I. PHỔ ÐÀ SƠN.
Núi Phổ Ðà nguyên tên là Tiểu Bạch Hoa, tiếng
Phạn gọi là Bổ-đà-lạc-già, lại có tên là Mai Sầm Sơn (tương truyền kỷ
niệm Mai Phước
triều Hán mà thành tên), vị trí ở trong biển Ðông Nam huyện Ðịnh Hải
tỉnh Chiết Giang, cách núi Chu Sơn sáu dặm, truyện Ký gọi là Nam Hải.
Ngọn núi côi bên mép nước, quanh co chập chùng dài mười hai dặm, rộng
sáu dặm rưỡi, chu vi hơn bốn mươi dặm, phía đông dẫn đến Nhật Bản,
phía bắc tiếp với Ðăng Lai, phía nam trông về Mân Việt, phía tây thông
với Ngô Hội, cách mực nước biển hơn một ngàn thước, khí hậu ôn hòa,
phong cảnh u nhã đặc biệt, là thánh địa của Phật Giáo Trung Quốc. Ngọn
núi này cùng với Nga Mi của Tứ Xuyên, Ngũ Ðài của Sơn tây, Cửu Hoa của
An Huy hợp xưng là Tứ Ðại Danh Sơn.
Núi Phổ
Ðà vốn có danh xưng là “Hải Thiên Phật Quốc” là thắng địa đạo tràng
của đức Quan Âm Ðại Sĩ, căn cứ theo Phổ Ðà Bi Ký có ghi rằng: “Bên
trong cõi Thần Châu có ba Ðại Tiên Sơn là nước Phật Chấn Ðán, thứ nhất
là Nga Mi, thứ hai là Ngũ Ðài, thứ ba là Lạc Già”. Dân gian Trung Quốc
vốn phụng thờ “Quan Âm Thần Phật”, do vì một hạng thiện nam tín nữ
thâm tín đối với việc Quan Âm Ðại Sĩ hiển hiện cảnh giới Chân Thánh,
nhân đây mà thanh vọng của Phổ Ðà ở đời sau ở trên cả Nga Mi, Ngũ Ðài
và Cửu Hoa. Nhưng nếu lấy cảnh sắc mà nói thì nó chẳng bì kịp cái đẹp
của Nga Mi, cái hùng của Ngũ Ðài, cái lạ của Cửu Hoa!
Phổ Ðà mở
núi xây chùa vào những năm đầu đời Ngũ Ðại xa xưa, cứ theo “Phổ Ðà Sơn
Chí” thì: “Vào thời Ngũ Ðại Chu Lưu, có Ðại sư Tuệ Ngạc phụng thỉnh
tượng đồng đức Quan Âm từ Ngũ Ðài về Ðông Kinh (Nhật Bản), đến đây
thuyền mắc cạn chẳng di động, ngài mới bắt đầu đi khai sơn”. Vị tăng
người Nhật Tuệ Ngạc xây dựng ngôi “Bất Khẳng Khứ Quán Âm Ðường” tại
đây, nền pháp bắt đầu mở ra.
Năm đầu
niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống Cao Tông, vị tăng tên là Chân Hiết xây
dựng chỗ bờ biển Cô Tuyệt, đổi luật là thiền, ngư dân làm nghề các ở
vùng núi biển có hơn bảy trăm hộ nghe lời giáo âm đều bỏ đi, từ đây
Phổ Ðà trở thành vùng đất tịnh (Tịnh Ðộ) của nhân gian, mặc cho đạo
tràng danh sơn nào u viễn thanh tịnh đều cũng chẳng bì kịp Phổ Ðà.
Trên núi chẳng nuôi dưỡng heo, gà, vịt... để ăn thịt và cấm thịt cá
lên bờ, động cơ sát không còn, tanh tao trừ khử vĩnh viễn, không nấu
rượu, không giết mỗ, ăn mặn, uống rượu chẳng còn nghe, sai trái cõi
trần đều dứt tuyệt, nuôi trâu là để cày ruộng làm ra lúa gạo, nó già
yếu thì nuôi dưỡng trọn đời, đến khi chết thì chôn cất.
Núi Phổ
Ðà lớn nhỏ hơn ba trăm ngôi chùa, mười hai tháp Phật. Trong số ấy thì
chùa Phổ Tế, chùa Pháp Vũ, Tuệ Tế Thiền Viện là trứ danh hơn cả. Những
am viện lợp tranh kết cỏ khác thì phân biệt do chùa Phổ Tế núi trước,
chùa Pháp Vũ núi sau, Tuệ Tế Thiền Viện núi Phật Ðỉnh quản hạt, đó đây
liền nhau mạch lạc, trông nom tương trợ, hợp lực trong phạm vi phòng
bị, trật tự rành mạch. Du khách quyên góp, hiến dâng được thống nhất
phân phối, tuyệt không có ý khí tranh nhau.
Mỗi năm,
thuyền khách hành hương đông đúc vào tháng hai nông lịch (âm lịch),
khí trời lúc ấy tạnh ráo ôn hòa, du khách kéo đến như mây, thật là
nước triều người dâng tràn núi, các chùa đều gặp phải nạn đầy khách.
Người đi Nam Hải dâng hương, hơn một nửa là từ Thượng Hải hoặc Ninh Ba
đáp thuyền đi qua Thẩm Gia Môn, từ đây đi về phía đông đến thẳng Phổ
Ðà, ở trên thuyền đã có thể trông thấy từ xa núi xanh chập chùng trùng
điệp, hơi biếc vay quanh như giải lụa xanh điểm hồng, núi báu lập rừng
chùa viện. Ðến được chân núi liền theo bến đò Ðoản Cô lên đất liền.
