TÌM
DẤU CHÂN XƯA
"Discover
and Walk in the footsteps of the Great One"
Lê
Bích Sơn
---
o0o
---
Ngày 03 tháng 08 năm 2000
Chiếc
đồng hồ cũ kỹ đổ hồi chuông báo thức, ông già bán sữa
đã đến bấm chuông từng nhà, tiếng chổi của những người
phu quét rác lẹt xẹt kéo dài đều đặn trên đường, tiếng
những người phát báo chia nhau phần báo trong ngày. Một
ngày mới lại bắt đầu. Tôi thắp nén hương dâng lên đức
Phật, quét dọn lại căn phòng, thu xếp những vật dụng cần
thiết cho chuyến đi. 11:00 giờ trưa, tôi chào cô Thoại Mẫn, nhờ
Cô trông nhà dùm rồi lên ký túc xá Mansarowar. Trưa hôm ấy,
chiếc xô nhựa đựng gạo "kim chỉ đến số 0", chú
cháu tôi dắt nhau ra quán fast food bên đường gọi hai dĩa
Chowmein[1] "mở chiến dịch" "đánh lừa bao
tử", đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết thế
nào là Fast food, đứng ăn mà lòng thấy vui vui.
Chiều hôm ấy, thầy Thị
Quả, sư Giác Ngôn, sư Giác Thạnh, sư Giác Hành đến phòng
427 của Sư thúc thăm chơi, bữa cơm chiều được thay bằng
những bình trà, những câu chuyện về cố hương, về Phật
tích Bồ đề Ðạo Tràng nối đuôi không dứt. Kim đồng hồ
chỉ 6:30 chiều, lòng tôi lại nôn nao kỳ lạ, dù rằng thời
điểm ấy quá sớm để xuất phát lên ga New Delhi, nhưng xưa
nay tôi lại "thích mang bệnh lo xa". Nhớ hồi còn ở
Ðại học, bạn bè thường gọi đùa tôi là "chiếc đồng
hồ biết đi", có lẽ xuất phát từ "căn bệnh
khó trị" ấy, tôi luôn máy móc nâng cao khẩu hiệu:
"Hãy chuẩn bị trước để tránh những điều bất trắc
có thể xảy ra"; những lần đi thực tập, các ngày thi cử
tôi đều có mặt trong danh sách "Topten - Những người tập
trung sớm nhất", ban đầu điều ấy xuất phát từ thực
tế hay kẹt xe ở Sài gòn, rồi dần trở thành thói quen cố
hữu. Tôi bắt đầu "thuyết trình" hàng loạt
bài phân tích: nào không có xe buýt vào buổi tối, đi trễ
quá Autorishaw sẽ nâng giá lên cao, hiện tượng kẹt xe có thể
xảy ra, tôi cố tìm tất cả các lý do để có thể xuất
phát thật sớm. Cuối cùng, chú cháu chúng tôi cũng lên đường,
lúc đó nhà ăn ký túc xá Mansarowar bắt đầu mở cửa cho bữa
cơm tối (8:00).
