| ...... ... |
. |
DANH LAM
NƯỚC VIỆT
Võ Văn Tường - Huỳnh Như
Phương
Nhà Xuất Bản Mỹ Thuật - 1995
[Bản dịch tiếng Anh]
---o0o---
LỜI
GIỚI THIỆU
▲
Phật giáo bắt rễ đến
đâu là thâm nhập ngay vào mọi sinh hoạt của quần chúng nhân dân.
Phật giáo Việt Nam là một tiêu biểu rõ nét: trong suốt hai ngàn
năm gắn bó với đất nước và dân tộc, những ngôi chùa là
những chứng tích lịch sử, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, in dấu
những sinh hoạt của người Việt Nam qua các thời đại.
Trong những năm gần đây, khá nhiều
công trình nghiên cứu, giới thiệu về chùa Việt Nam đã được
xuất bản. Đây là dấu hiệu đáng mừng trong việc khơi dậy tinh
thần tôn trọng văn hóa dân tộc cũng như văn hóa Phật giáo. Cuốn
sách DANH
LAM NƯỚC VIỆT do Võ
Văn Tường và Huỳnh Như Phương biên soạn là một đóng góp đáng
kể cho nỗ lực đầy ý nghĩa ấy. Đặc biệt, qua những hình ảnh và
các bài viết miêu tả các ngôi chùa nổi tiếng, hai soạn giả còn
giới thiệu một số sinh hoạt, hành trạng, có khi cả những tình
cảm, tư duy và sự khéo léo tế nhị của Phật gia, danh nhân lịch
sử, văn thi gia, nghệ nhân qua các mẩu chuyện, truyền thuyết, bài
thơ gắn liền với những khung thời gian, không gian liên hệ. Tất cả
tạo thành một màu sắc truyền thống, đa dạng và sáng tạo, khi thì
rực rỡ sống động, khi thì lung linh thi vị.
Ở đây, dù khá công phu và cẩn
thận khi trình bày các tư liệu, những người biên soạn hình như
không đặt nặng tính chất khảo cứu khoa học mà chỉ nhằm giới
thiệu một số nét kiến trúc và điêu khắc độc đáo của chùa
Việt Nam lồng trong một tấm lòng hoài cổ.
Hơn mười bốn ngàn ngôi chùa
được thống kê - và có lẽ con số thực sự còn cao hơn nữa -
đã tô điểm cho non sông nước Việt. Người Việt thường dùng hai
từ ghép "danh lam thắng cảnh" như mặc nhiên công nhận chùa
nổi danh đi đôi với cảnh xinh đẹp. Thực vậy, thiên nhiên làm
đẹp ngôi chùa và ngôi chùa tạo duyên dáng cho thiên nhiên. Ngay
cả những nơi đô hội, sự hiện diện của ngôi chùa hẳn cũng làm
dịu bớt không khí náo nhiệt, sôi nổi đến gần như hời hợt vô
tình của nếp sống hiện đại. Trong ý nghĩa này, thật khó mà chọn
hết được những ngôi chùa nổi tiếng.
Tại sao soạn giả chọn 45 trong số
lượng lớn các danh lam của nước Việt? Hiển nhiên, trước hết
là do khuôn khổ giới hạn của cuốn sách; kế đến, theo như Lời
nói đầu, "? đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho
sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng
như các địa phương trên cả nước". Có thể có độc giả sẽ
không đồng ý về sự lựa chọn trên, vì tiêu chuẩn chọn lựa
còn bị hạn chế ít nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là một thống
kê khoa học. Có lẽ những người biên soạn chỉ muốn cố gắng
giới thiệu một số di sản văn hóa với lòng cảm xúc, sự kính
mộ đối với tôn giáo Từ bi và Trí tuệ đã truyền sức sống
của mình vào dân tộc và mang sức sống của chính dân tộc.
Nhận định như thế, tôi nghĩ rằng DANH LAM NƯỚC
VIỆT của Võ Văn
Tường và Huỳnh Như Phương là một công trình có giá trị và xin
trân trọng giới thiệu cùng chư độc giả.
Chùa Từ Đàm, Trọng Đông Quý
Dậu, 1993
Hòa Thượng THÍCH
THIỆN SIÊU
LỜI NÓI ĐẦU
▲
Từ lâu, nhiều ngôi
chùa ở Việt Nam đã trở thành nơi lưu giữ các giá
trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Tìm hiểu ngôi chùa
không chỉ là để nhận thức con đường du nhập và
truyền bá đạo Phật ở nước ta mà còn là để lĩnh
hội nhiều phương diện của văn hóa Việt Nam. Chính điều
đó sẽ góp phần nâng cao lòng tự hào và ý thức
bảo tồn những di sản văn hóa quý giá mà tiền nhân
đã sáng tạo.
Trong bối cảnh đất
nước đang đổi mới, hòa vào phong trào bảo vệ và
phát triển văn hóa dân tộc, nhiều công trình nghiên
cứu về chùa Việt Nam đã được công bố. Biên soạn
cuốn sách DANH LAM THẮNG CẢNH này, chúng tôi muốn góp
phần khiêm tốn của mình giới thiệu với bạn đọc
những nét khái quát về lịch sử, cảnh quan, lễ hội,
nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cùng những sự
kiện văn học có liên quan đến 45 ngôi chùa nổi tiếng
trên đất nước ta. Theo thiển ý, đây là những ngôi
chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo
Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa
phương trên cả nước. Bên cạnh các bài viết là
những tấm ảnh màu ghi lại phong cảnh, công trình kiến
trúc và điêu khắc các ngôi chùa. Tất nhiên vẫn còn
rất nhiều danh lam tiêu biểu khác mà hoặc do chưa có
đầy đủ tư liệu, hoặc do khuôn khổ tập sách, chúng
tôi chưa thể giới thiệu ở đây. Xin bạn đọc rộng
lòng lượng thứ.
