XỨ
PHẬT-TÌNH QUÊ II
Thích
Hạnh Nguyện
Thích Hạnh Tấn
Chương
bốn
Phật Giáo Mạn Đông Nam
Thấm thoát đã ba năm trôi qua
kể
từ ngày tôi
và thầy Dawa được bộ du lịch tiểu bang Andra Pradesh mời đến viếng
thăm một số khu di tích Phật giáo trong vùng nhằm giới thiệu để
quảng bá và phát triển ngành du lịch Phật giáo ở đây. Thế rồi
cứ mỗi năm các chương trình ấy lại được tổ chức và phái
đoàn lại có dịp để đi tham quan thêm nhiều di tích Phật giáo khác
nữa.
Nói đến di tích Phật giáo tại Aán Độ, ta không thể phủ nhận rằng
nó còn rất nhiều và nằm rãi rác khắp mọi nơi; tuy nhiên để tìm
câu trả lời thích đáng trong việc tạo phong trào đưa người phật
tử đi chiêm bái đến các khu di tích cổ xưa trong nhiều nơi ở Aán
Độ thì quả là một việc không đơn giản chút nào. Tôi còn nhớ
trong lần thảo luận năm đó, câu hỏi đưa ra là: tại sao
người phật tử khi đến Aán, họ chỉ đi hành hương ở vùng bắc
Aán và phần lớn là đến tứ động tâm mà thôi? Dĩ nhiên
dưới mắt của những người trong bộ du lịch, họ thấy khó hiểu
điều này vì với họ Andra Pradesh cũng có biết bao là danh lam thắng
cảnh Phật giáo, những khu vực di tích cổ xưa mang đầy giá trị lịch
sử, những truyền thừa tiếp nối dòng phái hoặc sự phát triển
của các tông phái đạo Phật cũng từ vùng nam Aán này mà ra. Thế
mà người ta đã không đến hay quên lãng một vùng đất có quá
nhiều di tích cần nên viếng thăm như vậy. Lần đó mọi người bàn
thảo sôi nổi lắm; một số cho rằng bởi vì tiểu bang Andra Pradesh nằm
quá xa nên ít người muốn đến. Có người lại nói là sự quảng
bá về ngành du lịch Phật giáo trong vùng chưa đạt, một số lại cho
là thiếu phương tiện ăn ở và di chuyển đúng tiêu chuẩn để hấp
dẫn người phật tử đến xem. Riêng tôi, người từng sống ở
các nước phương tây nên hiểu, người phật tử trên thế giới
nói chung không có nhiều thời gian nghỉ phép để đi viếng thăm thêm
một vài nơi khác dù rằng đó cũng là những khu di tích Phật giáo
quan trọng.
Lần ấy tôi được hai dịp chiêm bái
Xá lợi Phật, một lần trong viện bảo tàng trên đảo
Nagarjunakonda và lần kia trong viện bảo tàng ở Hyderabad. Tôi cũng
được chiếu cho xem những đoạn phim tài liệu thật hay về các cuộc
khai quật và tìm thấy Xá lợi Phật. Buổi tối phái đoàn đến nhà
hát thành phố để xem màn múa về cuộc đời đức Phật do những
diễn viên thượng thặng nhất của tiểu bang trình diễn. Màn múa
không lời nhưng cảnh quang về cuộc đời ngài qua những cử chỉ,
điệu bộ và ánh mắt của diễn viên đã nói lên được tài nghệ
tuyệt vời của các tài tử. Buổi trình diễn ấy làm tôi nhớ
mãi, và lúc ấy còn nói: ước gì đưa được đoàn ca múa
này sang Âu châu để trình diễn nơi chùa Viên Giác của thầy chúng
tôi. Thầy Shangarashita một người tôi quen lúc ấy ngồi cạnh
còn nói: nếu tôi thật sự muốn thầy ấy sẽ giúp cho, ngay cả
việc thỉnh mượn Xá lợi Phật của viện bảo tàng ra nước ngoài
để phật tử có thể chiêm bái nữa kìa. Cho đến nay cái ấn
tượng đẹp trong màn múa trình diễn cuộc đời đức Phật
và kỳ duyên chiêm bái Xá lợi Phật hôm ấy vẫn còn phảng phất
đâu đó trong tâm tôi.
