THIÊN TRÚC TIỂU DU
KÝ
Thiện Phúc
---o0o---
Phần 1
HÀNH HƯƠNG XỨ PHẬT

(Bản đồ Ấn
Độ)
Vào cuối tháng 10 năm 2005, chúng tôi có duyên may được tháp
tùng Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già
Khất Sĩ Thế Giới, đi một vòng Úc Châu hoằng pháp nhằm vận động giúp chư
Tăng Ni sinh đang du học ở Ấn Độ trước khi chánh thức hành hương về xứ
Phật vào cuối tháng 11 năm 2005. Hòa Thượng tâm sự với chúng tôi là riêng
phần Hòa Thượng mang theo chỉ có vài chục ngàn đô la Mỹ, e rằng không đủ
để tài trợ cho số Tăng Ni sinh ở Ấn Độ hiện lên đến gần 200 vị, vì thế dù
tuổi cao (năm nay Hòa Thượng 84 tuổi) nhưng Hòa Thượng vẫn cố gắng đi một
chuyến vòng quanh Úc Châu, vừa hoằng pháp vừa vận động chư Tôn Đức và Phật
tử phát tâm trợ giúp thêm. Trong suốt một tháng trời bên Úc, Hòa Thượng đã
thuyết trên 50 thời pháp. Quả là tấm lòng từ ái vô bờ vô bến của một vị
Đại Lão Hòa Thượng, luôn luôn hết lòng lo lắng cho những mầm non đạo pháp.
Đoàn chúng tôi gồm 7 người: Hòa Thượng Pháp Chủ, 3 Tăng Ni là sư Minh Đạo,
Ni sư Hân Liên và Ni cô Liên Hương, và 3 Phật tử anh Thiện Trí, Thiện Phúc
và Viên Giác. Chúng tôi khởi hành từ phi trường Los Angeles vào lúc 12:15
rạng sáng ngày 31 tháng 10 năm 2005, sau gần 25 giờ bay, chúng tôi đến
Sydney vào lúc 9:00 đêm ngày mồng 1 tháng 11 năm 2005. Chúng tôi lưu lại
Thiền Viện Minh Quang 3 ngày và sau đó đáp phi cơ đi Melbourne vào ngày 3
tháng 11, lưu lại Melbourne 5 hôm trước khi đi Adelaide vào ngày 8 tháng
11, lưu lại Adelaide một tuần lễ. Sau đó đoàn khởi hành đi Perth vào hôm
15 tháng 11, đi Brisbane ngày 21 tháng 11, và cuối cùng trở về lại Sydney
vào ngày 25 tháng 11 để kịp dự lễ khánh thành Thiền Viện Minh Quang hôm 27
tháng 11, 2005. Ngày 26 tháng 11, một đoàn thứ hai gồm 12 người từ Mỹ
sang, nhập với đoàn I của Hòa Thượng tham dự lễ Khánh Thành Thiền Viện
Minh Quang. Sau đóù đoàn lại rời Sydney đi New Delhi vào lúc 8:45 sáng
ngày 28 tháng 11, 2005.
Chúng tôi không có duyên may như chư Tăng Ni, được xuất dương du học nơi
xứ Phật, nhưng một lần trong đời được chiêm bái và đảnh lễ các Thánh tích
thiêng liêng ấy, thiết tưởng cũng đủ mãn nguyện cho một đời người. Một lần
đến tận nơi, thấy tận mắt những di sản tinh thần vô giá ấy, dù bây giờ nơi
chốn ấy chỉ còn trơ lại một nền đá hay một đống gạch vụn, cũng đủ làm trào
dâng niềm cảm xúc không thể diễn tả được bằng lời. Một lần được mục kích
sông Hằng, con sông thiêng liêng không riêng gì cho dân Ấn, mà cho cả một
vùng trời của thế giới phương Đông, cũng đủ làm cho tâm hồn mình thanh
thản, dù có ai đó cho rằng như vậy là quá thần thoại và hoang tưởng cũng
không sao. Một lần tận mắt mục kích những địa danh, chẳng những liên hệ
với người dân Ấn, mà chúng còn thân thương và quan trọng đối với rất nhiều
dân tộc trên thế giới. Có người con Phật nào mà không cảm thấy thân thương
với những địa danh Lâm Tỳ Ni, Ca Tỳ La Vệ, Vương Xá Thành, Bồ Đề Đạo
Tràng, sông Ni Liên Thiền, núi Linh Thứu, tu viện Na Lan Đà, Trúc Lâm Tịnh
Xá, thành Tỳ Xá Ly, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, tháp Vô Não, thành Câu Thi Na,
thành Ba La Nại, vườn Lộc Uyển, sông Hằng Hà, vân vân. Trong nhiều thế kỷ
nay, bức tranh toàn cảnh tại vùng Đông Bắc Ấn Độ không còn là di sản văn
hóa của riêng dân tộc Ấn Độ nữa, mà từ bấy lâu nay nó đã trở thành
di sản chung cho toàn thế giới, Phật giáo cũng như không Phật giáo, Ấn
giáo cũng như không Ấn giáo. Ngày nay, lịch sử Phật giáo tại xứ Ấn đã sang
trang. Ngay chính nơi sản sanh ra nó mà không có tới một phần trăm dân số
theo đạo Phật, quả là một vấn đề đáng suy gẫm. Nhìn lại quá trình phát
triển của Phật giáo trên đất nước Ấn kể từ ngày Đức Thế Tôn thành đạo cho
tới ngày nay, đạo Phật đã trải qua trên 15 thế kỷ hưng thịnh khắp từ Bắc
Ấn tới Nam Ấn, nhưng chính Đức Thế Tôn đã dạy về luật vô thường thì có cái
gì mà trường tồn mãi đâu? Đúng như Thế Tôn tiên đoán, tại xứ Ấn độ sau 500
năm chánh pháp, đến 500 năm tượng pháp, rồi 500 mạt pháp phải đến. Như vậy
sau 15 thế kỷ, đến thế kỷ thứ 13, Phật giáo ở Ấn Độ đang trong thời mạt
pháp của xứ này lại vướng nạn xâm lăng từ đạo quân Hồi giáo dã man. Chính
đạo quân ấy đã khai tử Phật giáo ngay trên cái nôi sanh ra nó. Ôi cũng là
luật “sanh-trụ-dị-diệt”! Ôi luật thạnh suy của trời đất! Phật giáo đã
chính thức tàn lụi trên đất Ấn ngay từ thế kỷ thứ 13. Và thời kỳ đen tối
này kéo dài trong nhiều thế kỷ. Trong suốt thời kỳ đen tối đó, từng đoàn
ngoại nhân xâm lăng đã đến thay phiên nhau tàn phá tất cả những gì có dính
líu đến Phật giáo, vì họ không thể nào chịu đựng nổi chân lý không thể
nghĩ bàn của Phật giáo. Chân lý đó trong sáng và sẵn sàng lật đổ mọi huyền
hoặc u mê. Chính vì vậy mà trải qua nhiều triều đại của các vị vua theo
Hồi giáo, tất cả các đền đài và chùa tháp Phật giáo đều bị đập phá, các
kinh sách quí báu của Phật giáo đều bị đốt sạch, chư Tăng Phật giáo đều bị
bắt và giết sạch. Suốt thời kỳ điêu tàn của Phật giáo trên đất nước Ấn Độ,
tất cả những chùa tháp uy nghiêm, tất cả những kinh điển thánh ngôn... đều
bị vùi sâu trong lòng đất trong nhiều thế kỷ. Một thời hoàng kim về văn
hóa Phật giáo của những dân tộc vùng Bắc Ấn bị chính con cháu họ quên lãng
và quay lưng ngoảnh mặt. Cả một vùng không gian bao la trở thành hoang
địa, không còn thấy một dấu tích gì cho thấy thời hoàng kim xưa cũ nữa.
Lịch sử Phật giáo của vùng Bắc Ấn nói riêng, và của cả Ấn Độ nói chung bị
phủ một màu tang thương đen tối không có cơ may quang phục. Cũng giống như
hoàn cảnh Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, để tự tồn, chư Tăng Ni phải giả
dại qua ải, tất cả đều biến thành những thầy tụng, có vợ có con để tránh
sự theo dõi cú vọ của những tên Tây khát máu, luôn chực chờ tiêu diệt toàn
bộ Phật giáo trên đất nước Việt Nam. Cũng như vậy, để sinh tồn, chư Tăng
bên Ấn Độ, từ thế kỷ thứ 13 mãi đến thế kỷ thứ 18, đã phải đào tỵ sang
Miến Điện, Népal, Sri Lanka, Tây Tạng, vân vân, để lại cả nước Ấn Độ bao
la trong nhiều thế kỷ vắng bóng Phật giáo. May mà vào thế kỷ thứ hai trước
Tây Lịch, một vị Á Phật đã ra đời (A Dục) và đã kịp thời đưa Phật giáo
sang các xứ Nam Ấn (Sri Lanka) và Đông Độ (Trung Quốc). May mà chính vị Á
Phật ấy lại dựng những trụ đá với những bia ký khắc trên đó, ghi rõ những
chỉ dụ liên quan đến Phật giáo. Và may mà chúng ta còn có những nhà chiêm
bái nổi tiếng Trung Hoa vào thế kỷ thứ 5 và thứ 7 như các ngài Pháp Hiển,
Huyền Trang và Nghĩa Tịnh... Họ đã không màng an nguy, trải qua hàng chục
năm du hành đến xứ Phật để thỉnh kinh, để học hỏi giáo lý Phật đà, và để
ghi lại những diễn tiến Phật giáo tại xứ này từ thời nó được Đức Thế Tôn
khai sáng. Bây giờ lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ đã sang trang, nhưng lịch
sử tại đó cũng đã an bài một cách khắc nghiệt cho số phận của đạo Phật
trên đất nước này với chưa đầy một phần trăm dân số của xứ này theo đạo
Phật. Ôi nghiệt ngã làm sao cho số phận của một tôn giáo mà giáo lý của nó
sáng ngời như ánh bình minh trên sông Hằng!
Nói gì thì
nói, những người con Phật không thể ngồi đó bi quan trước định luật vô
thường. Chúng ta hành hương về xứ Phật, không phải tiêu cực đến những vùng
đất thiêng này để góp nhặt cát đá của những vùng đất này về làm quà kỷ
niệm suông, hay chúng ta không chỉ đến đó để ngậm ngùi thương tiếc cho một
thời vàng son đã qua. Mà những người con Phật phải có thái độ tích cực hơn
để phục hoạt Phật giáo ngay chính trên chiếc nôi của nó. Tất cả những bia
ký của hoàng đế A Dục, tất cả những ký sự của các ngài Pháp Hiển, Huyền
Trang và Nghĩa Tịnh... sẽ góp phần tích cực trong việc khai quật những
Thánh tích thiêng liêng của Phật giáo. Rồi đây Phật giáo tại Ấn Độ sẽ được
phục hoạt cũng như các Thánh tích Lâm Tỳ Ni, Ca Tỳ La Vệ, Vườn Nai, Câu
Thi Na sẽ được phục hoạt và sẽ được chính hàng hậu duệ của Đức Thế Tôn và
chư Thánh Tăng trên đất nước của Ngài nâng niu gìn giữ.
NEW DELHI

