Sáng hôm sau, hai chú cháu
tôi ra tháp thật sớm. Vì tôi phát nguyện phải lạy "tam
bộ nhất bái" một vòng lớn quanh tháp trước ngày trở
về Delhi. Buổi sáng, những lối đi bằng đá còn mát lạnh,
hít thở không khí trong lành, lại thấy người phụ nữ âm
thầm đem thức ăn cho kiến, sóc, khỉ, cá.v.v. Tôi lên hồ
Mucalinda một lần xem có vị tu sĩ Ấn giáo nào tắm và dâng
nước cúng thần mặt trời không. Tất nhiên là không, vì chẳng
ai có đủ can đảm đưa mình xuống dòng nước đen nghịt và
lũ cá dữ tợn, đói ăn. Tôi lạy được một phần ba đường
thì thở phì phò, phần thì vác chiếc máy ảnh nặng cồng kềnh
trên lưng, phần thì sợ kiến...Ban đầu chỉ bước mỗi bước
4 tấc, sau mệt quá có khi bước dài cả thước, thấy vậy một
vị sư Tây Tạng cầm hộ cái máy chụp hình, một phần gánh
nặng như được trút, tôi lại lạy được hai phần ba quãng
đường, trong khi Sư thúc tôi đã thong dong "về
đích". Tôi gắng sức nhưng cũng chỉ được mười mấy
thước...rồi thôi, hẹn lòng chiều sẽ thực hiện tiếp. Hai
thầy trò lại vào tháp tụng thời kinh sáng.
Theo dự định, chúng tôi
đến một nơi cách đại tháp khoảng năm cây số, một dự
án khá lớn do Trung Tâm Bảo Tồn Truyền Thống Ðại Thừa
(The Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition, viết tắt
là FPMT) đang kiến thiết và thực hiện xây dựng trên một
khuôn đất rất rộng 45 mẫu Anh[1]; gọi là "THE MAITREYA
PROJECT" (Công trình Di Lặc) "A symbol of loving kindness
for the new millennium" (biểu tượng của lòng nhân từ cho
thiên niên kỷ mới). Người ta định xây dựng một tượng
Phật Di Lặc bằng đồng cao 152.4 mét (500 feet) theo mô hình
Tây Tạng, đặt ở giữa khu đất; xung quanh là các khu vực:
tu viện, trường học, bệnh viện, nhà nghỉ, buôn bán-mua sắm,
ngân hàng, sân vận động thể thao, các bãi đậu xe, đặc biệt
là ngôi Ðại sảnh chính cao 17 tầng có sức chứa 5000 người
và hàng vạn bức tượng đồng lớn nhỏ đặt khắp nơi.v.v.
tất cả được trình bày theo một mô hình lớn trong văn
phòng triển lãm, mô hình của một trung tâm văn hóa hiện đại
bậc nhất. Có khá nhiều tượng đức Di Lặc được trưng
bày trong phòng triển lãm, hầu hết các tượng đều rất đẹp
đến từ nhiều nước khác nhau (tượng ngài Di Lặc do nghệ
sĩ các nước thể hiện). Với hy vọng rằng Công trình Di Lặc
sẽ là một kiệt tác đóng góp vào danh sách những kỳ quan
thế giới và trở thành tượng Phật đồng lớn nhất xưa
nay[2], hội FPMT sẽ kết hợp cả hai nền nghệ thuật truyền thống
và hiện đại cho việc xây dựng bức tượng cao 152,4 mét bằng
đồng màu vàng này. Bức tượng được chọn làm mẫu do Lama
Zopa Rinpoche cùng hai mỹ thuật gia Peter Griffin và Denise Griffin
thiết kế. Peter Griffin và Denise Griffin là hai phật tử Tây
phương, tốt nghiệp chuyên nghành mỹ thuật tạo hình tại
"Camberwell School of Arts and Crafts, London" (Trường Mỹ
Thuật Camberwell, Luân Ðôn). Lama Zopa Rinpoche hiện là người
chỉ đạo nghệ thuật và hướng dẫn thi công coâng trình
đã cùng Peter và Denise tiến hành tạo mẫu bức tượng này bắt
đầu từ tháng 5 năm 1997, dưới sự cố vấn nghệ thuật của
nhà điêu khắc người Tây Tạng, có tên Chemo La. Ban đầu tượng
được thiết kế tại "Shakyamuni Center, Taichung, Taiwan
R.O.C" (Thích Ca Mâu Ni Trung Tâm, Ðài Trung - Ðài Loan); đến
tháng 12 cùng năm Peter Griffin bắt đầu tạo kim tòa của bảo
tượng, dưới sự hỗ trợ của kiến trúc sư Salim Lee, người
Ðài Loan. Giữa năm 1998, vì điêu khắc gia Chemo La tuổi đã
lớn, nên khó khăn trong việc đi lại. Tôn tượng được dời
về Kathmandu, thủ đô Népal - nơi điệu khắc gia Chemo La đang
lưu trú - để tiếp tục hoàn thành. Tại Kathmandu, Népal mọi
chi tiết tôn tượng như: khuôn mặt, y phục, tư thế tay bắt
ấn, chân, đài sen... được thiết kế một cách hoàn hảo.