Viết cuốn sách này,
chúng tôi được may mắn tiếp thu, kế thừa những tư
liệu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước
qua các công trình biên khảo về Phật giáo Việt Nam cũng
như về lịch sử các ngôi chùa. Kết hợp với các
chuyến đi thực tế đến các địa phương, chúng tôi đã
tìm hiểu, đối chiếu, bổ sung tư liệu để hoàn thành
các bài viết của mình. Nhân dịp cuốn sách được xuất
bản, chúng tôi chân thành cảm ơn chư vị trụ trì các
tự viện, tịnh xá đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thu
thập nhiều tư liệu; cảm ơn các tác giả những công
trình mà chúng tôi đã tham khảo qua thư mục in ở cuốn
sách; đặc biệt cảm ơn các ông Trương Ngọc Tường,
Trần Tuấn Mẫn và Nguyễn Thái Hòa đã đóng góp nhiều
ý kiến quý báu. Dù vậy, cuốn DANH LAM NƯỚC VIỆT chắc
chắn vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót.
Cuốn sách này rất vinh
dự được Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch
Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo
Việt Nam kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, viết lời
giới thiệu. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm
của Hòa thượng. Chúng tôi chân thành cảm ơn các dịch
giả tiếng Anh - Trần Phương Lan, Nguyễn Văn Nghệ, Châu
Văn Thuận và Thùy Dương. Chúng tôi cũng xin cảm tạ Ban
Giám đốc Nhà xuất bản Mỹ Thuật đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho cuốn sách được ra mắt.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-1993
VÕ VĂN
TƯỜNG - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
---o0o---
Chùa DÂU
(PHÁP VÂN TỰ)
▲
Dù
ai đi đâu về đâu,
Hễ
trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù
ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ
ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Mấy câu ca dao trên gợi
lên nỗi nhớ về một ngôi chùa thuộc vào loại cổ nhất
nước ta, được xây dựng vào đầu thế kỷ III sau Công
nguyên, nằm ở trung tâm của cố đô Luy Lâu, nay thuộc
thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh
Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Đó là chùa Dâu hay
Pháp Vân Tự, đời Lý mang tên Cổ Châu, đời Trần
mang tên Thiền Định, đời Lê mang tên Diên Ứng.
Vào những thế kỷ đầu
Công nguyên, chùa Dâu đã chứng kiến sự phát triển
của một khu buôn bán sầm uất nằm trên giao điểm những
con đường lớn thời xưa mà nay chỉ còn lại di tích đổ
nát là thành Luy Lâu nằm ở ngã tư Thuận Thành (Hà Bắc)
giữa hai tỉnh lộ: một về phía Bắc đến Đông Triều -
Phả Lại, một về phía Nam đến Khoái Châu - Hải Hưng.
Lịch sử chùa Dâu gắn
liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn
Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ
Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la
người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật
Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp
việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng
dân gian nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu.
Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một
hôm, đang lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành
lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai. Một
năm hai tháng sau, nhằm ngày 8 tháng 4 âm lịch, Man Nương
sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng
đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần
chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt
ra, đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại
và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng
mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo
lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất
đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương lại cắm cây
thiền trượng xuống đất, cất lời cầu nguyện, thì phép
màu lại hiện ra: trời đổ mưa. Một đêm mưa to gió lớn,
cây đa cổ thụ nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương,
bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về
làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương
dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy
dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây
tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ bốn
vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp: Pháp Vân (tức bà
Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu),
thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng,
thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ
ở chùa Phương Quang).
Huyền thoại Man Nương, người
mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp, đã
khiến cho hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, các vị sư
tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu
thơ trên kia đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để
các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để
tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp.
Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng
(gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng
bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về qui tụ với chị cả là
bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Sau lễ múc nước, dâng nước
và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng
Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Vào ngày hội,
trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa
hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ
người.
Nằm trên một khu đất
rộng ven sông Dâu - một nhánh của sông Đuống - Chùa Pháp
Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả
nước. Chính đây là nơi tu trì và thuyết pháp của các
Thiền sư danh tiếng: Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, người Nam
Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, dịch bộ kinh Tổng Trì Đại
Thừa), Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện
Hội? Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ
và tâm truyền độc đáo giữa Ti-ni-đa-lưu-chi và Pháp
Hiền diễn ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của
Thiền trong đời sống văn hóa dân tộc.
Vốn là một ngôi đền
mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và
trùng tu nhiều lần: giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối
thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII
vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi
chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời
Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng
tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí
đã ghi lại: "Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa
trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn
còn". Chùa làm theo kiểu "Nội công ngoại quốc".
Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa
Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện,
sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà
dài vây quanh theo hình chữ "Quốc". Trong Phật điện,
tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi
trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là
tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong
cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.
Nói đến kiến trúc chùa
Dâu, không thể không nhắc đến ngọn tháp Hòa Phong vượt
trên mái ngói nâu nổi bật giữa màu xanh của nền trời
và bóng che. Được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào
cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp
Hòa Phong vốn có 9 tầng. Thời gian làm cho đổ nát, nay
tháp chỉ còn 3 tầng, cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi
cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính
nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống.
Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài
từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu
khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến
trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng
tu vào năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn
đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng
đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.
Được xây bằng gạch
mộc to bản, xưa kia tháp Hòa Phong cao chót vót như một
thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi
vô minh thổi tới.
Chùa PHẬT TÍCH
(VẠN PHÚC TỰ)▲
Chùa Phật Tích có tên
là Vạn Phúc Tự - nguyên tên ban đầu là Thiên Phúc
Tự - nằm trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện
Tiên Du; nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Hà Bắc.
Từ Hà Nội muốn đến
thăm chùa, du khách có thể đi bằng ô tô hoặc các
phương tiện sẵn có theo hai đường: một đường theo
tả ngạn sống Đuống, đi dọc bờ đê chừng 15km, sau
đó có lối rẽ trái 1km nữa thì đến chùa. Một
đường chạy qua núi Lim rẽ về bên phải đi khoảng 15km
thì đến làng Phật Tích rồi vào chùa. Chùa ở sát
làng, nhìn ra sông Đuống, chỉ cách bờ đê 1km.
