm tụm bảy để đốt cháy đời mình bằng những thị phi, bằng những quên lãng vô tâm.  Với thiền, từ chỗ biết ta đang làm gì, nghĩ gì… ta sẽ có khả năng đánh bật được những đạo quân lạ từ bên ngoài: đạo Phật gọi chúng là Vọng Niệm.  Với thiền, ta vẫn sinh hoạt như bình thường, nhưng ta có ý thức rõ rệt về tất cả mọi động tác, cũng như ngôn ngữ và tư tưởng của ta.

Thiền là áp dụng những tư tưởng chính niệm trong mọi cử động và hành vi.  Như vậy cái gì của thiền cũng đều liên quan đến kinh nghiệm thực tiễn, chứ không bằng trí năng hay sự nghiên cứu mà có được.  Muốn thiền phải dùng trọn bản thân mình và kinh nghiệm làm dụng cụ khảo cứu.  Hễ mình hành trì thì chỉ có mình được chứng; chứ mình không thực chứng được giùm ai, cũng như không ai có thể thực chứng được giùm mình.  Như vậy tụm năm tụm bảy lại để mà thực sự ngồi thiền cũng chưa chắc là đã có kết quả, chứ đừng nói chi tụm lại để bàn chuyện thị phi.  Làm như vậy chẳng những phí thì giờ, mà đôi khi còn làm cho mình loạn động thêm.  Vì thế Phật tử muốn tu thiền phải nên cẩn trọng, nên tìm một minh sư mà thọ giáo, chứ không nên hời hợt, nay gia nhập nhóm “Thiền Ông Bảy” mai gia nhập nhóm “Thiền Ông Sáu…” thì chỉ phí thì giờ vốn dĩ đã không có nhiều của chúng ta.

Khi nào và ở đâu thì ta có thể hành thiền được?  Thiền là sự thức tỉnh thì khi nào và ở đâu mà lại không thức tỉnh được?  Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi nấu nướng, khi lái xe, khi làm việc… Nhất nhất ta đều tập an trú trong chánh niệm, là thiền.  Khi nói chuyện, ta nói vừa đủ nghe, biết ta đang nói gì và đang nói với ai, ấy là thiền.  Khi đóng cửa, đừng làm loạn động người khác, ấy là thiền.  Người đang tập thiền là người đang tập cho mình được hoàn toàn tự chủ đối với bản thân mình và hoàn cảnh bên ngoài; tập cho mình có đầy đủ đại hùng, đại lưc, và đại từ bi; tập coi thường những thăng trầm và vui khổ ấy.  Một người hành thiền có trình độ sẽ không còn bị sai xử và lung lạc bởi tham dục bên trong, cũng như hoàn cảnh bên ngoài nữa.

Ngoài ra người hành thiền có trình độ còn có khả năng nhìn thấy sự thực về bản tánh của nội tâm và thực tại.  Chính cái khả năng nầy nó giúp ta trầm tĩnh hơn, vô úy hơn và sức mạnh tâm linh của ta trở nên lớn mạnh hơn.  Tuy nhiên, ta nên luôn nhớ trong đầu rằng cái khả năng thấy biết nầy không phải là một công trình sưu tầm hay khảo cứu kinh điển nhà Phật, mà chỉ đạt được bằng chính kinh nghiệm hành trì của mình.  Chính vì vậy mà có lắm người hành thiền, vì chấp mà diễn dịch sai đi lời nói của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.”  Chứ kỳ thật, thiền cũng do chính Đức Phật đã truyền lại, mà Ngài đã truyền lại bằng chính kinh nghiệm của Ngài, chứ không bằng kinh điển.  Theo Tổ Bồ Đề Đạt Ma, thiền không và sẽ không bao giờ được trao truyền bằng cách giảng giải và lý luận.  Nó không thể cất chứa được, hoặc nó không thể đi từ kinh nghiệm của người nầy qua người khác được.  Nói tóm lại, những ai mong tìm thiền qua kinh sách, giảng giải, hoặc lý luận… sẽ không bao giờ gặp.  Anh uống trà thì chỉ có anh mới thực chứng được hương vị của trà một cách trực tiếp, chứ không ai có thể thực chứng được giùm anh.  Ai đó muốn thực chứng hương vị trà thì phải tự nâng tách trà lên mà uống, chứ đừng dài dòng văn tự.

Thiền nhấn mạnh đến sự giải thoát bằng trí huệ, chứ không bằng công đức hay phước đức; tuy nhiên đừng chấp vào chỗ nầy mà không đếm xỉa gì đến công đức và phước đức, hoặc giả chê bai những người bòn tu phước đức thì ô hô tự mình dọn đường về địa ngục đấy!  Nói đến thiền, ta nói đến thực nghiệm, chứ không có bút mực hoặc ngôn ngữ nào có thể diễn tả được.  Ngôn ngữ và văn tự chỉ là phương tiện hướng dẫn chúng ta phương cách thiền, chứ vào thiền phải bằng kinh nghiệm hiện thực.  Tại sao?  Tại vì chân lý của thực tại chỉ có thể thực chứng mà không thể diễn tả được bằng ngôn từ.  Vì thế những ai muốn tu thiền phải hành thiền, chứ không phải gia nhập vào một nhóm để chỉ toàn nói về thiền.  Xin hãy đừng nói, đừng rằng, mà hãy hành thiền đi.  Hành thiền để thực sự trở về nhìn thấy bản tánh của chính mình, hãy tự mình thắp sáng đuốc mà soi, phải thấy sự hiện hữu của mình, phải sống đời của mình và phải tự trải qua kinh nghiệm của chính mình.

Tóm lại, thiền là cái gì rất đơn giản, rất sống động, trực tiếp, rõ ràng, không thể khúc mắc, không bí mật… Thiền là cái gì hiện thực, là cụ thể, không trừu tượng.  Những danh từ thuật ngữ như Niết Bàn, Chân Như chỉ là những danh từ trừu tượng, chúng không thể diễn đạt hay biểu hiện cho thế giới thực tại sống động từng giây từng phút được.  Do vậy, thiền không xem những khái niệm phân biệt hoặc những danh từ trừu tượng là cần thiết và quan trọng.  Nếu có chăng thì cái quan trọng của thiền là sự ý thức về sự hiện hữu của thực tại.  Những cái rất đơn giản của thiền rất nhiều khi giúp cho những kẻ đã sống trong quên lãng thác loạn sực bừng tỉnh với chính mình.  Đối với thiền, Niết Bàn và Chân Như không phải là Niết Bàn và Chân Như, chúng chỉ là những danh từ trừu tượng.  Tuy nhiên, thiền không bác bỏ việc nương vào khái niệm để đạt đến thực tại, nhưng thiền dạy ta đừng để bị kẹt vào khái niệm, mà đánh mất đi thực tại.

Với thiền, thế giới sanh diệt, vui buồn, lo sợ, tốt xấu, còn mất… chỉ là những khái niệm của những người còn mang nặng kiến chấp.  Trong thiền, không có phân biệt khái niệm, mà hãy tự trở về thực nghiệm tự tánh của mình.  Đó cũng là con đường duy nhất để tìm lại chân tâm.  Cuối cùng, thiền là sự chối bỏ cuộc sống vô hồn, thác loạn và lãng quên, mà tự trở về với ý thức linh mẫn của chính mình, của thực tại.  Sự tỉnh táo hoàn toàn nầy nếu không được gọi là “giác ngộ” thì sẽ không còn sự giác ngộ nào hơn nữa.

2.  THIỀN VÀ THIỀN HỌC

Người tu thiền nên nhớ sự khác biệt rõ ràng giữa Thiền và Thiền Học.  Thiền là trở về với thực tại, sống thức tỉnh và thực nghiệm kinh nghiệm nơi chính bản thân mình để thấy được tự tánh.  Người tu thiền tuy nói là không có văn tự, nhưng vẫn phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện để đưa ta đến chỗ vô niệm.  Dùng ngôn ngữ có nghĩa là nương theo ngôn ngữ mà thực chứng, chứ không chấp chặt vào ngôn ngữ.  Tu thiền mà chấp chặt vào ngôn ngữ thì không có chút hy vọng gì trở về với thực tại và tỉnh thức được, chứ đừng nói chi đến tự tánh.  Phải không chấp chặt thì thế giới hiện tượng mới từ từ tan biến để nhường chỗ cho thế giới chân như.  Hai thế giới ấy chúng quấn lấy nhau, không tách rời nhau; tuy nhiên hễ thấy cái nầy thì quên mất cái kia, cũng như gió và không khí.  Lúc không có gió thì không khí vẫn có đó, nhưng ta dường như không để ý đến, đến khi có gió thì ta mới đào sâu đến sự hiện diện của không khí.  Lúc đào sâu như vậy là lúc ta đang về với thực tại, là ta đang tỉnh thức.  Để tới một lúc nào đó, không có gió mà ta vẫn như nhận biết có sự hiện diện của không khí, ấy là ta trở về với tự tánh của ta.  Như vậy thiền chỉ xuyên qua thực nghiệm, không thực nghiệm là không có thiền.

