Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 

  

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN


    
    Mỗi người trong chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình đang ý thức và cảm nhận rất rõ về đời sống của mình, rằng chúng ta đang sống một cuộc sống đích thực, một đời sống cho chính chúng ta, rằng chúng ta đang sống chứ không phải đang chết. Lấy cái gì để con người có thể xác quyết được các điều trên? Đó là sự có mặt của tự ngã, sự có mặt của một xác thân ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Chúng ta quan niệm rằng khi cái tự ngã này còn là sống, lúc tự ngã hoại diệt là chết. Sống và chết là hai thế giới cách biệt, chúng ta cũng nghĩ như vậy.

        Tất nhiên, vấn đề không đơn giản như thế. Điều mà ai cũng có thể nhận thấy được là đời sống con người luôn luôn biến đổi: trẻ trung thì khỏe đẹp, già cả thì yếu và xấu. Chặng đường từ trẻ đến già không bỗng nhiên mà có, chúng kinh qua vô số những biến đổi không ngừng. Chúng ta có thể đếm thời gian của những biến đổi này trong từng mươi năm, vài năm, một năm, một tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút, một giây, một tích tắc, và vô cùng... Ở thời điểm vô cùng ấy, tâm thức con người thật khó phân ra giữa sống và chết. Nơi đây, cái nền của sự sống mà chúng ta cho là thật chỉ là cái nền cát xây trên bờ vực trước những cơn sóng thác loạn của biển cả tồn sinh không ngừng biến động.

        Chúng ta có phải đang sống thực chăng? Đây không phải là một câu hỏi như một câu hỏi. Đây là một tự vấn, một tham cứu nghiêm cẩn vào chính đời sống của chúng ta. Lúc lái xe trên đường phố, chúng ta có thật sự đang để tâm, đang giác tỉnh đến việc lái xe, hay như là một thói quen, một quán lệ: thấy đèn xanh thì chạy, đèn đỏ thì ngừng? Lúc đang ngừng mà đèn xanh bật lên, chúng ta có nhận biết ngay điều này chăng, hay là nhờ xe bên cạnh chạy rồi chúng ta mới biết là đèn đã xanh mà chạy? Khi thấy đèn vàng sáng lên, chúng ta có bình tĩnh dừng xe kịp thời và an nhiên tự tại đợi cho đến đèn xanh rồi mới thong thả chạy, hay là chúng ta vội vã nhấn thêm ga để vượt qua cho nhanh? Tại sao chúng ta phải lái xe vội vã, hấp tấp? Chúng ta vì chạy theo thời gian, chạy theo công việc, hay chạy theo bản tánh bôn ba, hối hả của mình? Dù là gì chúng ta cũng đã và đang sống theo cung cách hành xử của một hình nộm bị giật dây, sống cho cái gì đó mà không phải là chính mình. Cuộc sống chúng ta lúc nào cũng hướng đến một cái gì, một nơi nào đó: Ăn thì để ăn cho no. Ngủ thì để ngủ cho đầy đủ, cho khỏe. Uống thì để cho đã khát. Đi thì để cho đến đích. Nằm thì để nghỉ ngơi. Ngồi thì để an nhàn, yên ổn. Học hành thì để thành đạt công danh. Làm việc vất vả thì để kiếm tiền, để được sống sung túc, để giàu sang. Chính vì vậy, chúng ta thật đã đánh mất sự sống đích thực trong chính cái ăn, ngủ, uống, đi, đứng, nằm, ngồi, học hành và làm việc, v.v... Chúng ta quả không phải đang sống thực. Chúng ta đang mộng, một cơn trường mộng!

        Đạo Phật, một cách đơn giản là nghệ thuật sống. Nghệ thuật đánh thức con người ra khỏi cơn đại mộng. Nghệ thuật làm thế nào sống như là sống như là sống trong ý nghĩa tinh mật và vi diệu nhất của sự sống: Sống sinh động, sống giác tỉnh, sống vượt thoát lên trên những trói buộc của vọng tâm, của phiền não, của tham, sân, si, v.v... từ bài pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển đến bài pháp cuối cùng tại rừng cây Ta La, thỉ chung đức Phật chỉ dạy cho thất chúng đệ tử của ngài nghệ thuật sống giác ngộ và giải thoát. Sống giác ngộ là sống thức tỉnh trong từng ý niệm, lời nói và việc làm. Sống giải thoát là sống thong dong tự tại, không bị vướng mắc trong bất cứ ý niệm, lời nói và việc làm nào. Trong số những pháp môn của đạo Phật, thiền đã đạt đến kỹ thuật tinh xảo của nghệ thuật sống. Ở đó, con người đã thừa tiếp được nguồn năng lực nhiệm mầu của sự sống bằng lối ngõ mở tung cánh cửa giác tâm. Sự thành tựu này đòi hỏi đến quyết tâm và sức mạnh tu tập kiên trì vô hạn lượng của người thực nghiệm, không phải chỉ bằng vài ba mớ kiến thức thô thiển nhận được từ sách vở, hay một ít tập luyện hời hợt bề ngoài không đánh động được cội nguồn tâm linh sâu thẳm.

        Eugen Herrigel là một triết gia Đức tất nhiên thừa hưởng được gia tài văn hóa của Phương tây, nhưng ông đã không tìm thấy câu giải đáp thỏa đáng từ truyền thống triết lý ấy cho vấn nạn căn bản của ông về đời sống đích thực. Trong một cơ duyên hãn hữu ông đã được thâm nhập vào giòng thiền qua con đường nghệ thuật bắn cung tại Nhật Bản. Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung là tác phẩm mà Eugen Herrigel đã trình bày một cách tinh yếu nghệ thuật bắn cung ở Nhật và qua đó để lộ sắc diện và phong thái ưu việt của thiền đối với các môn nghệ thuật nói riêng và đối với nghệ thuật sống cho con người nói chung. Tác phẩm này nay được Thượng Tọa Thích Viên Lý dịch sang tiếng Việt với lời văn trong sáng, từ ngữ chuẩn xác đã chuyển hiện được tất cả tinh hoa của nguyên tác sang dic̣h bản. Thượng Tọa Thích Viên Lý là một nhà lãnh đạo trẻ của Phật giáo Việt Nam, một nhà văn hóa đã đóng góp xứng đáng cho gia tài văn hóa dân tộc và Phật giáo qua nhiều công trình sáng tác và dịch thuật giá trị. Chính bối cảnh này làm tăng thêm phẩm chất quý giá của bản dịch Việt văn.

        Trong sự biết ơn sâu xa của chúng tôi đối với công đức của dịch giả đóng góp cho nền văn hóa nước nhà, Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới trân trọng giới thiệu cuốn Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung đến quý vị độc giả trong và ngoài nước.

 


California, mùa xuân năm 2001
Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới

 

VÀI LỜI CỦA DỊCH GIẢ

 


       Mỗi lúc tri nhận tâm thức mình bị tắc nghẹn là mỗi lần đọc tới đọc lui những pho sách cổ xưa để truy tầm những gì mà chắc chắn không bao giờ có thể tìm thấy kể cả kẻ đang tìm.

        Tất cả đương thể dù chẳng phải là nhưng cũng chẳng là một cái gì khác được suy diễn như là “nghệ vô nghệ”, chân lý trong và siêu chân lý, siêu vượt cả điều được mệnh danh chính nó.

        THIỀN TRONG NGHỆ THUẬT BẮN CUNG – một tác phẩm siêu tác của Eugen Herrigel, một hành giả người Đức, được Cố Pháp Nghiêm chuyển sang Hoa ngữ do Huệ Cự Xuất Bản Xã phát hành – là một cống hiến kỳ đặc không những đối vời nền Phật học mà còn cho cả nền văn nghệ thuật độc thoát đầy tác hưởng của Thiền.

        Như một đóng góp nhỏ cho nền tư tưởng Phật học nước nhà, xin được chuyển dịch tác phẩm này và chân thành cống hiến đến độc giả.

        Ước mong mỗi người tự suy nghiệm và tra vấn thường trực về lẽ sống và cái chết để từ đó, ngay trên nỗi sống chết mà thản nhiên nhìn dòng đời trôi chảy êm đềm thơ mộng như ngắm nhìn dòng suối thanh lươmg đang lượn quanh tu viện Bảo Pháp giữa rừng núi điệp trùng bao la tịch mịch, để có thể sống với tất cả giá trị đích thực của sự sống và chết với tất cả giá trị an nhiên vô nhiễm của cái chết.



 

Mùa sen nở, Phật Lịch 2545 (2001)
Thích Viên Lý
 

 

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

 

        Khi luyện tập nghệ thuật bắn cung, chúng ta nên chú ý một đặc điểm rất quan trọng: Sự tập luyện bắn cung không phải nhắm vào những mục tiêu thực dụng, cũng không thuần túy nhằm hưởng thụ mỹ học, mà nhằm rèn luyện tâm thức để, qua đó, người học có thể thâm nhập vào thực tướng của các pháp, của mọi hiện tượng. Điều này không phải chỉ ở Nhật Bổn mà hầu hết các nước Viễn Đông khác cũng như thế. Vả lại, không riêng gì môn bắn cung, việc luyện tập bất nghệ thuật nào cũng đều như thế cả. Vì vậy, người học bắn cung không phải chỉ muốn bắn trúng mục tiêu; người học kiếm khi vung gươm báu chẳng phải chỉ để mong thắng địch thủ; người ca vũ khi múa vũ khúc yểu điệu cũng không phải chỉ để biểu hiện những động tác nhịp nhàng của thân thể. Trước hết, tâm thức và tiềm thức cần hòa điệu lẫn nhau.

        Khi bạn thực tâm mong muốn trở thành bậc thầy của một nghệ thuật nào đó, nếu chỉ dựa vào kiến thức kỹ thuật thì chưa đủ. Bạn cần phải siêu việt lên trên kỹ thuật để biến nghệ thuật thành một “nghệ thuật vô nghệ thuật”.

        Trong nghệ thuật bắn cung, người bắn và mục tiêu không còn là hai chủ thể đối nghịch nhau mà là một thực thể. Cung thủ không còn cảm giác là người đứng trước bia kéo cung đợi buông tên để bắn trúng mục tiêu. Loại trạng thái vô thức này chỉ có khi chính cung thủ triệt để không còn tự ngã, và trở thành đồng nhất với tuyệt kỹ của họ, tuy rằng trong tuyệt kỹ này có điều gì đó rất khác thường mà không phải người học cách bắn cung có thể đạt được trong tiến trình luyện tập.

        Điều khiến cho Thiền khác biệt đậm với những giáo huấn về tôn giáo, triết học hoặc thần bí là: Tuy Thiền không bao giờ tách rời đời sống hằng ngày của chúng ta, và tuy rằng nó rất thực dụng và cụ thể, nhưng, Thiền có điều gì đó khiến nó cách biệt với khung cảnh ô trược và quay cuồng của thế gian.

        Tại đây chúng ta gặp sự liên quan giữa Thiền và xạ nghệ cùng các nghệ thuật khác như kiếm thuật, nghệ thuật cắm hoa, trà đạo, ca vũ, và mỹ thuật...