Theo văn bia Vạn Phúc
Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686), "Vua
thứ ba triều Lý (tức Lý Thánh Tông) vào năm Long
Thụy Thái Bình thứ tư (1057) cất lên cây tháp quí ngàn
trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao sáu thước,
cấp cho hơn trăm thửa ruộng, xây chùa hơn trăm
tòa". Tấm bia này còn ca ngợi vẻ đẹp của cảnh
chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn
Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi
Phượng Lĩnh bao bọc? Phía tả Thanh Long nước chảy
vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà
khai bàn đá?".
Năm 1071, vua Lý Thánh
Tông đã đến thăm chùa, chính tay nhà vua viết chữ
"Phật" dài một trượng sáu thước và khắc
vào bia đá để dựng trước chùa. Sang đời Trần,
chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần Nghệ Tông cho
dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm 1384 Vua đã mở kỳ thi
Thái học sinh ở chùa này.
Năm Chính Hòa thứ bảy
đời vua Lê Hy Tông (1686), chùa được xây dựng lại
với qui mô đồ sộ và có giá trị nghệ thuật cao.
Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa
Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô
Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở
chùa này. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi có ghi:
"Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, sáng như
ngọc lưu ly? Trên thềm đằng trước có bày mười con
thú, phía sau có ao rộng. Gác cao vẽ chim phượng và sao
Ngưu Đẩu sáng lấp lánh. Lầu rộng, tay rồng với tới
trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng?".
Chùa xây theo kiểu
"Nội công ngoại quốc", có đến hơn trăm gian,
trước chùa có ngọn "tháp dựa mây xanh vút vút
tầng" như Nguyễn Xướng đã miêu tả trong bài thơ
Tiên Du Vạn Phúc Tự. Đằng sau chùa có long từ, thạch
thất có nơi giảng kinh. Bên cạnh chùa là miếu Tiên
chúa thờ bà Trần Ngọc Am, có câu đối "Đệ nhất
cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên
hương".
Trong chiến tranh chống Pháp,
quân đội viễn chinh đã tàn phá chùa Vạn Phúc. Ngày nay ngôi chùa cũ còn
lại di tích là ba bậc nền bạt vào sườn núi, hình chữ nhật, mỗi nền dài
khoảng 60m, rộng khoảng 33m. Nơi đây những năm 1949-1941, các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy những viên gạch lớn ghi rõ niên hiệu Long Thụy Thái Bình
năm thứ tư (1057) và Chương Thánh Gia Khánh năm thứ bảy (1065). Trong các
tác phẩm điêu khắc cổ, còn lưu lại 5 cặp tượng sư tử, tê giác, voi, trâu,
ngựa nằm trên bệ hoa sen tạc bằng những phiến đá lớn, cao khoảng 2m. Ngoài
ra còn có đá ốp tường, đấu kê, chân tảng chạm khắc các hình rồng, nhạc
công, vũ nữ?
Tên chùa Phật Tích gắn
liền với tượng Phật - một tác phẩm điêu khắc nổi
tiếng hiện được thờ phụng trong ngôi chùa nhỏ mới
xây sau này. Tương truyền rằng xưa kia có lần ngọn tháp
của chùa bỗng đổ sụp, để lộ ra pho tượng này. Từ
đó xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành
thôn Phật Tích. Tượng Phật này bằng đá cao 1,85m, cả
bệ là 3m. Tượng tạng đức Phật đang ngồi thiền định
trên tòa sen, bệ tượng tạc hình rồng và hoa lá.
Tượng có nét mặt thanh tú, dáng thanh thoát từ bi,
đường nét chạm rất tỉ mỉ và công phu.
Các địa danh Lạn Kha,
Tiên Du còn gợi lên những huyền thoại người gặp
tiên được lưu truyền mấy ngàn năm nay. Lạn Kha có
nghĩa là cán búa nát, ghi lại tích Vương Chất lên núi
đốn củi gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem không
hay rằng cán búa bị mục nát vì thời gian trên trần
thế đã trôi qua đến bảy đời rồi. Trên núi Lạn Kha
này còn có tảng đá vuông, mặt phẳng lì gọi là bàn
cờ tiên.
Còn Tiên Du nhắc nhở
sự tích quan tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn,
gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ
Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức
từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động
núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích
này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn
hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân
xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.
Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn
Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:
Đoản
trạo hệ tà dương
Thông
thông yết thượng phương
Vần
quy thiền sáp lãnh
Hoa
lạc giản lưu hương
Nhật
mộ viên thanh cấp
Sơn
không trúc ảnh trường
Có
trung chân hữu ý
Dục
ngữ hốt hoàn vương.
Nghĩa là:
Bóng
xế thuyền con buộc
Vội
lên lễ Phật đài
Mây
về giường sãi lạnh
Hoa
rụng suối hương trôi
Chiều
tối vượn kêu rộn
Núi
quang, trúc bóng dài
Ở
trong dường có ý
Muốn
nói bỗng quên rồi.
(Đào Duy Anh dịch)
Chùa BÚT
THÁP
▲
(NINH PHÚC TỰ)
Đi lối cầu Đuống theo
đường đê hữu ngạn hoặc rẽ trái từ ga Phú Thụy
trên đường đi Hải Phòng, khoảng 15km, du khách sẽ đến
xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc - trước
kia là làng Á Lữ, xã Nhạn Tháp, huyện Siêu Loại -
nơi có chùa Bút Tháp nằm giữa cánh đầng nhìn về
phía Nam.
Chùa có tên là Ninh Phúc Tự.
Khi Thiền sư Huyền Quang đến tu tại đây, ông đã cho xây tháp cao 9 tầng
trang trí hình hoa sen , nhưng ngọn tháp đó ngày nay không còn nữa. Tháp
Báo Nghiêm mang hình dáng quản bút khổng lồ vươn lên trời cao mà chúng ta
thấy ngày nay được Thiền sư Minh Hành (1596-1659) dựng năm 1647. Năm 1876
tháp này được vua Tự Đức đặt tên là Tháp Bút, ngôi chùa từ đó mang tên Bút
Tháp. Tháp xây bằng đá ghép, có 5 tầng, hình 8 cạnh, cao 13,05m, đỉnh tháp
hình nậm rượu, giữa các tầng có gờ mái uốn cong. Bệ tháp mỗi bề rộng hơn
3m, có 2 lần tường bao bọc. Lòng bệ tháp đặt tượng Thiền sư Chuyết Công
(1590 - 1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và
trụ trì ở chùa. Trước phút viên tịch, Thiền sư đọc cho đệ tử nghe bài kệ:
Tre
gầy thông vót nước rơi thơm
Gió
thoảng trăng non mát mát rờn
Nguyên Tây ai ở người nào biết?