Không có tuyến xe buýt chạy
trực tiếp từ khuôn viên Ðại học Delhi đến ga New Delhi,
chú cháu tôi phải sang xe hai, ba lần và mỗi lần sang xe là mỗi
lần vừa đi vừa chạy, vừa chạy vừa thở, trên lưng mỗi
người là chiếc ba lô to tướng, phút chốc nhìn sang Sư thúc
chạy bên cạnh, tôi bỗng mỉm cười : "Không biết người
Ấn có gọi mình là Việt Nam ba lô[2] không nhỉ?!". Chiếc xe
buýt đưa chúng tôi đến ga New Delhi, nhìn lên đồng hồ chỉ
mới 9:40 PM tôi thở phào nhẹ nhõm. Sân ga New Delhi to lớn
và ồn ào với đủ loại âm thanh, tiếng chuông leng keng của
những người bán hàng dạo, tiếng mời gọi của những người
bán hàng trên "Shop on wheels"[3], tiếng còi tàu, những
thông báo phát ra từ loa, tiếng xin đường của những người
phu khuân vác... tấp nập những âm thanh ồn ào hội tụ. Cố
vượt qua những dòng người đông đúc, chúng tôi tìm đến
toa xe của mình, một danh sách hành khách đi trên toa được
in đậm dán ở cửa vào, để chắc chắn không lộn tàu tôi
dò lại một lần và đối chiếu với chiếc vé cầm trên
tay, mọi chi tiết không sai một chữ. Tàu hỏa Ấn Ðộ lớn
hơn nhiều so với tàu hỏa ở Việt Nam, bề ngang khoảng 3.5m,
đường ray rộng 1.2m, mỗi toa có sức chứa 72 giường nằm,
đặc biệt tàu hỏa Ấn Ðộ có bộ phuộc nhún chịu áp lực
cao. Lên đến tàu và ổn định chỗ ngồi, thời gian vẫn
còn quá sớm, tôi quan sát mọi vật chung quanh: đó đây vài
người thuộc giai cấp thấp vô gia cư đang "say giấc",
mặc cho âm thanh cuộc đời réo gọi bên tai, những anh phu
khuân vác đang bán sức mình đổi lấy vài rupees, ông lão
hành khất cố lê những bước chân cuối ngày nặng nề đến
một "chỗ trọ" dưới trụ đèn điện, một
người đàn ông làm "thủ tục"
lẽ ra phải đến W.C. ngay trước mặt mọi người, bên cạnh
đường ray là đàn chó hoang còm cõi đang cố tìm kiếm thức
ăn mà con người còn sót lại hoặc ăn dư vừa vứt ra khỏi
tàu, một con trong đàn chỉ còn lại ba chân... tất cả diễn
ra rất thật, rất tự nhiên trong cái không gian hôi nồng nặc
nằm giữa hai cặp đường sắt. Tôi không biết ngôn ngữ
Hindi, không trực tiếp tiếp xúc, nhưng tôi đọc được trong
những cảnh vật ấy là sự tàn phá của nghèo đói, khổ
đau, bệnh tật... tất cả đang đổ ập lên đầu của những
con người bất hạnh đang sinh sống trên đất nước chiếm
hơn một nửa dân số nghèo thế giới này[4]. Tuy nhiên, đằng
sau khuôn mặt nghèo nàn kia, người Ấn lại vô cùng hãnh diện
trước mọi người về những cuộc triển lãm vũ khí chiến
tranh kéo dài hàng tháng, những lần thử vũ khí hạt nhân của
mình!?
Ðúng 10:35, tàu khởi
hành. Ga New Delhi xa dần, xa dần dưới ánh đèn mờ ảo. Ðối
diện chú cháu tôi là một gia đình người Ấn trung lưu theo
đạo Hindu, gương mặt người đàn ông mang nét lạnh lùng pha
chút cương nghị, người vợ tỏ vẻ nhẹ nhàng với đôi mắt
man mác buồn, cô con gái khoảng tuổi tôi cũng có nét lành lạnh
giống bố, chỉ có cậu con trai 12 tuổi vô tư trước mọi
chuyện. Qua câu chuyện giữa chúng tôi diễn ra sau đó, mới
biết gia đình người Ấn nọ đang trên đường đến mảnh
đất mới lập nghiệp. Ở Ấn độ, thường thì người phụ
nữ chủ động trong việc tìm người đàn ông lý tưởng để
xây dựng "tổ ấm trăm năm"; trước khi kết hôn người
đàn ông có quyền ra giá và đưa ra những yêu cầu, nếu nhà
gái đồng ý những yêu cầu đó (Ví dụ: một căn nhà 2 tầng,
một xe hơi hiệu MARUTI, mấy triệu tiền mặt v.v. nói theo tiếng
Việt là của hồi môn), hôn lễ sẽ được tiến hành
sau đó. Và cũng kể từ đó, người đàn ông thực sự trở
thành trụ cột của gia đình, đảm đang hết mọi công việc:
từ việc bươn chải kiến tiền sinh sống, đến những việc
thu chi, đối nội-đối ngoại... đều do người chồng đảm
trách. Bất kỳ ở đâu trên đất nước Ấn Ðộ, nam giới
làm tất cả mọi công việc từ buôn bán, may vá, nấu nướng,
phục vụ ở các nơi công cộng, đến việc kinh doanh, giáo dục
(tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ). Phụ nữ
chỉ có trách nhiệm "ở nhà và làm mẹ". Tôi hỏi
người đàn ông ngồi đối diện về việc học tập của cậu
con trai, ông đăm chiêu nhìn ra khoảng không đen nghịt bên
ngoài, thở dài đáp: "Tôi cũng không biết nữa". Ông
bắt đầu kể về gia cảnh của mình: Ông làm nghề khai thác
đá từ nhiều năm nay, thời gian gần đây công ty của ông giải
thể, sức ép kinh tế gia đình ngày một nặng nề hơn từ
lúc ông thất nghiệp, mọi lo toan- chuẩn bị cho người con
gái tuổi đã cận kề ngày "kén rể", "ngồi
ăn núi lở" ông quyết định tìm đến miền đất mới
vùng Nam-Ấn lập nghiệp, dù rằng ông chưa biết cuộc sống
nơi đó sẽ ra sao.