Thế nào là Thiền Học?

Thiền học chỉ là một môn học như những môn học khác.  Thiền học chẳng khác nào những thực đơn của nhà hàng; ai học thiền là chỉ đọc những thực đơn ấy mà thôi.  Chừng nào vừa học vừa hành thiền, chừng ấy mới gọi là kêu những món ra để ăn.  Như thế rõ ràng Thiền không phải là Thiền Học.  Thiền là sống trực tiếp với thực tại mà không cần phải hiểu biết về Duy Thức Học, không cần phải giỏi về lý luận và khái niệm, thậm chí cũng không cần phải biết chữ.  Thiền bằng thực chứng, còn Thiền Học phải dùng văn từ, ngôn ngữ, và lý luận.  Chính vì thế mà có những kẻ đã từng học thiền ba bốn chục năm mà chưa từng thực sự hành thiền ngày nào.  Học chỉ giỏi về lý luận và khái niệm, chứ chưa bao giờ thực sự thực nghiệm nơi chính bản thân mình.  Thấy rõ như vậy để những ai muốn thực sự hành thiền đừng bị mắc kẹt vào Thiền Học mà phí đi thì giờ vô ích, có khi là cả một đời người.

3.  VÀO THIỀN

Trong đời sống hằng ngày chúng ta đã và đang bị bao vây bởi quá nhiều sự vật và hiện tượng ở quanh ta.  Sự vật thì muôn hình vạn trạng, còn hiện tượng thì muôn mặt khó lường.  Chẳng hạn như nhà cửa, xe cộ, núi non, sông ngòi, thành thị, thôn quê, tình bạn, kẻ thù… Chúng ta thường đi lạc vào trong đó như lạc vào một khu rừng vô minh không có lối ra.  Trong khu rừng vô minh đó, nhiều khi ta cũng bắt gặp một vài niềm vui nho nhỏ, nhưng chỉ ngắn ngủi, ngắn ngủi như cái vô thường của sự vật, vì vậy mà ta thường đau khổ và phiền não triền miên.  Chính vì nhìn thấy những nỗi đau khổ phiền não của chúng sanh mà Đức Từ Phụ ngoài việc nói pháp ra, Ngài còn chỉ cho chúng sanh làm sao thoát ra khỏi cái vũng lầy đau khổ bằng cách thực chứng nơi bản thân mình.  Ngài đã ngồi suốt bốn mươi chín ngày đêm, Ngài đã trở về thực chứng nơi chính mình.  Ngài đã không nói: “Ta ngồi thiền,” vì thiền đã không và sẽ không bao giờ có thể giảng giải được bằng lời.  Ngài ngồi đó, hình ảnh Ngài vẫn còn đó như một tấm gương rạng ngời cho muôn đời sau.

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Từ Phụ đã chỉ rõ cho chúng ta về ý nghĩa của Thiền.  Thiền là trở về tìm lại kho báu nhà mình. Mình có kho báu, mình có ngọc trân châu mà mình cứ mãi đi tìm ở đâu đâu.  Đức Từ Phụ đã nói về anh chàng cùng tử lang thang nơi xứ người, sống chật vật, nghèo nàn, khổ sở.  Rồi một hôm, chàng sực nhớ quê hương cũ, liền trở về quê.  Về quê rồi chàng mới vỡ lẽ ra cha mình là một ông trưởng giả và chàng là người có quyền thừa hưởng kho gia báu nhà mình.  Đâu phải Đức Thế Tôn cần ngồi thêm bốn mươi chín ngày dưới cội Bồ Đề thì Ngài mới chứng quả, mà Ngài đã thực chứng tự thuở nào.  Sở dĩ Ngài ngồi đó là muốn cho chúng sanh biết rằng pháp giải thoát của Ngài không riêng gì chỉ trong kinh điển, mà cũng là tại cái chỗ ngồi nầy nữa.  Ngài đã ngụ ý rất rõ ràng là chúng sanh phải vừa biết Phật pháp để tiến tu, mà cũng phải vừa thực chứng những kinh nghiệm nơi chính bản thân mình.  Kinh nghiệm thực chứng hay là “Thiền” nầy chỉ có tự mình thực chứng, chứ không có ai có thể làm giùm mình, ngay cả Phật cũng không làm được điều đó.

Theo Phật, ai cũng có hạt châu trong chéo áo, có điều là chúng sanh vì mãi dong ruổi trong mê lộ nên không nhận ra là mình có của báu.  Bây giờ trở về thực chứng nơi chính bản thân mình thì mới khám phá ra là mình đâu có nghèo hèn mê muội như mình tưởng.  Bây giờ đã thấy rõ ràng không lầm lẫn là mình không nghèo thì cho dù có ai chê ta nghèo, ta cũng mỉm cười mà rằng, họ nói gì cũng được, ta không buồn, không vui, không thù, không ghét… đó là cái lợi lạc thực tiễn của thiền đấy.  Ngoài ra, vào thiền ta chẳng những tạo cho mình niềm tin vững vàng nơi bản thân, mà còn làm vơi đi hoặc mất hẳn những lo âu phiền muộn trong cuộc sống.  Con đường vào thiền là con đường ở nội tâm, ở thực nghiệm nơi chính bản thân mình.  Đọc sách thiền, bàn luận thiền, lý luận về những khái niệm của thiền sẽ chẳng có ích lợi gì mà chỉ làm cho những buổi trà dư tửu hậu thêm phần loạn động, thế thôi.  Muốn thực sự vào thiền, xin hãy tự mình đi, đứng, nằm, ngồi cho mình; đừng kêu ai đi dùm mình, cũng đừng phê bình ai đi thế nầy, đứng thế nọ, chỉ thêm vô bổ và chỉ phí thì giờ mà thôi.  Kiếp con người không có là bao hết so với thời gian của vũ trụ; mặt trời đã năm tỉ tuổi rồi đó, thì bảy tám chục năm, hoặc một trăm tuổi của ta có là cái gì?  Thôi hãy dẹp đi những buổi trà dư tửu hậu vô bổ, hãy về mà ngồi lại cho chính mình, đừng để cho một ngày một giờ nào trôi qua vô bổ nữa; hãy can đảm lên quý bạn ạ!  Đời người cứ mãi sướng rồi khổ, khổ rồi sướng, có khác chi một quả bóng khi phồng khi xẹp.  Như vậy tội nghiệp cho một kiếp con người quá.  Hãy trở về với thực tại, hãy sáng suốt mà chặt đứt cái phồng xẹp của khổ đau và vui sướng tạm bợ nầy ngay trong đời nầy, kiếp nầy.  Hãy cùng nhau vào thiền để có đủ cái bi, trí, dũng của nhà Phật hầu chuyển cuộc sống đau khổ loạn động ra an nhiên tự tại.

Là Phật tử nên luôn chẳng những nhớ lời dạy của Đức Từ Phụ, mà còn phải noi theo những gì Ngài đã làm để ít ra cũng được đi theo dấu chân Ngài, hoặc giả cùng nắm tay Ngài thong dong tự tại nơi cõi không cùng không tận của thế giới Vô Sanh.  Hãy sống đời giản dị cả trong đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, cách sống, cách làm việc, nghỉ ngơi và suy tư.  Hãy quay đầu lại mà nhận diện cho ra lẽ thật ngay nơi mỗi người của chúng ta.  Hãy kiên gan bền chí mà buông xả cho được thế gian pháp để trở về sống với lý chân thật của mình.  Nơi đó không là đồng quê, rừng rậm, thôn quê, thành thị, núi non, đồng bằng hay biển cả, mà là nơi của vô sanh, của thanh tịnh vĩnh hằng.