Mỗi
chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.
(Thích
Thanh Từ dịch)
Vua Lê Chân Tông đã
sắc phong cho Hòa Thượng Chuyết Công hiệu "Minh Việt
Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư".
Sau đó, Hoàng Thái Hậu
Trị?h Thị Ngọc Trúc, hiệu Pháp Tánh, người làng Á
Lữ? xin cha là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cho trùng tu
lại chùa Bút Tháp ở quê nhà. Bà đã cùng Thiền sư
Minh Hành chăm sóc việc trùng tu. Đến khi vua Lê Thần
Tông băng hà, Bà đã về tu hẳn ở chùa.
Phong cách kiến trúc
đời Hậu Lê để lại rất rõ nét trên kiến trúc
chùa Bút Tháp. Được xây dưng theo kiểu "Nội công
ngoại quốc" như chùa Dâu, chùa Bút Tháp có một
quần thể kiến trúc bao gồm: tam quan, gác chuông, tòa
thiêu hương, thượng điện, cầu đá, tòa Cửu phẩm
Liên hoa (Tích thiện am), nhà chung, phủ thờ, hậu
đường. Tất cả gồm 10 tòa nhà, nằm trên một trục
dài hơn 100m. Bên trái chùa là nhà tổ và tháp Báo
Nghiêm. Lùi về phía sau có tháp Tôn Đức. Xung quanh tòa
thượng điện là hàng lan can đá gồm 36 phiến chạm trổ
tinh vi những cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước
với hình ảnh cò bay trên đầm sen, cá lội, trẻ chăn
trâu và một số điển tích khác như cá hóa rồng, tứ
linh, tứ quí, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh?
Bước vào tòa thượng
điện, cảm xúc về cái trác tuyệt hiện lên khi ta
đứng trước tác phẩm điêu khắc nổi tiếng: tượng
Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.
Tượng Quan Âm cao 3,70m
bằng gỗ phủ sơn được một nghệ nhân họ Trương tạc
vào năm 1656. Tượng có 11 khuôn mặt , 994 tay với 994 con
mắt nằm trong lòng mỗi bàn tay. Dưới chiếc mũ hoa sen,
khuôn mặt chính diện trang nghiêm mà hiền hòa, hai bên
má còn có hai khuôn mặt khác. Lại thêm 8 đầu nhỏ
xếp thành hình tháp 3 tầng, trên đỉnh là một pho
tượng nhỏ. Trước ngực hai tay chắp lại, sau lưng 40
cánh tay vươn ra hài hòa như hình lá sen, phía ngoài là
952 cánh tay nâng con mắt tạo thành một vòng hào quang.
Trên đỉnh tượng là một đôi chim thần đầu người
xòe cánh rộng áp vào nhau. Tượng đặt trên tòa sen, do
một con rồng vươn lên mặt nước đội đỡ. Bốn góc
là 4 pho tượng lực sĩ thân hình vạm vỡ ra sức nâng
bệ tượng.
Bao thế kỷ qua, Quan Âm
vẫn ngồi đó, nghìn mắt để nhìn thấy mọi trầm luân
của trần gian và nghìn tay để sẵn sàng cứu vớt chúng
sinh. Chiêm ngưỡng pho tượng, ta có cảm giác như đức
Phật nghe được tất cả những âm vang của cuộc đời
và truyền cho con người lòng nhân ái khoan dung cùng sự
bình thản trong tâm hồn.
Chùa TRẤN QUỐC
▲
(TRẤN
BẮC TỰ)
Từ vườn Bách Thảo
qua đường Hoàng Hoa Thám sẽ đến một trong những con
đường thơ mộng nhất của thủ đô Hà Nội: đường
Cổ Ngư, ngày nay là đường Thanh Niên, nằm giữa hai
hàng cây và hai hồ nước xanh lặng sóng. Hai hồ này
ngày xưa chỉ là một với nhiều tên: Xác Cáo, Kim Ngưu
(Trâu Vàng), Lãng Bạc (Sóng lớn), Dâm Đàm (đầm Mù
Sương). Cách đây 400 năm, người ta đắp con đường Cố
Ngự (nghĩa là cố giữ vững, sau đọc chệch thành Cổ
Ngư) ngăn đôi hồ này: hồ nhỏ là Trúc Bạch, hồ
lớn là hồ Tây.
Với diện tích 466ha, chu vi
17km, chung quanh có nhiều đền chùa, thắng cảnh, hồ Tây đã là nguồn cảm
hứng của nhiều thi sĩ. Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Đức Quý đã có thơ vịnh Tây
Hồ:
Thuyền
chứa nguyệt đài ngần ánh tuyết
Viện
lồng hoa diệp biếc đầm sương
Sen
xanh in trúc lung lay nguyệt
Vầng
biếc hoa mai phảng phất hương.
Bài Phú tụng Tây Hồ
của Nguyễn Huy Lượng là một áng văn nôm trác tuyệt
đậm đà bản sắc dân tộc, thi hứng ngợi ca hùng khí
triều đại Tây Sơn hòa trong cảm hứng trước vẻ đẹp
hồ Tây.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
trong một chiều thu Hà Nội đã bắt gặp dưới ánh
hoàng hôn hồ Tây hình ảnh "mặt nước vàng lay bờ
xa mờ gọi, màn sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ
vỗ cánh mặt trời" và đã sáng tác nên một ca
khúc thật đẹp.