        Thiền Sư Mã Tổ (viên tịch vào năm 788 Tây lịch) nói rằng “Thiền là cái tâm hằng ngày,” và “cái tâm hằng ngày” này chẳng khác gì “mệt thì ngủ, đói thì ăn.” Một khi chúng ta vọng tưởng, trầm tư hay quan niệm hóa thì vô thức nguyên thủy liền xa lìa, và ý niệm đột nhiên sinh ra. Lúc ấy chúng ta không còn ăn khi ăn... không còn ngủ khi ngủ. Tên đã lìa cung nhưng không bay thẳng vào mục tiêu; tấm bia cũng không còn đứng tại chỗ cũ. Sự tính toán trở thành lầm lạc. Thuật bắn cung đi trật đường. Cái tâm rối loạn của xạ thủ tác hại chính mình trong mọi chiều hướng và mọi hành vi.

        Con người là động vật có tư tưởng, nhưng chúng ta thực hiện những thành tựu vĩ đại trong khi không một tính toán và không suy nghĩ. Cái tâm “giống như trẻ con” (“nhi tâm”) này phải trải qua nhiều năm huấn luyện thuật “quên bản ngã” mới có thê khôi phục. Khi đạt tới trình độ này, con người “nghĩ mà không nghĩ”. Hắn suy nghĩ giống như những trận mưa rào từ không trung rơi xuống; hắn suy nghĩ giống như những đợt sống uốn lượn trên mặt đại dương, như muôn sao soi sáng bầu trời đêm tối, như là xanh đang trổ ra trong gió heo may mùa Xuân. Chính người đó là hạt mưa, là đại dương, là muôn sao, là lá xanh tràn trề nhựa sống.

        Khi một người đạt tới trình độ phát huy tâm linh này, người đó trở thành một “nghệ sĩ Thiền” của cuộc đời. Người đó không cần phải tớí vải bố, cọ, và sơn màu, như họa sĩ; hắn không cần tới cung, tên và tấm bia, như cung thủ; vì hắn đã có sẵn tứ chi, thân mình, đầu, và các bộ phận của thân thể. Đời sống Thiền của người đó hiện thị qua những “công cụ” không thể thiếu này. Tay nhân là bút vẽ, cả vũ trụ là vải bố. Trên khung vải vẽ, họa gia này vẽ ra cuộc đời của mình kéo dài 70, 80, có khi tới 90 năm của hắn. Bức họa này gọi là “lịch sử."

        Pháp Diễn Thiền Sư của Ngũ Tổ Sơn (viên tịch năm 1140 Tây lịch) nói rằng: “Có người nào có thể biến không gian thành giấy, nước đại dương thành mực, Núi Sumeru thành bút, để viết năm chữ ‘Tổ Sư Tây Lai Ý’ 1. Đối với con người như thế, tôi xin trải tọa cụ 2 của tôi để cung kính bái phục.”

        Có lẽ có người muốn hỏi: “Những lời kỳ quặc này mang ý nghĩa gì? Tại sao những người có thể làm như thế lại đáng để chúng ta tôn kính?” Thiền sư có lẽ sẽ trả lời thế này: “Ta đói thì ăn, mỏi mệt thì ngủ.” Nếu vị đó chú trọng về thiên nhiên, có lẽ ông sẽ nói: “Trời hôm qua tạnh, hôm nay mưa.” Nhưng đối với độc giả, họ sẽ hỏi: “Cung thủ ở đâu?” Câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp.

        Tiên Sinh Herrigel là một triết gia Đức đến Nhật để dạy tại các đại học và đã nhân cơ hội này học nghệ thuật bắn cung để mong từ đó nhận thức được Thiền. Trong quyển sách nhỏ tinh vi này, ông tường thuật rõ ràng về kinh nghiệm bản thân. Qua sự diễn đạt của ông, độc giả Tây phương sẽ tìm thấy một phương thức quen thuộc hơn để tìm hiểu về cái kinh nghiệm khác thường và khó đạt tới của người Đông phương.
 


 

Ipswich, Massachusetts, Tháng Năm, 1953
Daisetz. T. Suzuki

 

 

1 Năm chữ Hoa ngữ này dịch theo nghĩa đen có nghĩa là “động lực khiến vị tổ thứ nhất đến từ phương tây,”  thường được dùng làm chủ đề vấn đáp của Thiền môn.  Nó cũng giống như câu hỏi rằng cái gì là bản thể sâu xa nhất của Thiền.  Khi hiểu được điều đó, Thiền là chính cái thân thể này.

2 Là tấm đệm tròn (đan bằng cỏ lát hay bằng sợi thảo mộc khác), một trong những vật phẩm mang theo tùy thân, trải trên đất dùng khi lạy Phật hoặc lạy thầy.

 

 

 

CHƯƠNG 1

 

MÔN BẮN CUNG VÀ THIỀN

 

        Nhìn thoáng qua, người ta có thể thấy rằng việc liên kết Thiền – bất cứ độc giả hiểu chữ này như thế nào – với một hành động thế tục của môn bắn cung là làm giảm giá trị của Thiền một cách không thể tha thứ được. Dù nếu độc giả sẵn lòng nhân nhượng và coi môn bắn cung như là một “nghệ thuật” chăng nữa, họ cũng chẳng muốn tìm kiếm điều gì khác hơn là một hình thức thể thao, từ phía sau cái nghệ thuật này.

        Vì thế, độc giả có thể sẽ kỳ vọng quyển sách này mách cho họ biết về tuyệt kỹ thần bí của giới xạ thủ Nhật Bổn. Những xạ thủ này đều là giới cung thủ được thừa hưởng một truyền thống lâu đời và bất tuyệt của môn bắn cung. Bởi vì ở Viễn Đông các loại phương pháp tác chiến xưa xũ chỉ bị vũ khí hiện đại thay thế trong thời gian vài thế hệ mà thôi. Thân chủ của giới xạ thủ vẫn còn thành thạo, môn bắn cung không những chưa bị phế bỏ mà còn ngày càng phát triển hơn trong mọi giới của người Nhật. Tại Nhật Bổn ngày nay, nghệ thuật bắn cung được đẩy mạnh và xem là môn thể thao toàn quốc. Vì vậy, có lẽ độc giả trông đợi quyển sách này tường thuật các phương pháp đặc biệt của nó.

        Kỳ vọng đó thật là quá đỗi sai lầm. Vì trên ý nghĩa truyền thống đối với xạ nghệ, người Nhật tôn nó thành nghệ thuật, coi như di sản quốc gia, nhưng lại không coi nó là môn thể thao. Thoạt nghe tuy có vẻ khác thường, nhưng người Nhật xem xạ nghệ như nghi thức tôn giáo. Do đó “nghệ” của xạ nghệ chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, xạ thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.

        Điều này có lẽ khiến cho độc giả cảm thấy khó hiểu và hỏi: “Cái gì? Ông muốn chúng tôi tin rằng môn bắn cung từng có thời dùng để quyết chiến sanh tử, nhưng bây giờ đã thoái hóa đến nỗi không còn là một môn thể thao mà đã trở thành một phương thức để tập luyện tâm linh? Vậy thì cung, tên, bia còn hữu dụng gì nữa? Có phải như vậy là chối bỏ môn nghệ thuật hùng dũng thời xưa và ý nghĩa đơn thuần của môn bắn cung, để thay thế bằng điều gì mơ hồ, nếu không muốn nói là kỳ quặc?”

        Tuy nhiên, cần nên nhớ rằng cái tinh thần đặc thù của môn bắn cung chẳng phải đợi đến thời nay mới liệt vào Đạo Cung Tiễn, mà từ thời xa xưa đã kết chặt không lìa với đạo này. Ngày nay, khi người ta không còn dùng cung tên trong những cuộc tranh đẫm máu để chứng minh giá trị của nó thì môn bắn cung càng tỏ ra có mãnh lực hơn. Nếu nói rằng vì kỹ thuật bắn cung truyền thống trong chiến đấu đã mất đi tính trọng yếu nên nó đã biến thành một thú tiêu khiển vô hại thì cũng không đúng. “Đại Đạo” của xạ nghệ cho chúng ta thấy điều gì khác hẳn. Căn cứ vào “đạo” này, môn bắn cung vẫn còn là một động tác có tính cách sanh tử mà cung thủ phải chiến đấu với chính mình; và cách thức tranh đua này không phải là sự thay thế tầm thường mà là căn bản của tất cả những cuộc tranh thắng hướng ngoại – chẳng hạn như đọ sức với một địch thủ bằng xương bằng thịt. Trong sự tranh thắng của xạ thủ đối với chính mình, hiện ra cái bản chất bí ẩn của xạ nghệ. Tuy nhiên, khi truyền thụ xạ nghệ này, người ta không đè nén bất cứ điều gì cốt yếu kh từ bỏ những cứu cánh thực dụng mà xưa kia giới võ sĩ đã thực hành.

        Vì thế, ngày nay ai theo học nghệ thuật này đều có thể thu lượm những lợi ích không thể phủ nhận, từ sự phát triển lịch sử của nó. Đó chính là nhờ cung thủ không màng tới chuyện hiểu được “Đại Đạo” qua những mục đích thực dụng, dù có thể cung thủ che dấu những mục đích này đối với chính hắn; nếu không có thái độ này thì hắn không thể nào thấu hiểu được đạo. Các bậc đại sư của môn bắn cung ở thời đại nào cũng đều đồng ý: Chỉ những người có cái tâm “thanh khiết” không cần biết đến những mục tiêu thứ yếu mới có thể đạt tới mức thâm áo của xạ nghệ.

        Nếu có người từ quan điểm này hỏi các đại sư Nhật Bổn: Làm sao họ hiểu được sự tranh đấu của cung thủ với chính hắn, và họ diễn tả sự tranh đấu này như thế nào? Câu trả lời của họ sẽ là một câu đố khó giải. Đối với họ, trong cuộc tranh đấu này xạ thủ nhắm vào chính mình, lại cũng không phải chính mình bắn trúng chính mình, và do đó hắn vừa là người nhắm bắn vừa là mục tiêu, vừa là người bắn và người bị bắn trúng. Hoặc là, chúng ta hãy dùng câu mà các đại sư thích nói “Cung thủ cần phải trở thành một trung tâm bất động.” Tới lúc đó, cái kỳ tích chí cao vô thượng, xuất hiện: Nghệ thuật thành “vô nghệ,” xạ thành “vô xạ” – một loại xạ không cung không tên; thầy lại trở thành học trò, bậc đại sư thành người bắt đầu học, kết cuộc thành mở đầu, và mở đầu thành viên mãn.

        Đối với người Đông phương, những công thức huyền diệu này là chân lý mười phần rõ ràng, tai nghe quen thuộc. Nhưng đối với người Tây phương, thì chúng hết sức mô hồ, khó hiểu. Vì thế, đối với vấn đề này người Tây phương cần nên nghiên cứu sâu hơn.

        Các loại nghệ thuật Nhật Bổn đều lậy Phật giáo làm căn nguyên; điểm này từ lâu đối với người Âu Châu đã không còn bí mật nữa. Dù là nghệ thuật bắn cung, vẽ tranh thủy mạc, kịch nghệ, trà đạo, nghệ thuật cắm hoa, hoặc võ sĩ đạo, đều như vậy.

        Những môn này đều lấy trạng thái tâm linh làm điều kiện tiên quyết, sau đó theo phương thức cá biệt bồi bổ thêm. Hình thức tối cao của trạng thái tâm linh này là đặc sắc của Phật giáo, cũng quyết định bản chất của giới tăng lữ. Phật giáo hiểu theo nghĩa thông thường, cũng không phải Phật giáo thuộc loại nặng về lý luận mà phần đông người Âu Châu được biết tới.