Càng về khuya, mọi hành
khách trên tàu dường như đã thiếp đi, tôi nhắm mắt cố
tìm giấc ngủ sau một ngày mỏi mệt, nhưng vẫn không sao ngủ
được. Tôi nằm yên, lắng nghe đoàn tàu đang lướt nhanh tạo
thành những đợt âm thanh vun vút, tiếng phát ra từ động
cơ tàu xình xịch, xình xịch đều đặn trong đêm tối mênh
mông. Lại tiếp tục suy nghĩ miên man, đầu óc tôi như chập
chờn bay bổng vào một thế giới vô cùng xa lạ. Những lần
đi xa, tôi thường hay có tâm trạng như vậy. Tôi cố tìm một
điều gì đó để có thể tập trung tư duy, nhưng suy nghĩ
mãi vẫn không ra, tìm một đề thi cho chính bản thân mình quả
thật không đơn giản. Ðoàn tàu chạy ngang qua một thị trấn
nhỏ, bên ngoài những ngọn đèn đường tỏa sáng cả một
vùng. Tôi ngồi dậy uống hớp nước và nhìn ra bên ngoài cửa
kiếng, đoàn tàu lại xa dần khu thị trấn đi về khoảng
không vô tận của màn đêm, chốc chốc cảnh vật bên ngoài
tạo nên những hình thù quái dị chợt gần chợt xa, tôi bắt
đầu cảm thấy trong người lành lạnh, nằm xuống và lòng lại
nhủ lòng "Hãy ngủ đi !". Song, không tài nào chợp mắt,
những hình ảnh quái dị bên ngoài đã chuyển thành nỗi ám
ảnh trong tâm. Bất ngờ, tôi lại nhớ và liên tưởng đến
những đoạn phim Ðường Tăng gặp vô số loài ma quái trong bộ
"Tây Du ký", một bộ phim nổi tiếng do Nữ nghệ sĩ
tài ba Trung Quốc-Dương Khiết - đạo diễn, dàn dựng dựa
theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Ngô Thừa Ân. Dù biết rằng
"Tây Du Ký" là sự hư
cấu về cuộc hành trình đến Tây Trúc cầu học của ngài
Huyền Trang, nhưng tôi đã xem đi xem lại trên hai mươi lần vẫn
không cảm thấy nhàm chán, chỉ tiếc rằng "Tây Du
Ký" không đề cập đến việc chiêm bái các thánh tích của
Tam Tạng Pháp sư Trần Huyền Trang. Hình ảnh cuộc đời Danh
Tăng, Học giả Huyền Trang (HSUAN TSANG, 596 - 664) trong những
trang sử lại hiện ra trong tôi.
Tương
truyền, Pháp sư Huyền Trang người gốc Lạc Dương. Thưở
ấu thơ, không khác Ðạo An Ðại sư đời Ðông Tấn, Trần
Huyền Trang được mọi người thời ấy gọi là "thần
đồng", khi tuổi vừa lên tám với bẩm chất thông minh
trong việc học và những kỳ tích của mình. Năm mười ba tuổi,
như một định mệnh đã sắp đặt, Huyền Trang tự tìm đến
chùa Tịnh Ðộ toạ lạc tại kinh đô Lạc Dương thời bấy
giờ xin xuất gia đầu Phật. Mỗi ngày Huyền Trang cùng chúng
trong chùa siêng năng chấp tác, thức khuya dậy sớm, không ngại
việc đọc tụng kinh điển, tham thiền - trì giới. Năm hai
mươi tuổi, Huyền Trang chính thức đăng đàn lãnh thọ giới
pháp Tỳ kheo, bắt đầu cuộc đăng trình "vào nhà Như
Lai" để từ đó "hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự".
