Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 

BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH

 

Tác giả: Hirosachiya
Dịch giả: Thích Viên Lý

---o0o---

CHƯƠNG II
 

HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM

SINH HOẠT TRÍ HUỆ THẲNG THẮN LỖI LẠC

     ĐỨC THÍCH TÔN

     Đức Thích Tôn (Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn) là tổ sư của Phật giáo, từ đây, xin bắt đầu từ ngài để luận cập
     Tuy bảo là từ đức Thích Tôn trở về sau, nhưng nếu chỉ tuỳ tiện bàn về cuộc đời của đức Thích Tôn, thì lại có lỗi với độc giả. Tôn chỉ chủ yếu của quyển sách này là muốn đưa quý vi bước vào “Cảnh địa thiền”. Mặc dù thiền sở nghiễm nhiên có thể là đại danh từ của Phật giáo, nhưng chắc chắn phải có điểm vô cùng đặc sắc hướng dẫn mọi người lần lượt thể nhập vào diệu cảnh, nếu không thấy ngay điểm này, mà chỉ nói về thuở bình sanh của đức Thích Tôn, thì đó là sự sơ suất của bút giả.
     Mặc dù nói thế, nhưng trong việc ghi chép nếu có bất cứ sự kiện nào có liên quan đến cuộc đời của đức Thích Tôn, cũng điều có những lời lẽ có thể làm kim chỉ nam để Phật giáo thành một nhất thể. Đồng thời, bởi vì kinh điển nguyên thuỷ của Phật giáo (A Hàm Kinh) (1) đã ghi chép về những bài thuyết pháp đối với đệ tử của ngài, vì thế việc hướng dẫn quý vị lý giải giáo nghĩa Phật giáo cũng là một trợ ích rất lớn. Như thế, bút giả đã không thờ ơ đối với quý vị.
     Mặc dù đọc qua đoạn trên có lẽ có gì rất nghiêm túc, thật sự, nội dung đã chẳng có gì hứng thú. Tôi cũng muốn ở ngay nơi khởi đầu bắt chước các thiền sư “thét” một tiếng lớn trước, để triển hiện nhiều phương diệu dụng của tâm thiền ngộ, nhằm dễ tạo cho độc giả thêm phần hứng khởi, và dần dần sẽ đưa tới thoại đề sâu hơn. Trong đầu tuy sắp xếp bài bản đại cương như thế, thực tế đã không tiến hành theo ý nghĩ. Mong rằng quý vị độc giả chịu khó nhẫn nại:
     “Này các Tỳ Kheo (2): Phàm phu quả văn (ít nghe) có cảm thụ chân tình, đệ tử hữu văn cũng có cảm thụ chân tình, thế thì đệ tử hữu văn và phàm phu có học đã khác nhau điểm nào?”
     Đức Thích Tôn khi bắt đầu thuyết pháp, thường có vấn đề được khơi mào trước để mở đầu. Đoạn mào đầu này đương nhiên liên quan đến chủ đề thuyết pháp hôm ấy. Thường là lúc ấy có những đệ tử tác bạch rằng:
     “Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng con đều là người tính phụng những lời đã dạy của đức Thế Tôn (Thích Tôn), cúi xin đức Thế Tôn từ bi dạy dỗ chúng con!”
     Quan lời thỉnh cầu này, đức Thích Tôn bắt đầu thuyết pháp. Đây là phương thức thường được sự dụng để dạy Phật tử của Phật giáo nguyên thuỷ.
     Nói đến thánh đệ tử hữu văn và phàm phu quả văn, thì cái gọi là “văn”, là lắng nghe giáo pháp, là ý nói học tập. Giữa những đệ tử học Phật và phàm phu không học Phật đã có điểm nào sai biệt? cả hai đều có tác dụng cảm thụ, có đúng thế không? Đức Thích Tôn đã đưa ra vấn đề như thế.
     Tác dụng cảm thụ nếu lấy dụng ngữ Phật giáo để bàn luận thì bảo đó là “Thọ”. Ví như vào một buổi sáng tuyết phủ khắp nơi, khi chúng ta vừa chợt mở mắt đã thấy chung quanh là một thế giới phủ đầy màu bạc trắng, trên không trời lại trong xanh, vì không dằn được xúc cảm, chúng ta bật miệng la lớn: “A! đẹp quá!” cảm quan như thế chính là “THỌ”.
     Đương nhiên, “Thọ” không chỉ là một khoái cảm không thôi, ngược lại nó còn bao gồm cả thứ cảm giác khó chịu giống như bị một người nào dẫm phải chân mình trên xe bus. Ngoài ra, còn có một loại cảm ứng không khổ không sướng. Trong ngôn ngữ Phật giáo, khoái cảm gọi là “lạc thọ”, cảm giác không vui gọi là “khổ thọ”, cảm giác không nhớ gọi là “không khổ không sướng thọ hay “xả thọ”. Ba loại thọ này dù bất cứ người đệ tử nào của Phật dạy hay phàm phu cũng đều có cùng cảm thọ như nhau. Nói thế, cuối cùng đệ tử Phật và người phàm tục đã khác nhau điểm nào?
     Đức Thích Tôn đã giáo thị như sau:
     Này các Tỳ Kheo! Ví như lấy tên đâm người, đâm một mũi rồi đâm tiếp mũi thứ hai. Này các tỳ kheo! người như vậy có cảm thọ hai mũi tên. Giống như thế, phàm phu chưa tu tập giáo pháp, ngay khi cảm nhận khổ thọ khó chịu nếu không ưu sầu, não nộ hoặc bi thương thì cũng đấm ngực dậm chân, rên rỉ khóc lóc. Loại phàm phu này có cùng một thức cảm thọ đồng thời, tức là vừa đau khổ trên nhục thể vừa đau khổ trên tinh thần.
     Này các tỳ kheo! Ví như lấy tên đâm người, sau khi đâm mũi tên đầu rồi đâm tiếp mũi thứ hai. Này các tỳ kheo! Người bị như vậy cảm thọ chỉ một mũi tên. Giống hệt như thế, những thánh đệ tử đã tu tập giáo pháp, từ cảm thọ tới cảm thọ khó chịu, nhưng chẳng ưu sầu, khổ não và bi thương, cũng không đập ngực dậm chân, rên rỉ khóc lóc. Những thánh đệ tử chỉ có một loại cảm thọ, tức là chỉ có đau khổ trên nhục thể, mà không có đau khổ trên tinh thần...
     “Tương ứng bộ kinh điển” 36.6 (Tiễn) (3)
     Đức Thích Tôn lấy việc tên đâm để ví dụ tác dụng cảm thọ chớp nhoáng của chúng ta. Trong mỗi sát na chớp nhoáng, những đau khổ, tốt đẹp, chê ghét, vui thích, lạnh, nóng, đẹp, xấu mà chúng ta đã cảm thọ v.v. giống như cảm thọ giác bị đâm trúng một mũi tên.
     Những cảm thọ này, dù là người đã khai ngộ hay người chưa khai ngộ cũng đều giống hệt như nhau. Nhưng phàm phu sở dĩ là phàm phu, chủ yếu vấn đề sau khi trúng tên. Thông thường, bị trúng mũi tên thứ nhứt, kế tiếp lại trúng mũi tên thứ hai. Ví như, khi bị dẫm trúng chân trên xe buýt: “Đau quá!” sau khi ý niệm này chợt thoáng qua trong óc, tiếp đến lại nổi lên ý niệm thứ hai: “Đồ khốn nạn! mày muốn chết à!” chẳng khác nào mống khởi tâm tính giận ghét đối với đối phương. Hoặc giả khi đi trên đường, trông thấy bên lề có đoá hoa đẹp, thì trong lòng phát sinh suy tính: Sau khi thốt lên “Chà! đẹp quá!”, thì sau đó đưa tay hái đoá hoa ấy mang về để cắm trong bình. Đây tức là mũi tên thứ hai mà phàm phu nhận lấy. Nhưng đối với Phật tử đã khai ngộ thì khác. Trông thấy cảnh vật đẹp, chỉ cảm thấy là đẹp để thưởng thức; lúc đau, chỉ la lên bởi trực giác: “Đau qua!” Vì khác nhau như thế, nên giữa thánh đệ tử và phàm phu có sự cách biệt rất xa.
     Quý vị độc giả còn nhớ mẫu chuyện “Cô mộc hàn nham” ở đoạn đầu? Tôi từng đề cập câu nói mà ta cho rằng không đúng của Thanh tăng. Quý vị có lẽ lúc đầu đã không hiểu được ý của tôi, nhưng nay đã tỏ tường tại sao đối với lời nói ấy tôi lại cảm thấy không đúng.
     Bởi vì đối với ông ta cả đến “mũi tên thứ nhất” cũng đều bị phủ định. Trông thấy gái đẹp thì trực giác cảm thấy: “Đẹp quá!”, đây là mũi tên thứ nhất. Mũi tên này không luận là phàm phu hay thánh đệ tử đều có cùng cảm thọ.
     Mặc dù như thế, nhưng ngay cả cái cảm thọ lẽ ra nên có nầy đã bị ông cố ý phủ định. Có lẽ vì ông cho rằng, là người xuất gia, cho nên thậm chí mũi tên thứ nhất cũng không thể cảm thọ! Đây thực là lối kiến giải hoàn toàn sai lầm. Đức Thích Tôn chưa từng dạy bảo như thế. Trông thấy mỹ nữ cảm thấy “đẹp” là lẽ tự nhiên. Chỉ cần không nhận thêm mũi tên thứ hai.
     Dù bảo như thế, nhưng làm thế nào để khỏi cảm thọ mũi tên thứ hai? Đó là trọng điểm. Khi gái đẹp gọi: “Lại đây! Ôm lấy tôi”, lúc ấy nên ôm hay không? Mũi tên thứ nhất dứt từ lúc nào và khi nào mới có thể bắt đầu tính là mũi tên thứ hai?
     Có một mẫu chuyện như sau:
     Một vị thiền sư nọ dẫn theo một số đồ đệ đi vân du. Một hôm, đoàn người gặp một cô gái ở bờ sông. Cô này muốn qua bên kia sông nhưng ngặt không có ai giúp cho, nên đành buồn bã ngồi đó chịu đựng. Khi đoàn người của thiền sư vừa đi đến, cô liền thỉnh cầu giúp đỡ.
     “Ô! được! được!”
     Thiền sư không chút do dự, thản nhiên ẵm cô gái lội qua sông.
     “Thật là một sư phụ sảng khoái, nhanh nhẹn!” Cô gái thốt lời dịu ngọt tâng bốc trêu ghẹo thiền sư. Sau khi qua sông cô cảm ơn rồi từ biệt, đoàn thiền giả lại tiếp tục cuộc hành trình.
     Một lúc sau, có một vị đệ tử trong đoàn không nhịn được, cuối cùng mở miệng: “Bạch thầy! Vừa rồi thầy làm như vậy có đúng không? Chúng con xưa nay vốn rất tôn trọng thầy, nhưng vừa rồi trông thấy hành động và lời nói của thầy, thật là khiến chúng con vô cùng thấy vọng”. Những đệ tử khác hùa theo, tỏ ra thái độ bất mãn, kích động hỏi gằn thiền sư “Thái độ vừa rồi của Thầy thật khác xa những điều dạy dỗ thường ngày...” Không trách được sự bắt lỗi của họ. Nguyên là từ khi qua sông đến giờ, họ mãi canh cánh sự việc này trong lòng cho nên tức nước vỡ bờ, thế là hằng loạt kiểu trách móc áo ra đến độ không nghe kịp.
     Thiền sư nghe đám đệ tử chỉ trích như thế, chỉ bật cười.
     “A! Ha ha!...Cái gì? Các con mãi đến bây giờ vẫn còn ôm ẵm người con gái ấy!. Ta thì đã đặt cô gái ấy xuống từ lâu rồi”. Thì ra là thế, chấp trước và không thể buông bỏ chính là nhóm đệ tử kia. Loại chấp trước này, có thể ví như mũi tên thứ hai. Đối với thiền sư, ông không cảm thọ mũi tên thứ nhì.
     Đức Thích Tôn đã chỉ rõ, điểm sai biệt giữa người khai ngộ và phàm phu chính là mũi tên thứ hai này. Vì chúng ta chỉ là phàm phu, cho nên không thể tránh khỏi cảm thọ mũi tên thứ hai. Dù chúng ta có muốn hấp tấp tránh nó thì củng không thể thực hiện được. Chấp trước những việc mà sức mình không thể kham được thì đó chính là người ngu xuẩn nhất. Khi nhận thức được những sự việc mà chúng ta không đủ năng lực để thực hiện nhưng không chấp trước nó, đó mới đích thật là giáo nghĩa của Phật giáo. Tuy nhiên, ít ra chúng ta cũng thể phân biệt được điểm sai biệt mũi tên thứ hai, bằng tự giác:
     “À! hiện tại mình đang cảm thọ mũi tên thứ hai....”
     Có thể nhận thức như vậy, là đã nắm vững vấn đề. Lây ngày công phu thâm cao, nên trong khi sinh hoạt nếu có gặp bất cứ vấn đề gì, tất nhiên đều có thể giải quyết một cách tức khắc. Hoặc nói cách khác, ngày nào nhận chân ra mình, thì vấn đề sẽ không nghiêm trọng như mình tưởng tượng. Bởi vì vấn đề sở dĩ phát sinh, phần lớn là do không thể tri nhận bản tâm của mình một cách rõ ràng chân xác.