        Những điều tôi nói thuộc về Phật giáo Thiền tông, mà người Nhật gọi giản dị là “Zen” trong đó không có sự suy đoán mà chỉ có những kinh nghiệm trực tiếp để thể nghiệm đến căn cơ sâu xa nhất của cuộc sinh tồn sâu thẳm. Căn cơ này không cách nào lấy phương pháp tư duy để nhận biết, dù đã trải qua những kinh nghiệm minh xác nhất: Người ta biết nó bằng cách không cần biết tới nó... Chính vì những kinh nghiệm trọng yếu này mà Thiền tông đã mở ra lối đi mới, áp dụng phương pháp đắm chìm trong chính bản thân để cho mình cảm nhận được chỗ căn cơ sâu nhất của tâm hồn, của cái Vô Căn Cơ Tánh và Vô Phẩm Chất Tánh không thể gọi tên – và hơn thế nữa, trở thành đồng nhất với cái đó.

        Nói như vậy, xạ nghệ là những bài học luyện tập tâm linh nhờ vào đó mà kỹ xảo của môn bắn cung trở thành một nghệ thuật – và nếu mọi điều tiến triển tốt đẹp, nó sẽ đạt tới cảnh giới “vô nghệ chi nghệ.” Xạ nghệ là phương pháp tu tập huyền bí, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hổ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu.

        Vì thế, nếu người ta được các Phật tử Thiền tông giảng giải để tăng tiến hiểu biết về Thiền thì thật là tốt đẹp không gì bằng. Sự thật, những tư liệu loại này chẳng thiếu thốn. Trong cuốn “Những Tiểu Luận Về Thiền Tông”,1 Đại Sư D. T. Suzuk từng thuyết minh rằng văn hóa Nhật Bổn và Thiền có liên hệ mật thiết với nhau; nghệ thuật Nhật Bổn, tinh thần võ sĩ đạo, lối sống, đạo đức, mỹ thuật, thậm chí cả đời sống trí thức của người Nhật, đều chịu những ảnh hưởng đặc thù từ Thiền tông; vì vậy người ta không thể hiểu văn hóa Nhật một cách chính xác nếu không biết gì về Thiền tông.

        Những tác phẩm rất trọng yếu của Đại Sư Suzuki, và những nghiên cứu của các học giả Nhật Bổn khác, đã gây chú ý rộng rãi đến các giới đối với Thiền. Phát xuất từ Ấn Độ, sau khi trải qua những biến đổi thâm sâu, Thiền tông đạt tới phát triển cao độ ở Trung Quốc, rồi được người Nhật tiếp nạp, và họ đã vun bồi thành một truyền thống cho đến ngày nay. Người ta thường công nhận rằng Thiền tông đã khai mở những con đường nhân sinh bất ngờ mà chúng ta rất cần phải hiểu biết.

        Nhưng, tuy các chuyên gia Thiền học đã cố gắng mọi cách, sự thấu hiểu về tinh nghĩa của Thiền vẫn còn quá ít đối với người Tây phương. Tựa hồ như Thiền chống lại sự xâm nhập xa hơn của người Tây phương, sau khi mò mẫm tiến được vài bước thì họ gặp phải những chướng ngại không thể vượt qua. Gói ghém trong bóng tối thâm sâu, Thiền giống như câu đố kỳ dị nhất trong sinh hoạt tinh thần của người Đông phương: Không thể giải nghĩa nhưng có sức hấp dẫn không chống cự nổi.

        Người ta có cảm giác nhức nhối vì không thể đạt tới sự thấu hiểu, nguyên do hầu như là vì cung cách diễn đạt mà Thiền đã áp dụng từ xưa tới nay. Chúng ta không thể trông mong Thiền gia cho biết những gì nhiều hơn là hé lộ một cách gián tiếp về những kinh nghiệm đã giải thoát và thay đổi con người họ; hoặc là họ chỉ có thể cố gắng mô tả cái “Chân Lý” bất khả tưởng tượng và bất khả diễn đạt mà họ đang sống. Trên phương diện này, Thiền gần giống như chủ nghĩa thần bí nội suy thuần túy. Trừ phi chúng ta đi vào những kinh nghiệm huyền bí bằng cách tham dự trực tiếp, nếu không thì chúng ta chỉ đứng bên ngoài, với tâm trạng bứt rức bồn chồn vì thấy khó hiểu. Đây là pháp tắc mà mọi chủ nghĩa huyền bí chân chính đều phải tuân thủ, không có những trường hợp ngoại lệ. Tuy rằng Thiền môn có biết bao nhiêu kinh sách được coi là thiêng liêng, nhưng không có điểm nào mâu thuẫn với pháp tắc này. Những kinh sách này có đặc điểm là chúng chỉ tiết lộ những ý nghĩa vô cùng thâm sâu cho những ai đã chứng tỏ rằng họ xứng đáng đối với những kinh nghiệm trọng đại đó; và do đó, từ những kinh sách này họ có thể suy ra được sự xác nhận về những điều mà họ đã liễu ngộ từ trước mà không cần phải nhờ vào chúng. Mặt khác, đối với những người không có kinh nghiệm, những kinh sách này chẳng những có tính cách ngớ ngẩn – người không có kinh nghiệm làm sao có thể đọc được những ý nghĩa nằm giữa hai giòng chữ – mà còn khiến cho họ sa vào tình cảnh bối rối tinh thần một cách vô vọng, dù cho họ có thái độ thật cẩn trọng và vô tư mà kiên trì nghiên cứu những kinh sách này chăng nữa. Giống như mọi giáo nghĩa huyền bí, người ta chỉ có thể hiểu được Thiền khi chính mình là một nhà huyền bí, và do đó không dùng những phương pháp bất chính để đạt tới những gì mà kinh nghiệm huyền bí còn che dấu họ. Người đã được Thiền biến cải – và đã từng vượt qua “ngọn lửa chân lý” – thường sống một cuộc đời biểu lộ sự liễu ngộ của họ, khiến cho người xung quanh khó có thể không nhận ra.

        Vì thế, chúng ta bị lôi cuốn về tinh thần, mong tìm thấy con đường dẫn tới cái sức mạnh vô danh có thể tạo nên những mầu nhiệm thì chúng ta có lý do để trông mong bậc Thiền gia mô tả con đường dẫn tới mục tiêu. Một người thuộc môn phái huyền bí hoặc người sơ học Thiền tông, nếu không trải qua một phen lịch luyện sẽ không có cách nào thành tựu được ngay ở buớc đầu tiên. Trước khi cuối cùng soi sáng được chân lý, họ vẫn còn đầy dẫy bao khó khăn cần phải khắc phục, bao tật xấu phải diệt bỏ. Biết bao nhiêu lần họ bị dằn vặt bởi cái cảm giác thê lương khi thấy dường như mình đang cố gắng đạt tới cái bất khả đạt! Tuy nhiên, tới một ngày nào đó, cái bất khả đạt này sẽ trở thành khả đạt, và thậm chí trở thành hiển nhiên. Vậy thì chúng ta có nên hy vọng rằng sự mô tả thận trọng về con đường dài đầy cam go này ít nhất cũng sẽ dẫn chúng ta tới một điểm: Đặt câu hỏi rằng chúng ta có muốn đi trên con đường đó hay không?

        Trong kinh sách của Thiền tông hầu như không hề có những mô tả về con đường đó và những trạm nghỉ chân của nó. Điều này một phần là vì Thiền gia không chấp nhận phương pháp dùng sách vở để truyền dạy bất cứ loại đời sống hạnh phúc nào. Qua kinh nghiệm bản thân, Thiền gia biết rằng người tu tập cần phải có minh sư tận tâm hướng dẫn hoặc sự hỗ trợ của một bậc thầy. Một điều quan trọng khác là khi những kinh nghiệm, những biến đổi tâm linh của hành giả, và những điều mà người đó đã khắc phục, vẫn còn là “của ta” thì chúng sẽ cần phải tiếp tục bị khắc phục và biến đổi nhiều lần nữa, cho tới khi nào mọi cái “của ta” đã hoàn toàn bị tận diệt. Chỉ bằng cách đó, Thiền gia mới có thể đạt tới một căn bản cho những kinh nghiệm của họ những kinh nghiệm này là “Chân Lý toàn diện” nâng cao họ lên một đời sống thường nhật của riêng họ. Thiền gia vẫn sống, nhưng cái thực thể sống đó không còn là chính bản thân họ nữa.

        Từ quan điểm này, chúng ta có thể hiểu tại sao Thiền gia tránh bàn về chính mình và về sự tiến triển của họ. Không phải họ nghĩ rằng tự nói về mình là thiếu khiêm tốn, mà vì họ cho rằng làm như vậy là phản lại Thiền. Dù nếu họ muốn bàn về Thiền chăng nữa, chuyện này đâu có dễ dàng mà cần phải moi móc tới tâm can. Họ nhớ tấm gương của một vị Tổ Sư: Có người hỏi vị tổ sư này “Thiền là gì?” Tổ Sư không thốt một lời, hoàn toàn không động lòng, làm như không nghe thấy. Bất cứ Thiền gia nào cũng chẳng muốn tường thuật lại những gì mà họ đã liệng bỏ và không đoái hoài tới nữa.

        Trong những hoàn cảnh này, tôi trốn tránh trách nhiệm nếu tôi chỉ sử dụng một chuỗi những điều nghịch lý và ẩn náu đằng sau hàng loạt những từ ngữ nghe rất kêu. Vì chủ ý của tôi là làm sáng tỏ về đặc tánh của Thiền như nó đã tạo ảnh hưởng đối với một trong những nghệ thuật mà nó đã để lại dấu ấn sâu đậm. Đây không phải là soi sáng hiểu theo ý nghĩa cơ bản của Thiền, nhưng ít nhất nó cũng cho thấy rằng phải có cái gì sau những bức tường sương mù dày đặc, cái gì đó giống như tia chớp mùa hè báo hiệu cơn giông bão sắp đến từ đằng xa. Khi hiểu như vậy, nghệ thuật bắn cung cũng giống như một trường dự bị của Thiền, vì nó giúp cho người mới học Thiền có một nhãn quan rõ ràng hơn – qua những tác động của chính hai tay họ – về những sự việc mà họ chưa hiểu. Nói một cách khách quan, người ta có thể tiến tới Thiền từ bất cứ một trong những nghệ thuật mà tôi đã nói.

        Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tôi có thể đạt được mục đích của mình hiệu quả nhất bằng cách mô tả toàn bộ quá trình mà một người học nghệ thuật bắn cung phải trải qua. Nói rõ hơn, tôi sẽ cố gắng tóm lược về quá trình huấn luyện kéo dài sáu năm mà tôi đã được thụ huấn từ một trong những đại sư vĩ đại nhất của môn nghệ thuật này trong thời gian tôi ở Nhật Bổn. Vì vậy, những gì tôi viết ra ở đây đều là do kinh nghiệm bản thân. Để độc giả dễ hiểu những điều tôi viết – vì ngay cả cái trường dự bị này cũng có nhiều câu đố khó hiểu – tôi không có cách nào khác hơn là nhớ lại từng chi tiết về những kháng nội tâm mà tôi đã phải khắc phục, về những ức chế mà tôi phải chống chọi, trước khi tôi thành công để có thể thâm nhập vào tinh thần của Đại Đạo. Tôi phải nói nhiều về chính mình chỉ vì tôi không có cách nào khác để đạt được mục tiêu mà tôi đã đề ra. Cũng vì lý do đó, tôi sẽ chỉ nói về những điều chủ yếu, để khiến chúng nổi bật một cách rõ ràng. Tôi cố ý tự chế để không mô tả cái bối cảnh trong khi thụ huấn, không gợi lại những cảnh tượng đã in sâu trong ký ức tôi, và nhất là tránh vẽ ra một bức hình về vị Đại Sư – dù rằng đây là điều rất cám dỗ. Mọi điều phải dành để nói về nghệ thuật bắn cung, mà nhiều khi tôi thấy rằng nói về nó còn khó hơn là học nó; và sự miêu thuật phải được thi hành tới độ chúng ta miêu thuật phải được thi hành tới độ chúng ta bắt đầu nhận ra những chân trời xa xăm mà Thiền sống và thở ở đằng sau đó.

 

 

1 D. T. Suzuki, Essay in Zen Buddhism, xuất bản lần đầu năm 1927

 

 

 

CHƯƠNG 2


TẠI SAO TÔI HỌC THIỀN


 

        Tôi cần phải giải thích tại sao tôi học Thiền – và vì mục đích học Thiền mà tôi đã học nghệ thuật bắn cung. Ngay từ thời còn là một sinh viên tôi đã quan tâm nhiều về huyền-bí-học, tựa hồ như bị thúc đẩy bởi một lực bí ẩn, dù rằng vào thời đó những môn học loại này không thịnh hành. Tuy nhiên, dù cố gắng thế nào, càng ngày tôi càng nhận thức được rằng mình chỉ có thể tiếp cận những tác phẩm mật giáo này từ bên ngoài; và dù rằng tôi biết cách đi vòng quanh cái gọi là hiện tượng huyền bí nguyên thủy, tôi vẫn không thể nhẩy qua cảnh giới tuyến bao vây sự huyền bí giống như một bức tường cao. Trong bao nhiêu sách vở huyền-bí-học tôi cũng không thể tìm đúng những gì mà tôi muốn tìm; rồi vì thất vọng và nản lòng, dần dần tôi nhận thức rằng chỉ những ai thực sự “vô chấp’ mới có thể hiểu được ý nghĩa của “sự vô chấp”; và chỉ những người trầm mặc, đã hoàn toàn đoạn trừ cái ngã, mới sẵn sàng “trở thành đồng nhất” với “Đấng Chí Tôn siêu việt.” Vì vậy, tôi nhận thức rằng chỉ có một con đường – và không còn con đường nào khác – đưa tới huyền-bí-học là con đường xây đắp bằng kinh nghiệm và đau khổ của bản thân; nếu thiếu tiền đề này thì tất cả những gì nói về nó chỉ là những lời bàn tán trống rỗng. Nhưng làm cách nào để trở thành một nhà huyền bí? Làm cách nào để đạt tới cảnh giới vô chấp thực sự chứ chẳng phải tưởng tượng? Phải chăng ngày nay vẫn còn có con đường đạt tới cảnh giới huyền bí, ngay cả đối với những người bị ngăn cách với các vị Đại Sư bởi cái hố thẳm của thời gian nhiều thế kỷ? Và đối với con người hiện đại sinh trưởng trong những điều kiện hoàn toàn khác biệt? Bất cứ nơi đâu, tôi chẳng hề tìm thấy điều gì có thể trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi của mình, dù rằng tôi đã nghe nói về những chặng đường và những trạm của một con đường hứa hẹn dẫn tới mục tiêu. Để đi trên con đường này, tôi thiếu những giáo huấn chính xác và đúng phương pháp mà người ta có thể dùng để thay thế cho một vị ̣đại sư, ít ra là trong một phần của cuộc hành trình. Nhưng nếu thực sự có những giáo huấn như vậy thì chúng có đủ sức dạy chúng ta hay không? Phải chăng những giáo huấn như vậy chỉ có thể tạo được sự chuẩn bị để tiếp nhận điều gì đó mà ngay cả những phương pháp tốt nhất cũng không thể cung cấp? Phải chăng kinh nghiệm huyền bí là điều mà con người bình thường không thể tự sản sanh ra? Bất luận tôi nhìn vấn đề thế nào, tôi cũng thấy mình đối diện với những cánh cửa khóa kín nhưng tôi vẫn không cách nào tự ngăn cản mình tiếp tục gõ cửa. Khát vọng không ngừng cho đến khi khát vọng mệt mỏi, tôi lại khởi lên khát vọng của tấm lòng khát vọng ấy.

        Vì thế, khi có người hỏi tôi – lúc này tôi đã là giảng sư trường đại học – có muốn đi dạy triết học ở trường Đại Học Đông Kinh không, tôi vui sướng đón mừng cái cơ hội có thể giúp tôi nhận thức về nước Nhật và nhân dân Nhật, nơi đó tôi có hy vọng tiếp xúc với Phật giáo, và từ đó tiếp xúc với sự thực hành nội quán về huyền-bí-học. Tôi đã nghe nói ở Nhật Bổn vẫn còn giữ gìn nghiêm mật một truyền thống Thiền, một nghệ thuật giáo huấn đã được khảo nghiệm qua bao thế kỷ, và điều quan trọng nhất là có những vị Thiền sư tinh thông về nghệ thuật chỉ giáo tâm linh.

        Chẳng bao lâu sau khi tới Nhật Bổn tôi bắt đầu việc thực hiện sự mong muốn của mình, nhưng tôi liền gặp những lời từ chối khiến tôi lúng túng. Người ta bảo rằng xưa nay chưa từng có người Âu Châu nào nghiêm cẩn quan tâm học Thiền bao giờ; và bởi vì Thiền khước từ mọi dấu vết gì về “giáo huấn” cho nên nó sẽ không thể nào thỏa mãn tôi “một cách lý thuyết.” Tôi phải phí thêm bao tâm huyết và thì giờ mới giãi bày rõ tại sao tôi muốn hiến thân đặc biệt cho Thiền mà không nặng phần lý luận. Nghe qua, họ lại cho tôi biết rằng người Âu Châu muốn thâm nhập vào lãnh vực sinh hoạt tâm linh này là hoàn toàn không có hy vọng – loại sinh hoạt tâm linh này có lẽ là kỳ lạ nhất của người Đông phương – trừ phi người đó khởi sự bằng cách học tập một môn nghệ thuật liên quan với Thiền.

        Cái ý tưởng phải trải qua một loại thụ huấn dự bị chẳng khiến tôi sờn lòng chút nào. Tôi cảm thấy sẵn sàng để đi bất cứ đoạn đường dài nào nếu có chút hy vọng được tiến tới gần Thiền hơn chút nữa; và, đối với tôi, một con đường khúc khuỷu phải đi quanh co, dù tốn bao nhiêu công sức, vẫn tốt hơn là chẳng có con đường nào cả. Nhưng tôi nên theo đuổi bộ môn nào trong các loại nghệ thuật mà họ đề ra cho tôi phải học? Vợ tôi, sau khi hơi do dự, liền quyết định học nghệ thuật cắm hoa và hội họa. Còn tôi cảm thấy tựa hồ nghệ thuật bắn cung đối với tôi thích hợp hơn. Tại vì tôi sai lầm – sau này mới phát hiện – cho rằng những kinh nghiệm bắn súng trường và súng lục của tôi sẽ có lợi cho mình.

        Tôi khẩn khoản yêu cầu một trong những bạn đồng sự của tôi, ông Sozo Komachiya – một giáo sư môn công pháp đã từng học bắn cung hai mươi năm và được coi là môn sinh tài giỏi nhất của nghệ thuật này tại trường đại học – giúp tôi ghi danh theo học vị thầy trước đây từng dạy ông, vị đại sư lừng danh tên là Kenzo Awa.

        Đầu tiên, đại sư không nhận tôi, bảo rằng ông bị lầm một lần trước đây, từng dạy một người ngoại quốc, và cho tới nay vẫn còn cảm thấy hối hận về cái kinh nghiệm đó. Ông không có ý định nhượng bộ lần thứ hai, để tránh cho học viên cái gánh nặng tinh thần đặc thù của môn nghệ thuật này. Tôi thỉnh rằng: “Một vị Đại Sư coi trọng công việc của mình như vậy thì phải là một người có thể nhận tôi làm đệ tử nhỏ nhất.” Ông thấy tôi không phải chỉ muốn học nghệ thuật này như một thú vui mà vì muốn tầm cầu “Đại Đạo” mới tìm học môn này. Cuối cùng ông bằng lòng nhận tôi làm môn đồ và nhận cả vợ tôi. Ở Nhật Bổn, giới thiếu nữ học bắn cung là một cổ tục, vợ và hai con gái của đại sư cũng đều siêng học đạo này.

        Thế là bắt đầu một khóa trình huấn luyện đầy cam go. Bạn tôi, ông Komachiya – người đã kiên nhẫn làm thuyết khách và hầu như đứng ra bảo lãnh cho chúng tôi – bây giờ là người thông ngôn của chúng tôi. Đồng thời, thời vận tôi cũng khá, cho nên tôi được mời tham dự những bài học về nghệ thuật cắm hoa và hội họa mà vợ tôi đang theo học, để tôi có dịp không ngừng so sánh các môn nghệ thuật lẫn nhau, hầu đạt được một căn bản kiến thức bao quát hơn về Thiền.  

 

 

 

CHƯƠNG 3


NGHỆ CỦA VÔ NGHỆ
 


       Ngay trong lúc học bài thứ nhất chúng tôi liền biết con đường “Nghệ Vô Nghệ” không phải là dễ đi. Đại sư cho chúng tôi xem trước các loại cung của Nhật Bổn, giải thích rằng chúng có sức đàn hồi đặc biệt là nhờ cấu trúc đặc thù và cuộc liệu làm bằng tre. Nhưng dường như ông cảm thấy điều quan trọng hơn nữa là chúng tôi nên chú ý tới hình thù cao quí của cây cung – dài khoảng 1 mét 90 – hiện ra ngay khi nó được buộc dây, và khi cây cung được kéo xa hơn nữa thì cái hình thù đó càng đáng ngạc nhiên. Đại Sư giải thích rằng khi chúng kéo tới mức tột đỉnh thì nó “bao quát tất cả,” vì thế cần phải học tập phương pháp kéo cung chính xác. Kế đó, ông cầm lên một cây cung tốt nhất và mạnh nhất, rồi trang nghiêm đứng theo nghi thức, búng nhẹ dây cung mấy cái, phát ra âm hưởng thanh túy vang tiếng sắc bén pha lẫn tiếng trầm trầm. Âm thanh này nghe qua mấy lần, vĩnh viễn khó quên, nó kỳ lạ như thế, khiến người nghe kích động như bị nó siết chặt trái tim. Xưa nay người ta nói rằng cung có sức trừ tà, và tôi cho rằng điều tin tưởng này đã mọc rễ trong toàn thể dân tộc Nhật.