Sau
gần 16 giờ bay chúng tôi đến Delhi vào lúc 3:00 giờ sáng ngày 29 tháng 11,
2005. New Delhi là thủ đô của Ấn Độ, mộ nước rộng lớn từ thời xa xưa vì nó
bao gồm cả Pakistan về phía Tây Bắc và Bangladesh về phía Đông Bắc. Hiện
tại, hai nước này đã được tách rời khỏi Ấn Độ từ khi người Anh trao trả
độc lập. Diện tích Ấn Độ khoảng 3.288.000 cây số vuông, với 26 tiểu bang.
Cực Bắc Ấn Độ giáp với vùng Hy Mã Lạp Sơn, và cực Nam chạy gần tới vùng
xích đạo trong vùng Ấn Độ Dương. Mặc dù Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo,
nhưng hiện nay hình ảnh của đạo Phật hình như không còn hiện hữu ở bất cứ
nơi nào trên đất Ấn nữa. Theo thống kê mới nhất (2005) của chánh phủ Tân
Đề Li thì có trên 85% dân Ấn theo Ấn giáo, 10% theo Hồi giáo, trên 2% theo
đạo Thiên Chúa, trên 2% theo đạo Sikh, chỉ có khoảng 0.78% theo đạo Phật
mà thôi (nghĩa là chưa được một phần trăm). Nhưng không sao, đối với Phật
tử chúng tôi, hành hương về xứ Phật cũng giống như cuộc trở về thăm lại
quê cha đất tổ, trở về tìm lại cội nguồn thiêng liêng, hoặc trở về tìm lại
di sản tinh thần cao quí mà mình đang thọ hưởng. Thật tình mà nói, đây
không phải là một chuyến du lịch bình thường, đây cũng không phải là một
chuyến ngao du sơn thủy, mà đây là một chuyến trở về, dù rằng đây là những
nơi mà chúng tôi chưa đến bao giờ. Quả thật, đến tận nơi, thấy tận mắt
những nơi thiêng liêng, dù rằng những nơi ấy ngày nay đã hoang tàn đổ nát,
chỉ còn trơ lại những nền đá hay những đống gạch vụn được khai quật từ
trong lòng đất, nhưng đối với chúng tôi, đó là những di sản vô cùng quí
giá vì đó là chứng tích của cội nguồn thiêng liêng nhất của những người
con Phật. Chứng tích đậm nét về con người rất thật của Đức Phật, chứ không
huyền hoặc mơ hồ.