Bến Ðoản
Cô nguyên là bến đò thiên nhiên. Về cái tên Ðoản Cô thì lại có một
đoạn lịch sử thần thoại truyền thuyết: Thuở xưa có một vị thiếu nữ tên
gọi là Ðoản Cô, cùng gia nhân đến Phổ Ðà chầu hầu núi, ở trong thuyền
bỗng nhiên nàng đến kỳ kinh nguyệt, nhân vì tấm thân chẳng thanh
khiết, sợ làm nhục núi linh nên chẳng dám theo gia nhân lên bờ. Nàng
một mình ngồi trên thuyền lặng lẽ cầu nguyện, chưa bao lâu nước triều
dâng tràn ngập mất đường đi, kinh hoàng vạn trạng, Quan Âm Ðại Sĩ hiển
thánh đích thân mang đồ ăn cho nàng. Về sau cuối cùng nàng bay lên cõi
Phật, hiện tại am Từ Vân ở bến đò biển cũng có pho tượng đắp của Ðoản
Cô.
Bến đò
thiên nhiên nào gặp nước triều dâng lên thì người đi nhất định phải
lội nước nên cảm thấy chẳng tiện lắm. Ðến năm Quang Tự thứ ba mươi mốt
nhà Thanh, hai vị tăng là Liễu Dư và Liên Thuyền vân du hóa độ, trở về
lấy đá lớn xây dựng cao rộng thêm ra. Năm Dân Quốc thứ tám, Trần Tích
Chu ở Vô Tích cho xây dựng một tòa Bài phường rất là tráng lệ tại bến
đò, có nhiều danh nhân soạn đối đề chữ. Trong số ấy có “Nam Hải Thắng
Cảnh của Vương Nhân Văn ở Trân Nam; “Ðồng Ðăng Bỉ Ngạn” của Từ Thế
Xương ở Ðông Hải; “Bảo Phiệt Mê Tân” của Phùng Quốc Chương ở Hà Nam;
“Kim Thằng Giác Lộ” của Lê Nguyên Hồng ở Hoàng Pha; cho đến câu liên
đối hay của Phùng Thứ:
“Hữu Cảm tức thông, thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt.
Vô cơ bất bỉ, vạn lý vô vân vạn lý thiên”.
(Có cảm liền thông, ngàn sông có nước ngàn sông trăng.
Không cơ chẳng thiết, muôn dặm không mây muôn dặm trời).
Sau khi
lên đất liền thì chỉ có con đường lát đá rộng hơn hai thước, đi thông
suốt quanh chùa viện toàn núi, hai bên đường cây cỏ thưa thớt, đường
quanh co thanh u, người đi chầu hầu núi chỉ có đi như bò lên từng bước
một!
Chùa Phổ
Tế: Chùa ở tại chân núi Linh Thứu đầu phía nam của đỉnh Bạch Hoa, là
ngôi “Chủ Sát’ phụng thờ Quan Âm Ðại Sĩ của toàn núi, là nơi xây dựng
đầu tiên của Tuệ Ngạc đại sư lúc khai sơn, nguyên gọi là “Bất Khẳng
Khứ Quan Âm Ðường”; đến năm Nguyên Phong thứ ba đời Tống Thần Tông,
vua ban tên là “Bảo Ðà Quan Âm Viện”. Chánh điện của các chùa ở Phổ Ðà
đều thờ Quan Âm Ðại Sĩ, Ðại điện nhất luật đều gọi là Viên Thông Bảo
Ðiện, các triều Minh, Thanh luôn có tu sửa, luôn có mở rộng thêm,
rường chạm cột vẽ, khí tượng mới lạ.
Viện
trước có ba đạo sơn môn, khoảng giữa dự bị sẵn một tòa mà chẳng sử
dụng, quanh năm cửa đóng. Khách hành hương đều theo hai bên cửa lớn mà
ra vào. Bên trong có mười ngôi điện, trong số ấy, điện Viên Thông lớn
nhất, có thể dung chứa năm, sáu ngàn người đồng lúc dâng hương. Văn
Xương Các cao quá lầu bốn tầng kiểu Tây Dương, rộng chín lần chín tám
mươi mốt gian, vốn được gọi là “Tông Khẩn Thần Vận Ðiện”, ở trung
đường (nhà giữa) có câu đối dài do Cổ Ðại Dung ở Giang Tây soạn và
viết chữ:
“Hàng hải
triều Phổ Ðà, biến trị trai cúng thiên tăng, mông lão Tỳ-kheo, thí ngã
cổ đồng Thánh tượng, tưởng thị Ứng Chơn A La-hán
Thê sơn
lễ Ðại sĩ, hỉ du trì lưỡng danh sát, xu phạm Âm động, khán tha diệu
tướng phân hình, lộ xuất phu tọa tử kim thân”.
(Hàng hải
chầu Phổ Ðà, thiết cơm chay cúng ngàn tăng, Tỳ-kheo già trẻ, cho ta
tượng Thánh đồng xưa, tưởng là Ứng Chơn A La-hán.
Lên núi
lễ Ðại sĩ, mừng dong chơi hai danh sát, đến động Phạm Âm xem phân thân
diệu tướng ngài, lộ thân ngồi kiết già vàng tía).
(Tuệ Khai
dịch)
Trong
Viện chẳng những chỉ có cái nồi lớn nấu chay cúng dường một ngàn vị
tăng, trước điện còn có cái chuông đồng nặng hơn bảy ngàn cân, tiếng
truyền xa trăm dặm, được đúc vào năm Gia Khánh thứ mười ba đời Thanh,
đầu đỉnh chuông chỉ buộc bằng dây cỏ, tương truyền là thần tích.
Trước
chùa có một ngôi đền, xưa thuộc Yên Hà Quán nay đổi là Tứ Giám Từ,
cạnh đền có thánh tích “Hải Ấn Trì” trứ danh, về phía đông không xa,
đứng sừng sững một tòa tháp đá Thái Hồ (tục gọi là tháp Thái tử), bên
ngoài có tường vây, bên trong có chánh điện gồm năm tầng, cao đến chín
trượng sáu thước, thế tháp cao ngất vướn vào mây xanh.