4.  THIỀN ĐỊNH CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA

Với người xuất gia, trước khi tham thiền nhập định thì phải giữ giới thanh tịnh, ở chỗ yên vắng, dứt lìa mọi ràng buộc của tham lam, ái dục, và gần gũi thiện tri thức.  Phải nương theo cái giới luật cũng như không tạo ra những tội ngũ nghịch.  Phải kiên tâm gìn giữ từ trọng cho đến khinh giới.  Phải có đầy đủ niềm tin nơi luật nhân quả luân hồi, phải biết kinh sợ và khởi lòng hổ thẹn khi làm việc không đúng… Lúc tọa thiền phải vào nơi yên vắng không ồn ào, càng cách xa thế tục càng tốt.  Chẳng những vậy, người xuất gia còn không tạo ra sự nghiệp thế gian.  Ngoài ra phải biết xa lìa ngũ dục từ sắc, thinh, hương, vị, và xúc của thế gian.  Chính ngũ dục làm cho phàm phu mê đắm.  Hình dáng kiều diễm của nam nữ, những âm thanh du dương trầm bổng, những mùi hương, vị ngọt hoặc xúc chạm của da thịt mềm mại chỉ là những vé tàu suốt đưa ta về địa ngục.

Chúng ta lúc nào cũng bị nhiễu loạn và chi phối bởi ngũ dục.  Vì ngũ dục mà chúng ta cứ mãi tìm cầu; tìm cầu cái gì chúng ta cũng chả biết.  Vì ngũ dục mà chúng ta cứ mãi đi thâu góp những rác rưởi của thế gian; càng tom góp càng hăng, như lửa được thêm củi.  Khi tâm ta được tương đối tịnh, chúng ta sẽ trở nên những người quan sát, chứ không còn bị ngũ dục khống chế nữa.  Lúc đó ta sẽ thấy rằng tham, sân, si và dâm dục nó tàn độc lắm.  Người chạy theo nó cũng giống như người đạp phải rắn độc, hoặc giả giống như loài kên kên dành thịt thúi mà cứ cho là ngon.  Chính vì vậy mà trước khi vào thiền ta ngăn che và canh giữ, không cho những tên giặc cướp tham lam và dâm dục vào nhà vì hễ còn ưa thích dục lạc là sống chết vẫn còn chưa đoạn dứt.

Ấy là những bậc xuất gia, còn tại gia mà có lòng phát tâm tu thiền thì sao?  Tại gia vẫn có thể tu thiền; tuy nhiên, lời Phật dạy lúc nào cũng là một chân lý: Thứ nhất, hễ còn ưa thích dục lạc là luân hồi sanh tử chưa đoạn dứt.  Thứ nhì, giới là con thuyền đưa ta đáo bỉ ngạn; không giữ hoặc phá giới là tự đâm lủng thuyền, đừng nói thiền, cũng đừng nói đến chuyện đáo bỉ ngạn.  Như vậy người tại gia khi tu thiền phải vô cùng cẩn trọng vì coi chừng bị ma Ba Tuần nó dắt ta vào ma cảnh và cái trí huệ mà ta có được chỉ là trí huệ của loài ma.  Chính vì thế mà ta thấy có hiện trạng “cuồng” xảy ra cho một số người sau thời gian tu thiền.  Lúc chưa tu thiền thì con người còn điềm đạm, nói năng còn khiêm nhường, nhưng sau một thời gian ngồi thiền thì con người trở nên ngã mạn cống cao, đi đâu cũng tự xưng là thiền sư, gặp ai cũng nói chuyện chứng đắc, hết thiền nầy đến thiền khác.  Tội nghiệp thay cho những con bọ hung đang chui rúc trong những đống phẩn hôi thúi mà cứ cho là thơm tho.  Người tại gia nên thấy đó mà hãy ráng giữ gìn giới luật trước khi vào thiền; đừng tham nhiễm thế lạc; hãy bớt vướng mắc và ham muốn đi thì mới mong vào được trong thế giới của thiền.  Nếu không xả bỏ được hoàn toàn những ham muốn của trần tục, thì ít ra cũng giữ được năm giới mà Phật đã dành cho những đứa con tại gia của Ngài.

Tóm lại, người Phật tử tại gia, dù không thực hiện được hoàn toàn những điều mà người xuất gia đã làm, cũng quyết khiêm nhường, quyết nhứt tâm, nhứt ý giảm thiểu những tham lam, dâm dục để khi vào thiền, cho dù chưa đạt được quả vị vô thượng đi nữa, thân tâm cũng an lạc lắm vậy.

Những điều mà người tại gia nên luôn nhớ trong khi tu thiền:

**Không cống cao ngã mạn vì cống cao ngã mạn rất dễ bị ma Ba Tuần nó lôi vào ma cảnh.

**Luôn biết hãy còn tham lam dâm dục là luân hồi sanh tử vẫn chưa đoạn dứt cho dù ta có tu cả triệu năm đi nữa.

**Hãy coi tham dục như những con ma Ba Tuần và quyết không làm bạn với chúng.

**Sân hận là oan gia của pháp an lạc, là nguồn gốc của ác đạo.  Chính cái sân hận nó giết chết sự an lạc và vô ưu của ta.  Vì thế ta luôn về nương nơi Tam Bảo, phải chóng tu từ bi và nhẫn nhục.

**Không nghi ngờ và vấn nan Phật pháp.  Nếu có điều gì còn chưa thông thì xin gặp minh sư mà hỏi cho thông trước khi nhập vào cuộc tu thiền.  Một khi đã nhập vào cuộc thì tâm phải tín.  Nếu không thì chẳng những tai hại cho mình mà còn cho người nữa.  Nghi mình thì cho dù có thiền hai ba chục năm cũng chả bao giờ có định.  Nghi thầy sẽ chẳng bao giờ học hỏi được điều hay lẽ thiệt nơi thầy, mà còn nay chỉ trích sư nầy, mai chỉ trích sư kia.  Dưới mắt mình, mấy thầy không giỏi bằng mình.  Nghi pháp sẽ sanh tâm phá đạo.  Người nghi như kẻ luôn đứng trước ngã ba đường, vì nghi nên không biết lối nào nên đi.

5.  THIỀN CHO XUẤT GIA HAY TẠI GIA?

Hành thiền ngoài chuyện trở về với thực tại, sống tỉnh thức, thực nghiệm bản thân để thực chứng chân tâm; thiền còn giúp trị rất nhiều bịnh như cao máu, ép tim, căng thẳng thần kinh, lo âu, phiền muộn… Sự xen kẽ giữa thiền và kinh hành sẽ làm cho máu chạy đều trong cơ thể.  Không chỉ tọa thiền ta mới có thể an trú trong chánh niệm, mà ngay cả khi đi, lúc đứng, lúc ngồi, khi làm việc tại văn phòng cũng như trong cơ xưởng, hoặc ngoài đồng áng… chúng ta vẫn có thể hành thiền.  Phật đã nói: “Phật pháp bất ly thế gian pháp, hoặc giả nếu không có đời thì cũng không có đạo.”  Thiền cũng vậy “Không có sự giác ngộ ngoài cuộc sống thường ngày.”

Bấy nhiêu đó đủ cho chúng ta thấy thiền không chỉ dành riêng cho người xuất gia.  Người xuất gia dù sao cũng có nhiều điều kiện hơn, không vướng bận gia đình, họ có thể an trú trong một thiền thất ở nơi vắng vẻ, không bị chi phối nhiều với cuộc sống bên ngoài.  Do đó mà công cuộc tiến tu của họ có phần dễ thành công hơn những người tại gia.  Tuy nhiên, những người tại gia vẫn có thể nghiên cứu và hành trì thiền, hoặc tại chùa, hoặc tại nhà.  Nếu hành thiền tại nhà, cư sĩ tại gia nên cần được sự hướng dẫn của một minh sư và của một số thiện tri thức thật tâm, thật tình.  Nếu cư sĩ tại gia mà đi đúng đường, hành đúng cách, vẫn có thể thiền có kết quả; tuy nhiên, phải cần kiên trì và rất nhiều thời gian.