Từ con đường Cổ Ngư
có lối dẫn vào một doi đất nằm bên mép hồ Tây,
hình qui nên gọi là bãi Rùa, còn có tên là bãi Kim
Ngư (Cá Vàng). Chính trên bãi đất này các vua nhà Lý
đã dựng cung Thúy Hoa làm nơi nghỉ mát, các vua nhà
Trần dựng điện Hàm Nguyên để ra vân cảnh. Nền cũ
của cung và điện này ngày nay là vị trí của ngôi chùa
vào loại cổ nhất nước ta: chùa Trấn Quốc.
Chùa này nguyên trước
là chùa Khai Quốc (Mở Nước) khai sáng từ triều Lý
Nam Đế (544 - 548) ở ngoài bãi sông Hồng, phía Đông
Bắc phường Yên Hoa tức Yên Phụ, gần cầu Long Biên
bây giờ. Tại chùa Khai Quốc, dưới triều Lý Nhân
Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã từng mở tiệc chay thết đãi
các vị cao tăng. Bà cũng thường lui tới chùa cùng chư
tăng đàm đạo.
Đến đời Lê Thái
Tông (1434 - 1442) chùa được đổi tên là chùa An Quốc.
Hàng năm nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bờ
sông. Vì vậy, năm 1615, vào đời vua Lê Kính Tông, dân
làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngư. Dưới
triều vua Lê Hy Tông (1676 - 1705) chùa mới được đổi
tên là Trấn Quốc, bức hoành phi mang chữ "Trấn
Quốc Tự" treo ở gian nhà đại bái hiện nay được
làm từ lúc đó. Thời Lê-Trịnh, nơi đây được chọn
làm hành cung Trấn Quốc dành cho vua chúa nghỉ ngơi khi
dạo chơi hồ Tây. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa
đổi tên thành Trấn Bắc, nhưng nhân dân vẫn quen gọi
tên cũ là chùa Trấn Quốc.
Chùa Trấn Quốc không
chỉ tự hào về bề dày của lịch sử xây dựng mà
còn về các vị cao tăng và danh nhân đã gắn bó với
ngôi chùa. Các Thiền sư và Pháp sư Vân Phong, Khuông
Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không,
Trần Tú Uyên đều thụ giáo hoặc tu trì ở chùa này.
Năm 580, Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Việt Nam
cũng đã dừng chân tại đây một thời gian.
Năm 1069, vua Lý Thánh
Tông đem quân sang đánh Chiêm Thành, bắt cả vua Chiêm
là Chế Củ và một số tù nhân, trong đó có một vị
sư rất am hiểu kinh pháp đạo Phật. Truy nguyên ra mới
biết đó là Thiền sư Thảo Đường. Lý Thánh Tông phong
Thảo Đường chức Quốc sư và mời Ngài trụ trì chùa
Khai Quốc, từ đó mở ra Thiền phái Thảo Đường ở
nước ta. Chùa cũng là Tổ đình của Thiền phái Tào
Động truyền ở Việt Nam đời Hậu Lê.
Từ khi dời vào bãi
Cá Vàng, chùa Trấn Quốc đã nhiều lần được kiến
thiết và trùng tu. Năm 1624, dưới triều vua Lê Thần
Tông, tòa Tam bảo, tòa thiêu hương và tiền đường
được xây dựng. Đến năm 1639, xây thêm tam quan, hậu
đường và hành lang tả hữu. Ở hiên phải nhà đại
bái hiện còn tấm bia ghi lại việc trùng tu này do Trạng
nguyên Nguyễn Xuân Chính lập.
Sau một thời gian bị
chiến tranh tàn phá, theo nội dung tấm bia do Tiến sĩ Phạm
Quí Thích dựng năm 1815, thì từ năm 1813 đến năm 1815,
chùa Trấn Quốc lại được Sư trụ trì là Khoan Nhân tổ
chức trùng tu lại chính điện, nhà thiêu hương, tiền
đường, hành lang, gác chuông, hậu đường, đồng thời
đắp tượng Phật và đúc chuông lớn. Chùa Trấn Quốc
là một trong số rất ít những ngôi chùa ở miền Bắc
có pho tượng Thích-ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng
rất đẹp.
Ngay cổng chùa có hai câu đối:
Vang
tai xe ngựa qua đường tục
Mở
mặt non sông tới cửa Thiền
Trước cửa chùa lại thêm hai câu đối trên hai cột:
Trải
bao phen gió Á mưa Âu, trơ đá vững đồng, chót vót
cột trời chùa Trấn Quốc.
Riêng
một thú hoa đàm đuốc tuệ, sớm chuông chiều trống,
thênh thang cửa Phật cảnh Tây Hồ.
Trong vườn chùa, cùng với
những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, có một cây bồ
đề được chiết cành từ cội bồ đề, nơi 25 thế kỷ
trước đức Phật Thích-ca thành đạo, do Tổng thống Ấn Độ
R. Prasat mang sang Việt Nam tặng năm 1958.
Cảnh thiên nhiên tĩnh mịch bao quanh
chùa giữa mùa sen nở trắng, hồng trên mặt nước hồ Tây dễ gợi lên cho con người
không khí hoài cổ từng được lưu giữ trong những dòng thơ của Bà Huyện Thanh
Quan:
Trấn
Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh
niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy
tòa sen tỏa hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu!
Chùa MỘT
CỘT ▲
(DIÊN HỰU TỰ)
Chùa Một Cột nằm
giữa lòng thủ đô Hà Nội, có nguồn gốc từ một
giấc mơ lành của vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Theo
truyền thuyết, vào năm 1049, một hôm nhà vua nằm mộng
thấy Phật Quan Âm dắt Vua lên tòa sen. Tỉnh giấc, Vua đem
việc ấy hỏi các quần thần , trong đó có các nhà sư
đạo cao đức trọng. Sư Thiền Tuệ khuyên Vua xây chùa,
dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột
như đã thấy trong chiêm bao.
Chùa xây chỉ có một
gian gọi là Liên Hoa đài (đài hoa sen) nằm trên một
cột đá ở giữa hồ nhỏ gọi là Linh Chiểu tỉnh, nên
được gọi là chùa Nhất Trụ (một cột). Ở chùa Long
Đọi (Nam Hà) có một tấm bia còn ghi lại sự tích này:
"Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vươn lên một cột
đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng
tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm.
Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì,
mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu
đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly".
Chùa nằm trong khu vườn
Tây Cấm thuộc thôn Thạch Bảo, huyện Vĩnh Thuận, kinh
thành Thăng Long. Khi chùa được khánh thành, các Sư chay
đàn, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu. Vì thế chùa còn
có tên là Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).
Hằng năm cứ đến
ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm
lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng
Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Vua
đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay
đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui
của một ngày hội.
Đến năm 1105, vua Lý
Nhân Tông cho sửa ngôi chùa, trước sân dựng một
ngọn bảo tháp. Năm 1108. Ỷ Lan phu nhân sai đúc một cái
chuông rất to, nặng một vạn hai nnghìn cân, đặt tên là
"Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người
đời). Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn
công trình lớn của nước ta thời đó - là: tháp Báo
Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh
Lâm. Giác thế chung đúc xong nặng quá không treo lên
được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu.
Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu
bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có
tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ XV,
giặc Minh xâm lược nước ta, chiếm thành Đông Quan (Hà
Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh,
vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược,
tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền
lấy đồng. Quân Minh thua, đất nước ta lại được
hưởng nền thịnh trị thái bình nhưng chuông Quy Điền thì
không còn nữa.
Chùa Một Cột được
trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922.
Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm
1955. Đài hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong,
dựng trên cột cao 4m, đường kính 1,20m gồm 2 trụ đá
ghép chồng lên nhau liền thành một khối. Tầng trên là
là một khung gỗ kiên cố đỡ ngôi đài với mái
ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều
nguyệt. Hình dáng ngôi chùa như một đóa hoa sen vươn
thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan
can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Đi qua
ao theo lối nhỏ lát bằng gạch, ta sẽ đến một cầu thang
dẫn lên Phật đài có một tấm biển bằng chữ Hán
đề trước cửa: Liên Hoa Đài.
Thiền sư Huyền Quang đã có thơ
vịnh chùa Diên Hựu:
Đêm thu chùa thoảng
tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt tan
In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đô bóng tháp, ngón tiêu hàn.
(Huệ Chi dịch)
Hoa sen lúc mới nở
đã có "quả" lại có "nhân" tượng
trưng cho giáo lý nhà Phật. Hoa sen cũng là loài hoa tinh
khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục lụy.
Chùa Một Cột, vì lẽ đó, là biểu tượng của cõi
Thiền "bất nhiễu", "vô ưu". Gắn liền
với lịch sử thủ đô, đó cũng là biểu tượng của
Hà Nội ngàn năm văn vật.
Chùa
LÁNG ▲
(CHIÊU
THIỀN TỰ)
Sự tích chùa Láng gắn
liền với truyền thuyết Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một vị cao
tăng dưới đời Lý Nhân Tông. Đạo Hạnh tục danh làng
Từ Lộ, con viên Tăng quan Đô Án Từ Vinh. Hồi còn trẻ
Từ Vinh trọ học ở làng Láng - tức là Yên Lãng, huyện
Từ Liêm, Hà Nội ngày nay - ông lấy bà Tăng Thị Loan và
sinh ra Từ Lộ. Do có sự bất đồng dẫn đến hiềm khích mà
Diên Thành Hầu đã nhờ Pháp sư Đại Điên đánh chết Từ
Vinh. Quyết trả thù cho cha, Từ Lộ vào ẩn trong hang đá Trì
Sơn, tu luyện rồi sau đó đánh Đại Điên mang bệnh đến
chết.
Cởi mối oan nghiệt, Từ
Đạo Hạnh tập trung tu học pháp thiền. Ông có hai người
bạn đồng đạo gần gũi là Thiền sư Minh Không và Thiền sư
Giác Hải, cả ba đều biết nhiều pháp thuật. Sau Từ Đạo
Hạnh về tu ở chùa Thiên Phúc tức chùa Thầy ở núi Sài
Sơn. Tương truyền rằng Từ Đạo Hạnh đã hóa thân và đầu
thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông, tên
là Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con, nên Dương
Hoán được lập làm Đông Cung Thái Tử và trở thành vua
Lý Thần Tông (1128 - 1138). Về sau con của Lý Thần Tông là
Lý Anh Tông (1138 - 1175) đã cho dựng chùa Láng để thờ vua
cha và tiền thân của cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong
chùa, ngoài tượng Phật còn có tượng vua Lý Thần Tông
và tượng Thánh Từ Đạo Hạnh.
Chùa Láng có tên chữ là
Chiêu Thiền Tự với ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt
rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại
Thánh nên gọi là Thiền". Ngày 7 tháng 3 âm lịch là
ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, trở thành ngày hội
chùa Láng.
Nhớ
ngày mồng bảy tháng ba,
Trở
về hội Láng, trở ra hội Thầy
Chiêu Thiền Tự nằm cách
trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 7km về phía Tây. Xưa kia
chùa dựng trên một địa thế rất đẹp nằm giữa cánh
đồng bao la, chung quanh có những cây muỗm và cây đa cổ thụ
khiến cho cảnh chùa thêm u tịch. Chùa đã trải qua nhiều lần
trùng tu, kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào giữa
thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một
danh lam từ tám thế kỷ trước.
Nét độc đáo đầu tiên
đập vào mắt du khách là cổng chùa hao hao giống kiến trúc
cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa: đó là một hàng bốn
cột hoa kiểu bằng gạch với ba mái cong thanh thoát. Ba mái
này không phủ lên đỉnh cột mà gắn vào sườn cột, mái
giữa cao hơn hai mái bên . Sân chùa lát gạch Bát Tràng,
nối cổng chùa với cửa tam quan. Qua tam quan là một con
đường rộng lát gạch, hai bên có tường hoa dẫn tới Bát
giác đình, nơi ngày hội đặt tượng Thánh cho dân làng làm
lễ dâng hoa. Trong cùng là chùa chính bao gồm tiền đường,
tòa thiêu hương, thượng điện, hành lang, nhà tổ, tăng
phòng và các gian nhà phụ.