  • Chú (1): “A Hàm Kinh” là danh xưng của kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ. Trong ấy bao gồm các kinh “A Hàm Kinh”, “Pháp Cú Kinh”, “Kinh Tập”.v.v...

  • Chú (2): Phát chỉ thế độ (cạo đầu) xuất gia, là đàn ông chịu đủ giới. Đàn bà thì gọi là tỳ kheo ni

  • Chú (3): Xem quyển thứ 15 “Nam Truyền Đại Tạng Kinh” (Trang 322 – 325)

 

THAM CẦU CÔNG ĐỨC LÀ VÔ CÔNG ĐỨC

     BỒ ĐỀ ĐẠT MA

     Nói đến “Võ Đế”, nếu nhìn mặt chữ chiết, thì đường như có vẻ đó là một ông Võ đế thô bạo hoang dâm. Trên thực tế, vị Lưong hoàng đế của thời đại Nam Bắc triều Trung Quốc này đã được vinh danh là một vị có quá trình tu dưỡng đạo đức nhất trong những hoàng đế trong thời đại đó. Còn thời gian chấp chánh của ông có thể gọi là thời đại vàng son của văn hóa Nam triều. Do Lương Võ Đế hết mực tín ngưỡng Phật giáo, kiến thiết chùa chiền khắp nơi, kính lễ tăng lữ, đã tạo cho thủ đô đương thời có một sinh khí “khoẻ mạnh” và trở thành nơi hội tụ du học của tăng lữ khắp nơi. Nhưng, cũng bởi vì Lương Võ Đế đã sử dụng tài lực quá độ trong việc bảo hộ Phật giáo nên đã bị chỉ trích là nguyên nhân khiến cho tài chánh quẫn bách, quốc lực suy thoái.
     Lương Võ Đế đã từng đích thân mở đường giảng giải “Kinh Bát Nhã” và “Kinh Niết Bàn” (1), đồng thời đã lấy đó làm hãnh diện. Vì thế, khi ông hội kiến với Bồ Đề Đạt Ma tổ sư từ Thiên Trúc Ấn Độ xa xôi vào Trung Quốc, ông đã không thể tránh khỏi lộ ra vẻ mặt đầy thần sắc tự đắc tự mãn. Bấy giờ Lương Võ Đế hỏi Đạt Ma tồ sư rằng “Từ khi trẫm tức vị đến nay, kiến lập chùa chiền không ít, in ấn kinh điển cũng nhiều, và còn cung dưỡng vô số tăng ni, theo ngài, công đức của tôi được bao nhiêu?”
     “Không có chút công đức nào để nói”. Đạt Ma tổ sư lạnh lùng đáp.
     Nghe câu trả lời này, Lương Võ Đế giật nẩy mình, nên liền chuyển qua đề tài khác: “Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?” (Tức chân lý tối cao là gì?)
     “Quách nhiên vô thánh” )Rỗng lặng, như nhiên, không gì là Thánh)
     “Nếu vậy, thì đối diện với trẫm là ai?”
     “Không biết”.
     Câu chuyên vấn đáp đến đây chấm dứt, Lương Võ Đế đã không thể hỏi thêm bất cứ điều gì. Sau khi Đạt Ma tổ sư gặp Lương Võ Đế, ngài cảm thấy cơ duyên không hợp, nên liền lập tức qua sông đi lên mạn Bắc, tiến vào Sùng Sơn Thiếu Lâm tự (2) của Nguỵ quốc (Bắc Nguỵ), ngồi diện bích, mặt nhìn vào vách tường trong suốt 9 năm.
     Ở Nhật Bản có một loại đồ chơi “ông vô ngã” được trẻ nít gọi là “Đạt Lỗ Ma” (Đạt Ma), hình bầu như cái hồ lô, không tay không chân, trẻ con thường vừa chơi vừa hát đùa: “Đạt Lỗ Ma tiên sinh, Đạt Lỗ Ma tiên sinh, làm ra cái mặt ma, mắt lớn trừng mắt nhỏ...” Ngay học sinh trung học ở Nhật đôi khi cũng vẽ hình tướng Đạt Lỗ Ma trên giấy khảo thí để tỏ ý rằng đề mục khó quá, đến tay chân cũng không mang ra dùng được (Nhứt trù mạc triển). Thực ra, cái hình nộm mô phỏng ông vô ngã này, chỉ tượng trưng tư thế ngồi thiền đến độ tay chân thoái hóa, không cần dùng đến, là cách vay mượn để bày tỏ thủ pháp chuyên chú tu hành của ngài.
     Hãy đọc lại cuộc đối đáp của Đạt Ma tổ sư và Lương Võ đế lần nữa! Đây là nguyên văn:
     Vua hỏi: “Trẫm tức vị đến nay, tạo chùa, in kinh, độ tăng, không thể kể xiết, có công đức gì không?” Tố bảo: “Chẳng có công đức”. Vua hỏi: “Tại sao không có công đức?” Tổ đáp: “Như nhân quả hữu lậu của Nhân Thiên, chẳng khác nào như bóng theo hình, tuy có mà không thật”. Vua hỏi: “Thế nào là chân công đức?” Đáp rằng: “Tịnh trí diệu viên, thể tự không tịch, như thị thiên đức, bất dĩ thế cầu” (Trí Huệ thanh tịnh, mầu nhiệm viên dung, thể tánh tịch lặng chân không như thế mới đích thực là chân công đức, không thể dùng tâm thế tục để truy cầu). Vua lại hỏi “thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?” Tổ đáp: “Quách nhiên vô thánh”. Vua hỏi: “Người đối diện với trẫm là ai?” Tổ đáp: “Không biết”. Vua không lãnh ngộ. Tổ biết cơ duyên không hợp thuận nên ngày 19 tháng ấy đã lên đường đi về giang Bắc.
     [Quyển thử, Cảnh Đức truyền đăng lục” (3)]
     Đọc đến đây, chúng ta phảng phất trông thấy thần sắc kinh hoàng thất sắc của Lương Võ Đế. Lương Võ Đế tự cho rằng tạo chùa, viết kinh, cúng dường chư tăng v.v. công quả tích luỹ ắt nhiên không ít, vì thế mong nhờ Đạt Ma tổ sư ban phát đôi lời khẳng định và tán thán. Không ngờ Đạt Ma tổ sư đã tỏ thái độ lạnh lùng bằng cách bảo với ông rằng: “Chẳng có công đức”. Một lời phủ định tất cả. Nếu ngay lúc ấy mà Lương Võ đế có thể giác ngộ thì sẽ nhận ra câu trả lời “không công đức” của Phật Ma là dùng thủ pháp chặt đứt, phá vỡ ngằn mé để đối phương trực nhận ra rằng phước đức hữu vi này chỉ là sự thọ quả rất nhỏ của thế gian thôi, nếu lấy đó làm tự mãn và cho là thành tựu ghê gớm thì tác dụng sẽ bị đảo ngược. biến thành nguyên nhân của dục vọng. Vì thế, cách trả lời của Đạt Ma Tổ sư chẳng phải là ngài phủ định hoàn toàn những giá trị tạo chùa, viết kinh, cúng dường tăng chúng, mà chỉ muốn đả phá cái chấp trước bố thí công đức của Lương Võ đế, để từ đó có thể thăng tiến một cách siêu việt.
     Nhưng khổ nỗi, Lương Võ đế chỉ là phàm phu. Do vậy, hiển nhiên những việc ông tạo chùa, chép kinh, cúng dường chư tăng trên danh nghĩa thì vì Phật giáo, nhưng trên thực tế chỉ là vì mình.
     Một mẫu chuyện khác, đó là lời vấn đáp giữa Đạt ma Tổ su và Thần Quang Huệ Khả thiền sư (Huệ Khả theo hầu Đạt Ma tổ sư, sau này được Đạt Ma Tổ sư truyền y bát và trở thành Tổ su đời thứ Hai của thiền tôn Trung Quốc)
     Một hôm, Huệ Khả đến chùa Thiếu Lâm Sùng Sơn đề thỉnh bái Đạt Ma tổ sư đang tọa thiền diện bích.
     “Ngã tâm vị ninh, khất sư dữ an” (Tâm con chưa an, xin Tổ làm cho tâm con được an)
     Khai ngộ thì tâm sẽ an, đây là mục đích của thiền (Phật Giáo). Nhưng Huệ Khả vì xưa nay chưa đạt được cảnh giới ấy, cho nên tìm đến thỉnh cầu Đạt Ma tổ sư để nhờ chỉ đạo. Đạt Ma tổ sư trả lời:
     “Tương tâm lai, dữ nhữ an” ( Hãy đưa tâm cho ta, ta sẽ an tâm cho con)
     Khi Huệ Khả nghe câu “Hãy đem tâm ấy đưa cho ta, thì ta sẽ giúp cho ngươi an định nó”, liền muốn trả lời “Được!” theo cái quả của “Vọng tâm”, nhưng trên sự thật thì đó là cái hư ảo không thật. Vốn không một vật, tâm còn muốn yên nổi gì? Nhất niệm dấy lên, tức là vọng tâm, một mực chấp vọng là thật, thì sẽ sản sinh phiền não. Đạt Ma tổ sư đã chỉ rõ đích danh chỗ xuất phát phiền não của Huệ Khả.
     Trong tất cả giáo phái Phật giáo, Thiền tôn là tôn không lập văn tự, biệt truyền ngoại giáo (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền). Gọi là “Không lập văn tự” chính là nói không câu nệ vào văn tự, bởi vì phần lớn con người dễ mang văn tự của kinh điển làm tiêu chuẩn cho mọi hành động [Khuê Niệp], còn “bất lập văn tự” của thiền tôn nghĩa là muốn vượt thoát cái khuôn sáo của văn tự để nắm vững tinh thần căn bản về những lời dạy của đức Phật. Điều được gọi là “giáo ngoại biệt truyền” có nghĩa là ly khai kinh điển, ý nói Phật giáo do đức Thích Tôn trực tiếp dùng phương thức truyền dạy bằng miệng, chiếu theo thuận ngôn của su phụ và đệ tử để truyền thừa. Cũng tức là nói “Thiền Tôn” không lấy kinh điển được văn tự hoá, giáo nghĩa hóa, hoặc cố định hóa để giáo huấn chúng sanh.
     Sở dĩ Phật Giáo Nguyên Thuỷ sử dụng phương thức quán sát căn cơ để từ từ giáo hóa, lý do là vì thiền tôn quá chú trọng đến phương thức giáo học hoạt dụng linh hoạt này, đồng thời đã quan tâm cứu xét một cách đặc biệt đến mọi vấn đề hiện thực. Vì thế cái phương thức “dĩ tâm ấn tâm” chỉ có thể do sư phụ trực tiếp truyền thụ cho đệ tử.