Sau khi đến Delhi, ba đoàn khác, hai từ Canada và một từ Pháp
nhập vào đoàn chúng tôi để bắt đầu chuyến hành hương Về Xứ Phật. Lần này
tôi lại có dịp tái ngộ với các anh Thiện Minh và anh chị Thiện Tài từ
Toronto, Canada. Chúng tôi lưu lại khách sạn Raunak trong vùng Karol Bagh,
thuộc Tân Đề Li. Có đến tận nơi mới thấy sự nghèo nàn thê thảm của trên
80% dân Ấn thuộc giai cấp cùng đinh (Untouchable). Sáng sớm khi chúng tôi
vừa mới bước ra khỏi khách sạn, thì từ tứ hướng một đám người, già có, trẻ
có, bé có, lớn có, nguyên vẹn có, mà cùi hung sức mẻ cũng có... bám sát
lấy chúng tôi, lớp rao hàng, lớp xin ăn. Họ cứ bám sát lấy mình, mặc dù
mình đã nói không mua, họ cũng cứ bám theo và tiếp tục năn nỉ chúng tôi
mua hàng. Ban đầu chúng tôi đã đổi ra một số tiền lẻ dự tính cho từng
người một, nhưng thấy không ổn, chúng tôi đành quăng đại mớ tiền bay lả tả
ra ngoài cửa rồi quầy quả quay ngay vào khách sạn. Ngồi trong phòng khách
của khách sạn, suy ngẫm lại cách mình mới cho vừa rồi, quả là không lịch
sự chút nào, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác, nên đành chịu.
Trưa ngày 29 tháng 11, đoàn chia làm hai toán để khởi hành đi Bồ Đề Đạo
Tràng (Bodhgaya), toán thứ nhất khởi hành lúc 11:30 trưa và đến Bodhgaya
lúc 7:00 giờ sáng ngày 30 tháng 11, 2005. Toán thứ hai rời khách sạn lúc
8:00 đêm ngày 29 tháng 11 và khởi hành từ ga Delhi lúc 10:30 tối và đến
Bodhgaya lúc 2:00 giờ chiều ngày 30 tháng 11. Trước khi ra xe buýt để đi
đến sân ga Delhi, chúng tôi được Thầy Minh Thành hướng dẫn. Theo những gì
thầy nói thì chưa đi mà đã thấy bạt vía kinh hồn rồi. Trời mùa Đông ở Ấn
Độ, sáng thì lạnh cóng cả tay chân, nhưng trưa đến thì nắng chói chan. Đây
là cuộc hành trình giáo đầu của chúng tôi trên đất Ấn Độ. Ai cũng biết đất
nước Ấn Độ có gần một tỉ ba trăm triệu con người, tuy nhiên, những ai chưa
từng đến ga Delhi và chưa từng đáp xe lửa từ sân ga này sẽ không bao giờ
có được cái cảm nhận đầy đủ về sự đông dân của xứ Ấn Độ. Tôi cứ tưởng,
đoạn đường ngắn từ ngoài lộ vào sân ga rồi tới chỗ đậu xe, đi một cái vèo
cũng tới, chứ nào ngờ những gì thầy Minh Thành đã lưu ý chúng tôi là không
sai một mảy may nào cả. Sân ga Delhi có nhiều tầng cấp, tấp nập người qua
lại, lên xuống. Bên cạnh quá nhiều khách lữ hành là vô số những phu khuân
vác, cái gì họ cũng đội lên đầu, có người đội cả hai hay ba cái va li lớn,
thêm vào đó, những người xin ăn lang thang, làm cho sân ga đã chật nít
người thêm phần chật hơn. Ngoài ra, ngày cũng như đêm, bò ở đâu mà nhiều
quá sá, chúng đi tới, đi lui, đi xuôi, đi ngược, choán rất nhiều lối đi,
nhưng hình như người Ấn Độ ai cũng đặt cho “bò” vị trí ưu tiên số một nên
không ai tranh giành lối đi với chúng cả. Cả một vùng sân ga rộng lớn vào
buổi xế trưa toát ra một thứ mùi hôi khó tả, thứ mùi hợp chất pha lẫn của
mùi quần áo dơ, mùi con người lâu ngày không tắm, mùi phóng uế của con
người, và đặc biệt là mùi phân và nước tiểu của những chú bò rải rác khắp
đường phố. Hình như ở đây không ai dám dẹp những đống phân bò trên đường
và hình như người ta cảm thấy thích thú khi giẫm phải những đống phân bò.
Dù đoạn đường từ ngoài đường đi vào sân ga rồi tới chỗ xe lửa đậu không xa
mấy, nhưng chúng tôi phải trải qua một cuộc chen lấn chưa từng có trong
đời để đi được đến đúng trạm xe lửa của mình (Purshottam Express 2802). Đi
vào đám đông ai trong chúng tôi cũng đều như lọt vào mê hồn trận, không
còn biết đường đâu lối đâu nữa, chỉ còn biết tiếp tục lủi đi bằng cách
nhìn theo những chiếc nón màu cam đang di động loăng quăng như con “huỳnh
xà”. Tôi nghĩ hôm đó nếu có một đoàn nào khác cũng có nón cam như chúng
tôi, chắc chắn là sẽ có chuyện một số anh em chúng tôi đi theo họ rồi.
Nhưng rồi việc gì cũng qua, chúng tôi cũng đến trạm trước giờ xe lửa ghé
qua. Trong khu vực chờ đợi, chúng tôi quây quần quanh Hòa Thượng Pháp Chủ
để nghe Ngài nói chuyện, cả đạo lẫn đời. Hòa Thượng nhắc nhở Phật tử trong
đoàn về kinh nghiệm chen lấn để đến được trạm xe lửa vừa rồi cũng là một
pháp tu tuyệt vời, và những gì mắt thấy tai nghe tại ga Delhi quả là một
bài pháp vô cùng hữu ích. Ngoài Hòa Thượng ra còn có có những vị hướng dẫn
khác như sư Minh Thành, sư Giác Hành, sư Minh Huệ, sư Minh Hoa, sư Minh
Thường, sư cô Liên Phụng, Liên Hiệp, Liên Mẫn, Liên Quí... những vị đang
du học tại Delhi cũng hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi. Chúng tôi
nhìn những người Ấn gầy guộc, áo quần xốc xếch một cách tò mò. Họ cũng
nhìn lại chúng tôi một cách tò mò thể như chưa từng thấy những con người
này bao giờ vậy. Rồi tàu cũng đến và chúng tôi cũng an vị ngay sau khi con
tàu vừa dừng hẳn lại. Đối với những khách hành hương từ Mỹ, Pháp và Canada
như chúng tôi thì việc chen lấn để được lên tàu quả là vất vả vô cùng,
nhưng đối với những người Ấn tại đây, đó là việc hết sức bình thường. Họ
chen lấn, lấn chen để lên tàu như thể không có chuyện gì xảy ra.
Hình Ảnh New Delhi 2005

(Cảnh xe cộ ồn ào náo nhiệt tại New Delhi)

(Ở đây cũng
có rất nhiều xe lôi như ở Việt Nam)

(New Delhi
xe cộ đông đến nỗi không còn đường nào để qua mặt)

(Chỉ có khu
phố này tương đối vắng xe)

(Ở New
Delhi người ta họp chợ trái cây ngay ngoài đường phố)

(Hai bên
đường cũng những bảng hiệu lụp xụp như ở Việt Nam)

(Xe hơi, xe gắn máy, xe đạp và người cũng
như bò đều được phép qua lại lang thang trong chợ)

(Táo nhập
cảng thì mắc nhưng ai cũng thích mua vì trái to hơn táo của Ấn Độ)

(Chợ trái cây ở New Delhi )

(Khu phố
gần khách sạn Tourist-New Delhi)

(Đường vô
chợ Baya Bazaar-New Delhi)

(Chợ Baya
Bazaar-New Delhi)

Bồ Đề Đạo Tràng
Bồ Đề Đạo Tràng
Trên đường đi từ Delhi đến Bodhgaya, nhà cửa hai bên đường lụp
xụp nghèo nàn, có lẽ còn nghèo nàn hơn cả xứ Việt Nam của mình nữa, và
hình như trước sân nhà nào cũng có một vài chú bò thảnh thơi đi tới đi
lui, nhìn thiên hạ qua lại, có chú lười hơn, không muốn đi nên nằm yên một
chỗ, hàm cứ nhai đi nhai lại mớ cỏ khô bên cạnh. Ở đây hình như cả người
lẫn thú đều gầy ốm như nhau, mặt mày hốc hát, đờ đẫn. Đêm hôm đó, dù mệt
mỏi sau cuộc hành trình nhiều ngày bên Úc Châu, nhưng tôi vẫn không chợp
mắt được, vì đây là đêm đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt sự nghèo nàn đói
khổ của người dân xứ Phật. Bihar ngày trước đã từng là một vương quốc giàu
có thịnh vượng dưới thời vua A Dục, có kinh đô là Pataliputra (ngày nay là
Patna), nơi đã diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba dưới triều vua A
Dục. Tưởng cũng nên nhắc lại, A Dục Vương là vị vua thứ ba dưới triều đại
Mauryan. Sau trận chiến Kalinga, vương quốc của Ngài trải rộng hầu hết xứ
Ấn Độ hiện nay. Tuy nhiên, chính trận chiến này (150.000 tù binh và trên
số người chết lên đến gần nửa triệu) đã biến Ngài trở thành một cư sĩ Phật
giáo quan trọng trong lịch sử Phật giáo. Tại nhiều nơi trong xứ Ngài cho
dựng nhiều trụ đá, trên đầu có hình sư tử chạm trổ rất đẹp (ngày nay hình
ảnh này vẫn còn là biểu tượng trên quốc kỳ Ấn Độ). Vua A Dục chính là vị
vua đầu tiên đưa Phật giáo đi khắp các nơi từ Tích Lan ở phía Nam, đến
Miến Điện ở phía Đông và Trung Hoa ở phía Bắc. Nhà vua đã bảo trợ nhiều
công trình truyền bá giáo huấn của Đức Phật khắp nơi. Hai người con của
Ngài sau này trở thành hai vị A La Hán nổi tiếng là Mahinda và
Sanghamitta.