Trong chùa, Huyền Trang là một đệ tử, một huynh đệ tinh tấn
tu học; đối với người thế tục, Huyền Trang như một
ngôi sao sáng, một tác phẩm tuyệt vời của tạo hoá, ở Huyền
Trang người ta có thể nhận thấy sự kết hợp hài hoà giữa
những yếu tố tuyệt mỹ: một trí tuệ uyên bác, một cốt
cách tao nhã hoà quyện trong một thân thể tráng kiện.
Tháng
ngày dần trôi, Huyền Trang vẫn hàng ngày không ngại việc đọc
tụng, nghiên cứu điển chương. Một ngày kia, Huyền Trang nhận
ra rằng có một sự khác biệt khá lớn về những triết lý
giữa các tông phái Phật giáo, một trong những khác biệt
rõ nét nhất là giữa Trung Quán Tông và Duy Thức Tông. Ít
lâu sau, Huyền Trang được Sư phụ gởi đến kinh đô Trường
An tiếp tục con đường học Ðạo, nhưng những giải đáp của
các bậc danh Tăng ở đất Trường An thời bấy giờ cũng
không thể làm Huyền Trang thông suốt những kiến nghi phật học
của mình. Huyền Trang quyết định thực hiện cuộc hành
trình sang Tây Trúc cầu Ðạo, chuyến hành hương vĩ đại mà
từ bao thế kỷ qua đã trở thành niềm cảm hứng cho không
biết bao nhiêu người cầm bút, là niềm say mê cho các học
giả phương Ðông lẫn phương Tây, là huyền thoại tuyệt vời
cho bao thế hệ đã đi qua, là tấm gương vĩ đại cho lớp
Tăng sĩ trẻ chúng tôi hôm nay, và mãi mãi là hình ảnh sáng
ngời, bất diệt trong dòng thời gian sanh diệt vô tận.
Năm
xưa ở tuổi 26, để đến được Ấn Ðộ chiêm bái và cầu
học, pháp sư Trần Huyền Trang đã ra đi vào lúc nửa đêm,
cuộc hành trình "nhập Trúc cầu Pháp" mười bảy
năm cô thân vạn dặm từ Trung Hoa đến Tây Trúc với bao gian
nguy khổ nhọc: đói, khát, bệnh tật, rừng thiêng nước độc,
thú dữ. Rời kinh đô Trường An, pháp sư Huyền Trang đi theo
con đường bộ duy nhất nối liền Trung Hoa với Tây Trúc thời
bấy giờ - "Con đường Tơ lụa". Không có la bàn
pháp sư Huyền Trang nhìn mặt trời lấy hướng Tây Bắc làm
định hướng, đi dọc theo bờ Nam của Vạn Lý Trường
Thành, đến Ðôn Hoàng và tìm cách vượt ải Ngọc Quan. Thời
ấy, cửa ải Ngọc Quan có đến năm lớp thành, lính canh rất
đông, vì phải tìm cách tránh các vọng gác vào giữa đêm tối,
mất định hướng pháp sư Huyền Trang đã bị lạc vào lối
sa mạc, nơi đó suốt năm ngày liền pháp sư Huyền Trang sống
giữa ranh giới của tử sinh vì thiếu nước. Cuối cùng pháp
sư Huyền Trang cũng đến được một thị trấn nhỏ thuộc
Turkistan ngày nay.