  • Chú (1): “Bát Nhã Kinh” và “Niết Bàn Kinh” đều là kinh điển đại biểu của đại thừa Phật giáo. Trong ấy nổi tiếng nhất là “Bát Nhã Tâm Kinh” của “Bát Nhã Kinh”. “Tâm Kinh” chỉ có hơn 200 chữ ngắn, lại là tinh tuý của cả bộ “Bát Nhã Kinh”

  • Chú (2): Biệt phong – Sườn núi thiếu nhất của Sùng Sơn huyên Đăng Phong, tỉnh Hà Nam Trung Quốc do Hiếu Văn Đế Bắc Nguỵ sáng tạo và kiến lập vào Tây nguyên năm 296. Đã từng một lần vì Bắc Châu Võ đế phế Phật mà bị phá hoại, sau đó được trùng kiến vào thời Tùy Đường là nơi phát tường của Võ công Thiếu Lâm

  • Chú (3): Xem “Cảnh Đức truyền đăng lục”, do xuất bản xã Chân Thiện Mỹ, năm 1973, trang 42

 

KHÔNG PHẢI GIÓ ĐỘNG CŨNG KHÔNG PHẢI
PHƯỚN ĐỘNG MÀ CHÍNH LÀ TÂM
CỦA NHƠN GIẢ ĐANG ĐỘNG


 

     LỤC TỔ HUỆ NĂNG

     Đời Đường có một vị thiền tăng vĩ đại, đó là Lục Tổ Huệ Năng đại sư (Tây nguyên 638-713) “Cao Tăng truyện” ghi chép rằng ngài mất cha, nhà nghèo, và vì phụng dưỡng mẹ già nên phải bán củi để duy trì sự sống. Đối với đoạn truyền ký này, tôi cảm thấy hoài nghi về tính chân thật của nó. Có lẽ người đời sau vì muốn cường độ sự so sánh giữa Lục Tổ Huệ Năng đại sư và đối thủ của Ngài là Thần Tú (Đại Thông Thần Tú thiền sư), mà cố ý miêu tả ngài là người nghèo khổ lại mù chữ để nhấn mạnh tánh chất bình phàm và thảo căn của Ngài!
     Tạm thời xin miễn luận việc chân giả, để chúng ta tiếp tục suy xét về sự nghiệp bán củi để duy trì sinh sống của Lục Tổ Huệ Năng
     Một hôm nọ, trong lúc vô tình Huệ Năng đã nghe một vị khách đến từ Huỳnh Mai Am niệm tụng “Kim Cang Kinh” (1) mà khai ngộ. Cũng do chính người khách cho biết là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư đang ở Huỳnh Mai Sơn, thế là ngài phát tâm cầu pháp và liền bái biệt mẹ già để dấn thân đi đến Huỳnh Mai Sơn.
     Trên sự thật, sự tu hành của Huệ Năng tại Huỳnh Mai sơn mà người tu hành chúng ta thường biết đến, những tương truyền ấy đã không giống nhau, chỉ biết là mỗi ngày ngài phải đạp cối đá không ngừng ở phòng giã gạo, thế thôi. Đấy là khóa tu hành thường nhật của Tổ Huệ Năng.
     Chợt đến một ngày.
     Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn chọn người để kế thừa trong số các đệ tử, nên đã ra lệnh cho những đệ tử mỗi người cần đem cảnh địa mà mình đã liễu ngộ viết thành một bài kệ để biểu đạt. Đương thời trong đám đệ tử của ngài, ưu tú nhất là Thần Tú thiền sư. Thiền sư Thần Tú làm và dâng lên Ngũ Tổ một bài kệ như sau:
          Thân thị Bồ Đề thọ
           Tâm như Minh Kính dài
           Thời thời cần phất thức
           Vật sử nhá trần ai
     Tạm dịch:
           Thân là cây Bồ Đề
          Tâm như đài gương sáng
          Luôn cần mẫn lau chùi
          Đừng để cho bụi bám
     Đại ý là: Chúng ta vốn có sẵn tâm thức thanh tịnh, giống như tấm gương sáng nhưng đang bị che phủ bởi bụi bặm phiền não, vì thế để khôi phục sự chiếu sáng của nó, cần phải lau chùi liên tục bụi bặm đang phủ bám bên trên.
      Đối lại, Huệ Năng cũng củng làm một bài kệ:
          Bồ Đề bổn vô thọ
          Minh Kính diệc phi đài:
          Bản lai vô nhứt vật
          Hà xứ nhá trần ai?
      Tạm dịch:
          Trí giác vốn không cây
          Gương sáng cũng không đài
          Xưa nay không một vật
          Chỗ nào bụi nhuốm đây?
     So sánh hai bài kệ này, quả thật Thần Tú là một vị Thiền sư cố gắng không ngừng để đoạn trù phiền não mà siêng năng cần mẫn, còn Huệ Năng thì giác ngộ đến tận đầu nguồn đạo lý phiền não vốn là không thật. Bởi vì tự tánh tốn thanh tịnh, căn bản đã không có cái gọi là phiền não. Đã không phiền não, thì cần gì phải khổ cực bận tâm đoạn trừ phiền não? Sự phát biểu của Huệ Năng đích thật là một lời nói đã mở toang (đập vỡ) sự chấp trước của thường nhân đối với phiền não.
     Đúng thế, sau khi so sánh hai bài kệ, rõ ràng cảnh giới của Huệ Năng thật cao siêu mầu nhiệm. Nếu xét trên mặt hiện tượng, có thể dùng đao chặt đứt phiền não thành hai đoạn quả thật đó là một vấn đề tương đối khá lợi hại. Người thường vì thế mà đã cho rằng chỉ có thiền tài của Huệ Năng mới là nguồn thiền chân chính, nhưng thực ra, nếu nhận xét như vật thì đã không chính xác. Bởi lẽ, nếu muốn đạt đến cảnh giới mà Huệ Năng đã có, mà không trải qua gia đoạn mà Thần Tú đã đề cập là một điều bất khả. Điểm này tuyệt đối chúng ta không thể thờ ơ.
     Đúng vậy, nếu đứng trên lập trường khai ngộ để khẳng định thì căn bản đã không có phiền não để nói, nhưng, muốn đạt đến cảnh giới như thế thì đó không phải là một việc dễ dàng. Hãy lấy thí dụ về kinh nghiệm cai thuốc lá của tôi:
     Đã từng bao phen thử cai thuốc, nhưng cuối cùng vì không cách nào khắc chế được mình nên tôi đã tuyên bố thất bại. Rồi có một lần, tôi quyết định thử thả lỏng tâm tình để theo dõi việc cai thuốc, nên đã cố ý mang thuốc lá đặt trong túi áo. Trải qua thời gian không lâu, phương pháp của tôi quả nhiên có hiệu nghiệm, kết quả tôi không phí sức chút nào mà đã cai được thuốc.
     Sau khi cai thuốc thành công, tôi mới hiểu rõ rằng phàm sự việc khi bắt đầu không cần thiết phải khổ cực và khẩn trương quá độ như thế, nhưng, những lời nói này chỉ có thể nói được sau khi đã thành công. Đối với một số người đã cố gắng không ngừng để cai thuốc, quá trình kỷ luật chắc chắn là cả một tích luỹ của vô số đau khổ, và trước khi cai thuốc thành công, dầu sao thì vẫn phải trải qua cái khảo nghiệm đau khổ ấy. Vì thế, để giác ngộ thấu triệt cái đạo lý phiền não vốn không của Huệ Năng đại sư cố nhiên đó là việc trọng yếu, nhưng trước khi giác ngộ một cách thấu triệt, thì cái giá đau khổ phải trả trong một giai đoạn vẫn là một sự cần thiết.
     Điều đó có nghĩa là, chúng ta cần trải qua giai đoạn tu hành “Thời thời cần thiết phất thức, vất sử nhá trần ai”, mới có thể liễu ngộ cảnh giới “Bản lai vô nhứt vật, hà xứ nhá trần ai”. Tình hình này giống như đạo lý trông thấy một con chim nước với thần thái tự tại đang bơi trên mặt nước, trong khi đôi chân của nó ở dưới nước quạt đi quạt lại không ngừng. Vì thế nếu một mực cố chấp lấy bài kệ ngữ của Huệ Năng đại sư để lý giả sai lầm về thiền, rằng là, không cần thiết phải trải qua bất cứ sự tu hành nào, như thế là rơi vào cạm bẫy nguy hiểm mà tự mình không hay. Đây là điểm cần lưu ý khi bình phẩm và tán dương bài kệ kiến tánh của Huệ Năng đại sư.
     Lục Tổ Huệ Năng đại sư còn có một truyền thuyết khác, miêu tả rằng sau khi thừa kế y bát của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Huệ Năng đại sư đã vì sự tu hành sau khi ngộ đạo mà đời chân đến Nam Hải.
     Bấy giờ tại Pháp Tánh Tự Quảng Châu có vị Ấn Tôn thiền sư đang giảng về “Kinh Niết Bàn”, thế là Huệ Năng đại sư quyết định ở lại mấy ngày tại Pháp Tánh tự để nghe Thiền sư giảng kinh.
     Hôm ấy, vì thiền sư giảng kinh nên trước chùa dựng rợp cờ phướn.
     Ấn Tôn thiền sư nổi tiếng khắp nơi, do đó đã rất đông người từ mọi miền ào ạt tìm đến. Trong ấy có hai vị hoà thượng, trông thấy cờ phướn phất phới trước cửa chùa nên liền bắt đầu nghị luận. Một trong hai vị phát biểu:
     “Phướn động”.
     Người kia cãi lại:
     “Không phải, gió động”.
     Kết quả hai người đã tranh luận không ngừng, dẫn đến tình trạng rất đông người dừng bước đứng xem.
     Lúc ấy Huệ Năng đại sư cũng đến để xem, nghe xong ngài liền lên tiếng: “Không phải phướn động, cũng không phải gió động, mà chính là tâm hai vị đang động”.
     Hai người đang tranh luận, nghe Huệ Năng đại sư phê chỉnh, tức thời hoát nhiên diạ ngộ. Khi nghe việc này, Ấn Tôn pháp sư tức khắc hiểu rằng những lời nói của Lục Tổ Huệ Năng đại sư, chính là trung tâm tư tưởng của “Kinh Niết Bàn” mà mình đang khai giảng, thế là ngài lập tức cung thỉnh đại sư thăng đàn thuyết pháp và đảnh lễ tôn Lục Tổ làm thầy.
     Đây chính là trường cảnh khiến người vô cùng cảm động. Thật vậy, phàm phu chúng ta vì cứ chấp trước hiện tượng ngoại giới mà thờ ơ đối với nội tâm của mình. Phần lớn vấn đề sanh ra lại chính là được xuất phát từ trong nội tâm của chúng ta.
     Ví như, không biết quý vị có kinh nghiệm giống như sau đây hay không?
     Một hôm, có người được cấp trên khen thưởng nên vui mừng ra mặt. Nhưng sau đó không lâu, không rõ vì nguyên nhân nào, mỗi lần gặp cấp trên là ông ta biểu lộ nét mặt chán ghét giống như kẻ thù k hông đội trời chung. Cũng chỉ một người, nhưng vì tác dụng của chính nội tâm chúng ta nên hiện ra diện mạo khác nhau.. Vì thế, những đối tượng mà chúng ta thấy, kỳ thực đều là vọng tưởng được phát sanh từ trong nội tâm của chúng ta, căn bản đã không có bất cứ một thực thể nào tồn tại cả.
     Có lần tại Sát Nhữ Nạp Đức (2) Ấn Độ, tôi đã gặp phải một việc thế này:
     Có một thiếu niên Ấn Độ chiêu dụ khách du lịch để bán vật phẩm, chận một du khách người Mỹ là một bà lão khoảng 60 tuổi, thiếu niên áo quần lam lũ này nhanh tay móc túi ra một vật phẩm và nháng qua mắt bà.
     “20 đô la”, thiếu niên kêu giá.
     Bà Mỹ trông thấy vật phẩm, cặp mắt bỗng sáng trưng, vội vàng mở xách tay móc tờ 20 đô trao cho anh ta và chộp ngay vật trên tay thiếu niên nhanh nhẹn dúi vào ví xách của mình> Chiếu theo tình cảnh này, thì rõ là người đàn bà dường như đã rất ưa thích vật phẩm đó, đại khái bà đã cho rằng mình mua đúng bảo vật!
     Kết quả bà đã mua được vật gì mà khiến tôi cảm thấy hết sức hiếu kỳ như thế? Theo chỗ tôi biết, tại Ấn Độ du khách không thể mua được bảo vật gì cả. Một trăm phần trăm là bà ấy đã bị lừa. Tôi nhủ thầm: “Lại một người nữa bị gạt, thân đáng thương hại”
     Sau khi bà ta đi khỏi, tôi gọi người thiếu niên Ấn Độ lại và dùng vài tiếng Ấn Độ đơn giản bảo hắn: “Khoan đi, hãy cho tôi xem cái vật mà chú vừa bán cho bà nọ!”
     Thiếu niên lấy từ trong túi ra một pho tượng Phật cao độ 5,6 tấc, được cố ý trạm trổ lồi lõm, thoạt nhìn qua cứ tưởng đó là di vật cổ xua được đào lên từ dưới lòng đất. Bởi lẽ Sát Nhữ Nạp Đúc là một vùng đất đai của những di tích cổ xưa, có rất nhiều di sản văn hoá vô giá. Người đàn bà Mỹ chắc chắn đã cho rằng tượng Phật do thiếu niên bán là một cổ vật, nên mới vội vàng mua và thủ ngay vào xách tay của mình.
     Kỳ thực, tượng Phật đó chỉ là loại thủ công phẩm dùng đất nhào nắn tái tạo lại.
     “Pho tượng Phật này dại khái chỉ đáng 30 đồng Ấn”
     “Hừ!”
     30 đồng Ấn Độ trị giá bằng 3 đồng tiền Đài Loan, nhưng trên thực tế có thể không tới 3 đồng. Cuối cùng, tôi mua của thiếu niên nọ hai pho tượng với giá 7 đồng tiền Đài Loan.
     “Hưu khô ly a! (Dhanyavad: Cảm ơn)” Gã thiếu niên vô cùng mừng rỡ, dù hai pho tượng chỉ bán được 7 đồng Đài Loan, nhưng đối với họ đã là có lời. Tôi nghĩ có lẽ trong nhà của thiếu niên này dám có đến trên 100 pho tượng như thế!
     Tôi manghai pho tượng trở lại lên xe bus của đoàn du lịch. Vì với danh nghĩa cố vấn của đoàn hành hương Ấn Độ, nên mọi người trong đoàn đều gọi tôi là “Thầy”
     “Thưa thầy! tôi cũng định mua loại tượng Phật này, không hiểu thầy mua bao nhiêu?”
     “Hai pho tượng chỉ 1 đồng Ấn?”
     “Cái gì, chỉ có 1 đồng Ấn?”
     Người hỏi đột nhiên sắc diện tái xanh, ông thú nhận là đã mua một tượng giống hệt tôi đã mua đến 200 đồng tiền Ấn.
     “Bậy rồi!”, tôi nghĩ, tưởng chỉ có bà Mỹ bị gạt 20 Mỹ kim, nào ngờ ông bạn đồng hành cũng bị mua lầm. Nếu biết như thế thì tôi đã không nói thật giá.
     Ngẫm nghĩ cho cùng, bà Mỹ vẫn hạnh phúc hơn vì có lẽ mãi cho đến giờ này bà vẫn tin rằng tượng Phật ấy là một di vật cổ xưa! Và vì gặp vận hên nên chỉ tốn 20 đô la mà đã mua được, có thể bà còn cảm ơn ân tứ của Thưọng đế!
     Thương hại nhất là người nghe giá tôi mua. Ban đầu ông ta chắc rằng với cái giá trên 1000 đồng Đài Loan mà mua được báu vật vô cùng trân quý thế này đã là rẻ chán. Không ngờ chỉ trong khoảnh khắc, ông phát giác rằng bảo vật chỉ là loại thủ công nghệ phẩm làm bằng thứ đất sét thô thiển! Chỉ e sau này mỗi khi trông thấy bất cứ tượng Phật nào cũng sẽ khiến ông dấy lên cảm giác khó chịu.
     Nhưng, tượng Phật vẫn là Phật tượng, tự nó vốn không có gì thay đổi. Thuỷ chung cũng đều là một pho tượng. Có thay đổi chăng thì đó chính là cái tâm của ta. Tuỳ theo sự thay đổi của tâm tình mà Phật tượng giống nhau đó bị tặng cho những ý nghĩa khác nhau.
     Sau này tôi đã mang một pho tượng làm lễ vật để tặng bạn tôi, tuy không nói ra trị giá, nhưng bạn tôi rất mừng và bày tỏ là ông đã mãi ao ước một pho tượng như thế và nay vì do phúc duyên nào đó mà ông có thể có được một tượng Phật có pháp tướng tôn nghiêm từ bi thánh thiện như thế.
     Thật vậy, Phật tượng ấy đã có một khuôn mặt từ bi vô cùng khả kính và tôi cũng đã tôn trí pho tượng còn lại để thờ phụng trên một hương án.