Chùa Pháp
Vũ: Chùa ở trên ngọn núi Quang Hi, bên trái đỉnh Bạch Hoa, cách am
Duyệt Lĩnh gần hơn, men theo đường đều xây đá xanh theo thế núi khúc
chiết quanh co, hai bên đường cổ thụ ngất trời, um tùm xanh biếc, bóng
rợp cả vùng, tuy trời nóng nực mà người vẫn cảm thấy mát mẻ!
Ngôi chùa
ấy sáng lập vào năm Vạn Lịch thứ tám đời Minh, có vị tăng Ma Thành là
Ðại Trí từ Tây Xuyên đến đây kết lều tu hành, mỗi ngày cầu đảo ở Thiên
Bộ Sa,
nước triều biển lên vừa một đốt gậy trúc, liền gọi tên nơi ấy là “Hải
Triều Am”. Về sau Ðịnh Hải quận thủ Ngô An Quốc đề là “Hải Triều Tự”.
Ngôi đền trải qua bao lần hưng phế, đến năm Khang Hy thứ hai mươi ba
đời Thanh, trụ trì là ngài Minh Ích thiền sư, một mình đi đến Phúc
Châu, trải qua thời gian ba năm quyên mộ được hơn một ngàn súc gỗ sam
(cây thông) mà xây dựng mở rộng hai ngôi điện Viên Thông và Ðại Hùng
để phụng thờ đức Quan Âm và Chư Phật, đổi danh xưng là Pháp Vũ Tự;
điện đường lầu các so cùng với chùa Phổ Tế đẹp ngang nhau.
Trước
chùa có ao sen Thủy tinh, ngày mùa hạ hoa nở rộ, trời xanh biêng biếc,
hương thơm ngào ngạt bốn bề. Bên trong sơn môn là điện Thiên Vương với
biển ngạch “Tử Trúc Thanh Phong” treo vắt ngang. Tiếp theo là Viên
Thông Bảo Ðiện, hòa kính trang nghiêm. Hai bên lan can gấp khúc chạm
nổi, gác vẽ mây bay, nóc điện khắc chín con rồng vàng, dáng chập chờn
như muốn bay lên, tục gọi là điện Cửu Long. Viện sau có điện Ngọc
Phật, phụng thờ một pho tượng Phật bằng ngọc cao một thước, màu trắng
thanh khiết thật đáng yêu. Ngôi điện sau cùng cao đến sáu trượng với
pho tượng đắp của Ðại Sĩ cao đến một trượng tám thước, theo truyền
thuyết là chỗ đức Quan Âm hiển linh. Trong điện có một liên đối:
“Cẩm bình lâm hải lãng
Pháp vũ phi thiên hoa”
(Chắn
(bình phong) gấm ngăn sóng biển. Mưa pháp bay hoa trời) của Khang Hữu
Vi soạn và viết chữ, có thể gọi là hay, vừa hợp tình hợp cảnh.
Tuệ Tế
Thiền Viện: Viện ở phía tây bắc đỉnh Bạch Hoa, tục gọi là “Phật Ðỉnh
Sơn”, từ chân núi đến đỉnh núi ước chừng hơn hai ngàn cấp, hai bên
đường bậc đá có làm lan can để vịn, vì đường gấp khúc rất nhiều, có
lúc vách đứng cheo leo, có lúc hang tối suối sâu, núi cao chập chùng,
gập ghềnh quanh co! Ðược cái là một khi lên đến đỉnh núi thì lại bằng
phẳng như thường, ngoái trông lại các ngọn núi thì y như những bức
bình phong la liệt, trông xa ra biển cả thì mênh mông không bờ bến,
nước xanh liền trời, bóng buồm lấm chấm, nổi chìm ở trong muôn làn
sóng bạc.
Con đường
bậc đá nhỏ ấy thường là chỗ vách sườn núi đứng cheo leo phần nhiều có
chữ lớn khắc lõm vào vách, như ở chân núi có “Từ Hàng Phổ Ðộ”, lưng
núi có “Hải Thiên Phật Quốc”, đỉnh núi có “Thiên Ðăng Cương”, tăng
trong chùa mỗi đêm đều thắp đèn chỗ ấy để hiển thị cho những chiếc
thuyền đi biển, đây là tháp đèn (hải đăng) thời cổ của Trung Quốc.
Tuệ Tế
Thiền Viện nằm sâu trong cốc, bốn bề núi lạ bao quanh, trúc tre che
kín mít, sơn môn viết chữ lớn “Phật Ðỉnh Danh Sơn”, qui mô to rộng,
cấu trúc tân kỳ cổ nhã, hành lang vây quanh, lầu gác xen lẫn, cao tiếp
tầng mây, cùng với hai chùa Phổ Tế và Pháp Vũ tạo thành thế cục đứng
chân vạc.
Bên trong
chùa có Tàng Kinh Các và Duyệt Kinh Lâu (lầu). Toàn núi hiện giữ năm
bộ Khâm Tứ Long Tạng
được phân đặt như sau: Chùa trước hai bộ, nam cất một bộ, bắc cất một
bộ, núi Phật đỉnh một bộ, gác ấy thiết bị hoàn thiện, pháp qui nghiêm
mật, chuyên cung ứng cho người yêu thích Phật học tiến tu, tất cả việc
ăn ở đều do Duyệt Tàng Lâu cung cấp, tức là tăng chúng của chùa cũng
chẳng được tự tiện vào. Nhân vì hoàn cảnh u nhã nên đa số pháp sư
trong nước đi nghiên cứu tụng đọc Phật điển, mỗi lần đến đây trụ lại
vài năm.