Năm 629, sau những lần
thoát khỏi những gian nguy, những lúc phải đối diện với tử
thần, cũng có những tháng ngày được đón tiếp trọng vọng,
có khi phải biện luận, đấu khẩu gay gắt với các luận
sư về những quan điểm Phật học, trên cuộc hành trình; cuối
cùng pháp sư Huyền Trang cũng đặt chân đến Gandhara - vương
quốc giá lạnh vùng Bắc Ấn. Năm 631, pháp sư Huyền Trang rời
Gandhara tiếp tục cuộc hành trình đến Kashmir, nơi có nhiều
bậc luận sư Phật giáo trứ danh thời đó. Tại Kashmir, Huyền
Trang được các luận sư hướng dẫn nghiên cứu về Duy thức
học[5]. Sau hai năm khổ học, Huyền Trang quyết định rời
Kasmir đi chiêm bái các Thánh tích. Ðiểm đầu tiên pháp sư
Huyền Trang đến thăm là Hằng Hà, con sông mà Ðức Phật
thường hay dùng số cát của nó để diễn tả con số không
thể tính được trong các bản kinh Phật. Sau đó, pháp sư Huyền
Trang hướng ngược về phía Bắc Ấn đến thành Xá Vệ
(Sravasti). Rời thành Xá Vệ, pháp sư Huyền Trang hướng về
chiêm bái Lâm Tỳ Ni (Lumbini). Từ Lâm Tỳ Ni, Huyền Trang đến
Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu)[6] thăm quê hương của Ðức Phật. Sau
đó, lại xuôi dòng nước thiêng sông Hằng (Gangà)[7] viếng
thành Ba La Nại (Varanasi) cùng Lộc Uyển (Sarnath), vượt qua những
con đường đất quanh co, hun hút pháp sư Huyền Trang đến Bồ
đề Ðạo tràng đảnh lễ cội Bồ đề nơi Ðức Phật nhập
Ðại định và chứng ngộ. Sau đó, Ngài đến Học viện Na
Lan Ðà (Nalanda Mahavihara), nơi mà pháp sư Trần Huyền Trang gặp
người thầy đích thực của đời mình - ngài Giới Hiền
(Silabhadra) - lúc ấy đã hơn trăm tuổi.
Theo nhiều sử liệu
tương truyền: Khi đến được Ðại Tòng Lâm Na Lan Ðà, pháp
sư Huyền Trang đảnh lễ và bạch cùng ngài Giới Hiền:
"Con pháp danh Huyền Trang từ Trung Hoa đến, xin thành tâm
đê đầu đảnh lễ tam bái và cầu xin được thọ giáo cùng
Ngài". Nghe vậy, ngài Giới Hiền rưng rưng nước mắt,
đáp lại rằng: "Tôi đợi ông đã lâu, sao nay mới đến!".
Pháp sư Huyền Trang đảnh lễ ba lạy và cũng không cầm được
nước mắt, kể từ ngày đó pháp sư Huyền Trang thọ học với
ngài Giới Hiền. Chuyện rằng, trước đó không lâu, ngài Giới
Hiền lâm bệnh tưởng không thể kéo dài thêm sự sống được
nữa. Một ngày kia, trên giường bệnh Ngài mơ thấy ba vị
Thánh Tăng hiện ra bảo với Ngài rằng: "Ông phải sống
để đợi một người học trò từ Trung Hoa sang cầu
pháp". Ngài Giới Hiền tỉnh giấc và vài ngày sau đó bệnh
cũng mau chóng qua khỏi. Nhiều học giả gọi Na Lan Ðà là
quê hương thứ hai của ngài Huyền Trang. Vì nơi đó, Ngài
đã tìm được vị minh sư của chính mình, nơi đó ngài Huyền
Trang thực sự tìm thấy những gì mà Ngài đã ôm ấp từ
Trung Hoa. Tại Na Lan Ðà, dưới sự hướng dẫn tận tuỵ của
ngài Giới Hiền, pháp sư Huyền Trang được tinh thông các bộ
luận quan trọng nhất như : "Du già sư địa luận",
"Duy thức tam thập tụng luận" .v.v. và chính những
gì học được từ ngài Giới Hiền, từ Na Lan Ðà, pháp sư
Trần Huyền Trang đã làm đổi thay cục diện Phật giáo Trung
Hoa thời Ðường, đưa Phật giáo Trung Hoa đến điểm phát
triển cực thịnh.