        Sau khi trải qua màn khai tâm đầy ý nghĩa để tịnh hóa và nhập môn, Đại Sư ra lệnh cho chúng tôi hãy chăm chú theo dõi ông. Rồi ông lấy một cây tên đặt vào đây cung, kéo dây cung ra xa đến nỗi tôi sợ nó không chịu nổi sự khẩn trương của việc “bao quát tất cả” và rơi mất mũi tên. Tư thế này không những trông thật đẹp mà còn thư thái và không phí sức. Tiếp đó ông dạy chúng tôi: “Bây giờ các bạn hãy làm giống như vậy, nhưmg phải nhớ rằng mục đích của xạ nghệ không phải là để tăng cường bắp thịt. Khi kéo dây cung chớ dùng hết sức toàn thân, phải học cách dùng sức ở hai bàn tay, trong khi các bắp thịt cánh tay và vai vẫn thư giãn – giống như thể các bắp thịt này chỉ là kẻ đứng xem bên ngoài. Chỉ khi nào các bạn làm được điểm này mới hoàn tất điều kiện sơ bộ dùng tâm linh kéo cung bắn tên,” Giảng xong, ông nắm hai tay tôi, chậm rãi hướng dẫn chúng qua mỗi giai đoạn của động tác này, mà trong tương lai tôi phải làm theo, với dụng ý để tôi quen với cảm giác này.

        Khi lần đầu thử dùng cây cung có sức mạnh trung đẳng để luyện tập, tôi nhận thấy muốn kéo nó tôi phải dùng khá nhiều sức. Bởi vì cung Nhật – không giống loại cung thể thao của Âu Châu – không phải đưa lên ngang vai thôi, không như lúc nâng đến vai có thể đưa sức toàn thân điều thêm trên cung. Cung Nhật một khi cắm tên vào xạ thủ liền cử cao hơn đầu, đồng thời hai cánh tay giơ thẳng. Vì thế, chỉ có thể đưa hai cánh tay sang tả hữu hai bên, khi chia ra càng rộng thì tay càng hướng xuống phía dưới hơn, mãi đến khi tay trái đang cầm cung ngưng ở vị trí cao ngang mắt. Cánh tay trái giơ thẳng ra ngoài, đồng thời tay phải kéo dây cung ngược thẳng về hướng sau, cánh tay phải cong lại đặt điểm kéo ở trên vai phải lúc cây tên dài 90 centimét chỉ hơi lộ một chút xíu mũi ở vành ngoài cung – cái mức trương ra lớn như thế. Xạ thủ phải bảo trì tư thế này chốc lát, cuối cùng mới buông tên. Phương thức kéo cung khác thường này cần có sức mạnh. Không lâu, tay tôi bắt đầu run rẩy, hô hấp càng thấy mệt hơn. Những tuần kế tiếp, tình huống này cũng không thấy cải thiện, kéo cung vẫn là việc khó khăn. Tuy rằng tôi siêng năng luyện tập, cái động tác đó vẫn không chịu trở thành “tâm linh.” Để tự an ủi, đột nhiên tôi nghĩ rằng lối này chắc chắn cần đến bí quyết gì đây, nhưng vì lý do nào đó mà Đại Sư không thổ lộ thế thôi. Tôi có tham vọng muốn tìm ra cái bí mật này.

        Đã hạ quyết tâm, tôi tiếp tục luyện tập. Đại Sư chăm chú theo dõi sự cố gắng của tôi, lặng lẽ sửa đổi lại tư thế căng thẳng của tôi, khen ngợi sự nhiệt thành của tôi, trách móc sự phí sức của tôi, ngoài ra tất cả để tôi được tự do. Duy có điều mỗi lần tôi giương cung, ông liền lớn tiếng bảo tôi: “Thư giãn! Thư giãn!” – đây là tiếng ngoại quốc ông mới học được – tuy ông tuyệt nhiên không mất kiên nhẫn mà luôn luôn lịch sự, nhưng tiếng la lớn ấy lần nào cũng đều chạm chỗ đau của tôi. Sau cùng, một hôm tôi mất kiên nhẫn và phải thú nhận với ông rằng tôi không thể nào chiếu theo phương pháp dạy của ông mà kéo cung.

        Đại Sư bảo: “Anh làm không được bởi vì phương thức hơi thở của anh không đúng. Sau khi hít vào, mang hơi ép nhẹ xuống làm cho vách bụng căng chặt, rồi để hơi ngưng ở đó chốc lát. Sau đó, chậm rãi thở hơi ra đều đặn. Nghỉ chốc lát, lại hít một hơi nhanh vào, một thở ra một hít vào không ngừng, theo một nhịp điệu mà dần dà sẽ tự ổn cố. Nếu làm đúng động tác này, xạ tiễn càng ngày sẽ càng dễ hơn. Bởi vì từ nguồn hô hấp anh không những phát hiện căn nguyên của tất cả sức mạnh tâm linh, mà hơn thế nữa, nó còn khiến cho cái nguồn sức mạnh này càng phát sinh nhiều hơn và chảy đến tứ chi. Khi anh càng thư giãn bao nhiêu thì sức mạnh đó càng trôi chảy bấy nhiêu. “Để chứng minh lời nói, Đại Sư kéo sợi dây trên cây cung cứng, bảo tôi đứng sau lưng sờ những bắp thịt cánh tay ông. Chúng thật là rất thư giãn, tựa hồ như không phải làm việc gì cả.

        Tôi theo phép tu tập phương pháp hô hấp mới, đầu tiên không dùng cung và tên, cho đến khi thấy hơi thở trở thành tự nhiên. Lúc ban đầu, có một chút cảm giác khó chịu nhưng không bao lâu tôi khắc phục được. Đại Sư rất chú trọng hơi thở ra, cố gắng chậm và đều đặn cho tới khi hơi thở ra hết. Để cho dễ kiểm soát khi luyện tập, ông muốn mọi người khi thở ra phải phát tiếng vù vù thật nhỏ. Chỉ khi nào hơi thở thôi phát tiếng ông mới cho phép hít hơi vào. Có một lần, Đại Sư bảo: “Hít hơi vào là kết hợp; khi nín hơi các bạn khiến cho mọi sự được trôi chảy; hơi thở ra là nới lỏng và hoàn tất bằng cách khắc phục mọi giới hạn, đạt đến viên mãn.” Nhưng lúc ấy mọi người đều không hiểu ra ý nghĩa của câu nói đó.

        Tiếp đến, Đại Sư bắt đầu giảng mối quan hệ giữa hơi thở và xạ tiễn – đương nhiên việc luyện tập hô hấp ở đây chẳng phải vì lợi ích cho chính nó. Ông chia tiến trình kéo dây cung và bắn tên thành những giai đoạn: Nắm cung, lên tên, nâng cung lên cao, kéo dây và ngưng lại khi cung giương ra rộng nhất, cuối cùng buông tên. Mỗi giai đoạn đều bắt đầu với hơi thở hít vào, kế đó nín hơi ở bụng, sau cùng thở ra.

        Kết quả là hô hấp và động tác phối hợp một cách tự nhiên và không những nhấn mạnh vị trí cách biệt và động tác của tay mà còn dựa vào dung lượng thở lớn hay nhỏ của phổi từng người, sự điều khí cùng các cử động đan dệt thành lớp lang rất nhịp nhàng. Tuy chia thành những g̣iai đoạn, toàn bộ quá trình lại giống như một sinh vật hoàn toàn tự tồn, chẳng có chút gì giống như môn thể vận (gymnastics) của Tây phương – trong môn này người ta có thể thêm vào hay bớt đi những động tác nhỏ tùy lúc mà không đến nỗi phá hoại ý nghĩa và đặc tính của nó.

        Mỗi lần nghĩ đến những ngày tháng ấy, tôi không khỏi nhớ mãi những khó khăn khi bắt đầu luyện tập thở đúng cách. Mặc dù phương thức tôi hít vào đã đúng về kỹ thuật, nhưng mỗi lần tôi cố gắng giữ cho những bắp thịt cánh tay và vai thư giãn trong khi kéo dây cung, các bắp thịt hai chân tôi thì lại cứng đờ ghê gớm, tựa hồ nếu tôi không đứng tấn cho vững thì sẽ mất mạng; và giống như người khổng lồ Antaeus trong thần thoại Hy Lạp, tôi phải hấp thụ sức lực từ dưới đất. Đại Sư thường không biết làm cách nào khác, ông đành phóng bàn tay nhanh như tia chớp xuống bắp đùi của tôi, ngay chỗ nhạy cảm đặc biệt và ấn bàn tay xuống. Vì muốn biện bạch, có lần tôi nói rằng tôi đang cố gắng giữ cho thân thể thư giãn. Đại Sư trả lời: “Đó chính là khuyết điểm của anh, vì anh cứ cố gắng nghĩ đến nó. Hãy hoàn toàn chú tâm vào hơi thở, giống như anh không có việc gì khác để làm!” Tôi tốn biết bao thời gian mới đạt đến ý muốn của Đại Sư; rốt cuộc rồi cũng thành công. Tôi tập tự quên mình trong hơi thở một cách dễ dàng đến nỗi đôi khi tôi có cảm giác rằng chẳng phải tôi đang thở mà – thật là kỳ lạ – tôi “bị thở.” Có lúc tôi ngẫm nghĩ hàng giờ đồng hồ, không chịu thừa nhận ý niệm táo bạo này, nhưng tôi không hoài nghi rằng sự hô hấp còn có tất cả những diệu dụng mà Đại Sư đã hứa hẹn. Tiếp đến, tôi có thể điều khiển được toàn thân thư giãn hoàn toàn khi kéo căng dây cung ra và bảo trì sức kéo hết mức, cho đến khi buông tên. Lúc đầu, thỉnh thoảng tôi mới làm được như vậy, về sau càng ngày càng thường xuyên hơn – nhưng tôi không thể giải thích vì sao tôi làm được. Sự khác biệt về phẩm chất giữa những lần thành công hiếm hoi và vô số những lần thất bại thật là rõ ràng, cho nên tôi phải thừa nhận rằng cuối cùng tôi đã hiểu ý nghĩa dùng “tâm linh” kéo cung.

        Nó như thế này: không phải là một bí quyết kỹ thuật như tôi đã tìm kiếm một cách vô ích, mà lại phải cố tâm điều hòa hơi thở để có thể đạt được những ảnh hưởng mới mẻ và sâu xa. Tôi nói điều đó mà trong lòng còn hoài nghi, vì tôi biết rất rõ sức cám dỗ của một ảnh hưởng mạnh; và khi sa vào cạm bẫy của ảo tưởng người ta thường đánh giá quá cao về sự quan trọng của một kinh nghiệm chỉ vì nó thiếu minh bạch của ngôn ngữ và sự dè dặt tỉnh táo, những kết quả đạt được nhờ cách thở mà tôi đã học được – sau này tôi đã có thể kéo được cả cây cung cứng của Đại Sư nhờ thư giãn bắp thịt – thật là quá rõ rệt, không thể phủ nhận.

        Khi bàn luận với ông Komachiya về việc luyện tập, có lần tôi hỏi ông tại sao Đại Sư thản nhiên trong một thời gian dài nhìn tôi uổng công phí sức lấy “tâm linh” kéo cung, tại sao ngay lúc đầu Đại Sư không dạy tôi thở đúng cách? Ông đáp: “Một vị đại sư chắc chắn cũng phải là một vị giáo sư vĩ đại. Đối với người Nhật chúng tôi, hai điều đó đi đôi với nhau. Nếu khi bắt đầu khóa học Đại Sư dạy ngay phương pháp thở cho ông, ngài sẽ không thể nào khiến cho ông nhận ra sự quan trọng có tính cách quyết định của nó. Ông phải trải qua tình cảnh bị đắm tàu – qua những nỗ lực của chính ông – trước khi ông sẵn sàng chụp lấy cái phao cấp cứu mà Đại Sư liệng cho ông. Tin tôi đi, tôi biết qua kinh nghiệm bản thân rằng Đại Sư biết về ông và mỗi học viên của ngài rõ hơn là chúng ta biết về chính mình. Ngài nhìn thấy rõ trong tâm linh của các học viên –đó là sự thật mà nhiều người không muốn thừa nhận.”