***
PHẬT
GIÁO TRONG BANG ANDRA PRADESH
Bối cảnh lịch
sử
Ngài Huyền Trang trong Tây Vực ký khi thuật lại về miền Đông nam
Aán Độ có ghi rằng, đức Phật viếng thăm những vùng Andra,
Dhanyakataka cũng như các vương quốc Cola, Dravida, Mahakuta. Ở tất cả
nơi này ngài Huyền Trang tìm thấy những trụ đá của vua A Dục,
đánh dấu nơi đức Phật đến và hoằng pháp.
Giữa thế kỷ thứ 3 trước TL, Phật giáo được truyền bá ở Andra
bởi vua A Dục cũng như bởi những tăng sĩ từ Madhyadesa. Andra là
một phần đất của một đế quốc rộng lớn thuộc quyền cai trị của
vua A Dục. Trong thời gian trị vì và sau thời gian theo Phật giáo, nhà
vua đã ủng hộ và cho tạc khắc nhiều di tích về Phật giáo trên
các trụ đá, vua cũng cho gởi nhiều vị tăng xuống miền nam để
kiến lập tu viện và hoằng pháp tại nơi này. Phật giáo phát triển
tại Andra kể từ thời gian ấy.
Vua Satavahana, người lên nắm quyền vào năm 230
trước TL là vị vua rất có ảnh hưởng đối với Phật giáo, và
các triều đại này liên tiếp cai trị Andra trong suốt 450 năm. Trong
thời gian ấy, chùa viện và trung tâm Phật giáo phát triển mạnh ở
toàn vùng nam Aán, từ Jaggayyapeta cho đến các vùng lưu vực sông
Krisna ở Amaravati, Dhanyakataka, Nagarjunakonda. Những trung tâm Phật giáo
ở đây không những chỉ được sự hậu thuẩn của hàng vua chúa
mà còn được các giai cấp giàu có khác hổ trợ. Một bức bia
ký ở Jaggayyapeta có ghi lại về những công trình kiến tạo trong thế
kỷ thứ nhất trước TL. Bia ký này được tìm thấy bằng đá cẩm
thạch trắng, tương tự như loại đá cẩm thạch trắng và xanh dùng
để xây dựng đại tháp và những ngôi chùa khác ở trung tâm
dọc theo sông Krisna. Từ một số bia ký còn lưu lại, người ta biết
thêm về các ngôi tháp và chùa trong vùng này, với những đường
nét chạm trổ rất là nghệ thuật; Andra đã trở nên nổi tiếng
với ngành mỹ thuật từ đó. Chùa viện phát triển, nhiều bậc
đạo sư vĩ đại đã trụ ở nơi này.
Khi ngài Huyền Trang du hành đến các vùng phía nam vào thế kỷ thứ
bảy, ngài tả lại những vùng giữa miền hạ Godavari và dòng sông
Krisna: Thời tiết nơi đây nóng bức, con người tính tình thô
tháo, hung dữ. Ở Andra ngài tính được có tất cả là 20 tu
viện với khoảng 3000 tăng sĩ lúc bấy giờ. Gần Vingila, ngài Huyền
Trang đến một tu viện lớn với một ngôi tháp chạm trổ rất đẹp.
Có một tượng Phật lớn, đẹp được tôn trí bên trong, cạnh bên
là một ngôi tháp đá cao nhiều trăm thước, được biết do vị A La
hán A-Cala xây dựng. Ngôi trụ đá A Dục được dựng lên ở
hướng đông nam, đánh dấu nơi đức Phật thuyết pháp và độ một
số đông người ở đây qua việc thị hiện thần thông của
ngài.