Trong thời gian lưu học tại
Na Lan Ðà, Ðường Huyền Trang thường xuyên đến Vương Xá
Thành (Rajagrha), Linh Thứu Sơn chiêm bái và hành thiền. Ðến
năm 638, Trần Huyền Trang rời Na Lan Ðà chu du khắp miền Nam
Ấn Ðộ, để học hỏi và sưu tầm tất cả những bản
kinh, luận Phật giáo nguyên văn chữ Phạn, cũng như các trường
phái triết học của ngoại đạo Ấn Ðộ thời bấy giờ. Cuộc
chu du này được thực hiện trong suốt bốn năm ròng, sau đó
Trần Huyền Trang trở lại Na Lan Ðà tiếp tục con đường
nghiên cứu của mình. Vào khoảng cuối năm 643, sau khi đã
hoàn thành sở nguyện về việc học Ðạo của mình, pháp
sư Trần Huyền Trang quyết định quay về cố hương, nơi có
dòng Hoàng Hà thiêng liêng và thơ mộng không khác con sông Hằng
của người Ấn.
Ðường về, pháp sư Trần
Huyền Trang lại đi ngược về con đường năm xưa đã đưa
Người đến "Tây Trúc Phật Quốc". Pháp sư Huyền
Trang nương theo con đường phía Bắc của Tây Tạng hướng
Nam của dãy Thiên Sơn, đi xuyên qua các nước Trung Á, băng
qua sa mạc Gobi, và đến cuối năm 644 thì đặt chân đến
Ðôn Hoàng. Mùa xuân năm 645, Ngài huy hoàng trở về kinh đô
Trường An, chấm dứt mười năm dài khổ học tại Na Lan Ðà
và mười bảy năm hoàn thành chuyến hành hương vĩ đại của
mình[8]. Khi pháp sư Huyền Trang về đến Trung Hoa được vua
Thái Tông cung thỉnh về trú ngụ tại chùa Hoằng Phúc. Sau
đó, theo kiến nghị của Ngài, Vua kiến lập Viện Phiên dịch
tại chùa Từ Ân, và thỉnh Ngài về chủ trì công cuộc
phiên dịch tại đó. Ít lâu sau, Vua lại thỉnh Ngài về chùa
Tây Minh, rồi cung Ngọc Hoa để an dưỡng và tiếp tục công
việc dịch kinh, viết luận. Hai mươi năm kể từ ngày đặt
chân trở lại cố hương, pháp sư Trần Huyền Trang dốc hết
tâm nguyện đem cuộc đời còn lại và tài năng xuất chúng của
mình phiên dịch Phật kinh, viết các sớ luận giảng giải về
"Duy Thức"[9]. Năm 664, khi đang dịch bộ "Bát Nhã Ba
La Mật" tại cung Ngọc Hoa, Pháp sư lỗi lạc bậc nhất
Trung Hoa - Trần Huyền Trang - tự biết mình đã đến giờ
lâm chung, Ngài khoác bộ Tổ Y lễ Phật ba lạy, ngồi kiết
già và thâu thần thị tịch, chấm dứt một cuộc đời phi
thường như huyền thoại, lỗi lạc và uyên thâm mà nhiều thế
hệ qua ít ai sánh bằng, ở tuổi 63. Bấy giờ thuộc niên hiệu
Lâm Ðức thứ nhất đời vua Cao Tông. Vua Cao Tông đã ra lệnh
bãi triều ba ngày để làm lễ Ðại Quốc Táng nhằm tỏ
lòng kính tiếc vị "Ðệ nhất Pháp sư" lỗi lạc và
siêu quần của mọi thời đại Trung Hoa.
Chú thích
1.
Chowmein giống như món "Hủ tiếu xào" của người Hoa
ở Việt Nam, nhưng người Ấn gia vị rất nhiều ớt Tây nên
hơi có vị cay. Ở Ấn Ðộ, món này giá rất rẻ mà ăn rất
no, phù hợp với túi tiền sinh viên.
2.
Ở Sài gòn khái niệm "Tây ba lô" thường để chỉ
những du khách nghèo từ các nước phương Tây đến Việt Nam
du lịch, hành lý họ mang theo chỉ vỏn vẹn có chiếc ba lô
trên người; mảnh đất "hào phóng" Sài gòn cũng dành
riêng cho họ một khu phố mà người ta gọi là "khu phố
Tây ba lô" (khu vực này nằm ở phường Phạm Ngũ Lão, Quận
1- khu trung tâm Thành phố).