  • Chú (1): Toàn danh là “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh” lược gọi là “Kim Cang Kinh” Toàn kinh thuật rõ đạo lý của “Không” và “Vô Ngã”, là một trong những kinh điển đại biểu cho Đại Thừa Phật Giáo.

  • Chú (2): Tức “Lộc đã uyển” đã nói trong kinh Phật. Đức Thích Tôn đã chuyển pháp luân ở đây và đã trở thành một trong những thánh địa của Phật giáo.

 

HÀNH ĐỘNG NGU MUỘI CỦA VIỆC
MÀI GẠCH LÀM KÍNH
(MA CHUYÊN TÁC KÍNH)

     MÃ TỔ ĐẠO NHẤT

     Trong số đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng đại sư có hai vị thiền sư ưu tú, đó là Nam Nhạc Hoài Nhượng và Thanh Nguyên Hành Tư. Thanh Nguyên thiền thiền sư có đệ tử là Thạch Đầu Hy Thuyên, còn Nam Nhạc thiền sư thì có Mã Tổ Đạo Nhất. Thạch Hầu Hy Thuyên thiền sư đã truyền bá thiền pháp ở Hồ Nam một cách rực rỡ, còn Mã Tổ Đạo Nhất thiền sư thì hoằng dương ở vùng Giang Tây. Có thể nói, Thiền Tôn của Trung Quốc đã do bốn vị thiền sư là Nam Nhạc, Mã Tổ, Thanh Nguyên và Thạch Đầu mà Thiền tôn đã rực sáng một cách dị thường.
     Mẫu chuyện dưới đây là mẫu chuyện có liên quan đến Mã Tổ Đạo Nhất (709-788) khi ngài còn tu hành dưới môn hạ của Nam Nhạc Hoài Nhượng.
     Trong truyền thuyết, Mã Tổ thiền sư là người có vóc hình khôi vũ “Ngó như hổ, đi như trâu, lưỡi thè khỏi mũi, chân đạp thành chữ”. Khi ngài còn là môn hạ của Hoài Nhượng hằng ngày đều rất tinh cần và thường ngồi xếp bằng tham thiền nhập định. Mãi đến một hôm, Hoài Nhượng thiền sư hỏi Mã Tổ:
     “Ngươi làm gì đó?”
     “Ngồi thiền mà!”
     “Tại sao phải ngồi thiền?”
     “Vì muốn thành Phật”.
     Hoài Nhượng thiền sư nghe câu trả lời của Mã Tổ, liền ngồi xuống bên cạnh Mã Tổ, tiếp đó ngài nhặt những thớt gạch chất kế bên chân chẳng nói chẳng năng gì, cứ cắm cúi mài gạch trên đá.
     Trông thấy cử chỉ quái gở của sư phụ, Mã Tổ giật mình hỏi:
     “Sư phụ! Ngài làm gì thế?”
     “Mài gạch”.
     “Tại sao mài gạch?”
     “Vì muốn mài gạch thành gương soi”.
     “Nhưng bạch sư phụ! gạch có mài thế nào cũng không thể thành kiếng gương được!”
     “Ồ, vậy sao? Nếu ngươi hiểu rõ đạo lý này, tại sao ngươi còn muốn ngồi thiền để thành Phật? Tọa thiền cũng không thể thành Phật đâu!”
     Mã Tổ nhất thời đã không lời đáp lại.
     Một lát sau, Mã Tổ lại thỉnh giáo với Hoài Nhương thiền sư:
     “Đệ tử phải làm thế nào?”
     “Một người đang khiển xe bò, xe bò bất động, theo ngươi nên dùng roi đánh xe, hay dùng roi đánh bò?”
     Mã Tổ hoát nhiên tức khắc đại ngộ. Nguyên là mình cú mãi làm công việc lấy roi đánh xe, một hành vi xuẩn ngốc. Cũng nhờ cơ duyên này mà sau đó Mã Tổ đã kế thừa y bát của Hoài Nhượng.
     Đoạn đối đáp này đối với chúng ta có phần nan giải. Đại khái thì dụng ý mài gạch của Hoài Nhượng là để kho8i dậy cái đạo lý ngồi thiền vô dụng của Mã Tổ? Bề ngoài thì bảo rằng ngồi thiền là vô dụng, nhưng thực tế có đúng như thế không?
     Biểu đạt của Hoài Nhượng kỳ thực chỉ muốn sửa đổi lại kiến giải sai lầm “Ngồi thiền tức có khai ngộ thành Phật” của Mã Tổ. Thật vậy, vì mọi người đều có Phật tánh, nên có thể nhờ vào phương thức ngồi thiền mà kiến tánh thành Phật. Nhưng, nếu cừ bảo thủ rằng ngồi thền thì sẽ có thể thành Phật, thành Tổ, thì phải chăng đó chính là một loại chấp trước? Như thế, không những ngồi thiền dã không thể giải thoát mà trái lại còn bị phương pháp tọa thiền ràng buộc. Hoài Nhượng thiền sư đã giảng dạy quan niệm quan trọng này cho Mã Tổ.
     Ví như những người làm việc ở Nhật Bổn, công tác luôn luôn được đạt lên hàng đầu. Nhất là những người đảm nhiệm chức vụ trung cấp trở lên, ngày đêm thường phải cắm cúi trong công tác mà không tự biết. Tuy nhiên chính nhờ sự nhiệt tình công tác này đã biến đổi cục diện Nhật Bản trở nên một quốc gia siêu cường về kinh tế, nhưng, cũng vì thế mà bị các nhân sĩ Âu Mỹ phê bình là “Động vật kinh tế”.
     Đối với “Động vật kinh tế” của người Nhật, thì rõ ràng lời của Hoài Nhượng thiền sư đã gọi họ quay về “Nhân tính”. Công tác cố nhiên rất trọng yếu, nhưng không thể vì đó mà biến thành nô lệ của công tác. Theo ví dụ của Hoài Nhượng thiền sư, thì chẳng khác nào người khiển xe bò đã không đánh bò mà cứ đánh xe, quả thật đây chính là một việc làm điên đảo.
     Nhưng, phải chăng khi bị phê bình là một “Động vật kinh tế” thì lại bỏ bê toàn bộ trách nhiệm công tác? Cũng thế, tọa thiền để mong thành gương soi, nói thế phải chăng cho rằng tọa thiền là điều hoàn toàn không có ý nghĩa? Nếu nghe lời của Nam Nhạc thiền sư mà giải thích như thế thì bị rơi vào tình trạng đổi thay quá quắt.
     Điểm khó của thiền là chỗ này.
     Chấp trước vào việc tọa thiền không thành Phật đã đành, nhưng nếu không tọa thiền thì cũng không thể thành Phật. Phàm mọi sự đều nên hành trì theo lý Trung đạo. Đối với thiền biết một mà giải nữa là việc hết sức nguy hiểm.
     Trong điển tịch thiền học, đã có hai đoạn liên quan đến sự vấn đáp của Mã Tổ thiền sư, đó là nhắm vào câu hỏi “Thế nào là Phật” để khai triển. Do ở nội dung trả lời khác nhau, nên khi nghe qua có thể khiến cho người nghe thu thập ít nhiều.
     Một tăng nhân hỏi Mã Tổ:
     “Thế nào mới gọi được là Phật?”
     Mã Tổ trả lời:
     “Tức tâm tức Phật”.
     “Tức tâm tức Phật”, có nghĩa “Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”. Nhưng khi một tăng nhân khác cũng khỏi cùng một vấn đề, Mã Tổ lại trả lời:
     “Phi tâm phi Phật”.
     “Phi tâm phi Phật”, tức là phủ định câu “Tức tâm tức Phật” như đã dìễn thuật ở trên. Sự thật, tâm tức là Phật, có lẽ vì muốn tránh sự thiên chấp ở tâm quá đáng, có nghĩa là đạo lý của Phật mà bị tâm sở sai khiến nên biến thành một vật nô lệ của tâm, cho nên Mã Tổ thiền sư mới trả lời như thế?
     Tôi xin lấy bản thân tôi làm thí dụ: Tôi thường bị đứa con của tôi chất vấn:
     “Có lúc ba nói chuyện quá mâu thuẩn!”
     “Ồ! Mâu thuẩn thế nào?”
     “Mấy ngày trước ba nói với con, gát bài lại cũng không quan hệ gì, ba bảo đừng nên quá chú ý đến bài vở của nhà trường. Nhưng tại sao vừa rồi ba lại bảo con phải ngoan ngoãn cố công đọc sách?”
     Con tôi mới học lớp 6, mà đã mạnh dạn kháng nghị với tôi. Tôi đáp:
     “Không có chổ nào mâu thuẩn cả!”
     “Nhưng rõ ràng là ba đã nói không dụng công cũng chẳng sao mà!”
     “Đúng, ba có nói như vậy”.
     “Thế thì tại sao đêm nay ba lại nói khác? Bao bảo hãy ngoan ngơãn dụng công đọc sách”.
     “Ba thấy chưa, điều đó không phải mâu thuẫn sao?”
     “Không! chẳng mâu thuẫn. Có lẽ nghe qua con cảm thấy mâu thuẫn, nhưng đứng trên lập trường của ba, một chút cũng không có điểm nào mâu thuẫn”.
     Thực ra, tiểu học sinh làm gì biết được đạo lý này? Nghĩ đến đây, bên tai tôi dường như có lời nói của Mã Tổ đang văng vẳng:
     Tức tâm tức Phật—
     Phi tâm phi Phật---
     Không mâu thuẫn tí nào

 