 


 

CHƯƠNG 4

LẤY TÂM KÉO CUNG

 


         Sau một năm huấn luyện, tôi đã có thể kéo dây cung “bằng tâm linh,” không cần cố gắng dùng sức mạnh - điều này chẳng phải là một thành quả ghê gớm gì. Nhưng tôi rất hài lòng, vì tôi đã bắt đầu hiểu rõ tại sao có môn võ thuật tự vệ gọi là Nhu Đạo. Phương pháp này quật ngã đối thủ bằng cách bất ngờ nhượng bộ – không cần cố gắng chống cự – đòn tấn công mạnh bạo của đối phương, khiến cho sức mạnh của hắn chống lại chính hắn. Từ xưa đến nay Nhu Đạo đã lấy nước làm biểu tượng vì nước luôn luôn nhượng bộ nhưng bất khả khuất phục. Vì vậy Lão Tử nói câu danh ngôn chí lý “Thượng thiện nhược thủy,” bởi vì “Tất cả mọi vật trên đời không có cái gì mềm yếu như nước vậy mà nó có thể thắng được tất cả những vật gì cứng rắn nhất.” Hơn nữa, trong trường các học viên truyền cho nhau câu nói của đại sư: “Người nào tiến bộ rất nhanh lúc ban đầu thì về sau sẽ càng gặp nhiều khó khăn.” Đối với tôi, lúc bắt đầu chẳng dễ dàng chút nào: Nếu thế, phải chăng tôi có quyền cảm thấy tự tin để nghinh đón việc tương lai xảy ra, và những khó khăn mà tôi đã bắt đầu hoài nghi?

         Điều kế tiếp phải học là “buông ra” mũi tên. Cho tới bây giờ chúng tôi được phép buông mũi tên tùy ý: nó hầu như chỉ là một hành động ngoại biên trong việc huấn luyện. Và, chẳng ai quan tâm tới điều gì xảy ra cho mũi tên. Miễn rằng mũi tên xuyên vào cuộn rơm bó chặt – dùng làm mục tiêu và đồng thời hứng mũi tên – là xạ thủ thỏa mãn rồi. Bắn trúng được mục tiêu chẳng phải là chuyện khó khăn gì, vì chúng tôi chỉ đứng cách nó khoảng mười bước là nhiều lắm.

        Trước đây, tôi chỉ giản dị buông dây cung khi đã kéo tới tột điểm và không còn chịu đựng được sự căng thẳng của cung, khi tôi cảm thấy mình phải buông ra, nếu không thì sẽ khó có thể khép hai tay tôi lại. Sức căng thẳng này chẳng gây đau đớn gì. Ngón tay cái của bao tay bằng da rất cứng, trong đó lót vải rất dầy để ngừa sức ép của dây cung làm khó chịu cho ngón cái, khiến chưa đạt đến sức căng dãn ở điểm cao nhất đã buông ra rồi. Khi kéo cung, ngón tay cái móc chặt dây cung ngay dưới mũi tên , ba ngón trỏ, giữa và vô danh nắm chắc ngón cái, đồng thời cũng giữ chặt đuôi tên. Bắn tên tức là buông ba ngón tay để thả ngón cái ra. Qua sức kéo mãnh liệt của dây cung, ngón tay cái bị bật khỏi vị trí của nó, cây cung căng thẳng, sợi dây rung chuyển và mũi tên bay ra. Cho tới lúc này, mỗi khi tôi bắn tên dây cung giật rất mạnh, khiến toàn thân tôi dấy động, và cũng gây ảnh hưởng tới sự ổn định của cung và tên. Như vậy là mỗi lần bắn tôi không tránh khỏi tự nhủ: Thế nào cũng bị chao đảo.

        Khi không còn thấy khuyết điểm trong cung cách thư giãn mà tôi kéo dây cung, một hôm Đại Sư nói: “Cho tới nay tất cả những gì mà anh đã học chỉ là việc chuẩn bị để bắn mũi tên. Bây giờ chúng ta đối diện với một bài học mới và hết sức gian nan để tiến vào một giai đoạn mới của nghệ thuật bắn cung.” Nói xong, đại sư cầm cây cung, kéo dây ra và bắn.

        Tới lúc này, khi cố ý nhìn kỹ để tìm hiểu, tôi mới phát hiện tay phải của Đại Sư tuy thình lình mở rộng và giật mạnh về phía sau, nhưng, toàn thân ông không chao động chút nào. Cánh tay mặt ông, trước khi chưa bắn tên vốn đã thành một cái góc nhọn, lúc này mở ra và nhẹ nhàng dang thẳng ra. Cái sức giật không thể nào tránh khỏi đã bị hóa giải.

        Nếu không có tiếng kêu “băng” của sợi dây cung rung rung và sức xuyên thấu của mũi tên kia, thì chẳng ai tin cây cung có xạ lực. Ít nhất điển hình qua đại sư, việc bắn tên giản dị và nhẹ nhàng giống như trò chơi của trẻ con.

        Chẳng dùng sức mà biểu diễn một công phu cần rất nhiều sức, là một cảnh tượng rất đẹp mà người Đông phương thích thưởng thức và lãnh hội một cách hết sức bén nhạy. Nhưng điều quan trọng hơn đối với tôi – và ở giai đoạn đó tôi không thể nghĩ cách nào khác – là việc bắn trúng mục tiêu dường như tùy thuộc vào động tác buông tên một cách bình vững. Qua môn bắn súng trường tôi biết rằng chỉ một chút xê xích ra khỏi đường nhắm cũng khiến mục tiêu bị sai lạc.

        Cho tới bây giờ tất cả những gì mà tôi đã học và đạt được đã trở thành rõ ràng, từ quan điểm sau đây: thư giãn khi kéo cung, thư giãn khi giữ lại ở điểm căng ra xa nhất, thư giãn khi buông mũi tên, thư giãn khi hứng chịu sức dội lại. Phải chăng tất cả những điều này đều nhắm vào mục đích bắn trúng mục tiêu, và là lý do tại sao chúng tôi tốn công sức và kiên nhẫn học bắn cung? Vậy thì tại sao Đại Sư nói như thể giai đoạn mà bây giờ chúng tôi cần học sẽ vượt xa tất cả mọi điều mà chúng tôi đã thực tập và làm quen từ trước tới nay? Bất luận thế nào, tôi vẫn chiếu theo sự giáo huấn của Đại Sư một cách siêng năng chuyên cần, nhưng, tất cả cố gắng của tôi vẫn uổng công. Tôi thường cảm thấy dường như trước đây tôi bắn khá hơn bây giờ, khi tôi cứ tự nhiên buông tên mà không nghĩ gì về hành động đó.

        Tôi nhận ra một điều quan trọng là tôi không thể mở bàn tay phải, nhất là những ngón giữ ngón cái, nếu không dùng sức. Hậu quả là bàn tay bị giật mạnh vào lúc buông dây cung, khiến cho mũi tên bị chao đảo. Đại sư không chút chán nản, tiếp tục biểu diễn phương pháp bắn tên chính xác. Tôi cũng không chút nản lòng làm theo giống như ông – mà kết quả duy nhất là càng ngày tôi thấy mình giống như con rết không thể tiến tới vì cứ thắc mắc không biết nó phải đi theo thứ tự của những cái chân như thế nào.

        Thất bại của tôi không khiến cho Đại Sư bực mình, trái lại chính tôi cảm thấy bực mình. Phải chăng ông căn cứ qua những kinh nghiệm để biết điều này phải xảy ra? Ông nói: “Đừng suy nghĩ anh phải làm gì? Đừng suy tính làm cách nào để bắn! Mũi tên sẽ chỉ bay đi êm thắm khi nó bất ngờ lìa khỏi xạ thủ. Giống như thể sợi dây cung bỗng nhiên cắt xuyên qua ngón tay cái giữ nó. Anh không được cố tình mở bàn tay phải.”

        Tôi trải qua những tuần lễ và những tháng kế tiếp thực hành không có kết quả. Tôi lại lấy cách bắn tên của đại sư làm tiêu chuẩn, chú ý quan sát cách buông dây cung chính xác, nhưng vẫn không một lần thành công.

        Nếu đợi thời khắc bắn tên tự nó đến, tôi không chịu nổi sức dang rộng của cung, lúc đó hai tay tôi từ từ khép vào nhau, và tôi không thể bắn được. Nếu tôi cắn răng chịu đựng sức dang ấy cho đến khi hơi thở như trâu, thì tôi không thể không cần những bắp thịt của cánh tay và vai trợ giúp. Lúc bấy giờ tôi đứng bất động – giống như một pho tượng, tôi bắt chước tư thế của Đại Sư – nhưng căng thẳng và không còn thư giãn được nữa.

Có thể là cơ duyên ngẫu nhiên, có thể là do Đại Sư sắp xếp, một hôm chúng tôi gặp nhau nơi uống trà. Tôi nắm lấy cơ hội này để thảo luận và nói rất nhiều điều muốn nói.

        Tôi thổ lộ: “Tôi biết rõ rằng khi buông tay không được lay động, nếu không thì phát bắn sẽ hỏng. Nhưng, bất cứ tôi cố gắng sửa sai thế nào, nó cũng vẫn không đúng. Nếu tôi hết sức nắm chặt bàn tay thì khi buông lỏng các ngón tay tôi không thể giữ cho bàn tay khỏi rung động. Mặt khác, nếu tôi cố giữ cho bàn tay thư giãn, thì sợi dây cung đã từ trong tay tôi trượt ra một cách bất ngờ và quá sớm, trước khi tôi kéo cung hết mức. Tôi không thất bại cách này thì thất bại cách khác. Thật tình cảm thấy không thể nào trốn tránh thất bại.”

        Đại sư trả lời: “Anh phải giữ sợi dây cung sau khi kéo ra, giống như hài nhi nắm lấy ngón tay mà người ta chìa ra cho nó. Nó nắm chặt đến độ người lớn không khỏi ngạc nhiên về sức mạnh của cái bàn tay tí hon. Và khi nó buông ngón tay anh ra, bàn tay của nó không giật chút nào. Anh biết tại sao không? Bởi vì đứa trẻ không hề nghĩ trong đầu: Bây giờ ta phải buông ngón tay này ra để nắm lấy một vật khác. Nó hoàn toàn không tự giác, không có mục đích gì, khi từ vật này chuyển sang vật khác. Chúng ta bảo nó đang chơi đùa với vật, nếu nói rằng vật đùa với nó, có phải cũng đúng như nhau không?”

        Tôi đáp: “Có lẽ tôi hiểu ngụ ý của Thầy, nhưng hoàn cảnh của tôi không phải hoàn toàn khác sao? Sau khi tôi kéo cung ra, đến lúc tôi cảm thấy: Trừ phi bắn tên liền tức khắc chứ tôi không làm sao chịu đựng nổi sức dãn nữa. Rồi điều gì xảy ra? Tôi gần như đứt hơi. Vì thế, dù muốn dù không, tôi phải buông tên, bởi vì tôi không đợi lâu hơn được.”