Tuy nhiên Phật giáo bắt đầu suy tàn vào thời
gian ngài Huyền Trang viếng thăm nơi này. Các sinh hoạt Phật giáo nơi
đây yếu ớt dần, nhiều tự viện đã thưa người, mặc dù số
lượng người hành hương các nơi vẫn đến đây để chiêm bái
đại tháp ở Amaravati, Phật giáo từ từ mất ảnh hưởng và Ấn
giáo phục hồi.
Vào thế kỷ 19 các nhà khảo cổ và sử gia bắt đầu nghiên cứu
vào những khu vực dọc theo vùng Andra và sông Krisna. Ngày nay hơn 100
di tích Phật giáo được tìm thấy ở đây. Những khám phá chính
yếu là dọc theo sông Krisna, kéo dài từ bờ biển phía đông ,
những nơi này kể cả Bhattiprolu, Gudivada, Ghantasala, Amaravati, Jaggayyapeta,
Nagarjunakonda và Goli. Tất cả những di tích tự viện được tìm thấy
này là từ thế kỷ thứ 2 và 3 trước TL, nhưng có một số tháp
được xem là kiến tạo trước thời gian đó nữa và được nới
rộng ra khi các trung tâm Phật giáo xây cạnh bên sau này.
Cuộc nghiên cứu gần đây cho biết một số các di tích Phật giáo
còn bị chuyển đổi toàn bộ sang các đền thờ Aán giáo, các học
giả khảo sát đền Savite Linga thấy rằng, một vài trụ đá mà nay
đã tu sửa lại, nguyên trước kia là những ngôi tháp của Phật
giáo. Trong số các chùa ngày nay được xác nhận là nguyên thủy
của Phật giáo khi xưa, gồm có chùa Kopetesvara ở Chezarla trong vùng
Guntur, chùa Trivikrama ở Ter thuộc vùng tây decan, chùa Draksarama gần
Ramacandrapuram, phía đông vùng Godavari, và chùa Sri sailam ở đồi
Nallamalai.
Năm 1956 Phật giáo ở Andra bắt đầu khôi phục
lại qua sự hoằng dương của vị tăng người Bengali-Sumedha Vimalaksa,
cũng như qua sự hướng dẫn của tiến sĩ Ambedkar. Hội văn hóa Phật
giáo ra đời với các công việc phiên dịch kinh điển Phật giáo sang
ngôn ngữ địa phương là Telugu, tổ chức những buổi họp mặt hội
thảo để quy tụ những ai theo đạo Phật và muốn phát triển Phật
giáo trong vùng. Năm 1951, số người theo Phật giáo ở Andra được
biết là 230 người đã tăng nhanh lên đến 13.000 người vào năm
1981.
Vùng bờ biển hướng bắc của Andra Pradesh hiện
nay kể cả khu vực Visakhapatnam, Srikakulam và đông Godavaric là một
phần của vương quốc cổ Kalinga Desa. Theo như trong kinh Bổn sanh thì khu
vực giữa nhánh sông Suvarnarekha ở hướng bắc và Godavari ở
hướng nam là khu vực trước đây được gọi Madhyama Kalinga. Theo
Raghuvamsa thì vùng này nằm tận phía nam của Vanga và bên ngoài
con sông Kapisa trải dài xuống phía nam kể cả Mahendragira. Trong Vanaparva
của Mahabharata, Pandava được xem là đường dẫn đến Kalinga sau khi
vượt qua sông Vaitarini.
Dựa theo Kurma Purana, vùng Kalinga kể cả đồi Amarakantaka là thủ đô
Rajapura, nằm về hướng đông bờ biển. Theo nhà khảo cổ Cungningham,
từ ngữ Datakura có vẻ bắt nguồn từ người Dravidian vì Kura ở
Kurram, một khu vực được phân chia ra. Theo như Pliny thì Kalinga nằm
tận hướng nam của Mahendra và núi Malaya. Nó có thể được biết
bởi những dãy đồi nằm nơi cửa miệng con sông Rishikulya thuộc khu
vực Ganjam. Khu vực này trải rộng đến làng Dantaguda, được tìm ra
cùng với Dantapura bởi nhà khảo cổ Cunningham, chính nơi đây đã
được nhận phần Xá lợi răng của đức Phật sau khi nhục thân
ngài hỏa thiêu tại Câu Thi Na.