Thiên Bộ
Kim Sa: Ðây là thắng cảnh đặc thù của Linh Sơn, Từ chùa Pháp Vũ về
phía đông đến biết bao ngọn núi báu, dài hơn ba dặm, men theo biển
toàn là “Thiên Bộ Kim Sa”, cát màu vàng nhạt như vàng, tơ hào chẳng
thấm đọng, rộng bằng mịn đẹp, là nơi Phổ Ðà ngắm trông cảnh biển. Gió
lớn kích động, sóng bạc xốc lên trời, từng đợt từng đợt nối gót nhau,
đợt trước ngã đợt sau tiếp tục, thế như vạn con ngựa lướt nhanh, sấm
ầm ầm, tuyết vọt trào, inh tai mờ mắt, rồi bỗng nhiên mà núi xanh trăm
thước, đứng thẳng trong biển, rồi bỗng nhiên mà sen trắng từng đóa
từng đóa vọt lên không, rồi đổ xuống, phản phất ảo ảnh lầu các của sò
thần biến hóa.
Tam Ðại
Thiên Môn: Ðó tức là Nam Thiên, Tây Thiên, Ðông Thiên. Nam Thiên Môn ở
tại Nam Sơn, có cây cầu nhỏ có thể thông qua, bên trong có Phạm Vũ
(chùa), vào cửa có tảng đá lớn ngũ sắc, bên trên đề bốn chữ “Sơn Hải
Ðại Quan”. Tây Thiên Môn ở tại phía tây hang Kim Cương, hai tảng đứng
đối nhau như cái cửa, búa thần thợ quỷ phải ganh tài, bên trên viết
“Tây Thiên Pháp Giới”. Ðông Thiên Môn có hai chỗ, một là ở tại bên
phải ngọn núi Quang Hi, một nữa là ở tại đỉnh động Pháp Hoa. Ảnh hưởng
cảnh sắc của Tam Ðại Thiên môn chẳng phải đồng với thường tình, nhìn
chung toàn thể du khách được nhìn thấy là sướng khoái rồi.
Mười bảy
động Phổ Ðà: Có hai động Triều Âm và Phạm Âm là hơn cả. Ðộng Phạm Âm ở
tại Thanh Cổ Lũy, cùng với động Triều Âm đứng đối nhau ở đông nam.
Theo truyền thuyết, vào thời Tống - Nguyên, là chỗ khấu kiến Ðại Sĩ
hiện chân thân. vách đá lởm chởm miệng động đứng cao ngất, cao đến vài
mươi trượng, hai bờ cao chót vót tách ra như cái cửa, cách bờ vực cheo
leo chẳng xa có ngôi đài xây bằng đá chạm trổ, bên dưới đài là hang
khúc khuỷu thông ra biển. Như muốn thăm viếng động, nhất định trước
tiên phải đến đỉnh bờ vực, rồi theo đường bậc đá quanh co mà xuống,
trải qua hơn hai trăm cấp mới đến nơi, người có duyên mà hết lòng
thành kính diện bích quì dài mà lạy thì tự nhiên có thể thấy Chân Thân
(đức Quán Âm).
Theo sách
Phổ Ðà Sơn Chí ghi chép: “Năm Chí Nguyên thứ mười ba đời Nguyên Thế
Tổ, khi thừa tướng Bá Nhan định Giang Nam, bộ tướng soái là Hạp-lạt-bá
đến thăm viếng dưới động, tra xét không thấy gì, nổi giận mà giương
cung lắp tên bắn vào động rồi trở về. Ðến khi lên thuyền, ông bỗng
thấy hoa sen đầy biển, kinh dị phi thường, liền quay trở lại độâng phủ
làm lễ cầu đảo thì từ từ thấy Bạch Y Ðại Sĩ với Thiện Tài đồng tử qua
qua lại lại, ông liền cho xây dựng điện ở đây...”
“Dũng
Tràng Tiểu Phẩm” của Chu Quốc Trinh đời Minh cũng nói rằng: “Năm Thiệu
Hưng thứ mười tám (Tống Cao tông, 1131), Thứ sử Vương Hạo trấn đất
Việt đưa quan tại Dư Diêu (tỉnh Chiết Giang) về giữ Xương Quốc
để trông coi muối. Nhân ngày rằm tháng ba, vị quan ấy cùng với Trình
Lâm Phủ ở Bà Dương
từ Thẩm Gia Môn
thả thuyền xuôi đến Phổ Ðà Sơn. Sáng sớm phủ đi đến động Triều Âm ở
Thiện Tài Nham, nơi đức Quan Âm hóa thân, thì lặng yên không có gì,
ông đốt hương nấu trà dâng cúng, nhưng chỉ thấy mặt chén hiện hoa nổi
mà thôi. Quá buổi trưa, ông lại đến, đỉnh núi có cái lỗ mà có thể nhân
đó nhìn xuống. Ông theo cái lỗ ấy vịn níu mà leo lên, bỗng nhiên thấy
Ðại Sĩ toàn thân màu vàng, chiếu sáng động phủ, mày mắt sáng ngời,
răng trắng như tuyết ngọc”.