6.      THIỀN ĐỂ CHỨNG ĐẮC CÁI GÌ?

Thiền là trở về với thực tại, là sống tỉnh thức, là hiện thực kinh nghiệm của chính bản thân mình, hoặc giả chứng nghiệm chân tâm.  Như vậy trong thiền không có chứng đắc.  Những ai mong cầu chứng đắc không phải là tu thiền.  Tại sao vậy?  Tại vì cả thực tại, tỉnh thức và chân tâm ta đều có sẵn, chỉ tại mê mờ mà ta đã lỡ dại dột đánh mất.  Nay thiền là tìm lại, chứ chứng đắc cái nỗi gì?  Chân tâm, theo Phật dạy, không phải được phát sanh do sự chứng ngộ vì chân tâm không sinh, không diệt thì làm gì do cái nầy hay cái kia phát sanh được.  Chúng sanh cho dù có lăn trôi trong luân hồi sanh tử dưới nhiều hình thức khác nhau đi nữa, chân tâm vẫn vậy, vẫn không sanh không diệt.

Như vậy người tu thiền nên nhớ mà đừng đợi bất cứ cái gì từ bên ngoài, đừng cầu chứng đắc.  Có đối tượng đâu mà chứng đắc?  Người tu thiền chỉ nên cố mà “Tìm trở về với thực tại, sống tỉnh thức để có thể quay về với cái chân tâm thường hằng bất sanh bất diệt của mình.”  Người tu thiền mà sống được như vậy đã là có đời sống giác ngộ của thiền rồi.  Hãy dẹp bỏ đi mọi khái niệm, mọi lý luận cho sự chứng đắc.  Chừng nào không còn ngôn từ nào nữa mà tự mình quay về với tự thân để nhìn thấy bằng thực nghiệm tự tánh của mình, chừng đó chúng ta đã hoàn toàn quay hẳn về với tự thể chiếu sáng của ta, chừng đó ta không còn bị thống trị bởi thế giới của sinh diệt, của vui buồn, lo sợ, đẹp xấu, mất còn, thương yêu, giận hờn, chừng đó là ta đã thật sự sống trong cái thế giới giác ngộ của thiền.

7.  THIỀN VÀ CHĂN TRÂU

Vọng tâm là căn bịnh chính gây ra cho con người không biết bao nhiêu là đau khổ và não phiền.  Chính cái vọng tâm nó che mờ lương tri và thúc đẩy ta chạy theo những dục vọng.  Nó là đám mây đen che phủ sự trong sáng của bầu trời.  Vì nó mà cái tâm vốn sáng suốt và tĩnh lặng của ta trở nên u tối và loạn động; cũng chính vì nó mà ta không còn biết đâu là chơn, đâu là giả để phải ôm giả làm thiệt.  Vì nó mà ta không phân biệt được đâu là tà, đâu là chánh, đâu là hay, đâu là dở…

Đức Từ Phụ đã dạy rằng muốn cho ta đừng chạy theo dục vọng mà phải lãnh lấy khổ đau thì cách duy nhất là phải chận đứng vọng tâm.  Thế nào là vọng tâm?  Tâm là cái gì mà chả bao giờ có ai thấy được nó; tuy nhiên, nó còn cao nặng hơn Ngũ Hành Sơn.  Ngũ Hành Sơn chỉ đè Tôn Ngộ Không có năm trăm năm, còn tâm nó đã đè nặng xuống thân phận bé bỏng của con người từ vô thỉ.  Thế mới thấy “Tâm” là đầu mối của mọi việc.  Chúng ta bắt nguồn từ một cái gì bao la thăm thẳm như bầu trời không một vẩn mây.  Thế rồi chính từ “Tâm” mà ta lạc bước vào những khu rừng vô minh không có lối ra.  Chúng ta lạc hết bước nầy đến bước khác; đi đến muôn vạn nẻo đường để rồi bây giờ không biết mình là ai. 

Không biết mình từ đâu tới, tên thật là gì; mình muốn làm gì và muốn đi đâu, mình cũng không biết nốt.  Hết ngày nầy qua năm khác, chúng ta cứ mãi dong ruổi đi tìm, mà tìm cái gì chính mình cũng không biết.  Tìm chưa được cái nầy thì đã mất cái kia… Cái “Tâm” mà bấy lâu nay dong ruổi, lạc bước để cho ta đến nỗi phải thân tàn ma dại ấy là vọng tâm.  Một người khéo tu, đừng dong ruổi nữa, đừng dài dòng biện luận nữa, mà hãy tìm cách kéo nó lại.  Tâm ta bấy lâu nay như một loài trâu hoang, đã dậm đạp và phá hại biết bao mùa màng của ta và của người, thế mà ta vẫn vỗ tay đồng tình.  Bây giờ tu rồi, thì trâu có đi hoang, ta kéo nó về.  Trâu có dậm đạp lúa mạ, ta cột nó lại… Cứ làm và làm mãi như thế cho đến khi trâu thuần mới thôi.

Mục đồng chăn trâu bằng dây vàm xỏ mũi, bằng những tiếng la hét, hoặc bằng những ngọn roi không nương tay.  Còn ta chăn tâm bằng gì?  Tâm chẳng phải ở trong, chẳng phải ở ngoài.  Mở mắt ra cũng không thấy, mà nhắm mắt lại thì càng không biết nó ở đâu.  Tâm không có thực thể, không có hình tướng.  Tâm chẳng phải là sự va chạm bên ngoài, mà cũng không phải là sự suy nghĩ bên trong.  Mắt thấy, tai nghe cũng không phải là tâm vì những người mới chết, mắt và tai họ vẫn còn đó, nhưng họ có thấy và có nghe được đâu?  Nếu nói rằng sự hiểu biết phân biệt là tâm thì khi rời cảnh vật hiện tiền, có còn sự hiểu biết phân biệt nữa không?  Nếu không thì sự hiểu biết phân biệt cũng chẳng là tâm.  Nói đến tâm, càng nói càng khó hiểu.  Nếu ta đi sâu vào tâm thì không một bút mực nào có thể diễn tả cho cùng tột.  Vậy ta cứ tạm gọi tâm là cái “Thấy biết chơn thật” đi.  Cái thấy biết chơn thật nầy nó không cùng, không tận.  Nó như bầu trời trong, xanh thẳm, không một vẩn mây.  Nó không giả, không thật, vì hễ nói có “thật” ắt có “giả.”  Cái thấy cùng với cảnh vật bị thấy cũng lại như vậy, đều là thể tánh của chân tâm.  Trăng chỉ có một, không thật, không giả.  Nếu ai vẫn còn chấp có cái thấy và cái bị thấy, ấy là vọng chấp.  Cái chơn tâm nầy không tự nhiên mà có, cũng không do nhơn duyên mà sanh ra.  Nếu phàm phu chúng ta để tâm suy nghĩ và dùng lời để bàn luận về tâm thì chẳng khác chi những người quơ tay chụp bắt lấy hư không, chỉ thêm mệt chứ có bắt được gì đâu?  Có ánh sáng hay không có ánh sáng thì cái tánh thấy biết chơn thật nó vẫn còn đó; ta vì vọng chấp mà cho là không thấy biết, thế thôi.  Chính cái chỗ khó phân biệt nầy mà đa phần phàm phu chúng ta cứ mãi nhận giả làm chơn, rồi cứ tiếp tục lăn trôi trong dòng sanh tử luân hồi.

Thay vì thẳng đường đi, chúng ta không làm, mà chúng ta dừng hết trạm nầy đến trạm khác, góp nhặt hết rác rưởi nầy đến rác rưởi khác.  Theo Đức Phật thì tâm là cái gì vẫn thường còn khi rời cảnh vật hiện tiền.  Phải hiểu cho rõ lời Phật dạy thì ta mới có cơ trụ nó lại được.  Lời Phật dạy rất đơn giản và dễ hiểu: “Cái gì vẫn thường còn khi rời cảnh vật hiện tiền, đó là cái tâm.”  Như trên đã nói, mục đồng chăn trâu bằng giây vàm xỏ mũi, bằng những tiếng la hét, hoặc bằng những ngọn roi không nương tay… Tay cũng phải chăn giữ “Tâm” ta bằng những cách tương tự, cũng không nương tay bởi vì hễ hở ra một chút là nó vuột chạy.

Chúng ta lấy gì để chăn giữ “Tâm?”