        Đại sư trả lời tôi: “Anh miêu tả những chỗ khó khăn như vậy là rất đúng. Anh biết vì sao anh không chờ đợi được đúng lúc buông tên, và tại sao anh gần như đứt hơi thở trước khi đúng lúc anh buông tên? Thời cơ buông tên đúng lúc của anh không đến là vì anh không chịu buông chính mình ra. Anh không chờ đợi sự thành công; trái lại, anh gồng mình chờ sự thất bại. Nếu cứ như vậy mãi, anh không có cách nào khác hơn là cầu viện tới một điều ngoại tại nào đó sẽ xảy ra, và khi nào anh còn cầu viện tới nó thì bàn tay anh sẽ không mở ra đúng cách – giống như bàn tay đứa hài nhi. Bàn tay anh không buông ra một cách tự nhiên như vỏ của một trái cây chín mùi.”

        Tôi phải thừa nhận với Đại Sư rằng lời giải thích này của ông khiến tôi càng thêm khó hiểu hơn. Tôi trả lời: “Nói cho cùng, tôi kéo cung và buông tên là để bắn trúng mục tiêu. Vì vậy, kéo cung chỉ là một phương tiện để đạt đến mục đích, và tôi không thể quên sự liên hệ này. Đứa trẻ nít không biết gì về điều đó; nhưng đối với tôi, hai việc này không thể tách rời nhau.”

        Đại sư nói: “Nghệ thuật chân chính không có mục đích! Khi bắn, anh càng cố chấp vì muốn bắn trúng cái bia thì anh càng khó thành công, và cái bia kia sẽ lìa anh xa hơn. Ý chí chấp thủ quá đáng là trở ngại của anh. Anh tưởng rằng điều gì chính anh không làm thì sẽ không xảy ra.”

        “Nhưng, Thầy thường bảo tôi rằng, thuật bắn cung không phải là một môn giải trí, không phải là trò chơi vô mục đích, mà chính là một vấn đề sanh tử!”

        Đại sư đáp rằng: “Tôi vẫn nói như thế! Các bậc thầy dạy bắn cung đều nói: Một mũi tên, một mạng người! Anh chưa hiểu được câu nói này. Nhưng nếu dùng một hình ảnh khác để diễn tả cùng một kinh nghiệm, có lẽ sẽ giúp ích cho anh. Các xạ sư chúng tôi nói: Với nửa phía trên cây cung xạ thủ xuyên thấu bầu trời, nơi nửa phía dưới cây cung trái đất treo lủng lẳng như thế bị buộc bằng một sợi dây. Khi buông tên, nếu tay giựt mạnh, sợi dây ấy sẽ có nguy cơ bị đứt. Đối với những người có cơ tâm và tính tình thô bạo thì cái đứt rạn này sẽ thành vĩnh viễn, và họ sẽ bị treo giữa trời đất một cách đáng sợ.”

        Tôi ưu tư hỏi Đại Sư: “Vậy thì tôi phải làm sao đây?”

        “Anh cần phải học tập chờ đợi một cách thích đáng.”

         “Học tập như thế nào?”

        “Bằng cách buông thả anh ra. Hãy bỏ lại chính anh và tất cả những gì của anh ở đằng sau anh một cách triệt để đến nỗi chẳng còn sót cái gì, ngoại trừ một phần sức kéo vô tâm cơ.”

        “Vậy thì tôi phải trở thành vô tâm – một cách cố ý?” Tôi nghe thấy chính mình nói thế.

        “Chưa có người học trò nào từng hỏi tôi như vậy, cho nên tôi không biết trả lời ra làm sao.”

        “Thưa Thầy, chừng nào chúng tôi bắt đầu luyện tập những bài học mới?”

        “Khi thời cơ thích đáng đến
 

CHƯƠNG 5

CHỦ ĐỀ CỦA MÔN BẮN CUNG


      Cuộc đàm luận trên đây với Đại Sư – là lần nói chuyện thân mật thứ nhất từ ngày tôi bắt đầu học – khiến tôi cảm thấy thắc mắc cực độ. Rốt cuộc, bây giờ chúng tôi đã đụng chạm tới chủ đề để dẫn tôi tới việc học bắn cung. Phải chăng điều mà Đại Sư bảo là tự buông thả con người mình chính là một giai đoạn trên con đường dẫn tới “không tánh” và “vô chấp”? Phải chăng tôi đã đạt tới điểm mà ảnh hưởng của Thiền đối với nghệ thuật bắn cung bắt đầu tỏ lộ ra?

        Sự liên hệ giữa khả năng chờ đợi một cách vô tâm và động tác buông tên đúng lúc – khi sức căng thẳng tự nhiên viên mãn – là điều mà tới bây giờ tôi vẫn chưa nhận ra. Nhưng cần gì phải cố gắng tiên đoán những gì mà chỉ có kinh nghiệm mới có thể dạy mình? Phải chăng đã đến lúc cần phải từ bỏ cái thói quen vô ích này? Đã bao nhiêu lần tôi âm thầm ganh tị với các môn sinh khác của Đại Sư khi họ để ông cầm tay dẫn dắt họ giống như trẻ con. Một hành động tự nhiên và vô trí như vậy thật là tuyệt diệu. Một thái độ như thế không nhất thiết đưa tới sự lãnh đạm và làm chậm bước tiến tâm linh. Trẻ con vẫn có quyền đặt những câu hỏi chứ?

        Trong bài học kế tiếp tôi thất vọng khi Đại Sư tiếp tục dạy những động tác trước đây: Giương cung, ngưng lại, buông tên. Nhưng, tất cả sự khích lệ của ông đều là vô dụng. Dù rằng tôi tuân thủ theo giáo huấn của ông, không nhượng bộ với sức dãn, mà phải tranh đấu để vượt qua khỏi nó, tựa hồ như tính chất của cây cung chẳng có thể hạn chế sức dãn của nó; dù tôi cố gắng chờ tới khi sức dãn tự động bắn tên ra – nhưng bất kể tất cả những nỗ lực này, mỗi mũi tên bắn ra đều thất bại; khó hiểu, hỏng bét, đi loạn xạ.

        Mãi cho đến khi Đại Sư thấy rõ rằng việc tiếp tục những bài tập này không những vô ích mà còn có thể nguy hiểm, vì tôi bị dồn nén ngày càng nặng bởi vì dự cảm của thất bại, lúc đó ông mới sửa đổi lối đi, bắt đầu với một phương châm mới mẻ.

        Ông bảo chúng tôi: “Từ nay khi các người đến học, các người phải chú tâm khi đi tới đây, hãy chỉ tập trung tâm lực vào những gì xảy ra trong sảnh luyện võ. Khi đi qua bất cứ vật gì trên đường đều chớ nên chú ý tới nó, tựa hồ như trên đời này chỉ có một điều quan trọng và có thật – đó là môn bắn cung!”

        Trình tự “buông lỏng chính mình” cũng chia thành từng giai đoạn như nhau để cẩn thận luyện qua. Trên phương diện này, đại sư cũng chỉ đưa ra những tập luyện này, môn sinh chỉ cần hiểu rõ, hoặc có lúc chỉ cần đoán trúng, điều mà Đại Sư đòi hỏi là đủ rồi. Vì thế không cần phải quan niệm hóa những khác biệt được diễn tả theo truyền thống bằng những hình ảnh. Ai biết được rằng những hình ảnh này – phát sanh qua hàng chục thế kỷ thực hành – lại chẳng ghi sâu đậm hơn tất cả kiến thức đắn đo tỉ mỉ của chúng ta?

        Tôi đã đi được bước thứ nhất trên con đường này rồi. Nó đã dẫn tới sự buông thả thân thể – nếu không thì chẳng thể nào giương cung đúng cách. Nếu muốn buông tên đúng cách, việc thả lỏng cơ thể còn cần phải nối tiếp bằng việc thả lỏng tinh thần và tâm linh; để khiến cho tâm trí không những bén nhạy mà còn tự do nữa: nó bén nhạy nhờ nó được tự do, và tự do nhờ sự bén nhạy nguyên thủy này khác biệt về bản chất đối với những gì mà chúng ta thường hiểu về sự bén nhạy tinh thần. Vì thế, giữa hai trạng thái của sự thư giãn thân thể và tự do tâm linh có một trình độ khác biệt mà xạ thủ không thể khắc phục bằng cách chỉ cần điều hòa hơi thở, mà phải bằng cách rũ bỏ tất cả mọi thứ chấp trước, bằng cách trở thành hoàn toàn vô ngã: Để khiến cho linh hồn – ẩn sâu trong chính nó – đứng hiên ngang trong sự phong phú nguyên thủy vô danh của nó.

        Sự đòi hỏi phải bế tỏa các giác quan chẳng phải được đáp ứng bằng cách cố gắng tránh né thế giới cảm quan mà lại sẵn sàng nhượng bộ mà không chống cự lại. Để đạt được “hành động vô hành động” này một cách tự nhiên từ bản năng, tâm linh cần có một chỗ bám víu từ bên trong, và nó thực hiện bằng cách tập trung vào hơi thở. Hành giả chú tâm vào hơi thở một cách có ý thức và chuyên tâm trì chí đến độ hầu như trở thành mô phạm. Hít vào và thở ra đều phải hết sức cẩn thận luyện tập. Hành giả không cần phải chờ đợi lâu mới thấy kết quả. Càng tập trung vào hơi thở bao nhiêu, những kích thích ngoại giới càng mờ nhạt và tan biến vào hậu trường. Chúng biến đi giống như tiếng gầm thét bị trấn áp mà ban đầu người ta chỉ nghe bằng một nửa lỗ tai, rồi cuối cùng người ta thấy rằng nó chẳng quấy nhiễu gì hơn tiếng gầm của hải triều từ đằng xa – một khi đã trở thành quen thuộc thì người ta không còn để ý tới nó nữa. Ngày tháng lâu dần, đối với những kích thích lớn hơn cũng thừa sức chống trả, đồng thời cũng khiến người ta càng nhanh và càng dễ bỏ hẳn chấp trước.

        Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm; lúc ấy nếu tập trung tâm lực vào hơi thở thì không lâu những lớp tịch mịch bất khả xuyên thấu; chỉ còn nhận biết và cảm thấy mình đang thở. Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại; trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, và cuối cùng biến thành một đơn điệu mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của hành giả. Đáng tiếc rằng cái trạng thái tuyệt diệu chìm đắm trong bản thân đó không kéo dài. Nó dễ bị xáo trộn từ bên trong.

        Bất chợt, những tâm trạng, những cảm giác, dục vọng, lo lắng, và cả những tư tưởng, từ đâu bỗng dưng hiện ra một cách hỗn độn vô nghĩa; khi những thứ đó càng vô nghĩa và càng không liên quan gì tới điều mà hành giả chú tâm thì chúng càng đeo đẳng dai hơn. Tựa hồ như chúng muốn trả thù ý thức, bởi vì – qua sự tập trung – ý thức đã tiếp xúc với những lãnh vực mà lúc thường nó không đến được. Phương pháp hữu hiệu duy nhất khiến cho sự xáo trộn này ngưng lại và tiếp tục thở, một cách lặng lẽ và bất quan tâm, để nhập vào những liên hệ thân thiện với bất cứ cái gì hiện ra, để trở thành quen thuộc với nó, để nhìn nó một cách lãnh đạm và cuối cùng chán nhìn nó. Bằng cách đó hành giả dần dần tiến vào một cảnh giới giống như trạng thái mơ màng trước khi đi vào giấc ngủ.