Năm Dân
Quốc thứ năm, quốc phụ Tôn Trung Sơn tiên sinh khi đi du lãm núi Phổ
Ðà đã từng thấy Phật tại chùa Tuệ Tế, đã đích thân đề tấm biển ngang
là “Dữ Phật Hữu Duyên” ở đó. Những người đi theo Quốc phụ du lãm Phổ
Ðà trở về có vị nguyên lão Quốc Dân đảng là Ðặng Gia Ngạn (Mạnh Thạc,
người Quế Lâm, năm trước đã mất tại Ðài Loan), theo Ðặng tiên sinh thì
vào năm Dân Quốc thứ bốn mươi bốn ông đã từng viết một bài về “Quốc
phụ Du Phổ Ðà Sơn Thuật Dị”, có một đoạn văn nói rằng:
“Mùa hạ năm Bính Thìn (năm Dân Quốc thứ năm, năm 1916 TL), quân hộ
quốc báo trình, Viên Thế Khải mất đột ngột, Lê Nguyên Hồng kế nhiệm
chức Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc, cách mạng đảng ta có ra một bài
tuyên cáo. Lúc đó Quốc phụ đang ở tại Hỗ Tân (Thượng Hải) bùi ngùi nói
rằng: “Lê Công ra, thiên hạ định vậy. Bọn quân phiệt Bắc Dương sẽ còn
tìm cách kích động, chúng ta còn thời gian dạo chơi sơn thủy, lặng lẽ
xem sự biến đổi của tình thế được vậy”. Chưa bao lâu, suất cho những
người trong đảng như Hồ Hán Dân, Ðặng Gia Ngạn, Phùng Tự Do, Ðản Ðảo,
Tái Thiên Cừu, Chu Trác Văn, Châu Bội Châm v.v... dong chơi đó đây
vùng Chiết Giang. Ðô đốc Chiết Giang Lữ Công Vọng Trương Lạc thiết yến
để nghênh tiếp. Thiên Cừu uống rượu quá nhiều say mèm, ngày mai hẳn
chưa thể du ngoạn Tây Hồ. Hai ông Phùng và Ðán cũng do vướng bận công
việc ở đất Hàng, Quốc phụ mới gọi các ông Hồ, Ðặng, Chu, Châu đi theo.
Có Trần Khứ Bệnh bí thư Dân Chính sảnh Chiết Giang (như ta gọi Chánh
văn phòng tỉnh ngày nay - Lời dịch giả) do Lại Gia Ngạn giới thiệu
cùng đi vậy. Từ đó qua Tào Nga, thăm dò Võ Huyệt, lặn lội đến Ninh Ba,
Trấn Hải mà trèo lên Phổ Ðà. Núi Phổ Ðà là thắng địa của Nam Hải vậy.
Non nước thanh u, cây cỏ sum suê, dạo chơi nơi ấy thư thái nhẹ nhàng
có cảm tưởng như là thoát khỏi cuộc đời sống độc lập. Ðến như việc
thần sò biến hóa thiên hình vạn trạng, thánh linh, vật lạ truyền nghe
bất nhất mà đầy đủ, kẻ nhìn thấy tận mắt thì lại nói ra rành rọt.
Ngày đó,
Quốc phụ ngồi xe trước, thứ đến là Hán Dân, thứ đến nữa là Gia Ngạn,
Trác Văn, Bội Châm, Khứ Bệnh và hạm trưởng Nhậm Quang Vũ. Còn cách
Quan Âm Ðường (tức là chùa Tuệ Tế của núi Phật Ðỉnh) một dặm, đến một
ngôi tòng lâm, Quốc phụ chợt liếc qua thấy ngần nào là tăng lữ hợp làm
toàn vẹn trạng huống hoan nghênh, ở không trung những bảo phan theo
gió kéo đến trưng bày, lờ mờ (hơi ro rõ) có người xúm lại nâng một vị
tôn thần ở phía sau. Quốc phụ trố mắt nhìn kỹ thì tất cả đều huyễn
không, không dấu vết ấn tượng. Quốc phụ rất kinh dị. Vừa đến Quan Âm
Ðường, Quốc phụ theo thứ lớp gọi kẻ tùy hành hỏi rằng: “Các ông hoặc
giả cũng thấy chúng tăng tập họp trong Tòng Lâm tạo tác đạo tràng đấy
ư? Bên trên ngôi Tòng Lâm ấy bảo phan bay phất phới, rất giống được
treo cao trên ngôi chùa ấy”.
Quốc phụ
miệng giảng giải, tay chỉ trỏ, mắt sáng quắc ngoáy nhìn lại chẳng
thôi. Mọi người đồng hành đều trợn mắt đơ lưỡi, chẳng biết gì đáp.
Giây lát, Hán Dân v.v... ngăn nhau lại không tuyên dương, sợ để lại
cái cớ vin vào đó mà nói. Từ đó về sau cũng không khinh xuất dám luận
bàn đến việc ấy. Năm Dân Quốc thứ mười bốn, Quốc phụ mất, tôi vừa ở
tại bắc Kinh, mọi người đều truyền là sinh tiền Quốc phụ được thông
suốt với Thiên Cổ Phật, viện dẫn ăn khớp với việc lạ thấy Phật ở Phổ
Ðà Sơn. Chưa bao lâu thì một tạp chí nọ tiết lộ bài bút thuật Phổ Ðà
Du Ký của Trần Khứ Bệnh. Khi việc ấy qua cảnh dời đổi, cũng chưa truy
cứu việc viết lách của họ Trần. Bất đồ gần đây lại phát hiện di cảo
của Quốc phụ. Ô hô! Lạ vậy! Bút tích của Quốc phụ cả cõi thế biết hết,
bài ấy chẳng phải thật, chắc chắn chẳng đợi nói, huống là Trần Khứ
Bệnh giao lưu văn chương với tôi, chữ ông ấy bắt chước Ðông Pha, trông
qua là biết; tôi dám quả quyết rằng: đồ giả vậy! Hoặc nói rằng: Quốc
phụ lệnh cho bí thư chấp bút thì cũng chẳng những đã làm ra rồi. Tôi
nói: Chẳng đúng! Nếu đúng như lời nói đó thì nên có đích thân viết tên
ký vào giống như những sổ sách khác của ngài. Nay đã không có điều đó
mà việc ấy lại lưu bố nhân gian sau khi Quốc phụ mất. Ðâu có người
chết nào có thể sai bí thư chấp bút vậy? Tôi hạ một lời quyết đoán
rằng: Quốc phụ thấy chuyện lạ thì quả thật là có, còn riêng việc ghi
chép thuật lại thì chẳng phải là di cảo của ngài vậy!”