(Đại Tháp
trong Bồ Đề Đạo Tràng—
Main Temple
in Bodhgaya in Bihar State, North India)
Có lẽ vì
bang này có nhiều chùa tháp nên nó có tên là Bihar, vì Bihar theo tiếng
Phạn có nghĩa là chùa tháp. Bihar là một trong những tiểu bang nghèo nhất
và có thời tiết khắc nghiệt nhất của xứ Ấn Độ. Tuy nhiên, nói về các Thánh
tích Phật giáo thì Bihar là một tiểu bang quan trọng nhất. Lúc sắp tới
Gaya thì cả hai anh chị Thiện Tài và bạn Thiện Minh đều thúc tôi tìm hỏi
coi trạm sắp tới có phải là Gaya hay không, vì nếu để lỡ chuyến một cái là
cả đoàn phải đón xe khác trở về quả là vất vả lắm. Tôi chạy tới chạy lui,
hỏi hết người này đến người khác, nhưng có người nào biết tiếng Anh đâu mà
hỏi? Tôi cứ tưởng chỉ mới có hơn nửa thế kỷ sau khi Anh trao trả độc lập
thì Ấn Độ phải còn nhiều người biết tiếng Anh lắm chứ! Vả lại những người
Ấn tôi quen bên Mỹ đều nói tiếng Anh rất giỏi kia mà! Thế mà mấy bạn Thiện
Tài, Thiện Minh, Thiện Hiếu và Thiện Trí cứ đốc tôi tiếp tục đi hỏi, vì
lần nào thấy tôi hỏi chuyện thì những người Ấn cũng đều trả lời, nhưng mấy
bạn có ngờ đâu tôi thì hỏi họ bằng tiếng Anh, mà họ thì cứ trả lời tôi
bằng tiếng Ấn, cứ thế mà tôi cứ tiếp tục đi hỏi hết người này lại kiếm
người kia hỏi tiếp. Tôi chỉ cần họ nghe được chữ “Gaya” của tôi mà gật đầu
là đủ. Và tôi ráng hỏi càng nhiều người chừng nào càng tốt chừng ấy, vì
như vậy dầu sao cũng an tâm hơn. Nhưng rồi trưa hôm sau chúng tôi cũng
đến ga Gaya vào lúc 2:00 giờ chiều. Tại đây, đoàn thứ hai của chúng tôi
được các sư trong đoàn thứ nhất tiếp đón và đưa về khách sạn bằng xe buýt.
Tuy khoảng đường từ ga Gaya về khách sạn không xa lắm, khoảng trên dưới 16
cây số, nhưng vì đường đá gồ ghề lỡm chởm nên phải mất gần một tiếng đồng
hồ sau chúng tôi mới đến khách sạn. Chúng tôi lưu lại khách sạn Prince
trên đường Birla, gần Bồ Đề Đạo Tràng, thuộc bang Bihar. Bihar là một
trong những bang nghèo nhất của xứ Ấn Độ. Nhìn những mái tranh nghèo lụp
xụp bên đường, lòng tôi bỗng chùng xuống. Vùng đất một thời sản sinh ra
một vĩ nhân của thế giới bây giờ chỉ còn trơ lại những mái tranh nghèo,
với những con người xanh xao gầy guộc, quần áo xốc xếch. Quả đúng như lời
của một bài kinh Phật: “Đời người như một giấc mơ, trăm năm nào khác cuộc
cờ đổi thay...”Trăm năm đã như cuộc cờ đổi thay rồi, huống là 26 thế kỷ
tang điền thương hải! Bồ Đề Đạo Tràng nằm bên bờ sông Ni Liên Thiền, nơi
Đức Phật thành đạo, cách Tân Đề Li khoảng trên dưới 1.000 cây số, cách ga
Gaya khoảng 16 cây số, và cách thành Hoa Thị (Pataliputra) ngày nay là
Patna thủ phủ của bang Bihar khoảng 115 cây số đường chim bay, nhưng trên
thực tế con đường ngoằn ngoèo ấy dài đến gần 200 cây số. Trên bản đồ thế
giới thì Bồ Đề Đạo Tràng nằm trên khoảng vĩ độ Bắc từ 24 đến 25.9, kinh độ
Đông từ 84 đến 86. Cao độ 112 mét cao hơn mực nước biển. Nhiệt độ từ 24
đến 46 độ C vào mùa hè, và từ 5 đến 24 độ C vào mùa Đông. Mực nước mưa
trung bình tại đây khoảng 118 cm3.
Đại Tháp Giác Ngộ-Mahabodhi Stupa
Buổi
chiều và tối ngày 30 tháng 11, Hòa Thượng hướng dẫn đoàn đi thăm và đảnh
lễ Đại Tháp. Giữa những mái tranh nghèo lụp sụp, một Đại Tháp uy nghi sừng
sững như thách thức với thời gian. Vừa thoáng thấy hình ảnh của ngôi đại
tháp là tim tôi như bàng hoàng rung động một cách lạ thường. Ôi! Đây chính
là nơi Thái Tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành Phật. Ôi! Đây chính là ngôi Thánh
địa thiêng liêng vào bậc nhất của những người con Phật! Ngọn tháp đứng
sừng sững giữa một hàng cây xanh biếc. Khác với rất nhiều kiến trúc khác
trên thế giới, ngọn tháp chỉ có bốn mặt thẳng tắp từ dưới rộng, đi dần lên
đỉnh thì nhọn dần để chỉ còn là một điểm trên đỉnh mà thôi, chứ không như
những ngôi chùa ngôi tháp nổi tiếng khác trên thế giới. Bảo Tháp có một
chiều dài lịch sử kể từ thời vua A Dục, người đã xây dựng Tháp vào khoảng
thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch để tưởng niệm nơi Thành Đạo của Đấng Giác
Ngộ trong dòng họ Thích Ca. Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về lịch sử của
ngôi Bảo Tháp này. Theo truyền thuyết Phật giáo thì khoảng 300 năm sau
ngày Đức Phật nhập diệt, vua A Dục đã đến đây chiêm bái và đảnh lễ. Sau đó
Ngài đã cho xây tháp thờ để tưởng niệm nơi Đức Thế Tôn thành đạo. Tháp này
được vương quốc Bengal cho trùng tu vào thế kỷ thứ 7, nhưng đến thế kỷ thứ
12 lại bị quân Hồi giáo phá hủy. Mãi đến thế kỷ thứ 14, các vương triều
của xứ Miến Điện cho trùng tu lại, nhưng sau đó thì thiên tai lũ lụt đã
nhận chìm và biến khu tháp này thành những phế tích bị lãng quên. Dù sao
đi nữa thì đây cũng chính là nơi Đức Phật đã thành đạo, là một trong những
điểm quan trọng trong các Thánh tích Phật giáo. Hầu như hiện nay các nhà
khảo cổ đều đồng ý về niên đại của nền gạch đầu tiên, gần như chắc chắn
rằng ngôi Đại Tháp này được vua A Dục xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Tây
Lịch (khoảng năm 259 trước TL), sau khi ngài chiêm bái và đảnh lễ khu
Thánh tích này. Tuy nhiên, theo niên đại của những đồng tiền vàng trong số
những di vật được chôn trước Kim Cang Tòa, nên có sách cho rằng ngôi đại