3.
"Shop on wheels" là lối gọi của người Ấn Ðộ nghe
cho sang, thực ra đây là loại xe đẩy bán hàng rong như ở Việt
Nam.
4.
Diện tích đất liền
Ấn
Ðộ là 3.287.263 Km2, dân số lên đến
1.027.015.247 người, mật độ phân bố dân cư là 324 người/km2,
65.38% dân số biết đọc - viết. Thủ
đô
Ấn
Ðộ là Delhi, với diện tích 1483 km2, dân số 13.782.976
người, mật độ cư dân 9294 người/km2, trình độ
biết đọc viết là 81.82% số dân, Delhi phân chia thành
9 địa hạt hành chánh.
5.
Duy thức học hay còn gọi là "Tâm lý học Phật
giáo". Duy thức tông (Vijnanavada) khai triển từ bộ luận
nổi tieáng - "Duy Thức Tam Thập Tụng" - do ngài Thế
Thân (Vasubandhu) biên soạn vào thế kỷ thứ V, ngài Huyền
Trang dịch sang chữ Hán vào thế kỷ thứ VII.
6.
Ngày nay thành Ca Tỳ La Vệ nằm cách biên giới Sonauli (Biên
giới giữa Ấn Ðộ và Népal) khoảng 40 Km. Nơi này người dân
Népal ngày nay gọi là "Tilaurakot".
7.
Sông Hằng dài trên 5575 Km, bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp Sơn
chảy xuyên qua Tây Tạng rồi đến Ấn Ðộ. Người Ấn tin rằng
nước sông Hằng có thể rửa sạch tội lỗi của người quá
cố, vì thế sau khi chết, thi thể con người được
đưa về bên sông hỏa táng và ném tro xuống sông, nước
thiêng sông Hằng sẽ tẩy rửa những tội lỗi mà con người
đã tạo lúc sanh tiền.
8.
Tương truyền: Pháp sư Huyền Trang đã sưu tầm rất nhiều
kinh luận nguyên văn Phạn ngữ của Phật giáo Ðại thừa, Tiểu
thừa và triết học ngoại đạo, bao gồm 659 bộ. Ngoài ra,
Ngài còn thỉnh được nhiều Xá-lợi Phật, hình tượng Phật.
9.
Trong vòng 20 năm, pháp sư Huyền Trang
đã dịch 76 bộ Kinh Luận (gồm 1349 quyển), trong đó có: Ðại
Bát Nhã Ba La Mật Kinh (600 quyển), Bát Nhã Ba la Mật Ða Tâm
Kinh, Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Tiếp Thọ Kinh, Du Già Sư Ðịa
Luận (100 quyển), Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma tập Luận (7 quyển),
Nhiếp Ðại Thừa Luận, Duy Thức Nhị Thập Luận Tụng, Câu
Xá Luận (30 quyển), Nhiếp Ðại Thừa Luận Thích (10 quyển),
Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma Tạp Tập Luận (16 quyển), A Tỳ Ðạt
Ma Ðại Tỳ Bà Sa Luận (200 quyển), Phát Trí Luận (20 quyển),
.v.v. Ngoài ra Ngài còn viết nhiều
tác phẩm phật học cũng như ký sự, hai tác phẩm đáng kể
là: bộ "Hội Tông Luận" do Ngài viết khi còn lưu
học tại Na Lan Ðà với mục đích dung hoà học thuyết giữa
Trung Quán Tông và Du Già Tông, tác phẩm này được ngài Giới
Hiền hết sưùc ca tụng; và bộ "Ðại Ðường Tây Vực
ký" (12 quyển) ghi chép lại tất cả các tráng thái tôn
giáo, phong tục, địa lý, lịch sử của Ấn Ðộ thời bấy
giờ, đây là bộ sử liệu quý giá cho những ai muốn nghiên
cứu về văn hoá và tôn giáo Ấn Ðộ thời đó.
---
o0o
---
Phần 2 |
Mục Lục |
Phần 4
---
o0o
---
|
Tủ
sách Phật học
|
--- o0o ---
Trình
bày
:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày: 01-08-2002