Ðọc đoạn
văn này của họ Trịnh thì việc Quốc phụ du sơn thấy Phật là ngàn lần
chân thật vạn lần xác đáng.
Triều Âm
động: Ðộng ở tại đỉnh Thiện Tài trên lĩnh Vân Trụ, vị trí ở khoảng
cách bờ núi cheo leo, cách chùa Phổ Tế chừng ba dặm, nhân vì đá núi
nứt toạc ra mà thành, có hai cửa trên và dưới, hình dáng như con sư tử
há miệng, u ám lạ thường, sâu thẳm khó dò, nước biển từ dưới vọt mạnh
vào, mù trắng mênh mang, tiếng như sấm chạy, khi nước triều lên, sóng
ra vào núi ầm ầm như hàng trăm chiếc trống trận đánh lên, đất động núi
lay, nhiếp lấy hồn phách con người. Nhưng động này không có đường vào,
du khách phần nhiều đến đỉnh động nghỉ ngơi, một mặt lắng nghe triều
âm, một mặt ngắm trông mây trời, khiến cho họ thoải mái, mọi trần lự
đều tiêu tan.
Vương An
Thạch, tể tướng triều Tống, khi du ngoạn Phổ Ðà Sơn, sau cùng đến thăm
chỗ này, ở trong Vân Hải Triều Âm đã bùi ngùi ngâm rằng:
Sơn Thế dục áp hải
Thiền Cung hướng thử khai
Ngư Long tinh bất đáo
Nhật nguyệt ảnh tiên lai
Thụ sắc thu kình xuất
Chung thanh lảng đáp hồi
Hà kỳ thừa sứ dịch
Tạm thử phất trần ai
Tạm dịch:
Thế núi muôn đè biển
Thiền cung mở hướng này
Cá rồng tanh chẳng đến
Bóng nhật nguyệt tới đây
Sắc cây thu xuất hiện
Tiếng chuông sóng đáp hồi
Bao giờ xong việc nước
Tạm phải bụi chốn này.
(Tuệ Khai dịch)
Phật quốc thắng địa do đây có thể thấy một phần.
BỐN ÐẠI DANH SƠN CỦA
PHẬT GIÁO
Nguyên tác: Tiêu
Mộ Ca
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
II. NGA MI SƠN
Núi
Nga Mi, ngày xưa gọi là Nha Môn sơn, là một trong bốn đại danh sơn
Phật Giáo, cách mực nước biển hai vạn bốn ngàn hai trăm sáu mươi
thước, tương truyền là đạo tràng của Ðại Hạnh Phổ Hiền Ðại Bồ-tát thị
hiện, tọa lạc ở phía tây nam huyện Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên. Mạch núi do
núi Dân phát triển mà ra, núi non khởi lên trùng điệp, khí thế như cầu
vòng, ngoằn ngoèo hơn ba trăm dặm, chu vi hơn một ngàn dặm, áp thẳng
đến cảnh giới huyện Nga Mi rồi đột ngột khởi lên ba ngọn núi chủ gọi
là Ðại Nga, Trung Nga, Tiểu Nga. Trung Nga tên là Phục Sơn, lại gọi là
Tuy Sơn. Tiểu Nga còn gọi là Phong Nhẫn Sơn. Tam Nga một mạch liền
nhau, đỉnh núi cao giao hòa xen lẫn, trông xa từ huyện thành, đẹp như
một người ở trước chắp tay vái chào. Lại nhân vì hai ngọn núi đứng đối
nhau, hình dáng giống như đôi lông mày của thiếu nữ, đoan trang đẹp
đẽ, do đó núi Nga Mi lại có tên là Nga Mi Sơn. “Thủy Kinh Chú” nói
rằng: “Núi Nga Mi cách thành đô ngàn dặm, gặp ngày trời trong mây
tạnh, trông thấy hai ngọn núi đứng đối nhau như Nga Mi (mày ngài)
vậy”. Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói đến: “Khi Thiện Tài lễ bái Ứng Vân
Tỳ-kheo, đứng lâu trên núi Diệu Cao Phong, thấy được núi này đẹp giống
như trăng mày ngài”. Những điều ấy đều là duyên do đặt tên núi Nga Mi.
Ðường núi
Ðại Nga gặp ghềnh khúc khuỷu, quanh co kinh hiểm, lên đến lưng chừng
núi lại phải xoay vần những tám mươi tư lần mới đến được đỉnh núi, thơ
của Lý Bạch nói lên được điều ấy rất hay:
Bất tri lập xứ cao đa thiểu
Chỉ kiến tinh thần tại hạ đầu
Dịch:
Chẳng biết nơi đứng cao nhiều ít
Chỉ thấy trăng sao ở dưới đầu.
(Tuệ Khai dịch)
Tình cảnh
ấy, đại khái là người đã lên núi Thái Bình đi qua Mã-lai-tây-á
(Malaysia) thì ít nhiều có thể lĩnh hội chút ít.
“Nga Mi
thiên hạ tú, Kim đỉnh duật kỳ quan”
(Nga Mi
đẹp nhất thiên hạ, Kim đỉnh là kỳ quan).
Sự chính
xác của lời nói ấy chẳng chút lầm lẫn, núi Nga Mi đã đem lại cái tú lệ
trứ danh cho cõi đời, thơ của thi nhân Lý Bạch có câu: “Thục Quốc đa
Tiên Sơn, Nga Mi mạt nan thất” (Nước Thục nhiều núi tiên, Nga Mi khó
gì sánh), có thể nói đó là lời bình phẩm giá trị tối cao cho Nga Mi.