Theo Đức Phật thì con đường duy nhứt để phát trí huệ rồi từ đó nhận biết được chơn tâm là phải trì giới và thiền định.  Không trì giới thì đừng nói đến chuyện thiền và chuyện định.  Làm sao mà định cho được khi con vượn vẫn còn chuyền hết từ cành nầy qua cành khác?  Như vậy, người Phật tử, dù xuất gia hay tại gia, muốn chăn giữ “Tâm” mình cho chuyên chính phải hội đủ ba điều kiện cần yếu:

  1. Dùng giới luật nhiếp phục tự tâm;

  2. Phải giữ giới tâm mới sanh định;

  3. Phải có định thì tâm mới phát trí huệ.

Biết rõ như vậy, nếu tâm chúng ta vẫn còn tham lam, dâm dục thì khoan hẳn ngồi thiền vì cho dù có thiền vạn kiếp đi nữa thì luân hồi sanh tử vẫn còn đó.  Tu hành là quyết chí buông bỏ trần lao, mà hãy còn tham lam dâm dục tức là chưa buông bỏ.  Theo Đức Từ Phụ thì những ai một mặt muốn tu, mặt khác vẫn còn tham lam dâm dục thì cho dù có phát trí huệ cũng sẽ bị đọa vào ma đạo.  Đối với loại người nầy trí huệ càng cao thì ma phẩm càng cao.  Ma chúa chẳng  hạn; nếu thấp một chút thì làm ma dân.  Chính vì vậy mà trước khi nhập diệt, Đức Từ Phụ đã ân cần dặn dò Ngài A-Nan rằng: “Vào thời mạt pháp, chúng ma rất thịnh trong thế gian, ưa làm việc tham dục, xưng là thiện tri thức của chúng sanh, nhằm lôi kéo chúng sanh thay vì bước nẻo Bồ Đề, lại đi vào hầm tà kiến, để rồi cuối cùng phải đi vào địa ngục với chúng.  Như vậy nếu tu thiền mà không đoạn lòng tham lam dâm dục thì cũng như người nấu cát mà muốn cho thành cơm thì cho dù có đời đời kiếp kiếp cũng không thành.  Đem tâm dâm dục tham lam ra mà cầu quả Phật thì chỉ có lòe được những ai nhẹ dạ, chứ làm gì ra khỏi được tam giới và luân hồi sanh tử; mà vẫn còn ôm cái gốc của luân hồi sanh tử thì đừng nói chi đến chuyện Niết Bàn.  Như vậy, trước khi muốn thiền định, hãy đoạn trừ tham lam, dâm dục, đoạn từ thân đến tâm; đoạn cho tới lúc chỗ nào cũng tinh khiết rồi hẳn tính chuyện thiền, hay là Bồ Đề phật quả…” Khi dạy A-Nan lời nầy Phật không có ý làm nản lòng nản chí những ai muốn phát trí huệ bằng con đường “Thiền.”  Tuy nhiên, Phật muốn cảnh tỉnh chúng sanh đừng để bị lọt vào lưới rập của bọn Thiên Ma Ba Tuần.  Phật muốn chúng sanh đừng phí thời giờ dong ruổi thêm nữa, hãy bắt đầu từ trì-giới, hãy dùng tường vách của giới luật mà giữ “Tâm” ta lại rồi hẳn nói đến chuyện thanh tịnh, Niết Bàn.

8.  TU CÁCH NÀO CHO ĐƯỢC ĐỊNH?  THIỀN HAY TỊNH ĐỘ?

Tu cách nào cũng được định, miễn ta nhiếp tâm tu là được định, chứ không nhứt thiết phải tu theo thiền hay tịnh độ.  Tuy nhiên, thiền giúp chúng ta biết chúng ta đang làm gì, thấy gì và nghĩ gì… tức là chúng ta được yên ổn phần nào mặc dù chỉ yên ổn trong động, nhưng cũng làm cho chúng ta thấy cuộc sống của chúng ta có phẩm chất hơn và có ý nghĩa hơn.

Tại sao chúng ta phải định? Và định cho ai?

Cuộc sống hằng ngày của chúng ta tùy thuộc rất nhiều ở môi trường chung quanh và chịu hoặc bị ảnh hưởng từ nếp sống gia đình đến xã hội.  Nếu chúng ta quay cuồng trong đó, thì tâm của chúng ta vốn dĩ đã động, sẽ động hơn.  Nếu chúng ta không quay cuồng trong đó, thì ta sẽ bị nó đào thải.  Vậy chúng ta phải làm sao?  Câu trả lời duy nhất là hãy đạt cho được sự tương đối thanh tịnh trong cái loạn động đó.  Muốn được như vậy, chúng ta phải làm gì?  Muốn được như vậy, chúng ta hãy đem thiền vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Thiền là gì?  Đã có quá nhiều định nghĩa cho thiền.  Ở đây chúng ta không muốn đóng góp thêm chi một định nghĩa nữa.  mà chúng ta muốn nói lên cái gì đơn giản nhất, thế thôi.  Thiền là sống với chánh niệm, đơn giản như vậy đó.  Thiền là trở về với thực tại, là sống tỉnh thức, là thực nghiệm chính nơi tự thân mình để tìm về tự tánh.  Thiền là biết rõ ràng ta đang làm gì và không vướng mắc bởi những ý nghĩ không ăn nhập gì đến chuyện ta đang làm.  Thiền là sự an lạc thật sự cho tâm hồn.  Lúc thiền, cả ý nghĩ, lời nói và hành động đều được kiểm soát.  Thiền là mầm tạo ra niềm vui, niềm an lạc và xóa đi những mầm gây ra đau khổ.  Thiền là trở về tìm cái đẹp nơi chính ta.  Thiền và chánh niệm là hai người bạn đồng hành, luôn sát cánh bên nhau để tạo nên sự tỉnh thức tuyệt vời.  Nếu nió tu thiền mà tâm không chánh niệm, còn vọng động, không biết mình đang làm gì, ấy không phải là tu thiền, mà có thể là tu ma cũng không chừng.  Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã khẳng định: “Bao giờ không có chánh niệm, bao giờ không có ngộ, bấy giờ không có thiền.”

Như vậy lúc thiền, không cần rườm rà thêm thắt, chỉ cần tĩnh lặng trong tâm là đủ.  Từ tĩnh lặng ta mới có sự tỉnh thức và từ đó ta mới có đủ sáng suốt để mà tự tại.  Từ đó ta mới có khả năng an nhiên.  Niệm tới, cứ để chúng tới, ta không mời, không thỉnh, không chạy theo; niệm đi, ta cứ để chúng đi, chứ không buồn cầm giữ, mà cũng không đuổi.  Nói thì nói vậy, trên lý thuyết thì dễ, chứ thực hành cho được như vậy quả là thiên nan, vạn nan.  Tâm ta nó như con vượn chuyền cây thì làm sao mà ngồi yên cho được?  Nếu như tâm nó không chịu ngồi yên thì hãy cho nó làm một cái gì đó để nó đừng chạy đông, chạy tây nữa.  Chẳng hạn như kêu nó kiểm soát hơi thở, hít vào thở ra, hoặc đếm số từ một đến mười, rồi lại tiếp tục đếm ngược lại từ mười đến một, cứ thế mà làm, thì nó chạy đi đâu?  Thế là thiền đã dẹp tan những “vọng tưởng,” cái bịnh chung của chúng sanh.  Tuy nhiên, có người cho rằng thiền phải là cái gì cao siêu cơ, chứ ngồi đếm hơi thở, hoặc ngồi đếm số thì dễ quá.  Ờ, thì dễ nói, nhưng không dễ làm đâu các bạn ạ!