        Nhưng, đi vào giấc ngủ như vậy là điều nguy hiểm cần phải tránh. Để tránh, hành giả sử dụng một bước nhẩy khác thường để tập trung, giống như cái giật mình mà một người đã thức suốt đêm phải tự gây ra cho mình, khi hắn thấy rằng mạng sống của mình tùy thuộc vào các giác quan ở trong tình trạng cảnh giác; chỉ cần bước nhẩy này đã thành công một lần là sau đó chắc chắn hành giả sẽ có thể lập lại nó. Nhờ cái bước nhảy này, tâm linh tự nhiên sanh ra một loại rung động nội tại – một sức rung động có thể được nâng cao thành loại cảm giác mà người ta chỉ trải qua trong những giấc mộng hy hữu, cực kỳ nhẹ nhõm, và lòng tin tưởng nồng nhiệt rằng mình có thể thâu tóm sinh lực từ bất cứ phương hướng nào, để gia tăng hoặc để giảm bớt những căng thẳng tới mục độ thoải mái. Trong cảnh giới này không có cái gì đích xác cần suy nghĩ, chuẩn bị, cố gắng, mong cầu hoặc kỳ vọng, cũng chẳng có một mục tiêu và phương hướng đặc thù nào; thế nhưng, nó biết chính nó có năng lực làm những việc có thể làm hoặc việc không thể làm. Sức mạnh của nó là kiên định như thế. Trên căn bản, cảnh giới này là vô tâm cơ và vô ngã mà Đại Sư gọi đó là cảnh giới “tâm linh” chân chính. Sự thật, nó tràn đầy minh giác của tâm linh, vì thế nó còn được gọi là “sự hiện diện chân chính của tâm.” Có nghĩa là tâm linh hiện diện khắp nơi, bởi vì nó không trụ vào bất cứ một nơi nào đó. Hơn nữa, nó có thể tiếp tục hiện diện, bởi vì ngay cả khi liên quan tới vật này vật nọ, nó không bị mất tính cách linh động nguyên thủy của nó. Giống như nước đầy trong ao, lúc nào cũng có thể chảy ra, nó có sức lực vô tận bởi vì nó tự do; và nó mở ngỏ đối với mọi sự vật vì nó là hư không. Cảnh giới này vốn là cảnh giới nguyên thủy. Biểu tượng của nó là một cái vòng tròn trống trơn, nhưng đối với người nào đứng trong đó thì nó chẳng phải là trống trơn ý nghĩa.

        Từ trạng thái đầy ắp của cái tâm hiện diện khắp nơi này, không bị quấy nhiễu bởi động lực ngoại tại nào, người nghệ sĩ đã thoát ly tất cả mọi chấp thủ phải thực hành nghệ thuật của mình.

        Nhưng nếu hắn tự thích nghi một cách vô ngã vào tiến trình sáng tạo, thì việc thực hành nghệ thuật phải đi trên con đường trơn tru. Bởi vì, nếu đắm chìm trong tự ngã, hắn thấy mình đối diện với một tình cảnh mà hắn không thể nhảy vào qua bản năng, trước hết hắn phải khiến nó hiện ra trong ý thức. Lúc đó hắn sẽ đi lại vào tất cả những mối liên quan mà trước đây hắn đã xa lìa; hắn sẽ giống như người được đánh thức dậy rồi suy xét chương trình hành động trong ngày, mà không giống như Người Giác Ngộ, sinh, sống và hoạt động trong trạng thái nguyên thủy ban sơ. Hắn sẽ không bao giờ tìm thấy tựa hồ những phần tử riêng biệt của tiến trình sáng tạo được đặt vào tay hắn bởi một quyền lực siêu phàm; hắn sẽ không bao giờ cảm thấy sự rung động choáng váng của một biến động được truyền thông cho hắn – chính hắn cũng chỉ là một sức rung động – và không bao giờ cảm thấy mọi điều mà hắn đã được hoàn thành từ trước khi hắn nhận ra.

        Vì thế, sự vô chấp và tự giải thoát, việc hướng nội và tăng cường sức sống cho đến khi đạt tới sự hiện diện trọn vẹn của tâm, là những thứ mà hành giả không thể để mặc cho chúng tự nhiên xảy ra hoặc chờ tới lúc thuận tiện; nhất là không được phó mặc cho tiến trình sáng tạo – là thứ đòi hỏi tới tất cả năng lực của người nghệ sĩ – tự nó đến, với hy vọng rằng sự tập trung của tâm sẽ tự nhiên xảy ra. Trước khi làm và sáng tạo mọi sự việc, trước khi bắt đầu hiến thân và tự điều chỉnh mình cho thích ứng với công tác của hắn, người nghệ sĩ khơi dậy sự hiện diện của tâm và luôn luôn luyện tập điều này để duy trì tâm. Tới khi người nghệ sĩ thành công trong việc nắm bắt cái tâm một cách dễ dàng như thể nó nằm ở đầu ngón tay, chứ không phải chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra, thì từ đó công phu Định này – giống như hơi thở – sẽ liên kết chặt chẽ với thuật bắn cung.

        Để dễ nhập vào tiến trình giương cung và buông tên, cung thủ quì một đầu gối và bắt đầu nhập định, đứng lên, bước về phía tấm bia theo nghi thức nghiêm trang, kính cẩn dâng cung tên lên trước mặt giống như dâng hiến phẩm vật cúng tế, rồi lắp mũi tên, nâng cung lên, giương cung và chờ đợi với thái độ tâm linh vô cùng tỉnh thức. Sau khi mũi tên và sức căng được thả ra nhanh như tia chớp, cung thủ giữ nguyên tư thế đó, đồng thời chậm rãi thở ra hết hơi rồi hít hơi vào. Chỉ tới lúc đó cung thủ mới được buông thõng tay xuống, cúi chào cái bia và – nếu hắn đã bắn hết tên – lặng lẽ lui về phía sau.

        Như vậy là thuật bắn cung trở thành một nghi lễ để thị hiện “Đại Đạo.”

        Đến giai đoạn này, cho dù môn sinh chưa lãnh hội được ý nghĩa đích thực của việc xạ tiễn, ít ra họ cũng hiểu được tại sao thuật bắn cung không thể là một môn thể thao đua tài hoặc một môn luyện tập thân thể. Họ hiểu tại sao phần kỹ thuật có thể học được kia cần phải luyện đến lúc hoàn toàn thuần thục. Nếu mọi điều tùy thuộc vào nỗ lực của cung thủ để trở thành vô cơ tâm và vong ngã thì sự thực hiện ngoại tại phải xảy ra một cách tự động, không cần tới sự kiểm soát hoặc phản tỉnh của trí năng.

        Chính sự tinh thông lão luyện về hình thức này là phương pháp giáo huấn mà người Nhật noi theo. Thực hành, luyện tập, và ôn lại nhiều lần, càng ngày càng tinh tiến hơn, đó chính là những đặc điểm của những chặng đường dài dẫn tới đạo. Ít ra, đây là sự thực trong tất cả những môn nghệ thuật truyền thống của Nhật Bổn. Biểu diễn, làm gương, trực giác, bắt chước – đây chính là mối liên hệ cơ bản thầy và trò. Tuy nhiên, mấy mươi năm gần đây, khi Nhật Bổn đưa vào những đề tài giáo dục mới thì những phương pháp giáo dục của Âu Châu cũng đã có chỗ đứng và không thể phủ nhận rằng người Nhật đã hiểu biết và ứng dụng. Vậy thì làm cách nào mà các môn nghệ thuật Nhật Bổn vẫn còn giữ được những tinh hoa mà không bị ảnh hưởng bởi những cải cách giáo dục này, dù rằng người Nhật vốn có khuynh hướng hâm mộ những điều mới lạ?

        Vấn đề này rất khó trả lời. Nhưng hãy thử xem, dù nếu chỉ là câu trả lời khái quát, nó cũng có thể giúp độc giả hiểu rõ thêm về đường lối giáo huấn và ý nghĩa của sự bắt chước.

        Mỗi học sinh Nhật Bổn đều sẵn có ba đặc chất: Giáo dục tốt, yêu nồng nhiệt môn nghệ thuật đã chọn, và tuyệt đối tôn kính thầy. Từ xưa nay, quan hệ thầy trò của người Nhật đã thuộc vào những nghĩa vụ cơ bản của đời sống. Vì thế, ở cương vị người thầy, cần phải gánh vác trách nhiệm trọng đại vượt ra khỏi những bổn phận nghề nghiệp.

        Đầu tiên, người ta không đòi hỏi học sinh phải làm gì ngoài việc bắt chước một cách chuyên cần tỉ mỉ những gì mà thầy biểu diễn. Thầy thường tránh lối giải thích thuyết giáo trường thiên đại luận, chỉ theo lệ ban ra những mệnh lệnh, chẳng dự tính học sinh sẽ hỏi vấn đề. Thầy nhìn những nỗ lực sai lầm của học sinh một cách bàng quan và thụ động, thậm chí chẳng cần học sinh có tinh thần độc lập hoặc sáng kiến, mà chỉ kiên nhẫn chờ đợi chúng phát triển và thành thạo. Cả hai phía đều có thời gian: Thầy không hối thúc bắt ép, và học sinh cũng không hao phí tinh lực quá đáng.

        Không có ý muốn đánh thức khiếu nghệ thuật của học sinh quá sớm, thầy cho rằng công tác trước nhất của ông là làm cho học sinh thành một người thợ khéo léo và thuộc làu phần kỹ xảo. Học sinh theo ý hướng đó của thầy một cách chăm chỉ không biết mệt. Tựa hồ như mình chẳng có những khát vọng nào cao hơn, người học trò cúi mình dưới gánh nặng thụ huấn với một tinh thần cúc cung tận tụy; để rồi nhiều năm sau hắn nhận ra rằng những hình thức mà hắn đã thành thạo không còn áp chế hắn mà là giải thoát hắn. Người học trò ngày càng nhiều khả năng theo đuổi bất cứ cảm hứng nào mà không cần tới nỗ lực kỹ thuật, và cũng để làm cho cảm hứng đến với hắn qua sự quan sát tỉ mỉ. Cái bàn tay hướng dẫn cây cọ đã nắm bắt được và thi hành điều gì đó nổi lên trong tâm ngay khi tâm bắt đầu thành hình cái đó, và sau cùng người học trò không biết tâm hay bàn tay hắn chịu trách nhiệm đối với bức họa này.

        Nhưng, để tiến xa tới mức đó, để khiến cho kỹ năng hưởng ứng theo tâm linh, cần phải mang tất cả lực lượng thể chất tinh thần tập trung lại, như trong nghệ thuật bắn cung – mà những thí dụ sau đây cho thấy rằng chúng không thể thiếu trong bất cứ tình huống nào.

        Một họa s ngồi trước mặt học sinh của mình. Ông tỉ mỉ ngắm nghía bút họa của mình, thông thả chuẩn bị dùng nó. Ông chú tâm mài mực, trải dài tấm giấy vẽ trên chiếc chiếu trư