Xá lợi được tôn trí trong một ngôi tháp dưới triều đại
Brahmadatta. Daladavamsa có thuật lại lịch sử về Xá lợi răng
Phật này khi được mang đến Dantapura, hoặc Kalinganagari. Họ ghi lại
rằng một trong những Xá lợi răng Phật được tôn thờ trên cõi
trời, cái khác ở Gandhara, một chiếc ở Kalinga và một ở dưới
Long cung. Datapura có thể được biết với Dantavakruni Kota nằm khoảng 6
dặm từ Amudalavalasa, mà hiện nay một thành cổ bằng đất bùn vẫn
còn tồn tại.
Kinh Bổn sanh Kurudharma ghi rằng, Dantapura nằm cạnh vương quốc Kalinga,
được cai trị bởi vua Kalinga. Theo kinh Bổn sanh Bồ đề Kalinga, một vị
vua tên là Kalinga cai trị ở Dantapura có hai người con tên là
Maha Kalinga và Culla Kalinga.
Vào thế kỷ thứ 4 trước TL, vương quốc Ma Kiệt Đà được mở
rộng dưới triều đại giàu mạnh của các dòng tộc Nanda, những
người mà theo Puranic ghi lại, đã chiến thắng tất cả những vương
tộc khác và thống trị phần lớn Aán Độ. Theo các bia ký của
Kharavela thì trong đó có các vua Kalinga ở Ma Kiệt Đà. Không có một
chứng cứ rõ ràng về các đại đế triều đại Mauryan tiếp theo
dòng tộc Nanda chinh phục Kalinga cho đến triều đại A Dục. Theo Plutarch
thì các vua Chandragupta đã chiếm lãnh toàn bộ Aán Độ với một
đội quân sáu trăm ngàn người. Tuy nhiên Kalinga bị đánh bại bởi
vua A Dục sau một cuộc chiến tranh đẫm máu, mà người ta nói có
đến 150 ngàn người chết và vô số người bị thương.
Như đã đề cập trước, Brahmadatta mang một chiếc
răng Xá lợi Phật đến Kalinga và tôn trí tại đó. Chiến tranh lúc
bấy giờ chống lại Kalinga của đại đế A Dục không phải là hoằng
truyền đạo Phật mà lúc ấy ông chỉ muốn mở rộng bờ cõi. Vua A
Dục chỉ quy hướng theo Phật giáo sau cuộc chiến thắng trận và tàn
sát người Kalinga lúc bấy giờ.
Ngài Huyền Trang thuật rằng, vương quốc Kalinga là một vương
quốc rất phồn thịnh, hoa trái dư dã, có nhiều loại dã thú. Thời
tiết nơi đây nóng bức, tính khí con người dữ dằn, mạnh mẽ, thô
tháo và ít văn minh, nhưng được sự chân thật đáng tin. Họ nói
ngôn ngữ nhẹ nhàng và phát âm chuẩn xác. Nơi vương quốc này có
khoảng 10 tự viện và 500 tăng sĩ, phần lớn theo Đại thừa thuộc
trường phái Sthavira. Chùa Aán giáo thì có khoảng trăm và tu sĩ là
các Ni kiền tử. Vương quốc có đông dân cư sinh sống. Không xa từ
hướng nam của kinh đô, có một ngôi tháp cao 100 feet, được dựng
lên bởi vua A Dục. Gần đó là những vết tích của bốn vị Phật
trong quá khứ đã tọa thiền và đi kinh hành. Gần hướng bắc ngay
biên giới của Kalinga, có một khoảng đất rộng và trên có một
tháp đá cao 100 feet, nơi một vị Độc giác Phật đã nhập Niết
bàn.
Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, những di tích Phật giáo ở đây
được các nhà khảo cổ như Alexander Rea , Dorakonda và Ramatirtham
tìm thấy và dần dần được khai quật ra mãi cho đến tận bây giờ.
Dhanyakataka
(Dharanikota).
Mặc dù thành phố được biết rõ trong cả truyền thống Tây Tạng
và Trung Hoa về nơi chốn xác định của nó, nhưng vẫn có vài học
giả xác định nó là thành phố cổ Vijayapuri , thủ đô của triều
đại Satavahana, nơi những nền móng chùa tháp và các tượng Phật
bằng cẩm thạch được tìm thấy. Tuy nhiên những nhà khảo cổ hiện
nay tìm ra vết tích Dharanikota, nơi những ụ đất xưa có hình dáng
tựa như một di tích của Phật giáo. Nếu đây là sự thật thì
Dhanyakataka chỉ cách khoảng một dặms từ Amaravati, đúng như ngài
Huyền Trang và Taranatha đã đề cập.
Theo Manjusrimulakalpa thì đại tháp ở Dhanyakataka có chứa đựng Xá
lợi của đức Phật. Một bia ký khác được tìm thấy nơi này cũng
có đề cập đến Xá lợi đức Phật chôn cất trong tháp, và sự
hiện hữu này đã làm cho Dhanyakataka trở nên một nơi chốn thiêng
liêng của Phật giáo. Bia ký ghi rằng, chính ở nơi đây đã thu hút
những người hành hương từ khắp các nơi như: Trung Hoa, Gandhara,
Aparanta, Vanga, Tích Lan về đây để chiêm bái và đảnh lễ. Nhiều thí
chủ đã cúng dường xây dựng chùa viện, giếng nước cho chư tăng
và khách hành hương đến đây trú ngụ. Taranatha cho rằng nhà triết
gia vĩ đại là ngài Long Thọ đã cho xây dựng bức tường chung quanh
tu viện Dhanyakataka và tạo dựng nên 108 ngôi chùa bên trong tường
thành đó.
Ngài Huyền Trang thì ghi rằng khu vực chung quanh Dhanyakataka có một lịch
sử sinh hoạt Phật giáo lâu đời và có nhiều dữ kiện thiêng
liêng xảy ra ở đây. Trên ngọn đồi nhìn về thị trấn, Ngài Huyền
Trang tìm thấy hai tu viện được cúng dường bởi một vị vua trước
đó: Tu viện Purvasaila về hướng đông của núi Saila và tu viện
Aparasaila về hướng tây. Những tu viện này từng là trụ xứ của
Purvasaila và Aparasala, một tiểu phái của Đại chúng bộ. Nhiều nhà
sử gia cho núi Saila là núi Sri Parvata, một nơi được biết là ngài
Long Thọ đã sống vào những năm sau cùng của ngài. Manjusrimulakalpa
ghi rằng, nơi núi này là địa điểm tốt nhất cho sự tu tập thiền
định.
Theo ngài Huyền Trang thì nhà vua cho xây một con
đường xuyên qua thung lũng và lên đến dốc núi lởm chởm, ở
đây vua cho xây ngôi chùa thật đẹp trong một hang động trên núi.
Ông cũng cho xây một sân đình và các phòng ốc nối liền với hang
động. Khi công trình này hoàn tất đã có một ngàn tu sĩ và cư sĩ
an cư ba tháng hạ ở đây mỗi năm, và truyền thống này kéo dài
như vậy suốt nhiều thế kỷ.