Kiếm ai để dẫn dắt ta trên bước đường hành thiền?  Hãy tìm đến các vị thầy hoặc sư cô đã có nhiều thực nghiệm về thiền để nhờ dẫn dắt và chỉ cách cho thiền.  Tuy nhiên, ông thầy quan trọng nhất vẫn chính là ta.  Nếu ta chịu khó trở về với chính ta, không sớm thì chầy chúng ta cũng sẽ an lạc.  Tại sao vậy?  Tại vì chịu trở về với chính ta thì nhứt định ta sẽ nhận ra được cái tâm chân thật của chính mình, mà cái tâm chân thật là gì nếu không phải là Phật tánh?  Đã thấy và hằng sống với cái Phật tánh thì Phật quả là chuyện không xa.  Hãy luôn nhớ lời dặn của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Thiền là bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật.”  Nghĩa là trong thiền chỉ có thực nghiệm, chứ không có biện giải.  Những ai đi tìm thiền trong kinh điển, hoặc lý giải, hoặc biện luận, đều là những người điên đảo.  Đó chính là tâm ý của Tổ.  Ngài nói như vậy để chúng ta đừng nên phí thêm thì giờ với khái niệm và lý luận; chứ làm gì có chuyện ngoài giáo lý của Phật Đà, vì nếu ngoài thì đã là tà ma ngoại đạo rồi còn gì.  Thiền chỉ cho ta thấy đạo qua mọi phương tiện; đừng mắc kẹt vào phương tiện mà sẽ không thấy được đạo.  Kinh điển như tấm bản đồ vẽ dấu chân và hướng đi của con voi, nếu ta nương theo đó mà tìm đến voi thì được, ví bằng chỉ biết tấm bản đồ thì sẽ không bao giờ tìm được đến voi, hoặc giả không nhờ đến bản đồ thì cũng không tìm được voi.  Hiểu như vậy thì ta nên dung hòa, đừng quá chấp vào phương tiện, cũng không nên đả phá phương tiện.  Không có phương tiện thì sẽ không có Niết Bàn; ví bằng đã đến Niết Bàn rồi mà còn ôm chặt phương tiện thì sẽ khổ sở hơn là lúc chưa tới.

Tâm ta đầy dẫy những niệm, vọng niệm cũng có, mà chánh niệm cũng có.  Chúng khởi lên rối bời, mà chúng ta lại lầm chấp chúng là cái tâm của ta, cho nên có khi nào ta thấy tâm ta an đâu.  Bởi tâm không an, nên ta mới tìm cách làm cho nó an.  Vấn đề ở đây là chúng ta có cái gọi là “Tâm” hay không?  Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nói: “Hãy nhìn thẳng lại nó, thử xem nó có thật hay không cái đã, rồi hãy cầu an cho nó.  Nếu nó không thật, hãy để tự nó tan biến, ấy là an, là định.”  Chỗ niệm không khởi là “vô niệm” hay là “không tâm.”  Bởi thấu triệt được cái lẽ “không” mà Lục Tổ Huệ Năng đã bước vào cửa nầy bằng bài kệ:

Bồ Đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bản lai vô nhứt vật

Hà xứ nhạ trần ai

Bồ Đề vốn không cội, gương sáng cũng không đài, xưa nay không một vật, chỗ nào dính trần ai?  Tuy nhiên, bước vào và giải thoát là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.  Phàm phu chúng ta, có khi cũng bước vào vậy, có khi cũng ngộ vậy, nhưng nay ngộ, mai mê.  Như thế thì làm sao mà giải thoát?  Muốn giải thoát thì trước tiên biết mình cũng có tánh giác và phải biết rằng tánh ấy vốn thanh tịnh, không sanh, không diệt, tự nó nó đầy đủ, tự nó không dao động… Mà đã từ muôn ức kiếp, chúng ta quên bẵng nó, rồi cứ đi lang thang khắp nẻo luân hồi, tạo nghiệp ngập trời, thọ vô tận khổ.  Hãy can đảm lên mà bước theo con đường của Đức Từ Phụ; hãy đi như người thức tỉnh, nhớ tới đường về quê, không còn lê bước lang thang.  Đó là hình ảnh giác ngộ để đi đến giải thoát của đạo Phật.

9    PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN

Tại sao lại tọa thiền? Nói cho đúng ra đi, đứng, nằm, ngồi cũng đều thiền được cả.  Tuy nhiên tọa thiền vẫn được dùng hơn vì tọa thiền dễ đi vào định hơn cả.  Chính Đức Phật đã tọa thiền mà thành đạo, và sau khi thành đạo rồi, Ngài vẫn tiếp tục tọa thiền.  Tọa thiền chẳng những giúp ta đi đến thanh tịnh, mà nó còn giúp ta điều hòa khí huyết trong thân thể nữa.

Trước khi ngồi thiền, đi đứng nằm ngồi đều thong thả, nhẹ nhàng và buông xả.  Tâm không nên phiền não hay bực tức về bất cứ chuyện gì.  Muốn tọa thiền, trước nhất phải có tọa cụ, tức là gối để ngồi, đường kính khoảng ba tấc, bề dầy khoảng một tấc.  Nếu không có tọa cụ, có thể xếp mền làm tư lại mà ngồi.  Khi ngồi chỉ để phân nửa, hoặc một phần ba bàn tọa lên gối.  Có thể hơi ngả về phía trước một chút; đường xương sống cho thật thẳng đứng.  Chỗ ngồi thoáng, không lộng gió mà cũng không bít bùng.  Hơi thoáng một chút là được.  Nhiệt độ không quá lạnh, mà cũng không quá nực vì ta ngồi thiền chứ đâu phải hành xác.  Ánh sáng vừa đủ, sáng quá thì dễ bị phân tâm, mà tối quá thì dễ bị buồn ngủ.

Lúc ngồi nên để cho xương cùn ở ngay giữa tọa cụ vì cả trọng lực của ta sẽ tì lên đó.  Sau khi an vị rồi nên nghiêng qua nghiêng lại cho yên chỗ mới bắt đầu nới rộng dây lưng và cổ áo rồi kéo chân ngồi.  Có thể ngồi:

  1. Bán già, chân trái để lên đùi phải và bàn chân phải đặt dưới đùi trái (kiết tường); hay chân phải để lên đùi trái và bàn chân trái để dưới đùi phải (hàng ma) cũng được; lúc nào hai đầu gối cũng nên chạm sàn nhà.

  2. Nếu ngồi kiết già, chân trái đặt lên đùi mặt và bàn chân mặt trên đùi trái; hoặc chân mặt kéo lên đùi trái và chân trái để lên đùi phải; nên kéo sát vào thân; hai đầu gối nên chạm sàn nhà.

  3. Ngồi theo kiểu Thái Lan, hai chân không chéo lên nhau, mà chân này đặt trước chân kia, cả hai đầu gối đều chạm sàn nhà.

  4. Ngồi theo kiểu cổ truyền của Nhật Bổn, hai đầu gối chạm sàn nhà, hai bàn chân đặt dưới tọa cụ, tọa cụ ép giữa hai mông và hai bàn chân, sức mạnh toàn thân sẽ giảm nhiều với tư thế ngồi nầy.

  5. Ngồi trên một cái ghế thấp, hai chân lòn dưới ghế, thế ngồi nầy sẽ thoải mái cho những ai hơi nặng ký lô.

  6. Ngồi trên ghế cũng được, những vẫn phải có tọa cụ, xương sống phải thẳng, hai chân nên buông thẳng.

Thế ngồi đã xong, giờ lấy bàn tay phải để lên bàn tay trái, hoặc ngược lại.  Những ngón tay chồng lên nhau.  Hai đầu ngón cái vừa chạm nhau ngay chiều của rún.  Hai bàn tay để lên lòng hai bàn chân.  Nếu lòng bàn chân quá trũng, có thể chêm thêm khăn sao cho hai bàn tay ngang nhau.  Trong khi ngồi, giữ cho lưng thẳng; tuy nhiên, đừng quá cố gắng, đừng gồng, đừng kênh… Đầu hơi cúi và mắt mở một phần ba, sao cho ta nhìn thấy chót mũi và mặt sàn nhà cách mình chừng ba tấc.  Gương mặt bình thản, nếu có một nụ cười tự nhiên càng tốt.  Nên chuyển động thân vài lần trước khi vào thiền.