Vẻ bề thế của quần thể
kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng
khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng
lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.
Chùa
QUÁN SỨ▲
Chùa Quán Sứ được
xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An
Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là
tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương; ngày nay là phố
Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội. Nguyên xưa
ở phường này chưa có chùa, chỉ có mấy gian nhà tranh
ở phía Nam, dân làng dùng làm chỗ tế thần cầu yên
gọi là xóm An Tập. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí,
vào thời vua Lê Thế Tông, các nước Chiêm Thành, Ai
Lao thường cử sứ giả sang triều cống nước ta. Nhà
vua cho dựng một tòa nhà gọi là Quán Sứ để tiếp
đón các sứ thần đến Thăng Long. Vì sứ thần các
nước này đều sùng đạo Phật nên lại dựng thêm
một ngôi chùa cũng nằm trong khuôn viên Quán Sứ để
họ có điều kiện hành lễ. Thời gian đã xóa đi dấu
khu nhà Quán Sứ nhưng ngôi chùa thì vẫn tồn tại.
Năm 1934, Tổng hội Phật
giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn
làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây
dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn
Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm
duyệt. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí kết hợp tất
cả tinh hoa các đại già lam miền Bắc. Chùa Quán Sứ
có lẽ là một trong rất ít ngôi chùa ở nước ta mà
tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết
bằng chữ quốc ngữ. Phải chăng vì ngôi chùa được
xây dựng lại vào giữa thế kỷ XX và vì chùa đã
trở thành trụ sở trung tâm của Tổng hội Phật giáo
Bắc Việt, nay là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi
Quốc tự chung của các thiện nam tín nữ trên đất
Việt.
Tam quan chùa có ba tầng
mái, ở giữa là lầu chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ,
bước lên 11 bậc thềm là tới chánh điện. Điện Phật
được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá
lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ ba vị
Tam Thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ
tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan
Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa
thờ Phật Thích-ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc
thấp nhất , ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng
giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh
điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với
hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và
tượng Châu Sương, Quan Bình.
Các nhà chính và nhà
phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi. Nơi đây từng là
trụ sở báo Đuốc Tuệ và văn phòng Tổng hội Phật
giáo Bắc Kỳ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện,
là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì
hòa bình (ở Việt Nam).
Nửa thế kỷ nay, chùa
Quán Sứ đã chứng kiến nhiều hoạt động quan trọng
của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự thống nhất tổ
chức Phật giáo trong cả nước và sự hòa nhập của
Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Chính nơi
đây vào ngày 13-5-1951 (mồng 8-4 năm Tân Mão) lần đầu
tiên lá cờ Phật giáo thế giới do Thượng tọa Tố
Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện trên bầu trời
Hà Nội.
Chùa
KIM LIÊN ▲
(ĐẠI
BI TỰ)
Chùa Kim Liên được
dựng trên một dải đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát
chân đê Yên Phụ, nước hồ bao quanh, tựa như một hòn
đảo. Từ phía xa, đi trên mặt đê ta đã trông thấy
mái chùa màu xám rêu và những ngọn tháp vươn lên
giữa những bụi tre xanh thấp thoáng quanh chùa. Hai trăm
năm trước, cảnh quan này đã được Phạm Đình Hổ ghi
lại trong Tang Thương ngẫu lục: "Chùa xoay lưng ra sông
Nhị Hà, Hồ Tây diễu quanh ở trước mặt, khói sóng man
mác, trời nước một màu? Đằng phía tả có mấy
cái gò, xen lẫn vào trong khoảng nước hồ, tháp gạch
xây ở trên, khóm trúc cội tùng phơ phất?".
Chùa nằm trên địa
phận huyện Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành
phố Hà Nội, nên còn được gọi là chùa Nghi Tàm. Xưa
kia đây nguyên là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà
Trần (1225 - 1413) trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ
thời nhà Lý. Tương truyền rằng Công chúa Từ Hoa con
vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) đã đem cung nữ đến mảnh
đất này trồng dâu nuôi tằm, mở ra trại Tàm Tang, sau
đổi tên thành Tích Ma, rồi phường Nghi Tàm. Năm 1639,
dưới triều vua Lê Thần Tông, chùa được tu sửa lại,
gọi là chùa Đại Bi. Một bia dựng bên tả sân chùa do
Ngô Độn Phu soạn có khắc năm chữ to: Trùng tu Đại Bi
Tự. Một tấm bia dựng ở bên tả trong tiền đường do
Bùi Huy Cận soạn cũng khẳng định chùa vốn tên là
Đại Bi. Đến thời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái
(1720 - 1728) có vị Hòa thượng tên là Huệ, nguyên là
nội thị của Chúa Trịnh Uy Vương, đến tu tại đây. Năm
1771 Chúa Trịnh Sâm sai dỡ chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa
này và đổi tên là Kim Liên. Việc này được ghi lại
trong tấm bia do quan Đại học sĩ Phan Trọng Phiên lập. Vào
năm 1792 chùa lại được đại tu. mang dấu ấn nghệ
thuật kiến trúc thời Tây Sơn. Lần tu sửa gần đây
nhất kéo dài từ năm 1983 đến năm 1987 đã phục hồi
lại diện mạo ngôi chùa 200 năm trước đây.
Chùa KIm Liên gồm ba
nếp nhà: chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, xếp song
song theo kiểu chữ "Tam". Cột xà kiên cố, chạm
khắc tinh vi, tường xây gạch cổ dày, không trát vữa.
Mỗi nếp nhà có hai tầng mái, kiểu chồng diêm, lớp
ngói cổ, với bốn góc đao uốn cong có gắn đầu
phượng. Cổng tam quan là một kiến trúc độc đáo bằng
gỗ, đượm dáng vẻ cung đình, với những bức chạm
nổi trên mặt gỗ hình rồng, hoa văn hết sức tinh xảo.