ĐÓI THÌ ĂN CƠM BUỒN NGỦ THÌ NGỦ

     ĐẠI CHU HUỆ HẢI

     “Đói thì ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ” – đây chính là thiền, nếu thực hiện được điểm này, thì đó gọi là hiểu biết về thiền. Thời đại Cao Trung, tôi đã đọc một tác phẩm lớn của Linh Mộc Đại Chuyết tiên sinh một câu như thế. Lúc ấy tôi cho rằng câu nói đó là của Linh Mộc [Suzuki(?)] tiên sinh, nhưng sau này khi tiếp xúc với nền Phật học, tôi mới biết là thiền ngữ này đã được trích từ “Đốn Ngộ Yếu môn” của Đại Chu Huệ Hải thiền sư đời Đường. Dưới đây là nguyên văn:
     Hữu Nguyên Luật sư đến hỏi: “Hòa thượng tu đạo, có dụng công không?” Thiền Sư Đại Chu Huệ Hải đáp: “Dụng công” Hỏi: “Dụng công thế nào?” Thiền sư trả lời: “Đói thì ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ” Hỏi: “Tất cả mọi người đều vậy, như thế thì vấn đề dụng công có giống với thiền sư hay không?” Thiền Sư trả lời” “Không giống” Hỏi: “Tại sao không giống?” Đáp: “Khi họ ăn cơm, nhưng họ không chịu ăn cơm vì bị trăm điều đòi hỏi; khi ngủ thì không chịu ngủ, vì phải so sánh tính toán vạn sự”. Hữu Nguyên bí lối.
     [Đốn ngô yếu môn]
     Có người tên Nguyên Luật Sư đến hỏi “Khi hoà thượng tu hành có cần dùng đến công phu?” Đại Chu thiền sư trả lời: “Cần”. Hỏi: “Công phu ấy như thế nào?” Trả lời: “Đói thì ăn cơm, buồn ngủ là ngủ”. Hỏi: “Người thông thường đều như vậy cả, công phu của Hoà thượng chỉ có thế sao?” Đáp: “Chẳng giống nhau”. Hỏi: “Có gì khác nhau?” Đáp: “Khi người khác lúc đáng ăn cơm thì không chịu ăn, lại phải đủ điều đòi hỏi; khi đáng ngủ thì không yên tâm để ngủ, vì còn ngàn việc đán đo. Vì thế ta với họ khác nhau”. Nguyên Luật Sư lặng im vì đã không còn lời nào để chất vấn.
     Vừa thoạt nghe qua đã có đồng cảm. Có lúc dù cho một chút ý ngủ cũng không, nhưng trong quan niệm thì cứ cảm thấy là không ngủ thì không được nên tự cưỡng bức: Mình phải ngủ. Thì ra như thế, một mặt trong não ý nghĩ lung tung, một mặt vì tiếng đống hồ tích tắc mà cảm thấy tâm trí phiền não nóng nảy, kết quả càng không cách nào ngủ được. Mãi đến tảng sáng 2, 3 giờ...cuối cùng chỉ thấy bi ai tuyệt vọng.
     Ăn cơm cũng thế, khi phải ăn cơm thì ăn cơm, nhưng thông thường ngưuời ta cứ phải tống điều phối thức ăn dinh dưỡng trước, sau đó mới chịu ăn, vì thế mà bao tử đã bị khổ sở vì đói.
     Do vậy, “Đói là ăn, buồn ngủ là ngủ, đó tức là thiền”. Lời nói đơn giản này, tuy trên mặt chữ rất dễ lý giải, nhưng trên thực tế lại là việc mà những người phàm tục không thể làm được, mặc dù câu nói này lúc nào cũng “Nao nao trong lòng”, nhưng ban đêm vẫn không ngủ được, khi đang ăn cơm thì nghĩ bậy nghĩ bạ, nếu không thì một mặt vừa xem báo một vừa ăn cơm, hoặc một mặt vừa xem báo một mặt vừa ăn cơm, hoặc một mặt đánh cờ một mặt ăn cơm, muốn ăn bữa cơm ngon lành đúng nghĩa dường như là việc không phải dễ.
     Nhất là đối với những ai đang đi làm, đói thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, điều đó chẳng khác nào như một mộng tưởng xa xăm vói không bao giời tới. Ví như, lúc 2, 3 giờ chiêu đang cơn buồn ngủ, nếu phải ngủ ngon trên chiếc bàn làm việc, thì bảo đảm là không bao lâu sẽ bị sa thải khỏi sở. Nghĩ đến thời đại cao trung, khi thầy đứng trên bục giảng say sưa giảng đến nước mồm tung tóe còn mình thì ở dưới lén ăn thức ăn mang sẵn theo, tâm trạng vừa có phần sợ hãi vừa có phần vui thú ấy, đối với một viên chức cũng là một loại luận đàm xa xôi. Có thể nói: “Đói thì ăn, buồn ngủ thì ngủ”, đại khái chỉ có những người xuất gia xa lìa trần tục mới có thể làm được, đối với chúng sanh thường tình như chúng ta, thì đó là vấn đề “có thể gặp mà không thể cầu”.
     Nhưng, kỳ khôi nhất là tại sao sau 2, 3 giờ chiều chúng ta lại buồn ngủ? Phải ngủ bao nhiêu tiếng đồng hồ mới đủ? điều này đương nhiên tuỳ theo mỗi người mà có sự sai biệt. Trong truyền thuyết, Nã Phá Luân vị anh hùng của nước Pháp, mỗi ngày, chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, vì thế ông thường hay ngủ gật, thậm chí có một chuyện khôi hài đó là vì ngủ gật mà ông đã bị rơi từ trên lưng ngựa xuống đất. Đời nay, chúng ta thường thấy trên công xa đầy khác, nhiều người tay nắm cái móc, và cứ như thế mà đứng ngủ ngon lành. Nghe bảo trước đây trong quân đội đã có người vừa hành quân vừa ngủ gật. Khi thời gian ngủ bị thiếu thốn nhiều, đương nhiên rất dễ ngủ gật. Nói theo thường thức, bình quân mỗi người mỗi ngày ngủ khoảng 6 đến 7 tiếng đồng hồ, vì thế ban đêm nếu ngủ đầy đủ, thì ban ngày sẽ không bị tình trạng ngủ gà ngủ gật. Sau cùng, chúng ta cần kết luận là: Sinh hoạt cần phải có những quy luật rõ ràng.
     Cái gọi là quy luật sinh hoạt, đó là 3 bữa ăn nên định lượng, và phải ngủ nghê đầy đủ, như thế thì khi đi làm, sẽ không bị ngủ gật và đói bụng, và ban đêm cũng tự nhiên vì không buồn ngủ mà mất ngủ.
     Nếu có thể làm được quy luật sinh hoạt như thế -- Đói ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ thì đó tức là thiền. Đó là sự thể ngộ gần đây nhất của tôi. Có lẽ là vì liên quan đến tuổi cao! Khi con người đến tuổi trung niên, thì không thích sự vật mới mẻ khác lạ. Đối với tuổi trẻ, có lẽ cho rằng thiền như thế hơi bị gò bó, hơi “tượng gỗ” (không linh hoạt), và vì muốn truy cầu cảnh giới thiền mà đã có rất nhiều thay đổi không chừng.
     Tôi đã từng nói, phương thức thực tiễn của thiền không phải chỉ có một loại. Có loại thiền thích hợp vời người tuổi trẻ, có loại thiền thích hợp cho người trung niên, và cũng có loại thiền thích hợp với bậc lão niên. Tóm lại, thiền không rơi vào bất cứ cái ổ cố định nào.

 

ĐỐI VỚI VẬT XẢ BỎ MÀ CẢM THẤY TIỀN NUỐI
THÌ CHÍNH NÓ LÀ MỘT LOẠI PHIỀN NÃO

     BÀNG CƯ SĨ

     Quyển sách “Chánh Pháp Nhãn Tạng Tuỳ Văn Ký” này, là ngũ lục của Đạo Nguyên thiền sư – Khai sơn tổ sư của Tào Động Tôn Nhật Bổn. Người soạn là cao túc (học trò) của Ngài là Hoài Trang thiền sư. Tôi muốn đem nội dung của quyển sách này để giới thiệu tỉ mỉ đến quý vị, nhưng, vì trang giấy có hạn nên chỉ có thể dẫn dụng những phần có liên quan đến nội dung thảo luận trong sách, và dưới đây là trích đoạn dịch văn đã tiết lục:
     Một hôm, có một vị tăng đến hỏi tâm yếu của tâm hành. Tôi bảo với ông thế này: “Người học đạo có thể cần phải “Nghèo” trước, vì tiền bạc nhiều thì dễ mua sắm đắm đuối vào vật chất mà nản chí tinh thần, người tu hành tại gia thường lo lắng tiền tài, lưu luyến chỗ ở, và giao dịch qua lại với bao nhiêu thân hữu, do vậy dù mà có chí tu hành, cũng bị cản trở rất nhiều trong phần nhân duyên chứng đạo. Cho nên xưa nay dù người tham gia tu học đông đảo, nhưng số người ưu tú vẫn không bằng người xuất gia. Người xuất gia ngoại trừ ba y một bát tất cả đều không có tiền tài, không truy cầu chổ ở yên ổn, không tham áo gấm khăn ngọc, một lòng chuyên chú đạo nghiệp, cho nên việc tu hành phần nhiều đều đạt kết quả. Đó là duyen do của “An bần chi sở dĩ lạc đạo”.
     Bàng Cư Sĩ tuy là tục nhân tại gia, nhưng tu hành không thua gì người xuất gia, và ông đã chiếm được một vị trí quan trọng trong Thiền Lâm. Bàng Cư Sĩ khi mới tham thiền, liền đã gom góp toàn bộ sở hữu tài vật trong nhà để chuẩn bị bỏ vào biển cả. Người đi đường thấy thế khuyên lơn là nên mang tài vật đó là dùng vào việc cứu nhân tế thế hoặc tạo tháp lập chùa thì tốt hơn. Cư Sĩ bảo rằng: “Vật này vì có hại đối với tôi nên tôi mới mang nó vứt bỏ, làm gì có cái đạo lý lấy cái vật hại mình đem tặng người khác!” Nói xong, không chút luyến tiếc ông đã đổ hết tiền tài xuống biển. Cư Sĩ tuy người tại gia, nhưng sự không tham luyến tài sản thế gian, thật đáng được gọi là một xuất gia hành giả”.
     Khi tôi đang cai thuốc lá đã từng mang một máy quẹt đắt tiền tặng cho người khác. Lúc ấy cơn nghiện thuốc của tôi rất lớn, mỗi ngày phải hút độ khoảng 50 chục điếu thuốc. Vì nghĩ đến sức khoẻ nên mới nhất quyết cai thuốc, đó là chuyện dĩ vãng 20 năm trước. Khi đó tuy quyết lòng cai thuốc, nhưng tự biết mình không phải là người ý chí kiên định, nên đối với kỷ luật bản thân tôi đã không đủ tự tin để dứt khoát quyết tâm cai thuốc do thế mới nhất định tặng cái quẹt máy cho người khác.
     Khi đọc giáo thị của Đạo Nguyên thiền sư, tôi đã không khỏi nghĩ đến dĩ vãng. Vì sức khoẻ mà mang vật không dùng tặng lại bạn bè, đây có phải là một việc làm thiều đạo đức? Đúng ra phải quăng bỏ nó đi mới phải...
     Đa phần con người thường sa vào lề lối suy tư mê man như thế.
     Hiển nhiên, cái quẹt máy sở dĩ có hại là vì dùng nó để đốt thuốc. Nếu không nhận thức được điểm này thì đối với suy tư trên mặt tiền tài lại càng không thể phân tích xác đáng. Tiền tài đối với kẻ tu hành Phật đạo có lúc đích thị là một chướng ngại, nhưng, cũng không thể phủ nhận sự hữu ích của nó. Ví như chúng ta có thể dùng nó để cứu tế kẻ nghèo khó, hoặc sử dụng nó để kiến tạo chùa chiền, chấn chỉnh đạo tràng v.v...Có khi cũng có thể dùng để quyên giúp cho các hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế ở Liên Hiệp Quốc v.v...chẳng hạn. Nếu đứng trên khía cạnh này đề suy gẫm, thì mang bạc tiền liệng vào lòng biển là một sự việc đáng tiếc.
     Nhưng, cái tình cảm “Bỏ đi thất tiếc” này đã không là cái khổ não chướng ngại của việc tu hành ư? Vì thế, nếu còn luyến tiếc khi mang tài vật vứt bỏ thì không thể hoàn toàn chấm dứt khổ não. Bàng Cư Sĩ sở dĩ đáng kính, ,vì ông không do dự tí nào khi đoạn tuyệt tài vật. Thế mới mong kiên trì ôm cái chủ nghĩa “xuất thế trên hết” (tức là “chủ trương không xuất gia thì không thể hiểu rõ thiền” của Đạo Nguyên thiền sư), đồng thời cũng rất đáng tôn sùng công phu “năng xả” của Bàng Cư Sĩ vì ông can cường hơn cả những người xuất gia.
     Ở chương thứ 10 “Tân Ước Thánh Kinh, Mã Khả Phúc Âm” ghi lại một mẫu chuyện thế này:
     Lúc Gia Tô đi đường, có một thanh niên đến sụp xuống lạy và thưa rằng: “Lạy Thầy nhân hậu, tôi phải làm gì để được sống mãi?” Gia Tô bảo anh ta: “Tại sao gọi ta là nhân hậu? Không có ai là nhân thiện trừ Thiên Chúa. Để được sống mãi mãi ngươi phải giữ các giáo răn. Những giáo răn như ngươi biết: Chớ giết người, không trộm cướp, không tà dâm, đừng hại người, không làm chứng dối, phải hiếu kính cha mẹ và thương nguời thân như bản thân”.
     Người thanh niên thưa với Gia Tô: “Tất cả những điều răn đó tôi đã tuân thủ từ thuở bé, thế thì tôi phải làm gì thêm?” Gia Tô người thanh niên, tỏ tình âu yếm và bảo: “Ngươi còn thiếu một việc: ngươi hãy về bán hết tài sản và chia phát cho người nghèo, làm thế ngươi sẽ được tài sản trên trời, rồi ngươi đến đây để theo ta”. Anh ta nghe Gia Tô nói xong, buồn rầu bỏ đi vì anh ta là người giàu có nhiều ruộng đất và lợi tức. Gia Tô buồn rầu nhìn các môn đồ rồi bảo rằng: “Các con hãy xem, người giàu muốn vào thiên đàng quả thật khó khăn! Này các con! Thầy bảo thật: Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước thiên đàng”.
     Lời nói của Gia Tô trọng điểm là không phải mang tiền tài thí xá cho người nghèo mà nhấn mạnh đến sự vướng mắc tiền tài chính là sự chướng ngại cho con đường thông đến thiên quốc, điểm này mà chủ trương của Đạo Nguyên thiền sư giống nhau.
     So với phú ông truy cầu con đường đi đến thiên quốc thì quyết tâm của Bàng Cư Sĩ đáng tôn kính hơn. Ông vì cầu đạo mà mang hết tài sản trút bỏ xuống biển, đích thật cần có quyết tâm và dũng khí. Không luận là Phật giáo hay Cơ Đốc giáo, đều cần những người có quyết tâm và dũng khí lớn như vậy để thực tu.
     Bàng Cư Sĩ(? – 808) là một trong số ít người với thân phận tại gia mà lư danh trong thiền sử. Càng đáng đề cập hơn, Bàng Cư Sĩ cả nhà gồm có bốn người đều xứng đáng gọi là “Gia tộc của thiền”, bởi vì cái chết của họ tương đối khác thường, có thể nói đó là lối chết của thiền giả chính tông.
     Những thiền gia tu hành cao thâm, phần đông đều có thể biết trước ngày chết của mình. Sự việc này thường thấy trong “Cao Tăng truyện”. Thậm chí không những biết trước ngày giờ ra đi mà nhiều thiền giả còn có thể tuỳ theo ý chí của mình mà quyết định công việc tử sanh. Bàng Cư Sĩ là một trong số những vị ấy. Giai thoại dưới đây được ghi trong lời tựa của “Bàng Cư Sĩ ngữ lục”:
     Một hôm, Bàng Cư Sĩ quyết định vãng sanh (đương nhiên khác với tự tử, tuy chúng ta không rõ nguyên nhân trong ấy).
     Bàng Cư Sĩ đem ý định của ông nói với cô con gái là Linh Chiếu và dặn dò:
     “Thế gian hư ảo không thật. con ra ngoài cửa giúp ta để canh cao độ của mặt trời, đến khi đúng ngọ thì hãy thông tri cho ta một tiếng”
     Bàng Cư Sĩ dự tính vừa đúng chánh ngọ thì sẽ vãng sanh.
     Đến chánh ngọ, cô con gái vào nhà báo:
     “Phụ thân đại nhân, đã chánh ngọ rồi, nhưng hôm nay là ngày nhật thực, không tinh cha hãy ra xem!”
     “Thật có việc như thế sao!”
     Thừa lúc Bàng Cư Sĩ bước ra ngoài nhà, Linh Chiếu cô nương đã toạ vãng sanh.
     “Động tác con nhỏ này thật lanh lợi”
     Bàng Cư Sĩ vừa mắng yêu vừa nhặt củi khô lo việc thiện hậu cho người con gái.
     Bảy hôm sau, thái thú sở tại đến phúng điếu. Vị thái thú này bình thời đã dành rất nhiều sự kính ngưỡng đối với Bàng Cư Sĩ. Bàng Cư Sĩ gặp thái thú liền bảo:
     “Phàm các hiện tượng đang hiện hữu điều là không tướng, nếu chấp không lmà có thì không thể được. Vì thế...” Lúc ấy trong nhà tràn đầy mùi thơm lạ và, Bàng Cư Sĩ đã vãng sanh.
     Thế là thái thú phải long trọng cử hành tang lễ cho cư sĩ, và thông báo tin này cho Bàng phu nhân. Nghe tin, Bàng phu nhân bảo rằng:
     “Thật là đáng ghét, không thông tri cho tôi một tiếng mà đi trước, làm sao chịu nổi!”
     Bàng phu nhân lập tức truyền tin này cho người con trai đang làm ruộng hay.
     “Ba con và Linh Chiếu đều đã chết rồi!” Bàng phu nhân vừa nói dứt lời, thì người con đang cầm cuốc đã buông lỏng và tằng hắng một tiếng rồi đứng đó vãng sanh.
     Bàng phu nhân một mặt lo hậu sự cho con một mặt mắng yêu: “Thằng con thật bất hiếu!” sau đó đến từng nhà cáo biệt những người lân cận và từ đó không biết bà đã đi đâu.