tháp ngày nay được xây vào thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch và nó được xây lên
ngay trên nền tháp cũ của ngôi tháp cũ do vua A Dục xây, nhưng vị trí của
ngôi tháp, Kim Cang Tòa và cây Bồ Đề vẫn giữ nguyên không thay đổi. Tuy
nhiên, bảng ghi khắc về sự cúng dường của một người Tích Lan tên
Buddharaksta được khắc ghi trên tường rào ở Bồ Đề Đạo Tràng thì có niên
đại khoảng thế kỷ thứ nhất và thứ hai trước Tây Lịch (nghĩa là có niên đại
đồng thời với vua A Dục). Ngôi tháp vĩ đại như một Kim Tự Tháp bốn cạnh,
mỗi cạnh dài 15 mét, cao 52 mét. Bốn góc có bốn tháp nhỏ tô điểm cho phần
Đại Tháp thêm phần mỹ thuật. Ngôi tháp được xây bằng gạch nung và được tô
lên bằng một lớp thạch cao. Phía trước lối đi chính có một cổng vào được
chạm khắc rất tinh xảo. Ngay trước cổng vào có một ngôi tháp nhỏ bằng đá
xây rất cân xứng với tỷ lệ của ngôi tháp lớn. Cửa ra vào được làm bằng đá.
Ngay từ bậc thang từ cổng ngoài đi xuống Tháp Đại Giác có một trụ đá to và
cao hơn hai thước, tương truyền đây cũng chính là một trụ đá do vua A Dục
dựng lên. Tầng trên của Tháp có sân trước và sân sau với một hành lang
kinh hành chung quanh, ra phía sau ngó xuống là cây Bồ Đề và Kim Cang Tòa.
Bên trong tháp chỉ là một bệ thờ nhỏ, thờ tôn tượng Đức Bổn Sư đang ngồi
kiết già. Pho tượng này đã có trên 1.750 năm nay và được Đức Đạt Lai Lạt
Ma đời thứ 14 cho phết vàng cũng như kẻ lại nét mặt, nên pho tượng phảng
phất nhiều đường nét Tây Tạng. Tuy nhiên, nét nguyên thủy của pho tượng
vẫn còn nguyên. Theo truyền thuyết Phật giáo thì tượng này do Bồ Tát Di
Lặc hóa thân tạc nên. Chánh điện trước một bệ thờ rất nhỏ, chỉ chứa được
khoảng trên dưới 20 người mà thôi, nên chỉ một số trong đoàn phải vất vả
lắm mới vào được bên trong với Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, số còn lại
phải ở ngoài chánh điện. Phía sau Đại Tháp là cội Bồ Đề cành lá xum xuê và
Kim Cang Tòa, làm bằng những tảng sa thạch màu đỏ. Đây chính là nơi Đức
Phật tọa thiền cho đến khi thành đạo. Chính nơi đây, gần 26 thế kỷ về
trước, Đức Phật đã ngồi thiền định liên tục 49 ngày đêm cho đến khi đạt
thành đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác.
Cây Bồ Đề-BodhiTree
Cây
Bồ Đề có tên khoa học là “Ficus religiosa,” nghĩa là biểu tượng cho tuệ
giác của Đức Phật, sự chứng ngộ Phật quả của Ngài hay là chính hiện thân
của Ngài, nên người ta còn gọi nó là cây giác ngộ hay cây Bồ Đề. Chính vì
vậy mà Đức Phật đã nói với Đại Đức A Nan trong Kinh Niết Bàn rằng:
“Bồ Đề Đạo Tràng, nơi có cây Bồ
Đề là một trong bốn Thánh địa mà người con Phật với lòng kính tin nên đến
để chiêm bái lễ lạy. Người nào thác sanh với lòng tin tưởng khi đi chiêm
bái này sẽ được tái sanh vào cõi an vui.”
Thật vậy,
trong Kinh Bổn Sanh, Ca Lăng Già Bồ Đề (Kalinga Bodhi) và Cô Si Da
(Kosiya) đã kể rằng trong suốt thời Đức Phật còn tại thế, cây Bồ Đề rất
được kính trọng và người ta thờ phượng nó như chính Đức Phật vậy. Theo
truyền thống Phật giáo thì cây Bồ đề là một trong ba đối tượng thờ phượng
thiêng liêng của người Phật tử. Hai biểu tượng kia là xá lợi Phật và tháp
thờ Phật. Cây Bồ Đề hiện nay là cháu chắt của cây Bồ Đề nguyên thủy đã
nhiều lần bị bách hại. Tuy nhiên, theo các nhà khảo cổ thì đây chính là
địa điểm chính xác của cây Bồ Đề nguyên thủy. Theo tạp chí “Maha Bodhi” ấn
bản tháng 7 năm 1903: “Cây Bồ Đề mà Đức Phật ngồi thiền và đạt đạo quả
trước kia bây giờ không còn nữa, nó đã bị tiêu diệt năm 1874. Vì một nhánh
của cây Bồ Đề này đã được con vua A Dục là Tỳ Kheo Ni Sanghamita mang sang
trồng tại thủ đô Anuradhapura, Tích Lan. Khi cây gốc bị hủy diệt năm 1874,
một nhánh cây con mới mọc lên và đó là cây Bồ Đề xum xuê tại Bồ Đề Đạo
Tràng hiện nay.” Lịch sử cội cây Bồ Đề nguyên thủy, nơi Đức Phật thành đạo
đã được nhiều nhà chiêm bái Trung Hoa ghi lại. Pháp Hiển, một nhà chiêm
bái Phật tích năm 409 đã ghi lại trong ký sự hành hương của mình như sau:
“Sa môn Cồ Đàm đi tới
phía trước, đến dưới gốc cây Bồ Đề, trải cỏ cát tường, mặt hướng về phía
Đông. Ngài bắt đầu chứng nghiệm quả vị an lạc giải thoát trong suốt bảy
ngày...”
Ngài Huyền
Trang đã đến đây vào năm 629 và đã trải qua 16 năm chiêm bái cũng như tu
học tại đây. Trong Tây Du Ký Sự, ngài đã kể về Bồ Đề Đạo Tràng như sau:
“Đi về phía Tây Nam từ
đỉnh núi Pragbudhi khoảng 14 hay 15 dặm, chúng ta sẽ đến cây Bồ Đề. Cây
này được bao quanh bởi một bức tường gạch cao lớn và vững chắc. Bức tường
này hình chữ nhật cạnh dài chạy từ Đông sang Tây, cạnh ngắn chạy theo
hướng Bắc Nam. Chu vi của bức tường này khoảng 500 bước. Những loại cây
hiếm với những đóa hoa xinh đẹp kết tàng lại với nhau. Những cây biển bá
với những cây khác mọc đầy cả nền tạo thành một tấm thảm trên đất. Cánh
cổng chính mở ở phía Đông, đối diện với sông Ni Liên Thiền rộng lớn. Bên
trong bức tường bao quanh nơi Thánh địa này có nhiều lối đi ngang chéo lẫn
nhau ở các hướng.”
Cây Bồ Đề
chính là nơi Thái Tử Tất Đạt Đa đã ngồi và đã chứng đắc chân lý, nằm phía
Tây Nam sau Tháp Đại Giác, tàng lá xum xuê. Hơn 25 thế kỷ trôi qua với bao
lần vật đổi sao dời thì cũng là bao lần ‘tang điền thương hải’ xảy đến với