Lúc bắt đầu thiền, thở khoảng ba hơi dài; thở vào bằng mũi và thở ra bằng miệng.  Hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, tưởng chừng như tất cả phiền não bịnh hoạn đều theo hơi thở ra ngoài hết.  Sau đó miệng ngậm lại cho môi răng kề nhau và bắt đầu chỉ thở nhẹ và đều bằng mũi.  Thở không cho nghe tiếng càng tốt.  Cứ như thế mà hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.  Thở đều đều một cách tự nhiên, đừng nghĩ ngợi gì cả, ngay cả chuyện tĩnh lặng và mỉm cười vì trong thiền chúng chỉ là những vọng tưởng mà thôi.  Nếu tâm ta vẫn còn loạn động thì ta có thể bắt nó đếm số.  Hít vào một hai ba, thở ra bốn năm sáu… Tiếp tục như vậy và chỉ như vậy thôi.  Nếu có vọng niệm nào chạy đến, ta cương quyết không theo, mà không theo thì nó sẽ qua đi.  Tập như vậy cho đến khi không còn vọng tưởng là định, đừng đòi hỏi một cái định nào khác.  Định mà còn có thể diễn tả được chỉ là vọng định.  Cứ như thế, lâu dần sẽ thành thói quen và tu được thanh tịnh lúc nào không hay.  Ngồi khoảng một hoặc hai tiếng đồng hồ ta có thể xả thiền.  Với người mới tập, có thể ngồi chừng hai mươi phút, hoặc nửa giờ cũng được.

Làm sao để trị những niệm khởi trong lúc thiền?  Đừng nghĩ gì đến việc đối trị là trị vậy.  Trong lúc ta chưa thiền thì biết bao nhiêu là niệm mà kể cho xiết; tuy nhiên, vì quá loạn động nên ta nào có hay biết gì.  Đến lúc thiền rồi thì tâm ta tĩnh lặng hơn; do đó mà niệm dấy lên, ta biết ngay.  Biết mà không theo, không cầm giữ, cũng không đuổi vì còn cố ý đuổi là còn bị vọng niệm chi phối.  Khi vọng niệm dấy lên mà ta thấy khó lòng dửng dưng xin hãy tự niệm: “Vọng niệm, vọng niệm, vọng niệm.”  Cứ như thế cho đến khi chúng lặng bớt.  Khi vọng lặng thì tâm lặng; mà khi vọng lên ta liền biết vọng mà không theo.  Cứ như thế, một lúc sau vọng sẽ thưa dần và im bặt.  Nếu vọng tưởng quá mạnh, ta nên tạm thời trụ tại một điểm nào đó trong thân thể; tuy nhiên, hai điểm tốt nhất là rún và chót mũi.  Đến khi niệm đã im bặt rồi thì cũng không còn nên trụ vào đâu nữa.

Khi xả thiền, từ từ động vai, động đầu, cúi, ngước, nghiêng phải, nghiêng trái chừng vài ba lần.  Dùng mũi hít vào, thở ra bằng miệng cũng chừng vài ba lần.  Sau đó từ từ chà xát hai bàn tay rồi đem úp vào mắt, hai tai và sau ót, chừng vài ba lần tùy ý.  Từ từ duỗi hai chân ra; dùng hai tay xoa bóp hai bàn chân; dùng hai ngón tay cái ấn nhẹ vào bên dưới của hai mắt cá non (mắt cá bên trong) của đôi bàn chân, phương cách nầy sẽ kích động các huyết mạch chân và làm cho chân mau bớt tê.  Xong rồi nên xoa bóp toàn thân từ đầu đến chân.  Nên nhớ rằng tất cả mọi động tác đều phải rất từ từ và nhẹ nhàng.  Ngồi yên độ một hoặc hai phút, ta bắt đầu từ từ đứng dậy.  Nếu ngồi một mình trước bàn thờ Phật thì nên xá Phật; còn nếu ngồi với thiền hữu thì đứng dậy chấp tay xá thiền hữu, sau đó quay lên bàn Phật xá Phật một cái.  Nếu có điều kiện nên đi kinh hành, chừng năm hoặc mười phút cho thẳng chân.  Có thể đi trong phòng, nếu phòng rộng; hoặc có thể đi xung quanh nhà.  Lúc đi kinh hành cũng giống như lúc tọa thiền, chân bước thẳng mà nhẹ nhàng, tâm không động.  Nhấc chân lên và để chân xuống thật nhẹ nhàng.  Tâm vẫn biết có những chuyện xảy ra chung quanh; vẫn biết có vọng mà không theo.  Vọng niệm cứ đến rồi tự nhiên đi.  Khi đi ta vẫn hằng an trú trong chánh niệm.  Được như vậy, từng bước ta đi là sen nở cho ta và cho người.

Tóm lại, tu thiền là muốn cho dù sanh dù tử vẫn tự tại; khi sống cũng như khi chết, mình luôn làm chủ lấy mình, cả thân lẫn tâm.  Lúc thiền thì tâm không sát sanh, trộm cướp, tà dục; khẩu không nói điều lỗi lầm xấu ác, thêm bớt, lường gạt, bất chánh; ý không tham, sân, si.  Chính nhờ thiền mà ta có thể quán sát và nhận xét một cách khách quan những tập quán tệ hại do bản ngã gây ra.  Mục đích trước mắt của thiền là mở mang trí huệ và làm cho sáng thêm tâm tánh.  Thiền giúp ta không chạy theo những loạn động cũng như những vọng niệm.  Thiền là biết rằng vọng tâm phức tạp, dao động và không có thật, nên ta không theo nó.  Mọi người đều biết rằng mục đích của tu thiền là an nhiên, tự tại và giải thoát ở đời nầy, kiếp nầy.

10. AI CÓ THỂ HÀNH THIỀN?

Ai cũng có thể luyện tập thiền được cả; tuy nhiên, muốn có được kết quả thì người hành thiền ít nhất phải giữ giới, tối thiểu là ngũ giới cho người tại gia.  Với những ai bận rộn và nhiều lo lắng trong cuộc sống hằng ngày, thiền sẽ giúp họ bớt căng thẳng thần kinh, tâm hồn lắng dịu và quân bình được sự xung đột giữa lý trí và tình cảm.  Với người nhiều muộn phiền đau khổ, thiền sẽ giúp họ tăng thêm sự trầm tĩnh và sáng suốt để đương đầu với những vấn đề cũng như giải quyết những xáo trộn giữa tâm lý và tình cảm.  Với những ai có nhiều thói hư tật xấu, nếu tập thiền, tâm trí sẽ sáng suốt hơn mà từ bỏ những thói xấu.  Với người nóng tánh và hay sân hận, thiền chẳng những sẽ giúp họ trở nên tươi mát hơn, dịu dàng hơn, mà còn cởi mở hơn, và vị tha hơn.  Với những kẻ ưa tham đắm dục tình, thiền sẽ giúp họ tỉnh táo, có điều độ hơn và biết giảm bớt những khao khát của dục lạc.  Với những kẻ ưa sát sanh hại vật, thiền sẽ giúp họ mở rộng lòng từ, thương yêu và che chở cho mọi chúng sanh.  Thiền cũng sẽ giúp họ nhìn những thú vật như là những người em nhỏ lạc loài của chúng ta.  Với người bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, thiền sẽ giúp cho họ hiểu rõ công ơn cha mẹ, biết trọng nhơn đạo và lễ nghĩa hơn.  Đối với những kẻ giàu sang mà keo kiết, coi đồng tiền như bánh xe, thiền sẽ giúp cho họ biết thương yêu, bố thí và bảo vệ những người nghèo kém hơn họ.  Đối với những ai chửi thầy, mắng đạo vì cống cao ngã mạn, vì không thỏa mãn ước mơ danh lợi, nếu họ chịu hành thiền một cách chơn chánh, sau khi hiểu rõ luật nhơn quả, họ sẽ trở nên kính thầy và tin đạo hơn.  Với người hay phê phán và công kích người, hoặc hay nói chuyện phù phiếm thị phi, thiền sẽ giúp cho họ sáng suốt hơn để thấy rằng họ không là gì cả, hoặc chỉ là một giọt nước nhỏ của đại dương.  Thấy được như vậy, họ sẽ nói năng cẩn trọng và biết tương kính bằng hữu, cũng như bạn bè đồng tu.