 

TRẺ NÍT 3 TUỔI TUY BIẾT, ÔNG GIÀ 80 KHÔNG LÀM ĐƯỢC

     ĐIỂU SÀO ĐẠO LÂM

     Đường triều có vị Đạo Lâm thiền sư (741-824), do khi ngài tu hành tại Tần Vọng sơn Hàn Châu, chim trúc kéo đến làm ổ trên những cành cây tùng trong núi, cho nên được phong hiệu là “Điểu Sào thiền sư”.
     Ngoài ra, chung quanh chỗ ở của ngài có rất nhiều chim ô thước làm tổ (đại khái có thể chúng cho rằng thiền sư là người cùng chủng loại), cho nên chúng rất ôn thuần với thiền sư, vì thế người ta cũng gọi ngài là “Thước Sào hoà thượng”. Vị Điểu Sào thiền sư này là vai chính trong câu chuyện.
     Nhưng, nếu chúng ta không đề cập đến một vai chính khác, thì mẫu chuyện này không thể diễn xuất được. Vị đó là thi nhân Bạch Cư Dị đã rất nổi tiếng trong thi đàn Trung Quốc (772-846). Ông vì nhậm chức Thích Sử mà đến Hàng Châu. Thích Sử là quan lớn nhất của một châu, cũng gọi là “Thái Chú”, một quan chức có ngôi vị khá cao. Bạch Cư Dị lần đầu đến Hàn Châu, nghe cách đi đứng đặc dị của Điểu Sào thiền sư, bèn muốn đến bái kiến một phen.
     Khi đến nơi, trông thấy chỗ ở của thiền sư, ông không thể tự chủ, lớn tiếng la hoảng:
     “Chỗ ở của thiền sư rất nguy hiểm đấy!”
     Bạch Cư Dị là người học Phật, ít nhiều cũng biết đôi chút Phật Pháp, vì thế ông thốt ra lời nói vừa có tính cách tỉnh nhưng đồng thời cũng nhắm vào hành vi đi đứng hiển dị khác thường của thiền sư đang mê hoặc dân chúng mà ngầm chứa mùi vị mai mỉa.
     Khi đọc công án này lần đầu, tôi cũng đã có cùng cảm giác bực ghét như thế vì cảm thấy kẻ tu hành học Phật không cần thiết phải biểu lộ những hành động kỳ khôi lập dị.
     “Nguy hiểm đấy!” lời nói của Bạch Cư Dị thật đúng chỗ. Bởi vì chúng ta có thể vin vào sự trả lời của thiền sư để hiểu rõ công phu tu hành của ngài. Và ngược lại, phản ứng của thiền sư sẽ cho thấy được công lực của Bạch Cư Dị đến đâu. Vì thế cuộc vấn đáp này có thể được coi là một trận biện luận tinh vi.
     Điểu Sào thiền sư đã trả lời câu nói “Nguy hiểm lắm đấy!” rằng:
     “Thái thú, cảnh ngộ của ông còn nguy hiểm hơn tôi!”
     Quả thật, cảnh ngộ của chánh trị gia ngấm ngầm nguy cơ tứ phía. Chẳng hạn như bị giáng chức, đỗ hỏng, cách chức, bị hãm hại, làm ma thế mạng v.v... Không luận là giới chánh trị hay giới công thương đều đầy dẫy những loại nguy cơ như thế. Bạch Cư Dị vì giáng chức nên mới được điều từ kinh thành đến Hàn Châu. Trước những hiểm hoạ vô chừng ấy thà chấp nhận thế giới thiền định trên cây tùng còn an toàn hơn.
     “Ông này! Thật lợi hại!”
     Có lẽ trong lòng Bạch Cu Dị đã nghĩ như thế. Đến đây, thoại đề lại chuyển đổi.
     Để bảo trì tính liên đới của toàn bộ cuộc đối đáp, chúng ta hãy thay đổi phương thức bằng cách tạm không giả thích từng câu, đợi sau khi phân rõ thắng bại, sẽ lần lượt giải thích tỉ mỉ, dưới đây là dịch văn:
     Thái thú Bạch Cư Dị: “Chỗ ở của thiền sư nguy hiểm qua!”
     Thiền sư: “Thái thú, cảnh ngộ của ông càng nguy hiểm hơn!”
     Thái thú: “Thế nào mới là đại ý của Phật pháp?”
     Thiền sư: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (đừng làm những việc ác, hãy thực hiện những việc lành).
     Thái thú: “Việc đó trẻ nít 3 tuổi cũng biết”.
     Thiền sư: “Nhưng, ông già 80 cũng khó mà làm được!”
     Thái thú: “...”
     Vấn đáp kết thúc, hiển nhiên Bạch Cư Dị đã thua.
     Bạch Cư Dị hỏi: “Thế nào mới là đại ý của Phật Pháp?” không phải lấy cương vị học sinh để thỉnh giáo đại ý Phật pháp, mà là muốn Điểu Sào thiền sư trần thuật ra những gì đã liễu ngộ, đó là có ý trắc nghiệm thiền sư.
     Còn Điểu Sào thiền sư đối với sự trắc nghiệm đã đưa ra lời giải đáp “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”. Thoáng nghe dĩ nhiên xuôi tai, không có chỗ nào sai lầm, nhưng lại cho người có trực giác nhận thấy câu trả lời quá tầm thường, Bạch Cư Dị đã nghĩ như thế.
     Nào ngờ, câu nói này rất nổi tiếng trong Phật giáo [Thất Phật thông giới kệ]. Đó là kệ ngữ chung để chỉ dạy chúng sanh của bảy đức Phật đã từng thị hiện ở thế giới sa bà, trong đó có đức Thích Tôn. Toàn văn kệ ngữ này như sau:
     Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành
     Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo
     (Đừng làm những việc ác, hãy thực hiện những việc lành, tự thanh tịnh tâm ý, đó là lới Phật dạy)
     Bạch Cư Dị cảm thấy câu trả lời này thật tầm thường không có gì ly kỳ, nên thốt “Việc này đến con nít lên 3 cũng biết”, ý ngầm bảo nếu sớm biết như thế thì không cần thiết phải lặn lội đến thâm sơn bái kiến.
     Nhưng không hổ danh Điểu Sào thiền sư, sau khi Bạch Cư Dị trả lời “Đến như trẻ nít 3 tuổi cũng biết”, thì ngài không chút do dự tức khắc đáp: “Hẳn thế, nhưng lão ông 80 tuổi chưa chắc làm được!”, bị thiền sư phang câu này, Bạch Cư Dị chỉ biết trợn mắt thè lưỡi, không sao có thể biện đáp thêm được.
     Thiền hay Phật giáo cũng vậy, bất cứ là đạo lý gì, đều dạy con người bỏ theo thiện. Chỉ đơn sơ như thế, đơn thuần như vậy, mà chính là thiền, là Phật giáo.
     Một thí dụ khác, khi qua đường lớn, tuy gặp đang lúc đèn đỏ, nhưng thấy không có xe cộ nên định băng qua, con tôi đứng bên cạnh vội cản tôi lại. Tôi bảo “Không được phép băng đèn đỏ thì đúng rồi, nhưng...có quan hệ gì đâu!”
     Con tôi bấy giò chỉ đang học Ấu Trĩ Viên. Kết quả, cái quy tắc giao thông “Không thể vượt đèn đỏ” cả con nít 5 tuổi cũng biết, nhưng người lớn lại rất dễ vi phạm.
     “Không quan hệ gì!” Vừa nói xong, trong đầu tôi tức khắc hiện lên lời nói của Điểu Sào thiền sư. A! cho dù người lớn, đã 40 như tôi, cả cái quy tắc giao thông thông thường cũng không cách nào tuân hành nghiêm túc. Như thế, đàn ông trung niên trên tuổi 40 chỉ biết cãi lời đoạt lý thôi sao?
     Thiền không lý luận nhưng hiểu rõ đạo lý, “Thiền không phải là lý luận” chưa hẳn là đại biểu cho sự thấu hiểu về thiền. Nghe qua dường như có vẻ đáng buồn, nhưng xin hãy bình tĩnh, chớ nóng nảy, nóng giận là kẻ địch lớn của thiền. Hãy thong dong chậm rãi mà thể hội! Cuối cùng từ trong ấy bạn sẽ hiểu rõ đạo lý của thiền.