Phong
cảnh của núi Nga Mi rất nhiều, núi đã cao lại lớn, lên núi và xuống
núi ước chừng phải đi những hai trăm dặm, như quả dạo khắp các danh
thắng trong núi thì chẳng phải bỏ công phu một tháng rưởi thì chẳng
được. Lộ trình đi đại khái chia làm hai đường: Một đường là từ chùa
Báo Quốc lên núi, một đường khác từ động Long Môn lên núi. Người du
lãm Nga Mi phần đông từ chùa Báo Quốc đi theo một đường ấy.
Ðịa
phương của núi ở mười lăm dặm về phía nam huyện Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên,
một khi đến chân núi rồi thì nhìn thấy ngôi chùa Báo Quốc đứng sừng
sững bên cạnh núi. Ngôi chùa rất lớn, có thể ở hàng hai, ba ngàn
người. Người từ địa phương xa đến đại để phải nghỉ ở trong chùa qua
một đêm, sáng sớm ngày thứ hai mới bò lên núi. Trong núi cây cối sum
suê, mây mù mênh mang, một vùng phẳng lặng mông lung. Mặt trời lên
cao, mây mù tan mất, Nga Mi (Thiên hạ tú) liền hiển lộ ra cái đặc sắc
của nó. Màu xanh biếc mãn nhãn quanh lại làm thành mảng hình thái kỳ
lạ.
Ra khỏi
chùa Báo Quốc lên núi, qua chùa Phục Hổ, cầu Giải Thoát thì đã dần dần
đến được đầu núi rồi. Nguyên lai thế núi Nga Mi là hình gợn sóng, từ
chân núi thì căn bản xem chẳng thấy ngọn núi cuối cùng, cứ đi đến một
ngọn núi thì chỉ thấy có ở trước mắt một ngọn núi nữa. Như vậy thì cứ
lên núi, xuống núi càng đi càng cao dần, đến Thần Thủy Các (lầu). Qua
khỏi ngôi Các này thì sự biến hóa của cảnh núi rất nhiều. Núi Nga Mi
bình quân cứ năm dặm đường là có một cái miếu, phần đông du khách đều
dừng chân ở trước miếu nghỉ ngơi một lần. Qua khỏi vài ngôi miếu nhỏ,
ngước mặt mà đi tới thì là một ngọn núi cao, ánh sáng mặt trời phản xạ
khiến cho đầu ngọn núi đẹp tựa như được giát vàng, rực rỡ như một dạng
bảo thạch. Nguyên lai ấy chính là ngọn núi cao Kim Ðỉnh xuất hiện
xuyên qua tầng mây.
Ðến Thanh
Âm Các rồi thì nhìn thấy cây cầu Song Long ở trước cửa Các giống như
một cặp cánh xòe ngang cỡi lên trên hai dòng nước đen và trắng. Giữa
hai cây cầu có một tòa đình với diềm mái cất bay lên. Kinh qua khe
suối Hắc Long thì có thể theo một con đường nhỏ lên núi. Qua một triền
đất nghiêng dài bảy dặm, sau khi ra khỏi triền đất thì độ nghiêng gò
đất cao dần, khi ấy nhìn kỹ hai bên đường hoặc nơi xa thì cây cối càng
tới gần càng dày bít. Dáng dấp rừng cây đẹp, màu sắc điều hòa hoàn
chỉnh thế núi đẹp đẽ. Bên trong núi rừng ấy động hang núi rất nhiều mà
mặt trong chúng sâu tối quanh co tạo ra một bầu trời đất riêng biệt.
Chúng là những đặc sắc mà khách du Nga Mi nhất định phải vui sướng
thưởng thức. Những động rất nổi danh là động Phục Hy, động Nữ Oa, động
Quỉ Cốc, hơn nữa chúng đều ở men theo con đường lên núi và phần nhiều
là nơi cư trú của đạo nhân hoặc ẩn sĩ. Ðộng thần dị nhất là Lôi động,
nơi xuất phát mây mưa, tục truyền là chỗ ở của Lôi Thần. Ðộng truyền
kỳ nhất là động Tương tử, đời cho là Hàn Tương Tử
đã ở tại động ấy tu đạo thành tiên. Câu chuyện xưa ấy nhà nhà đều
biết, đàn bà trẻ con ưa kể. Ðộng Tương Tử đến triều Minh được vị Cao
Tăng Phật Giáo tên là Võ Môn Lão Nhân đến ở và đổi tên là Vô Môn động,
là chỗ xuống tóc cầu thế độ của Liên Trì Ðại sư, tổ thứ tám của Liên
Tông (Tịnh Ðộ). Ðộng có nhiều thú vị nhất là động Cửu Lão, vượn họp
thành bầy, tranh nhau hướng về du khách kiếm ăn, tình cảnh ấy rất
giống trong vườn Thực Vật Tinh Gia Pha, du khách phần nhiều đều hoan
hỷ sẵn lòng hòa vui với bầy khỉ.
Sau khi
qua khỏi Hồng Thung Bình mà những thắng cảnh trên cả con đường đã
khiến cho mắt du khách chẳng chút được nghỉ ngơi. Tiếp sau đến một
đoạn đường xuống pha (vùng có thế đất nghiêng) là đoạn đường “Cửu Thập
Cửu Ðão Quải” (Chín mươi chín lần đão gậy) trứ danh, là địa phương kể
ra đường núi tách chuyển biến hóa nhiều nhất của toàn núi. Qua khỏi
chỗ này, lại bò lên Toản Thiên Pha, chỗ đầu cùng nơi ấy là ao “tắm
voi”, theo truyền thuyết là nơi tắm voi của đức Bồ-tát Phổ Hiền. Loài
vượn ở nơi ấy nhiều đặc biệt, một khi chúng thấy có người đến thì nhảy
nhót chạy lại, hướng về người lấy đồ ăn. Trong bầy vượn có một con vua
suất lĩnh, nếu là có người làm tổn thương đến vua vượn thì ngàn trăm
con vượn hợp thành bầy vây người lại để báo phục. Còn nếu có một con
vượn bị người bắt trộm đi thì bầy vượn chẳng chịu bó tay, quyết không
đoạt lại không được.