Hướng nam của Dhanyakataka, là một động núi đá lớn, nơi ngài
Bhavaviveka (Thông Biện), một bậc đạo sư danh tiếng thuộc dòng truyền
thừa của ngài Long Thọ có nghe về Bồ tát Dhamapala (Pháp Hộ) với
hàng ngàn đệ tử ở Ma Kiệt Đà, nên lòng muốn đến đó để
luận pháp với ngài. Bhavaviveka đã tìm cách đi đến Ma Kiệt Đà
vùng bắc Aán, cũng như đã gởi một người đệ tử đến trước
để đưa tin và chuẩn bị cho cuộc gặp mặt, Nhưng ngài Pháp Hộ cho
biết là ngài không có thời gian để tranh luận và không muốn gặp
Bhavaviveka. Trở về chốn cũ, Bhavaviveka sống an tịnh trong sạch, nhưng
vẫn còn thâm ý muốn gặp lại ngài Pháp Hộ để thỉnh giáo.
Trong ba năm liền Bhavaviveka cầu nguyện đức Bồ
tát Quán Thế Âm gia trì cho thọ mạng ngài kéo dài đến thời
đức Phật Di Lặc tương lai, để ngài có thể nghe pháp trực tiếp
từ đức Phật. Bồ tát khuyến rằng, hãy nguyện vãng sinh về cõi
trời Đâu Suất, nơi Bồ tát Di Lặc đang chờ ngày giáng trần. Nhưng
Bhavaviveka vẫn không thay đổi mục tiêu của mình nên Bồ tát Quán
Âm khuyên ngài đến Dhanyakataka, và thiền định trong thạch động
Vajrapani. Tu tập và trì tụng thần chú của ngài Kim Cang tát đỏa thì
sẽ thành tựu được sở nguyện của mình.
Bhavaviveka tiếp tục thiền định trong ba năm và ngài Kim Cang Tạng đã
hiện ra, chỉ bày ngài phương cách mở cửa lâu đài A Tu la ẩn kín
trong núi. Ở đó với sự che chở của các thần A Tu La, ngài sẽ
được duy trì pháp thiền của mình cho đến khi đức Phật Di Lặc
giáng trần, và ngài sẽ được đức Phật trực tiếp giảng pháp
và gia trì. Bhavaviveka y theo lời chỉ bảo của ngài Kim Cang Tạng và
nhất tâm thực hành thiền định thêm ba năm nữa; quả thật sau cùng
cánh cửa lâu đài A Tu la mở ra và ngài liền tức thời đi vào.
Tuy nhiên chỉ có tất cả 6 người đệ tử của ngài là dám theo
vào cảnh giới A Tu La. Sau khi cửa đóng, các đệ tử còn lại nhìn
theo luyến tiếc vì đánh mất dịp may hiếm có này.
Từng là một trung tâm Phật giáo hưng thịnh,
Dhanyakataka dần dần đã mất đi ảnh hưởng từ thế kỷ thứ 7. Ngài
Huyền Trang ghi rằng, phần lớn các tu viện hoang vắng và hư
hoại, mặc dù có khoảng một ngàn tăng sĩ Đại thừa đang tu học
trong khoảng 20 tu viện lúc bấy giờ, nhưng so với du sĩ của các phái
ngoại đạo thì quả là con số quá nhỏ bé. Ngài Huyền Trang ở
lại đây hai tháng để học A Tỳ Đàm với ngài Subhuti và Surya,
nguyên là hai bậc Tam tạng pháp sư của trường phái Đại chúng bộ.
Ngược lại ngài cũng dạy cho hai vị ấy những luận bản của Đại
thừa.
Những
di
tích
quanh
vùng.
Có
rất
nhiều
di
tích
Phật
giáo
giữa
miền
hạ
Godavri
và
sông
Krisna
chứng
tỏ
sự
thịnh
đạt
một
thời
của
Phật
giáo
trong
vùng
này.
Tại
Budhani,
18
dặm
từ
Repalle,
gần
cửa
khẩu
dòng
sông
Krisna,
một
tượng
Phật
bằng
đồng
làm
từ
thế
kỷ
thứ
5
sau
TL
được
tìm
thấy,
một
số
các
ngôi
tháp
tìm
ra
gần
Gudivada,
Ghantasala,
Chejrala
và
Goli.