cội Bồ Đề này, nó đã chịu chung số phận thăng trầm của lịch sử Phật giáo.
Đã bao lần nó bị bách hại, chặt đốn hoặc thiêu hủy do thiên tai, do ngọn
gió vô thường soi mòn hay do lòng người ganh ghét tàn ác đã bao lần muốn
xóa tan vết tích của nó. Nhưng kỳ diệu thay! Cây Bồ Đề cháu chít vẫn tiếp
tục đâm chồi nẩy lộc và trường tồn. Theo nhà khảo cổ Buchanan, viếng Bồ Đề
Đạo Tràng năm 1811 cho rằng “Cây Bồ Đề hiện tại chỉ trên 100 tuổi, là cháu
chít trên 20 đời của cây Bồ Đề nguyên thủy, nhưng vị trí cây Bồ Đề nguyên
thủy cũng chính tại ngay chỗ này.” Vào năm 1862, nhà khảo cổ Alexander
Cunningham, người có công lớn trong việc khai quật các di tích Phật giáo
chẳng những tại Bồ Đề Đạo Tràng, mà còn ở nhiều nơi khác, đã nhận xét như
sau:
“Cây Bồ Đề đã bị tàn úa rất
nhiều, thân cây hơi ngả về phía Tây với ba nhánh lớn vẫn còn màu xanh,
nhưng những nhánh khác thì đã vàng vọt mục nát.”
Lần thứ hai
vào năm 1871, và lần thứ ba vào năm 1875, Cunningham lại viết:
“Lúc này cây Bồ Đề đã hoàn toàn
bị héo hon mục nát và sau đó vào năm 1876, sau một cơn giông, cây Bồ Đề cũ
đã bị cuốn phăng đi, chỉ còn lại thân cây nằm ngả về hướng Tây của bức
tường. Nhưng may thay, có nhiều hạt giống đã rơi rớt lại để rồi những mầm
chồi non của cây cha mẹ chúng đã nhú mầm sinh sống lại tại chính nơi đó.”
Cũng
theo Cunningham, Bồ Đề là một loại cây phát triển nhanh và có đời sống
ngắn, chỉ trên dưới 100 năm, nên không thể nào cây nguyên thủy còn được
đến ngày hôm nay. Tuy nhiên, cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng có sức sống nối
tiếp từ các hạt giống của chính cây mẹ của nó, và cây Bồ Đề hiện nay chắc
hẳn phải là cây cháu đời thứ 20 nếu kể từ cây Bồ Đề thời Đức Phật. Lại
cũng có nhiều nghiên cứu khác cho rằng cây Bồ Đề hiện tại là cháu đời thứ
năm của cây nguyên thủy? Phía bên trái cội Bồ Đề, người ta tạc “Hai Dấu
Chân Phật” để tưởng nhớ đến dấu chân của Đức Thế Tôn từng đã lưu lại đây,
trước cũng như sau khi Ngài thành đạo. Bên dưới gốc Bồ Đề là Kim Cang
Tòa, tưởng niệm nơi Đức Phật tọa thiền. Tòa Kim Cang là một thành xi măng
vuông để giữ gốc cây Bồ Đề. Một tấm vải vàng thật lớn được quấn bên dưới
gốc cây để làm tăng thêm vẻ trang nghiêm cho cây. Bên ngoài Tòa Kim Cang
khoảng hai thước là một vòng rào vuông khác bao bọc quanh cây Bồ Đề và Tòa
Kim Cang. Khách hành hương có thể vào bên trong chiêm ngưỡng, nhưng không
được vào nội vi vòng rào của Kim Cang Tòa. Cây Bồ Đề và Kim Cang Tòa được
chăm sóc rất kỹ lưỡng, lúc nào cũng có một vị sư người Ấn Độ thuộc chùa
Phật giáo Ấn Độ (Maha Bodhi Mahavihara), nằm trong Ban Quản Trị Đại Tháp,
chăm sóc, và túc trực để hướng dẫn khách hành hương.
Kim Cang Tòa-Diamond Throne
Tòa
Kim Cang nằm khoảng giữa Đại Tháp và cội Bồ Đề. Theo lịch sử Phật giáo thì
tòa này được vua A Dục xây vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Tương
truyền thời xa xưa, tòa Kim Cang được trang hoàng bằng những loại đá quí
như san hô, mã não, hồng ngọc, bích ngọc, hổ phách, lưu ly, trân châu,
ngà, vàng, bạc, vân vân. Nhưng theo thời gian những bảo vật đã bị mất dần.
Ngày nay tòa Kim Cang được bảo vệ trong một hàng rào xi măng có lối kiến
trúc cổ và một hàng rào có trụ bằng kim loại mạ vàng do nước Tích Lan xây
dựng. Ngay trên tòa là một mái cong được xây lên để che mưa tránh nắng.
Đây là nơi Đức Phật đã ngồi thiền định trong suốt 49 ngày đêm. Năm 1881,
các nhà khảo cổ đã đào được tại đây một tòa bằng đồng mạ vàng, dài 2.28
mét, ngang 1.29 mét, cao 0.914 mét. Trên mặt và chung quanh tòa có khắc
rất nhiều hoa văn rất mỹ thuật. Đối với Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng thì Kim
Cang Tòa là một di vật thiêng liêng nhất vì nó chính là trung tâm của vũ
trụ, nơi tọa thiền và thành đạo của một bậc Đại Giác, bậc thầy của trời
người. Nơi mà các đệ tử Phật tin là cái nôi của Phật giáo. Trong ký sự,
Ngài Huyền Trang đã kể về Bồ Đề Đạo Tràng như sau:
“Đi về phía Tây Nam từ đỉnh núi
Pragbudhi khoảng 14 hay 15 dặm, chúng ta sẽ đến cây Bồ Đề. Cây này được
bao quanh bởi một bức tường gạch cao lớn và vững chắc. Bức tường này hình
chữ nhật cạnh dài chạy từ Đông sang Tây, cạnh ngắn chạy theo hướng Bắc
Nam. Chu vi của bức tường này khoảng 500 bước. Chính giữa khu tường là tòa
Kim Cang, nơi Đức Phật ngồi thiền. Trong thời xa xưa đời hiền kiếp khi quả
đất được tạo ra thì tòa Kim Cang này cũng đã xuất hiện. Tòa nằm ngay giữa
trung tâm của vũ trụ và đi sâu vào kim luân rồi ăn sâu xuống lòng đất. Tòa
được làm bằng Kim Cương. Chu vi khoảng chừng 100 bước, trên tòa này có
1.000 vị Phật đời hiền kiếp đã ngồi và nhập kim cang định vì vậy mà tòa
được gọi là Kim cang. Đây cũng chính là nơi Đức Phật đã đạt được Thánh
đạo, vì vậy nó cũng được gọi là Bồ Đề Đạo Tràng.”
Hiện tại
ngôi Đại Tháp được bao bọc bởi hàng rào gạch. Bên trái Đại Tháp có lối
kinh hành trên nền cao hình chữ nhật với những đóa sen để kỷ niệm hoa sen
xuất hiện nâng những bước chân của Đức Phật khi Ngài vừa mới xuất định đi
hành thiền. Bên ngoài ngôi Đại Tháp có rất nhiều chùa, tháp, khách sạn,
nhà ăn, và những sạp bán đồ Phật cụ cũng như những vật kỷ niệm liên quan
đến Phật giáo khác.