 

THẾ NÀO MỚI TRÁNH CHO MÈO KHỎI BỊ GIẾT?

     NAM TUYỀN PHỔ NGUYỆN

     Nam Tuyền Phổ Nguyện (748-834) vốn là một vị tăng có trình độ học vấn rất cao, ngài tinh thông “Kinh Hoa Nghiêm” (1), lãnh ngộ “Không” lý (2) của Bát Nhã” và sau này còn chuyên nghiên cứu về giới luật. Dù thế, sau cùng ngài vẫn vứt bỏ tất cả học vấn, theo phụng sự Mã Tổ Đạo Nhứt thiền sư và tự nhận là một thiền giả suốt cả cuộc đời.
     Mẫu chuyện dưới đây là một công án nổi tiếng của Thiền. Cái gọi là công án, cũng có thể gọi là trắc nghiệm vấn đề. Tốt nhất xin quý vị độc giả hãy trắc nghiệm ở đây rồi tự nêu ra một đáp án mà quý vị cho rằng tiêu chuẩn nhất.
     Một hôm, có một số thiền sinh đã chỉ vì chuyện của một con mèo mà tranh cãi không ngừng, lúc bấy giờ Nam Tuyền thiền sư thấy thế, nắm cổ con mèo giơ lên cao và bảo:
     “Này chư vị, trong số chư vị nếu có ai vì mèo mà có thể nói được một lời thì tôi sẽ không giết con mèo này, nếu không, tôi lập tức chém nó ngay. Hãy thử nói một câu!”
     Lúc ấy, đám đông lặng thinh.
     Thế là Nam Tuyền lập tức giết chết con mèo.
     Đến đêm, một đệ tử của Mã Tổ là Triệu Châu (Tùng Phẩm) từ ngoài về, Nam Tuyền thiền sư đem câu chuyện xảy ra ban ngày thuật lại cho ông. Triệu Châu nghe xong, đã không một lời nào đáp lại, cởi đôi giầy rơm đội lên đầu rồi bước ra khỏi phòng
     Nam Tuyền thiền sư thấy vậy bèn nói:
     “Lúc ấy nếu ngài có mặt, con mèo đã không bị giết...”
     Vấn đề ở chỗ, Triệu Châu tháo giầy rơm đội lên đầu có ý gì?
     Quý vị độc giả, quý vị có thể cứu sống con mèo này không?
     Đề mục nêu trên, nếu mách với quý vị:
     “Xin lỗi! tôi cũng không trả lời nổi” thì sẽ không khỏi bị độc giả mắng cho một trận! May mà vấn đề này có sẵn trong điển tích Thiền Tôn “Vô Môn Quan”, vì thế tôi mới có thể mạnh dạn thú nhận là tôi không có giải đáp. Xin độc giả tự căn cứ vào trí tuệ của mình mà tìm đáp án.
     Nếu trong số quý vị có người muốn khống cáo Nam Tuyền hòa thượng là lẻ ngược đãi động vật, tôi khuyên độc giả ấy hãy giữ im lặng thì tốt hơn. Bởi vì bản ý của Nam Tuyền là muốn cứu con mèo, thật sự, để cho con mèo bị giết chính là những người đã đặt Nam Tuyền hòa thượng vào tình thế khó xử!

  • Chú (1): Một trong những đại biểu kinh điển của Đại Thừa Phật giáo. Toàn Kinh thuật rõ đạo lý “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”.

  • Chú (2): “Không” là lý niệm cơn bản của Đại Thừa Phật pháp, cũng là trung tâm tư tưởng của “Bát Nhã Kinh”. Thuyết minh sở hữu thực thể tồn tại đều là đạo lý “Không” cùng với tư tưởng “Thiền” tương thông với nhau

 

 

KHÔNG NÊN MIỆNG LƯỠI,
ĐA NGÔN KHÔNG SAO KHỎI LỖI

     TRIỆU CHÂU TÙNG PHẨM

     Phần trước đã đề cập về mèo, bây giờ thì đến chó. Bút giả vốn không cố ý đùa bỡn văn chương, nhưng một khi nói đến Triệu Châu Tùng Thẩm thiền sư, đương nhiên không thể không đề cập đến công án nổi tiếng của “Con chó Triệu Châu”. Công án này được ghi ở chương nhất, mở đầu của “Vô Môn Quan”
     Có một tăng nhân thỉnh giáo Triệu Châu thiền sư (777-897): “Thưa thiền sư, chó có Phật tánh không?” Triệu Châu thiền sư đáp: “Không!”
     Chỉ một câu vấn đáp đơn giản và ngắn ngủi như thế, vả lại đây chỉ là một vấn đề chúng ta thường thấy. “Chó không có Phật tánh” -- chỉ có thế thôi
     Nhưng công án này tương đối vốn được chú trọng vì lẽ nó được sắp xếp ngay nơi trang đầu của quyển “Vô Môn Quan” bất luận thế nào cũng phải có một bài được sắp ở trang nhất, nếu không thì làm gì có trang hai, trang ba...? Nếu có lối nghĩ như thế, độc giả có lẽ sẽ nói: “Con chó Triệu Châu” chẳng qua gặp may mà được sắp ở bài thứ nhất, điều đó có gì đáng nói?” nhưng, sự “ngẫu nhiên” này dường như có sự tất nhiên của nó. Then chốt là chữ “không” trong câu trả lời của thiền sư.
     Chọn công án có liên quan đến “Vô” làm đầu bài này, là tương đối phù hợp với tên sách “Vô Môn Quan”. Cái gọi là “Vô Môn Quan” có nghĩa là “Không có ai kiểm tra”. Ý nói phàm những người muốn vào cảnh địa của thiền đều cần phải thông qua trước cái ải “Vô” này, điểm này phải là điểm chủ ý của tác giả Vô Môn Huệ Khai thiền sư nên ngài đã đặt cho tên sách là “Vô Môn Quan”. Chữ “Vô” của tên sách tương đương với ý chữ “Vô” của Triệu Châu thiền sư. Cho nên, chúng ta cần phải nhìn thẳng vào câu nói “Con chó không có Phật tánh” lần nữa. Ồ, không! Nói vậy, khác chi bảo rằng chúng ta cần phải lý giải ý nghĩa của “Vô”. Điều này không thể sử dụng thường lý để giải lý được.
     Ở đây xin độc giả cho phép tôi được nhiều lời, ý tôi muốn nói: Nếu các vị thật tình nghĩ mãi mà không hiểu được, thì chi bằng thử cái “diệu kế” của tôi, cái được gọi: Phương pháp “Đánh mèo mà trúng chỉnh”. Tục ngữ thường bảo: “Mèo đui gặp chuột chết”. Tay súng không thiện xạ nhiều khi bắn thêm vài phát và có thể vì “bất cẩn” mà trúng mục tiêu. Vì thế tôi khuyến khích quý vị hãy phát huy toàn bộ sức tưởng tượng của mình, cho dù đoán đông đoán tây, biết đâu chừng cũng sẽ rất có thể trúng câu đó.
     Tiếp đến, chúng ta hãy bàn về thoại đề liên quan đến chó.
     Căn cứ trong Cơ Đốc giáo, đặc biết là Thiên Chúa Giáo, cho rằng chó là loài không có linh hồn. Nột dung dưới đây, do vị linh mục Phi Na Thái Lợi người Ý miêu tả khi ông đến Nhật Bổn, đối với việc một phụ nữ Nhật đã yêu cầu ông làm phép và tế lễ cho con chó cưng của bà mà kinh hãi:
     Cái gọi là tế lễ là vì những việc làm khi còn sống của người chết mà lmà nghi thức chuộc tội và kỳ đảo khẩn cầu thiên thần giáng ân. Tiếng La Tinh gọi là “An hồn tế lễ”, hoặc tục gọi là “Trấn hồn tế lễ, và “Truy điệu tế lễ” v.v. Tôi làm chức linh mục nên thường trong ngày giỗ kỵ của người chết được yêu cầu tế lễ cho người chết.
     Nhưng còn tế lễ cho con chó đã chết là điều xưa nay chưa từng có, ít nhất, đối với người Ý như tôi thì quả thật là điều không thể tưởng tượng.
     Không những đây là vấn đề chưa có tiền lệ, hơn nữa đối tượng của tế lễ phải là con người, chó thì không. Dù gì tế lễ cũng là một nghi thức cầu cho linh hồn được yên nghỉ, còn đối với loài chó không có “linh hồn” thì như đã được lý luận, “Tế lễ vì chó” là việc không cách nào có thể làm lễ được.
     Tại nước Ý, dù người không có trình độ trí thức đến đâu đi nữa cũng không đưa ra yêu cầu như vậy, nhưng đối với sự tín ngưỡng kiên thành của bà lão Nhật thì lại có thể do lòng quá thương con chó đã chết mà đã đưa ra sự thỉnh cầu một cách rất tự nhiên. Sự kiện ấy thật tình đã tạo cho tôi một niềm xung kích tương đối rất lớn.
     [Cha Phi Na Thái L?i (Thu?ng th?c Co Ð?c Giáo)]
     Vì chó không có linh hồn, cho nên chó không thể lên thiên đàng được -- Đối giáo đồ Cơ Đốc Tây Phương thì đây là vấn đề thường thức phổ thông. Nhưng đối với người Nhật thì nó lại là nan đề khó giải thích. Theo cách nghĩ của người Nhật thì chó hay người cũng đều là sinh vật như thế tại sao lại có sai biệt? Chó vẫn có thể lên thiên đàng mới đúng...
     Người Nhật sở dĩ có lối nghĩ như vậy, vì lẽ họ hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Phật giáo cho rằng dẫu là người hay động vật, nếu đã thuộc về sinh mạng có linh tánh thì đều có thể thành Phật. Chúng ta tạm thời không bàn đúng, sai, tốt, xấu, nhưng từ chỗ này có thể thấy rằng Phật giáo và Cơ Đốc giáo (hoặc Thiên Chúa Giáo) khác nhau rất lớn.
     Nói đến cái gọi là “Phật tánh” hay về tính chất có thể thành Phật, thì câu nói này tương đương với Cơ Đốc giáo, đó là, có khả năng sanh lên thiên đường. Cho nên vấn đề được hỏi đến của Triệu Châu thiền sư: “Chó có Phật tánh không?” đổi theo cách nói của Cơ Đốc giáo thì: “Chó có thể lên thiên đàng không?”
     Như thế, câu trả lời cho vấn đề đó là đối với Cơ Đốc giáo thì phải là “No!” nhưng đối với Phật giáo thì “Yes!” Đứng trên giáo nghĩa của Phật giáo thì trả lời như thế rất là chính xác, còn trên phương diện Cơ Đốc giáo thì dựa vào những lời của linh mục Phi Na Thái Lợi cũng có thể suy luận được.
     Trở lại câu trả lời của Triệu Châu thiền sư, đương nhiên “Không” cũng tức là cái ý “No”. Nếu vấn đáp thì sẽ như thế này:
     “Chó cũng có Phật tánh sao?”
     “Vô lý, đừng nói ngốc!”
     Trả lời thế nếu sơ với cách nói của Cơ Đốc giáo thì có gì sai khác? Không lẽ Triệu Châu thiền sư không biết Phật pháp, hoặc giáo nghĩa: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” hay ngài đã quên tất cả?
     Hai điểm này đều không đúng.
     Bút giả cho rằng cái “không” của Triệu Châu thiền sư đã khẳng định phải là cái ý “No”, trái lại so với sự khẳng định của “Yes” còn ở vào tấng cấp cao hơn.
     Tại sao nói thế?
     “Chó cũng có Phật tánh sao?” bản thân vấn đề này nếu lấy bất cứ quan điểm nào thì câu đáp của nó cũng đều rơi vào sự chấp trước của hai bên là “có” và “không”. Nếu Triệu Châu thiền sư đáp “Có”, thế là người hỏi có thể hỏi tiếp “Mèo có Phật tánh không?” Sau khi mèo được khẳng định, tiếp đến lại hỏi khỉ, rồi ngựa, hải cẩu, chuột bọ, heo lợn v.v..., vấn đề sẽ không bao giờ chấm dứt. Tôi nghĩ cho dù không phải Triệu Châu thiền sư, cũng không cần thiết phải lý sự như vậy. Huống hồ bản thân vấn đề vốn đã có sẵn vấn đề.
     “Chó cũng có Phật tánh sao?” hỏi như thế rõ ràng đã đặt Phật tánh sao?” hỏi như thế rõ ràng đã đặt Phật tánh là vật ở tầng thứ thấp mà tra thúc thuộc tánh của nó, như thế bản thân của vấn đề tự nó đã nổi bật lên sự ngu xuẩn.
     Phật tánh là Phật tánh
     Trong Phật tánh không có vấn đề phân biệt sai dị của cái gọi là con người, hoặc chó hoặc khỉ v.v... Phật tánh xưa nay vốn đang tồn tại, thế thì làm gì có vấn đề ở người mà không ở trên thân khỉ? Phật tánh tồn tại trên mọi phân biệt như thế.
     Tôi nghĩ, ý của Triệu Châu thiền sư là vậy!
     Tất cả chúng sanh đều sẵn có Phật tánh –
     Nhưng đã không có cái loại “Phật tánh của chó” như vậy.
     Cho nên Triệu Châu thiền sư bất đắc dĩ phải trả lời như thế:
     “Chó cũng có Phật tánh sao?”
     “Không!”