Chejrala,
nơi
có
rất
nhiều
ngôi
tháp
còn
tồn
tại,
dường
như
nơi
này
xưa
kia
cũng
là
một
trong
những
trung
tâm
Phật
giáo
lớn
và
quan
trọng
ở
đây.
Về
hướng
bắc,
những
bia
ký
tìm
thấy
tại
Alluru
cho
biết,
đất
ở
đây
đã
được
cấp
cho
Purvasaila,
một
trường
phái
Phật
giáo
trong
vùng,
và
một
hình
tượng
Phật
rất
lớn
cũng
được
tìm
thấy
nơi
đây.
Một
số
các
nền
tự
viện
tìm
thấy
ở
Arugolanu,
ở
Tadipalligudem
Taluk,
hướng
tây
của
khu
vực
Godavari,
là
Aripalam
có
một
thạch
động
gồm
các
phòng
thất
mà
một
thời
chư
tăng
đã
cư
trú
tại
nơi
này.
Một
số
các
chứng
cứ
khác
cho
biết
rằng
các
tu
viện
gần
Anakapalle,
được
biết
là
Sangharama
thịnh
hành
từ
giữa
thế
kỷ
thứ
4
đến
thế
kỷ
thứ
9
sau
TL.
Những
nền
móng
của
tu
viện
Sangharama
là
những
nền
móng
tự
viện
và
tháp
cổ
xưa
nhất
ở
Andhra,
kể
cả
toàn
bộ
dãy
đồi
được
tạo
theo
hình
những
ngôi
tháp
đá.
Một
ngôi
chùa
tạc
ra
từ
một
vách
đá
núi
rắn
với
tôn
tượng
Phật
và
một
ngôi
tháp.
Nghệ
thuật
khắc
chạm
nơi
đây
cho
biết
ngôi
chùa
này
trước
đây
là
một
ngôi
chùa
Đại
thừa.
Những
chạm
trổ
trên
đá
cẩm
thạch
với
bia
ký
từ
thế
kỷ
thứ
3
sau
TL
được
tìm
thấy
tại
Chinna
Ganjam,
trong
khu
vực
Kuntur.
Pedda
Ganjam
một
thời
từng
là
thủ
phủ
của
thành
phố
cổ
Andhra,
cũng
là
một
trung
tâm
Phật
giáo
vào
khoảng
giữa
thế
kỷ
thứ
3
sau
TL.
Cách
Padda
Ganjam
1
dặm
về
hướng
bắc
là
Franguladinne,
còn
tồn
tại
một
ngôi
tháp
tìm
thấy
cùng
với
một
tôn
tượng
Phật
lớn.
Kanuparti,
6
dặm
hướng
bắc
của
Pedda
Ganjam
là
nơi
một
tự
viện
Phật
giáo
mà
sau
chuyển
sang
chùa
Ấn
giáo.
Bhattiprolu.
Bhattiprolu
tọa
lạc
gần
Repalle
được
xem
là
một
trong
những
trung
tâm
Phật
giáo
cổ
xưa
nhất
ở
Andhra.
Đại
tháp
ở
Bhattiprolu
rất
vĩ
đại
với
đường
kính
132
feet
và
thời
gian
tạo
dựng
tháp
này
có
thể
cùng
thời
gian
với
tháp
ở
Bharhut
và
Sanchi,
nơi
có
an
trí
Xá
lợi
của
đức
Phật
từng
được
khám
phá
trong
cuộc
khai
quật
năm
1891.
Những
bia
ký
đào
lên
chung
với
hộp
nhỏ
cho
biết
rõ
là
Xá
lợi
của
đức
Phật.
Chính
phủ
Ấn
Độ
đã
bàn
giao
những
Xá
lợi
quý
báu
này
cho
Hội
Maha
Bồ
đề
ở
Calcutta.
Ramatirtha.
Tọa
lạc
4
dặm
từ
Nellimarala
là
một
di
sản
cổ
thiêng
liêng
của
Phật
giáo
mà
hiện
nay
còn
di
tích
của
nhiều
nền
móng
tự
viện
từ
thế
kỷ
thứ
2
sau
TL.