(Đường kinh hành bên cạnh Đại Tháp
Bodhgaya
-Inner
Walking Meditation Route)
Chung quanh
Đại Tháp có tất cả ba đường “Kinh Hành.” Đường trong cùng gần Đại Tháp,
đường giữa nằm tương đối cao hơn và đường ngoài cùng nằm gần vòng rào,
khoảng lưng chứng Đại Tháp. Chung quanh Đại Tháp còn có nhiều tháp nhỏ, do
các vị vua và các nhà doanh thương giàu có xây dựng về sau này. Dù niên
đại xây dựng có khác nhau, nhưng các tháp đều có lối kiến trúc giống nhau.
Kể từ khi vua A Dục chiêm bái khu Bồ Đề Đạo Tràng, khu này đã trở nên khu
Thánh tích thu hút chẳng những các hàng vua chúa, mà ngay cả hàng dân dã
các nơi cũng tề tựu về đây chiêm bái và đảnh lễ. Không riêng gì các vương
triều tại Ấn Độ mà các vương triều lân bang như Miến Điện, Népal, Bhutan,
Thái Lan, Tích Lan... đã thi nhau làm cho Bồ Đề Đạo Tràng ngày càng phát
triển và đẹp đẽ hơn. Bất cứ nơi nào có in dấu chân Phật, nơi ngày lưu trú,
tắm giặt, hay thọ thực...mỗi nền tháp, mỗi ao nước, gốc cây, vân vân đều
được tạc vào trụ hay bia đá và không có thứ gì có thể làm mờ nhạt đi những
nét đậm lịch sử một thời của Phật giáo này. Khoảng năm 450 AD vương triều
Miến Điện đã cho trùng tu Đại Tháp. Và theo bia ký (588- 89), một người
trong hoàng gia Tích Lan tên Mahanama đã cho xây tại đây một ngôi già lam
có sức chứa hơn 1.000 chư Tăng mà theo ký sự của Ngài Huyền Trang có ghi:
“Năm 635 khoảng 1.000 Tỳ Kheo thuộc Thượng Tọa Bộ đã trú ngụ trong ngôi
già lam này.” Vào khoảng năm 600, một vị vua Bà La Môn của xứ Bengal, vì
thù nghịch với Phật giáo nên đã cho chặt và đốt phá cội Bồ Đề. Đến năm
620 thì vua Purna Varma cho phục hồi lại cội Bồ Đề và cho dựng một hàng
rào cao khoảng 7 mét để bảo vệ. Từ đó đến nay, cây Bồ Đề tại đây không còn
bị ai hại nữa.