Trong chùa còn lưu giữ
đủ các tượng Phật và tượng Bồ-tát. Đặc biệt có
pho tượng tạc hình một người trung niên, râu ba chòm,
mặc áo văn lĩnh, đầu đội mũ miện, tay cầm hốt ở
tư thế đứng. Theo Phạm Đình Hổ, thì tương truyền rằng
đó là tượng chân dung Uy Nam Vương Trịnh Giang.
Chùa THẦY ▲
- (THIÊN PHÚC TỰ)
-
Nếu chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của
cuộc đời ngài Từ Đạo Hạnh thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng
đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12
thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này.
Chùa Thầy dựa vào sườn Tây Nam một ngọn núi đá
vôi có nhiều hang động là núi Thầy tức núi Sài Sơn thuộc làng
Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà
Nội khoảng 30km. Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Cãn
đ?phác họa cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám
sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn m?. Động tr? hệt như
cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu
độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong, sông như
dải lụa".
Ban đầu ch? Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương
Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho
xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi
và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu
thế kỷ XVII, Dĩnh Quận Công c?g hoàng tộc chăm lo việc trùng tu ,
xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia,
gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế
đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu,
lưng ch? và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về
hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ
rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Thủy
đình mọc lên giữa Long Chiểu, nơi thường diễn trò rối nước
đặc sắc, chính là viên ngọc ở đầu rồng. Hai giếng là hai mắt
rồng. Hai cầu cổ có mái ngói do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây
dựng năm 1602 là hai răng nanh của miệng rồng: Cầu Nhật Tiên ở
bên trái trông vào đền Tam Phủ xây trên một đảo nhỏ giữa ao.
Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải dẫn vào đường lên chùa Cao trên
núi.
Đối diện với thủy đình là chùa Cả được xây
dựng theo kiểu chữ "Tam" gồm 3 nếp nhà dựng trên nền cao
bó đá hộc xanh. Nếp ngoài là nhà tiền tế, nếp giữa thờ Phật,
nếp trong cùng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa có đặt 3 pho
tượng diễn tả 3 "kiếp" của Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Tãng,
Phật và Đế Vương. B? trái là tượng toàn thân Thiền sư bằng
gỗ bạch đàn lắp máy tự động có thể đứng l? ngồi xuống
được, nhắc nhở thời kỳ Ngài đi tu ở Hương Hải am đ?làm
thuốc trị bệnh cứu người và dày công sáng tạo môn nghệ thuật
múa rối nước cổ truyền để cho dân giải trí. Chính giữa là
tượng Thiền sư khi đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước
ngực, khoác áo cà sa vóc vàng. Bên phải là tượng Thiền sư sau
khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành
nhà vua Lý Thần Tông (1) . Tượng Lý Thần Tông đầu đội
mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng.
Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng
Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết
của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa
là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán.
Đường qua cầu Nguyệt Ti? dẫn đến những bậc đá
đi l? núi, nơi có chùa Cao vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là
Đỉnh Sơn Tự. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh
của Nguyễn Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động
Phật Tích ở sau chùa là nơi Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác, nên
còn gọi là hang Thánh Hóa.
Phía trên chùa Cao có một mặt
bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu
… trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây
ngày xưa các bậc trích tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và
ngâm thơ giữa thiên nhiên khoáng đạt như hình ảnh trong bài thơ của Nguyễn
Khuyến:
- Hóa công xây đắp biết bao đời
- Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời
- Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng gắt
- Ban chiều mây họp tối trãng chơi
- Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn
- Giãi thủ giang sơn bốn mặt ngồi
- Bán lợi mua danh nào những kẻ
- Chẳng lên mặc cả một đôi lời.
Theo lối mòn ven núi, leo lên
vài chục bậc đá nữa sẽ đến hang Cắc Cớ, nơi tình tự của trai gái ngày xưa
trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:
- Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ,
- Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.
Từ hang Cắc Cớ, một con đường có nhiều cây đại
thụ dẫn l? đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với
nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật.
Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u và hang Gió với những
ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.
Ở chân núi Thầy, về phía Tây có chùa Bối Am còn
gọi là chùa Một Mái, vì chùa chỉ có một mái lợp bằng ngói,
còn mái kia chính là vòm hang.
Nét độc đáo của thắng cảnh ch? Thầy là ở sự
kết hợp giữa những con đường, những mái chùa vươn lên tầm
cao, với những vẻ đẹp của hồ nước trải rộng và những bí ẩn
trong chiều sâu lòng đất. Cả ba chiều không gian đó kết tụ lại
trong một quần thể thi? nhiên đa dạng về kiến trúc và màu sắc.
Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba âm
lịch hàng năm, là dịp để con người chiêm bái danh lam thắng cảnh
này. Trong ngày hội, nhiều Tăng Ni từ các nơi khác trong vùng cùng
về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa,
miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn
- một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có
sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.
Nhưng hội chùa Thầy không chỉ
có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc
thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở cả nước ngoài. Trai thanh gái
lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo
núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong một khung cảnh thiên nhiên rộng mở:
- Rủ nhau lên núi Sài Sơn
- Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
- Hỏi non, non những làm thinh
- Phải rằng non đ?vô tình với ai?
- Nước non ví chẳng chiều đời
- Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
- Yêu nhau ta dắt nhau cùng
- Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.
- (Á Nam Trần Tuấn Khải)
Chùa
TRĂM GIAN ▲
(QUẢNG
NGHIÊM TỰ)
Trên miền Bắc nước ta
có hai ngôi chùa mang tên chùa Trăm Gian: một ở Hà
Bắc, một ở Hà Tây. Cả hai ngôi chùa đều nằm trên
đỉnh núi, có những sắc thái kiến trúc và phong cảnh
độc đáo. Riêng chùa Trăm Gian ở Hà Tây thì gắn
liền với truyền thuyết về một vị cao tăng tên là
Nguyễn Lữ (hoặc Nhữ) hiệu là Bình An, quê ở Bối
Khê, huyện Thanh Oai, Hà Tây, được người đời gọi
là đức Thánh Bối.
Truyền thuyết kể rằng
vào đời Trần, ở làng Bối Khê có một người phụ
nữ nằm mộng thấy đức Phậ |