Jaggayyapeta.
Hướng
tây
bắc
của
Amaravati,
tận
vùng
bắc
của
miền
hạ
dòng
sông
Krisna
có
một
tu
viện
của
Jaggayyapeta,
một
tu
viện
xưa
khác
trong
vùng
Andhra.
Những
bia
ký
từ
thế
kỷ
thứ
hai
trước
TL
đã
tìm
thấy
nơi
phần
đại
tháp
bị
đổ
vỡ,
và
một
tượng
Phật
từ
thế
kỷ
thứ
5
cũng
được
tìm
thấy
trong
nền
của
một
tu
viện.
Trong
những
thế
kỷ
này,
tu
viện
Jaggayyapeta
dường
như
là
nơi
dừng
chân
cho
những
khách
du
hành
đến
hoặc
đi
từ
các
ngôi
chùa
hang
ở
Bedsa
và
Karli.
Ramareddipalle.
Thẳng
về
hướng
bắc
của
Jaggayyapeta,
khoảng
6
dặm
từ
Madura
là
Ramareddipalle,
còn
được
biết
với
tên
là
Gummididurru.
Ramareddipalle
có
thể
từng
là
một
trung
tâm
Phật
giáo
lớn
từ
đầu
thế
kỷ,
nhưng
khó
biết
đích
xác
về
lịch
sử.
Phần
còn
lại
của
tháp
chính
cho
biết
chu
vi
quanh
tháp
được
trang
hoàng
với
34
phiến
đá
cẩm
thạch
chạm
khắc
tương
tự
như
các
nghệ
thuật
chạm
khắc
ở
Amaravati.
Guntapalle.
Có
nhiều
những
di
tích
Phật
giáo
khác
tìm
thấy
trên
các
đồi
ở
Guntapalle,
một
di
sản
quý
báu
về
kiến
trúc
và
các
hình
tượng
từ
thế
kỷ
thứ
2
trước
TL.
Guntapalle
tọa
lạc
hướng
đông
nam
của
Ramareddipalle
và
hướng
tây
của
khu
vực
Godavari,
là
nơi
của
những
ngôi
tháp
tạc
bằng
loại
đá
núi
rắn,
những
ngôi
chùa
hang
tạc
ra
từ
vách
núi,
và
một
đền
thờ
gạch
lớn
an
trí
tôn
tượng
của
đức
Phật
bằng
đá
vôi.
Những
khám
thờ
và
phòng
thất
trong
thạch
động
của
những
tu
viện
cùng
với
một
số
tháp
khác
cũng
được
tìm
thấy
trên
ngọn
đồi
Sankaran,
nằm
ở
khu
vực
Vizagapatnam.
***
Sự
nghiên
cứu
và
khai
quật
những
di
tích
liên
hệ
về
Phật
giáo
vẫn
tiếp
tục
được
thực
hiện
trong
thời
gian
qua
ở
Andhra.
Theo
như
Ahir,
cuộc
khai
quật
năm
1986
tại
trung
tâm
Phật
giáo
xưa
ở
Bavikonda,
gần
Bhemmunipatnam
trong
vùng
Visakhapatnam.
Những
đền
tháp
tìm
thấy
ở
đây
kể
cả
một
đại
tháp
lớn,
7
tháp
nhỏ,
một
tu
viện
với
51
phòng
ở
cho
chư
tăng,
một
sảnh
đường
lớn,
một
thư
viện
và
một
số
dụng
cụ
liên
hệ
chữa
trị
về
thuốc
men.
Gần
đây
một
ngôi
tháp
lớn
nhất
cũng
được
tìm
thấy
ở
Nelakondapalli
trong
khu
vực
Khammam.
|
Mục
Lục
||
Chương
năm
|
---o0o---
| Thư
Mục Tác Giả |
Cập nhật ngày : 01-01-2002