(Tượng thờ Quán Thế Âm Như Ý, bên trong về phía trái của Bồ Đề Đạo Tràng)
Trong khuôn viên Đại Tháp có hai ngôi tháp, một
bên trái và một bên phải, sát bên cửa Đại Tháp, không phải là tháp của
Phật giáo, mà là của Ấn giáo. Những vị giáo sĩ Bà La Môn đã khéo léo đặt
thêm trong tháp một vài tượng Phật cho Phật tử hành hương lầm tưởng là
Tháp Phật giáo. Bên trong mỗi ngôi tháp này đều có năm pho tượng thần
Shiva.
Sau khi tụng một thời kinh và cúng đèn Đại Tháp,
sư Minh Thành thuyết minh về lược sử Đức Phật và việc thành đạo của Ngài.
Gần hai mươi sáu thế kỷ về trước, vào một đêm Đông lạnh giá, trong khi
chúng sanh còn đang nửa tỉnh nửa mê trong cơn trường mộng, thì một ánh
sáng kỳ diệu đã xuất hiện nơi Vườn Lâm Tỳ Ni, trong vùng Đông Bắc Ấn Độ.
Thái Tử Tất Đạt Đa đản sanh. Theo tục lệ Ấn Độ thời bấy giờ, Thái Tử kết
hôn với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara) rất sớm, ở tuổi 16. Là một Đông
cung Thái Tử trong một vương quốc phồn thịnh, Ngài muốn gì được nấy trong
xa hoa lộng lẫy. Thế nhưng Ngài đã sớm thức tỉnh được cơn trường mộng
‘sanh-già-bệnh-chết’ của chúng sanh vạn loài nên năm 29 tuổi, Ngài quyết
định từ bỏ cung vàng điện ngọc, xuất gia tầm đạo giải thoát cho nhân loại.
Sau khi rời bỏ cung vàng điện ngọc, Ngài trở thành một vị ‘khất sĩ’ cô
thân vạn lý du. Ngài đã đi bộ gần 650 cây số đến thành Vương Xá để bắt đầu
cuộc tu khổ hạnh. Tại đó Ngài đã tòng tu với Đạo sĩ A Ra La Ca La Ma
(Alara Kalama), rồi sau đó Ngài đến tu thiền định với đạo sư Uất Đà Ca La
Ma Tử (Uddaka-Ramaputta), nhưng sau đó Ngài nhận chân ra rằng những thứ
này đều không phải là con đường giải thoát mà Ngài đang đi tìm. Ngài bèn
từ giả vị đạo sư và tiếp tục đi đến khu rừng Khổ Hạnh (Uruvela) cách đó
khoảng 65 cây số. Tại đây Ngài cùng năm anh em Kiều Trần Như tu tập khổ
hạnh. Không có phép khổ hạnh nào mà Ngài không tập qua. Ngài cùng các
huynh đệ đã thực hành những phương pháp tự hành xác khắc nghiệt nhất trong
sáu năm liền. Nào nín thở, nào nhịn ăn hay chỉ ăn ngày một giọt súp hoặc
một hột mè, nào đè lưỡi, nào cắt đứt hơi thở, nhưng tất cả đều là sự hủy
hoại thân thể một cách oan uổng chứ không đem lại kết quả như Ngài mong
đợi. Dáng dấp tươi trẻ ngày nào của một vị Thái Tử phương phi tuấn tú đã
biến đâu mất tự lúc nào, nhường chỗ cho một tấm thân gầy còm khô đét, chỉ
còn lại da bọc xương mà thôi. Thần chết như vẫy gọi đâu đó mà con đường
tầm đạo giải thoát hãy còn mờ mịt. Sau đó Ngài quyết định từ bỏ con đường
khổ hạnh thái quá này. Ngài tự nhủ, muốn tu hành để đạt đến đạo quả giải
thoát, phải duy trì tấm thân này chứ không thể để cho nó chết dần mòn một
cách vô bổ. Do đó một sáng nọ Ngài nhận bát cháo sữa trộn với mật ong do
nàng Sujata cúng dường. Chính việc làm này khiến cho năm anh em Kiều Trần
Như xa lành Ngài mà đi đến vườn Lộc Uyển để tiếp tục tu hành khổ hạnh. Sau
khi nhận bát cháo sữa, sức khỏe Ngài hồi phục, Ngài qua bên kia sông Ni
Liên Thiền (Neranjara), nằm về phía Nam thành phố Gaya chừng 10 cây số,
thả chiếc bình bát xuống dòng sông và nguyện rằng: “Nếu dòng sông này xác
chứng được sự quyết chí tu hành của ta để thành đạo cả, thì xin chiếc bát
này hãy trôi ngược dòng Ni Liên.” Thật vậy, sau khi Ngài thả chiếc bát
xuống sông, nó đã trôi ngược dòng như lời nguyện của Ngài. Khi bước lên
bờ, Ngài nhận bó cỏ kiết tường do một người nông dân cúng dường. Sau đó
Ngài đi đến Gaya, ngồi dưới gốc cây Tất Bát La và lại phát nguyện: “Nếu ta
ngồi tòa này mà không chứng được đạo vô thượng bồ đề, thì thân này dù tan
xương nát thịt, ta quyết không đứng dậy.” Phát nguyện xong Ngài đã ngồi
thiền định trong suốt 49 ngày đêm. Và chính dưới gốc cây Bồ Đề thiêng
liêng này vào năm 528 trước Tây Lịch, Ngài đã giác ngộ nguyên lý giải
thoát. Ngài đã lần lượt chứng đắc các tầng thiền từ sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền, cũng như tứ thiền vô sắc là không vô biên xứ, thức vô
biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau đó với tâm định
tĩnh, Ngài tuần tự chứng đắc túc mạng minh (nhớ hết các đời quá khứ),
thiên nhãn minh (thấy hết sự sống chết của chúng sanh muôn loài), và lậu
tận minh (thấy tất cả các lậu hoặc, nguyên nhân đưa đến các lậu hoặc, và
phương cách diệt trừ các lậu hoặc). Từ đó một tri kiến khởi lên trong Ngài
“Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa.” Sau khi thành Phật, Đức Phật đã lưu lại Bồ Đề Đạo
Tràng thêm một tuần nữa để tiếp tục an trú trong thiền định. Tuần thứ hai
Ngài đến tháp Animesalochana, tại đây Ngài nhìn về hướng cội Bồ Đề không
chớp mắt trong suốt một tuần lễ để tạ ơn sự trợ giúp che chở của nó trong
suốt 49 ngày đêm thiền định của Ngài. Từ đó trở về sau này, cây Bồ Đề trở
thành một biểu trưng đặc biệt cho sự giác ngộ tối thượng của Đức Phật. Và
cũng vì thế mà nó được lễ bái và thờ kính như chính bản thân Đức Phật vậy.
Tuần thứ ba Ngài đi kinh hành từ ngôi tháp Animesalochana này trở về cội
Bồ Đề mà theo truyền thuyết Phật giáo thì từng bước chân Ngài đi là từng
đóa sen nở nâng bước chân Ngài. Hiện tại khối đá Chankramenar, nơi đánh
dấu quãng đường nơi Đức Phật qua lại gần cội Bồ Đề vẫn còn đây. Chiều dài
khối đá khoảng 16 mét, chiều ngang khoảng 1.1 mét và chiều cao khoảng
0.914 mét. Tuần lễ thứ tư Đức Phật an trú trong điện Ratanaghara. Tại đây
Ngài quán chiếu sâu hơn về định luật Nhơn Quả cũng như những vấn đề thuộc
về siêu hình học của Vi Diệu Pháp (Abhidharma), mà theo truyền thuyết thì
chính tại đây kim thân của Đức Phật tỏa ra ánh sáng năm màu “Xanh, vàng,
đỏ, trắng và cam.” Đây cũng chính là năm màu mà Đại Hội Phật giáo tại Tích
Lan năm 1958 đã công nhận làm màu cờ cho Phật giáo quốc tế. Tuần thứ năm
Đức Phật an trú dưới gốc đa (Ajapala) gần cổng Đại Tháp để chứng nghiệm sự
an lạc và khinh an của giải thoát, có sách viết là cây Ni câu đà
(Nigrodha). Vị trí của cây này hiện nay người ta không xác định được, tuy
nhiên các nhà khảo cổ cho rằng nó nằm gần cổng Đại Tháp. Chính tại nơi đây
các vị Bà La Môn đã đến vấn nạn Ngài và Ngài đã nói cho họ nghe về sự cao
quí của một con người không phải từ dòng họ, mà do nhân cách và cách hành
sử hiện đời của con người ấy. Ngài nói: “Một người không phải khi sanh ra
là Bà La Môn mà chính là khi chết đi việc ấy mới quyết định tùy theo
nghiệp anh ta đã làm trong đời này. Bà La Môn có nghĩa là phạm chí và chỉ
những người nào tạo nghiệp lành mới có thể sanh thiên thì mới gọi được như
vậy.” Tuần lễ thứ sáu Đức Phật an trú tại hồ Muchalinda, phía Nam đại
tháp. Trong một đêm mưa to gió lớn, sấm chớp nổi lên ầm ầm, rắn thần
Mucalinda đã hiện đến bảo vệ Ngài. Về phía Nam của hồ hãy còn có một tượng
Phật được che chở bên trên bởi một tượng rắn rất lớn. Trong hồ người ta
trồng rất nhiều sen, súng và nuôi rất nhiều cá. Dọc hai bên bờ hồ có hàng
rào chắn, sát bên là khu vườn đầy hoa muôn sắc. Nước trong hồ ngày nay đã
bị ô nhiễm khá nặng nề, tuy nhiên, vào buổi sáng sớm thường có những vị
theo Ấn giáo đến đây tắm rửa và dâng nước lên thần mặt trời. Mới sáng sớm
là đoàn người bán cá cho người hành hương phóng sanh đã tụ tập đầy nơi
cổng đi vào hồ, quang cảnh nơi đây thật vô cùng náo nhiệt. Hiện nay có một
ngôi làng nằm về phía Nam Đại Tháp chừng 1.6 cây số có tên là Muchilinda,
có lẽ bắt nguồn từ sự cố này. Tuần lễ thứ bảy Đức Phật an trú nơi cây
Rajayatana ở phía Đông Nam của Đại Tháp để chứng nghiệm sự an lạc của quả
vị giải thoát hoàn toàn. Tại đây Ngài đã tuyên thuyết giáo pháp cho hai vị
thương buôn, một tên là Đế Lê Phú Bà (Tapussa) và người kia tên là Bạt Lê
Ca (Balluka). Đây là hai vị Phật tử tại gia đầu tiên của Đức Phật.”Sau đó
Đức Phật du hành về thành Ba La Nại, đến Vườn Lộc Uyển để tìm năm người
bạn đồng tu trước kia, hầu truyền đạt cho họ những gì Ngài đã chứng ngộ.
Sự thành đạo của Đức Phật chẳng những là một
chiến thắng vẻ vang cho riêng Ngài, mà còn là một cuộc cách mạng tâm linh
vô tiền khoáng hậu. Chính Đức Phật đã mở ra cho nhân loại một con đường
giải thoát, giải thoát khỏi mọi hệ lụy của khổ đau phiền não, hầu mang lại
cho con người một cuộc sống an lạc và hạnh phúc, một cuộc tu đến chân
thiện mỹ cũng như giải thoát rốt ráo.
Sau đó, Hòa Thượng hướng dẫn cả đoàn đi nhiễu
vòng quanh Đại Tháp và chiêm ngưỡng Kim Cang tòa. Tôi cảm thấy niềm xúc
động thật mạnh trên toàn thân toàn tâm, một nỗi xúc động không thể diễn tả
được bằng lời. Cả thân tâm tôi bị thu hút không phải bởi sự hùng vĩ của
đại tháp, mà bởi kính ngưỡng sự vĩ đại và cao cả của Đức Phật. Tôi nghĩ
chắc mọi người, ai cũng có một nỗi cảm xúc như tôi. Lúc quỳ đảnh lễ Kim
Cang Tòa và cội Bồ Đề uy nghi sừng sững, tôi thấy mình nhỏ bé quá trước sự
vĩ đại của Đức Thế Tôn, lòng tôi như cảm thấy mình đang quỳ trước mặt Đức
Thế Tôn mà nghe lòng lâng lâng niềm kính ngưỡng. Có nhiều người cho rằng
mình bất hạnh vì sanh ra vào thời không có Phật. Riêng tôi, tôi không nghĩ
như vậy. Tôi không có cái may mắn như các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,
hay A Nan, Ca Diếp... là được sanh ra ngay vào thời có Phật, nhưng tôi vẫn
còn cái may mắn là có giáo pháp và Tăng đoàn, tôi vẫn còn có Hòa Thượng là
vị hướng dẫn tinh thần, là ân sư đã dìu dắt tôi từng bước hướng thượng.
Hình Ảnh Bồ Đề Đạo Tràng

(Bồ Đề Đạo Tràng by night)

(Bồ Đề Đạo Tràng by night)

(Cây Bồ Đề-Bồ Đề Đạo Tràng)

(Lễ xuất gia gieo duyên-Bồ Đề Đạo Tràng)

(Tụng kinh và dâng hoa -Bồ Đề Đạo Tràng)

(Tụng kinh dâng hoa tại Bồ Đề Đạo Tràng)

(Tụng kinh & dâng hoa-Bồ Đề Đạo Tràng)

(HT đi xuống Đại Tháp-Bồ Đề Đạo Tràng)

(HT dẫn đoàn đi nhiễu quanh Đại Tháp)
---o0o---
Mục Lục >> 1
>> 2 >> 3 >> 4 >>
5 >>
6
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-07-2006