Ðến tháng 8 năm 1998, các kỹ sư đưa tôn tượng sang Hoa kỳ
để phân tích những chi tiết kỹ thuật, đưa các dữ liệu
và thông số kỹ thuật vào máy vi tính. Giữa tháng 9 năm
1998, tượng được đưa đến thành phố Salt Lake, để Peter
Griffin và Denise Griffin hoàn thành công đoạn cuối trước khi
công trình tại Bồ đề Ðạo tràng thi công.
Bên trong bức tượng người
ta sẽ thiết kế ngôi Bảo Ðiện phụng thờ xá lợi của đức
Phật Thích Ca, các vị Thánh Tăng cùng những bậc Ðại sư
tên tuổi, ngoài ra ngài Chenrezig thiên thủ thiên nhãn, 21 vị
Quán Thế Âm Bồ tát, 16 vị A La Hán, đức Lama Thubten
Yeshe.v.v. cũng sẽ được thờ ở đó. Ước đoán kinh phí cho
công trình này lên đến 150.000.000.000 Mỹ Kim ($US), với thời
gian thực hiện khoảng hơn 10 năm, và tuổi thọ của bức tượng
này ước khoảng hơn 1000 tuổi. Khu vực này được canh gác
khá nghiêm cẩn, có rất nhiều bảo vệ trang bị súng, mặc
binh phục hẳn hoi đứng khắp nơi...
Như đã hẹn với vị sư
Thái Lan, chúng tôi phải đến chùa Thái sau lưng tháp Ðại
Giác dùng bữa cơm trưa. Ở khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng, người
Thái xây dựng hai ngôi chùa của hai hệ phái Phật giáo Nam
truyền khác nhau. Khác với ngôi chùa Thái gần khu vực chùa
Nhật Bản, ngôi chùa này không có những mái cong cầu kỳ, mạ
vàng công phu, chỉ là những dãy nhà đơn sơ, mang tính chất
giản dị miền quê. Số lượng chư Tăng cư trú ở đây
tương đối đông hơn các chùa khác ở khu vực Bồ Ðề Ðạo
Tràng, phật tử Thái ở đây cũng khá đông. Bữa cơm hôm ấy
làm tôi nhớ mãi, thầy trò chúng tôi chỉ dùng cơm trắng
và nửa cái bánh chưng ngọt của người Thái, trước mắt
chúng tôi là những "món ngon vật lạ" sắp đặt khắp
bàn: vịt quay, cá khô, thịt hộp xuất khẩu từ Thái... vì
các vị sư Thái không ăn chay như quý Thầy ở Việt Nam. Dùng
xong phần cơm trưa, vị sư quản lý mời chúng tôi uống trà
và đi thăm một vòng các nơi trong chùa. Ðến 1 giờ 45, chú
cháu tôi tạm biệt quý sư Thái Lan, để sang trụ sở của Hội
Ðại Bồ đề Ấn Ðộ (Mahabodhi Society of India): một tổ chức
có tầm vóc tương đối lớn ở Ấn Ðộ, được thành lập
bởi Anagarika Dharmapala, nhằm mục đích kêu gọi hỗ trợ
công cuộc tu sửa lại Bồ Ðề Ðạo Tràng, vận động- chỉ
đạo phong trào chấn hưng Phật giáo tại Ấn Ðộ. Hội Ðại
Bồ đề Ấn Ðộ nằm cách khuôn viên tháp chếch về phía
tay trái không xa lắm (bên cạnh chùa Tây Tạng phái Gelukpa–
nơi ngài Dalai Lama thường về trú ngụ), cơ sở này được
cai quản bởi các vị sư Tích Lan. Như đã hẹn một ngày trước
dó, Thầy trò chúng tôi đến chùa gặp Thượng tọa
M.Wimalasara Thera- Tổng thư ký Hội Phật giáo Quốc tế tại
tiểu bang Bihar, ẤN ÐỘ- nhận và chuyển một số thiệp thỉnh
chư Tôn Ðức ở tỉnh Bình Ðịnh sang dự Ðại lễ trưng
bày xá lợi Phật "Bauddha Mahotsa 2000
"