 

“HÀNH VI” GIỐNG NHAU NHƯNG HOÀN TOÀN
KHÔNG THỂ BIỂU ĐẠT “Ý TƯỞNG” NHƯ NHAU

     CỤ CHỈ HÒA THƯỢNG

     Cái gọi là “Chân lý”, kỳ thực rất là bình thường.
     Nói theo lý, muốn thực hiện việc bình thường đáng lẽ rất dễ, nhưng thực tế lại không phải thế.
     Tôi từng được nghe về một sự kiện thế nào:
     Tại một cơ quan công cộng, có hai vị khóa trưởng họ Lâm và Trần. Trong cơ quan ấy, Lâm khóa trưởng có nhân tâm hơn, nên các thuộc cấp đều thích gần gũi.
     Một hôm, cơ quan có một viên chức qua đời vì tai nạn xe cộ. Tin buồn trên được truyền đến văn phòng đang khi Lâm khóa trưởng chuẩn bị đi công tác cán xa. Do nhiệm vụ trọng yếu, ông không cách chi có thể thay đổi hành trình để ở lại.
     Vì thế, Lâm khoá trưởng căn dặn thư ký mang phẩm vật đến nhà người chết để phúng điếu và thay mặt gửi lời phân ưu đến phu nhân người quá cố.
     Số tiền mang đi phúng điếu là 10.000 đồng. Trị giá theo lúc ấy là con số vừa phải. Nhưng vấn đề không phải số tiền nhiều hay ít, mà là nội dung của cái túi phúng điếu.
     Loại mới, bạc giấy lớn 1000 đồng...9 tờ
     Loại mới, bạc giấy 100 đồng...5 tờ
     Loại mới, bạc giấy 50 đồng...8 tờ
     Lóng tánh loạn tiền đúc 10 đồng....10 đồng
     Có lẽ có người sẽ hỏi tại sao không gói gọn 10 tờ loại 1,000 đồng? Đúng vậy, nếu không thì không được.
     Theo cái gọi là điện nghi, vật phúng điếu trong lúc an ủi tang gia để biểu đạt tâm lý và không để tang gia bị bất cứ trở ngại khó khăn nào về mặt tiền bạc. Thông thường, bởi sự việc bất ngờ xảy ra nên phúng điếu dù giấy bạc cũ cũng không can chi, còn nếu bì thư chứa toàn bạc mới, sẽ khiến tang gia hiểu lầm phải chăng trường hợp nào đó đối với sự phát sinh tang tóc hình như đã được đợi chờ sẵn. Đồng thòi, vì để biểu hiện lòng cảm thông trước sự việc ngoài ý muốn nên cố tình đặt nhiều loại tiền như 1000, 100, 50, 10 đồng v.v... để tỏ ý là vì đột ngột không thể chuẩn bị kịp nên chỉ nhất thời góp lại.
     Nhưng, Lâm khóa trưởng sử dụng bạc mới là để biểu hiện cá nhân ông có tác phong tế nhị khác với người bừa bãi, đó là một dụng tâm khéo léo chứng tỏ mình thuộc hạng người nào.
     Người vợ nhận phúng điều, rơi lệ cảm kích trước sự tế nhị của Lâm khoá trưởng. Không những không trách cứ việc ông không đến viếng tang lễ mà còn tỏ ra cảm kích muôn phần
     Việc này đến tai Trần khoá trưởng, trong lòng ông ta chợt có chủ ý: Sau này nếu gặp cơ hội như thế thì cũng y theo đó mà bào chế một phen...
     Quả nhiên, không lâu cơ hội lại đến (sự việc tựa hồ phát triển thuận lợi đến độ giống như sắp xếp một mẫu chuyện. Tuy tôi hoài nghi như vậy nhưng cho dù bịa đặt cũng không sao. Tóm lại, Trần khóa trưởng học theo Lâm khóa trượng, cũng gói loại giấy bạc mới để đi phúng điếu)
     Nhưng, nghe nói sau đó vợ của người chết đã oán trách và bảo với người khác rằng:
     “Con người của Trần khóa trưởng thật là không có hảo ý...”
     Mẫu chuyện trình thuật trên đây, trọng điểm muốn được biểu đạt đó là: Tuy là hành vi giống nhau, nhưng con người khác nhau nên động cơ làm việc khác nhau. Cũng một hành động giống hệt như thế nhưng sẽ mang lại cho người sự vui thích và chán ghét khác nhau.
     Cụ Chỉ hòa thượng mỗi khi có ai cật vấn Phật pháp thì ngài đưa lên một ngón tay. Sau đó có một đồng tử vì có người ngoài hỏi là hòa thượng đã dạy pháp nào trọng yếu nhất, đồng tử cũng đưa ngón tay lên để trả lời. Việc này sau khi hòa thượng nghe được, đã dùng dao chặt đứt ngón tay của đồng tử ấy. Đồng tử bị đau đớn khóc lóc rồi bỏ đi, hòa thượng gọi lại, đồng tử quay đầu, Cụ Chỉ lại đưa ngón tay lên, đồng tử đột nhiên lãnh ngộ. Khi Cụ Chỉ sắp viên tịch, ngài bảo với những đệ tử rằng: “Sau khi ta đã thể ngộ được Nhất Chỉ thiền từ Thiên Long Hòa Thượng, thọ dụng cả đời không hết”. Nói xong thì viên tịch. [ Vô Môn Quan]
     Năm tháng sanh thác của Cụ Chỉ hòa thượng đã không thể tra khảo được. Bài tựa bảo rằng sở học của ngài được truyền từ Thiên Long hòa thượng nhưng Thiên Long hòa thượng sanh và tịch vào năm nào thì cũng không thể tra cứu, chỉ biết thiền tăng là người ở vào cuối đời Đường. Nhưng việc này không trọng yếu, cái mà chúng ta muốn học là ngữ lục và hành nghi của ngài.
     Cụ Chỉ hòa thượng nhờ thầy của ngài là Thiên Long hòa thượng đưa ra một ngón tay (phải là ngón trỏ?) mà khai ngộ. Có lẽ đương thời Cụ Chỉ đã thỉnh giáo với Thiên Long hòa thượng “Cái gì là Phật?”, nên Thiên Long hòa thượng đã làm động tác như vậy?
     Nhưng, điều quan trọng xin quý vị chớ nên hiểu lầm rằng, ý của Thiên Long hòa thượng đã chẳng phải cho rằng ngón tay trỏ là Phật. Đại khái là khi Cụ Chỉ hỏi cái gì là Phật thì Thiên Long hoà thượng đã nhìn thấu rõ trong tận cùng tâm khảm của người đệ tử đã xem Phật là một tuyệt đối thể vừa sùng cao vừa uy nghiêm, vì thế để đánh tan thiên chấp của Cụ Chỉ nên ngài đã dùng ngón tay để điểm tỉnh sự mê vọng đó.
     Cụ Chỉ thấy thế tức khắc đại ngộ.
     Vẫn xin quý vị chớ nên hiểu lầm rằng, tuy chấp rằng ý nghĩa Phật là chí cao vô thượng vẫn là một sự chấp trước sai lầm, nhưng trước hết cũng không nên vì đó mà hiểu lầm rằng Phật là vật thuộc tầng thứ kém giống như ngón tay trỏ. Tóm lại, Phật là Phật, biết rõ Phật chỉ là Phật thì sẽ giác ngộ được chân lý.
     Về sau, khi những đệ tử thỉnh thị Cụ Chỉ hòa thượng bất cứ vấn đề gì, hòa thượng đều bật một ngón tay ra để đáp. Ở đây dường như lại dẫn đến một hiểu lầm khác cho độc giả, rằng ngài đã chấp vào Nhất Chỉ thiền. Tuy Phật pháp có đến 8 vạn 4 ngàn pháp môn, Cụ Chỉ hòa thượng chỉ độc chọn một pháp thì cũng đành chịu, nhưng nhất nhất đều sử dụng phương pháp này như thế có đúng không?...Có lẽ những pháp khác ngài cho rằng phiền phức nên dùng Nhất chỉ thiền thì cũng thế, mà làm mặt ma quỉ thì cũng vậy, thét một tiếng lớn cũng chả sao, bảo rằng “Sáng khoẻ” cũng không can chi, miễn sao sử dụng bất cứ pháp gì mà mục đích tối hậu có thể biểu đạt cái ý giống nhau là được. Đã vậy, cứ sảng khoái và đơn giản dùng Nhất Chỉ thiền để biểu thị lối nghĩ gọn gàng thuần nhát thì cũng chẳng có gì sai trái. Không cần làm bộ làm tịch, tất cả đều dùng một ngón tay lmà phương tiện tiêu biểu, trước sau gì Cụ Chỉ hòa thượng vẫn một mực lấy Nhất Chỉ Thiền để nhất tâm trả lời.
     Vì tiểu đồng chưa lãnh ngộ được đạo lý này, nên thấy hòa thượng giơ ngón tay trả lời đã lầm tưởng chìa ra một ngón tay tức là Thiền, là biểu đạt được thiền ý. Sự lãnh hội sai lạc về thiền này đã khiến tiểu đồng tử sinh ra bắt chước y hệt mà không tự biết mình đang sa vào mê vọng thiên chấp.
     Kỳ thực, bất cứ sử dụng phương thức nào cũng đều không thể biểu hiện thiền chân chính – Chính vì thế, thiền có thể biểu hiện qua bất cứ phương tiện thiện xảo nào, trong ấy bao gồm cả phương pháp sử dụng một ngón tay. Riêng trường hợp tiểu đồng tử vì chưa triệt ngộ được đạo lý này nên chỉ đơn thuần nghĩ là muốn biểu hiện là biểu hiện, thế thôi.
     Chính thế nên khi người khác hỏi: “Cái gì là Phật?” Tiểu đồng tử học theo cách biểu thị của hòa thượng mà đưa lên một ngón tay.
     Nhưng khi Cụ Chỉ hòa thượng biết được, ngài đã không cho giải bày điều gì mà lập tức chặt đứt ngón tay của tiểu đồng, sau đó đang khi đồng tử còn đớn đau khóc lóc, ngài lại đưa ra một ngón tay, ngay sát na chớp nhoáng ấy, tiểu đồng tử đã nhờ đó mà khai ngộ.
     Tiểu đồng tử đã liễu đạt được đạo lý gì mà khai ngộ? Thật rất khó thuyết minh. Nếu lấy lý mà luận đoán về thiền, trên căn bản đã là phí uổng miệng lưỡi, huống hồ muốn kẻ phàm phu chúng ta thuyết minh về cảnh giới khai ngộ. Cuối cùng thì việc sẽ như thế nào? Cảnh giới của người khai ngộ giống như người giàu thưởng thức sơn trân h ải vị và người nghèo nhất định không có cách nào có thể thẩm thấu được mùi vị thơm ngon trong ấy.
     Nhưng, ở đây tôi cần thuyết minh, nếu không, e sẽ làm cho độc giả hiểu lầm rằng phương thức “Miễn ngồi thiền” mà tôi đã đề xướng đó là sự treo đầu dê để bán thịt chó.
     Đối với tiểu đồng, có thể đây đúng là một loại “Khế cơ của phủ định” -- Đồng tử vì tin tưởng rằng Nhất Chỉ thiền có nghĩa là Phật, vì thế mà có thiên chấp mê vọng nên bị Cụ Chỉ hòa thượng chặt ngón. Tuy hơi tàn nhẫn, nhưng vì muốn phá trừ chấp trước của nó mới cắt đứt ngón tay của nó. Có lẽ sẽ có người chỉ trích việc làm tàn nhẫn này vì cho dù là thầy của người cũng không nên có hành động nhẫn tâm như thế. Không biết quý vị có từng nghe rằng thầy thuốc vì muốn cắt bỏ tế bao ung thư nên đã cắt bỏ một trong năm ngón tay. Có sao