Nói tóm lại, thiền rất cần cho mọi người và ai cũng có thể hành thiền.  Thiền tối yếu như ta cần không khí, hoặc giả như sự ăn uống hằng ngày của ta.  Ăn uống nuôi dưỡng thân thể, còn thiền nuôi dưỡng tinh thần.  Từ bấy lâu nay chúng ta chỉ lo ăn uống để bồi dưỡng cho thân nầy; nay là lúc chúng ta trở về lo cho phần tinh thần.  Bấy lâu nay ta chỉ chạy đôn chạy đáo nuôi thân; nay chúng ta hãy nhân cơ hội nầy mà lo cho cái phần tâm linh vốn dĩ đã quá nghèo nàn và đau khổ của ta đi.  Chúng ta ít ai để ý, chứ thực ra tinh thần mới chính là mấu chốt của cuộc sống.  Rất nhiều cuộc nghiên cứu của Y Khoa đã cho thấy tâm bịnh sẽ là đầu mối dẫn đến các bịnh khác trong cơ thể con người.  Xin hãy thương và bồi dưỡng cho tinh thần hầu tạo cuộc sống quân bình hơn.  Thiền chính là cách săn sóc tâm hữu hiệu, thiền chẳng những làm cho tâm ta an ổn, trong sạch, thảnh thơi và tươi mát; mà còn làm cho thân ta thêm khỏe mạnh nữa.  Do đó mà cuộc sống của ta sẽ trở nên sống động hơn, hồn nhiên hơn.  Ta sẽ mang nụ cười của hăm bốn giờ tinh khôi mà tặng cho ta và người.

11 KHI THIỀN MÀ NƯỚC MIẾNG CỨ TUÔN RA LÀ SAO?

Bình thường thì nước miếng vẫn tuôn ra ấy chứ, nhưng ta không để ý, vì nước miếng phải tuôn ra để giữ độ ẩm cho miệng.  Đến khi ta ngồi thiền thì tâm ta thanh tịnh hơn.  Chính vì luôn sáng suốt và luôn nhận biết những sự việc xảy ra quanh ta nên ta mới nhận biết là có nước miếng tuôn ra.  Nếu trường hợp có nước miếng tuôn ra, ta cứ nuốt như bình thường.  Chẳng những với nước miếng, mà với bất cứ thứ gì xảy ra trong lúc ngồi thiền ta đều không sợ.  Thí dụ như nghe thân nặng nề như có vật gì đè lên, hoặc nhẹ nhàng như muốn bay bổng, hoặc như có những con li ti bò trên mặt, hoặc có những xúc chạm rợn người.  Tất cả chúng là hư giả, không có thật nên ta không sợ.  Có như vậy thì ta mới mong đạt được an nhiên tự tại.

12    NGỌA THIỀN

Ngọa thiền là một trong những phương cách hành thiền rất có hiệu quả, hiệu quả không thua chi tọa thiền.  Tuy nhiên, khi nằm thiền chúng ta phải hết sức cẩn trọng vì nếu không khéo thì chẳng có hiệu quả chi, nhứt là đối với những người chưa có khái niệm, hoặc hiểu biết nhiều về thiền.  Chúng ta có thể nằm nghỉ ngơi, nhưng không phải là thiền, hoặc nằm mơ mơ màng màng, cũng không phải là thiền.  Ngọa thiền đúng cách là từ từ nằm xuống, chứ đừng vật ngả ra một cách mạnh bạo, đừng quăng mình xuống vì như thế chẳng khác nào ta đang bạo động với chính thân thể của ta, mà bạo động với chính ta là tự phản bội mình.  Xin hãy đừng phản bội ta vì chính nhờ cái thân nầy mà ta mới có cơ hội tiến tu.

Khi nằm nên nằm ngửa, không gối, hai tay và hai chân duỗi thẳng, song song với thân; hoặc hai chân hơi dang ra cũng được, miễn sao cho thoải mái.  Hai ngón chân cái chỉ ra ngoài.  Nên nhớ hai tay hoặc song song với chân, hoặc hơi duỗi ra đều được.  Đừng bao giờ đặt hai tay lên ngực hoặc bụng, mà phải để cho các cơ thịt ở ngực và bụng thoải mái tối đa.  Lòng bàn tay có thể để úp hoặc ngửa.  Hai mắt nhắm tự nhiên.

Thở bằng mũi, mà sâu đến tận rún chừng ba hoặc năm lần.  Sau đó cứ thở đều, nhưng nhớ luôn thở bằng mũi.  Miệng cười mỉm.  Tất cả miệng, lưỡi, hàm đều buông xả.  Từ từ buông xả hai tay, rồi hai chân và cuối cùng buông xả toàn thân; buông xả đến độ như viên đá đã chạm đến đáy biển, hoặc như chiếc lá rơi đã chạm đất.  Buông xả đến độ ta và đáy biển, hoặc ta và mặt đất chỉ là một; buông xả đến độ không còn thấy có ta mà cũng không có mặt đất.  Lúc đó niệm ác cũng không, mà niệm thiện cũng không còn.  Ta không còn thấy biết là có ta nữa, huống hồ là lo âu, phiền não, hoặc đau buồn… Nằm trong tư thế nầy từ mười lăm đến hai mươi phút, cứ thở bình thường, ấy là ta đang đi vào cõi tịnh tịch, cõi Niết Bàn của cuộc sống nầy vậy.  Mỗi ngày mà ta vào được cái Niết Bàn nầy đôi ba lần thì ta thành Phật hồi nào cũng không hay.

13  THIỀN TRONG LÚC ĐI

Chúng ta ai cũng từng đi bộ rất nhiều; tuy nhiên, nhiều khi chúng ta vô tình đến độ chúng ta ít khi nào để ý là chân chúng ta hãy còn chạm mặt đất.  Vì thế mà chúng ta đã không hoặc ít khi thưởng thức cái hạnh phúc có được hai bàn chân chạm đất.  Thật tội nghiệp cho chúng ta quá, những con người đang sống một cách vô hồn; sống hời hợt, lắm khi chẳng khác nào một thây ma biết đi.  Hễ hô đi là cắm đầu cắm cổ đi, là bổ nhào đến điểm đến, chứ ít khi nào chúng ta để ý đến những kỳ hoa dị thảo trên đường ta đi, ít khi nào chúng ta để ý đến đôi bàn chân ta hãy còn chạm đất, hoặc giả ta đang còn có hơi thở…

Làm con Phật, chúng ta quyết không sống như những thây ma biết đi, quyết không sống vô hồn như vậy, mà biết trân trọng từ bước chân chạm đất.  Ôi hạnh phúc thay ta vẫn còn có đôi chân; ôi hạnh phúc ta vẫn còn có khả năng dở hỏng đôi bàn chân khỏi mặt đất; ôi hạnh phúc thay ta vẫn còn có hơi thở.  Muốn có thiền từ trong cái đứng, cái đi, trước hết ta không nên bạo động với chính ta.  Trước khi đi, ta nên khởi nghĩ coi ta vì việc gì mà đi?  Nếu bị phiền não sai xử và việc ác lôi cuốn, ta quyết không đi.  Ta chỉ đi làm những việc thiện và những việc lợi ích cho người.  Trong khi đi ta luôn tỉnh thức và luôn nhớ rằng do tâm khiến thân nầy động, nhưng vẫn nhiếp tâm không chạy theo vọng niệm.  Trước khi đi, ta hãy từ từ định tâm rồi:

**Đứng dậy, buông xả các cơ thịt ở bụng.  Sau đó thở vài hơi thật sâu vào lòng bụng (phải thấy bụng phồng lên qua từng hơi thở).  Ta có thể niệm: “Hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.”  Hãy ban cho ta và cho người một nụ cười thật an lành và thật tươi qua từng bước ta đi.

**Đừng quá kiểm soát hơi thở một cách thái quá mà quên mất đi thưởng thức những bước thiền du.  Ta chỉ cần sắp xếp làm sao mà khi chân ta chạm đất là tâm ta tĩnh lặng; dở được bước chân lên là miệng ta mỉm cười.  Cứ để cho hơi thở tự nhiên, hãy để cho ta hòa nhập với thiên nhiên, hãy nghĩ rằng sen nở trong từng bước chân ta.  Ôi hạnh phúc quá những gì ta đang có.

**Tiếp tục thưởng thức từng bước, từng bước, hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.  Ôi ta thương ta và thương tất cả mọi người quanh ta.  Ôi ta ao ước gì mọi người đều có được những bước chân an lạc như ta đang có.

**Vẫn tiếp tục hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.  Nếu có vọng niệm chen vào, ta vẫn biết mà không theo.  Ta vẫn trở về tâm tĩnh lặng và nụ cười.  Ta vẫn tiếp tục từng bước đi là từng bước thanh tịnh và an lạc.

**Tiếp tục những bước thiền du, vẫn tâm tĩnh lặng, vẫn