Từ Lôi
Ðộng Bình qua Thất Lý Pha rồi đi trở lên, trên núi có cái miếu nhỏ gọi
là chùa Ngộ Tiên (gặp tiên), qua địa phương ấy là đến tiếp cận với cao
nguyên Kim Ðỉnh. Kim Ðỉnh là chỗ cao nhất của Nga Mi, bên trên xây
dựng chùa Kim Ðỉnh nguy nga tráng lệ, uy trấn toàn núi. Chùa Kim Ðỉnh
còn gọi là chùa Quang Minh, nhân vì đỉnh núi thường phóng ra ánh sáng
mà thành tên, rừng cây ngất trời, khói mù mênh mang, gọi là “Ngân sắc
thế giới” (thế giới màu bạc), là một biệt danh khác của Nga Mi. Ðầu
đỉnh mở ra sáng sủa, bằng phẳng, rộng rãi, khí hậu rất lạnh, ở trong
điện Kim Ðỉnh có “Ðổ Quang Ðài” cao nhất toàn núi. Ðứng trên đầu bờ
núi cheo leo có thể trông thấy từ xa núi Ðại Tuyết Sơn của phương tây,
trông xuống bên dưới chỉ thấy một biển mây mênh mông trắng xóa. Cảnh
đẹp của Kim Ðỉnh là Vân Hải, Nhật xuất (cảnh mặt trời mọc), Phật Quang
và cảnh núi tuyết trông từ xa. Phật Quang còn gọi là Nga Mi Bảo Quang,
cùng với Phật Ðăng đồng là thắng cảnh đặc hữu của Nga Mi. Khách du sơn
không có ai chẳng mơ tưởng được xem hai cảnh lạ lùng ấy, tuy nhiên
chẳng nhất định là xem được.
Phật
Quang thường xuất hiện vào lúc hai ba giờ chiều khi khí trời tạnh
trong sáng. Hiện tại có người nói chẳng phải là điềm linh gì cả và nó
có cùng nguyên lý với hiện tượng cầu vòng ở ven trời sau cơn mưa! Lúc
hiện tượng Phật Quang xuất hiện, đầu tiên là hàng vạn làn sóng bạc
quẩy đọng sóng sánh trong thiên không, tiếp theo là mây trải ra dài
dằng dặc đẹp như một vùng biển lưu ly, ở trên biển mây bỗng nhiên một
vầng sáng tròn xuất hiện ở đầu vừng mây với năm màu rực rỡ như cầu
vòng đầy màu sắc mà khoảng giữa trống không đầy ánh sáng, du khách ở
trên Ðổ Quang Ðài của Kim Ðỉnh đều có thể xem thấy cái bóng của chính
mình mà nhất cử nhất động bóng cũng làm theo. Hiện tượng ấy gọi là
“Nhiếp Thân Quang”. Vầng thái dương càng ngã về tây thì vầng sáng tròn
ấy càng hướng lên trên, nhân đó mà vầng sáng càng lớn. Hiện tượng ấy
chính là Phật Quang.
“Vạn
Trản Minh Ðăng Triều phổ Hiền” (Muôn thếp đèn sáng chầu Phổ Hiền) là
hiện tượng nổi tiếng gần xa, từ “Minh Ðăng” nói trên tức là chỉ cho
Phật Ðăng. Hiện tượng ấy là một cảnh kỳ lạ độc đáo đặc biệt trong núi.
Mỗi lần đến thời khắc phân chia ngày đem (chập choạng tối), trong dãy
núi có hàng ngàn trăm vạn điểm ánh sáng trong suốt chói chang, từ núi
non, khe suối, làng mạc chầm chậm bốc lên giống như một thếp đèn thắp
sáng, chợt lên, chợt xuống, phiêu diêu bất định. Rồi một cái phân tán
thành vài điểm, hoảng hốt tợ đom đóm, rơi dần xuống, mà càng phân tán
lại càng nhiều, từ vài mươi đến vài ngàn, lan tràn khắp trên núi dưới
núi, đèn bay động, rực rỡ như minh tinh (sao sáng).
Từ trước
dân cư cư trú ở vùng ấy, xem hiện tượng này đã thành phúc địa (đất
phước), họ nói là thần đèn đi triều bái đức Phổ Hiền Bồ-tát, người trụ
tại đây đến cùng thì có thể thắm đượm một ít phước khí của ánh sáng.
Mỗi đêm, đang khi Phật Ðăng phóng ra ánh sáng thì hòa thượng của chùa
Kim Ðỉnh nhất định gõ chuông khua trống, xướng lớn lên rằng: “Nam Mô
Ðại Phóng Quang Minh Phật Bồ-tát” đến trời sáng chẳng ngưng. Thứ Phật
Quang ấy, có người nói là trong núi tàng chứa chất lân khoáng mà phát
ra ánh sáng, không có gì thần bí cả. Kỳ thật núi Nga Mi từ thời Ðông
Hán, sau khi Phật Giáo truyền vào Trung Thổ, tức là đạo tràng Phổ
Hiền, thì việc có thứ ánh sáng lân tinh này chẳng thể nói không có
nguồn gốc sâu xa vậy.
BỐN ÐẠI DANH SƠN CỦA
PHẬT GIÁO
Nguyên tác: Trần
Không
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
III. CỬU HOA SƠN
Ngũ
Ðài, Nga Mi, Cửu Hoa, Phổ Ðà người Trung Quốc đều gọi là tứ Ðại Danh
Sơn, là đạo tràng của Ðại Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền, Ðịa Tạng, Quan Âm,
hoàn cảnh tuyệt đẹp, Cao Tăng thạc đức thường thường ẩn tu những nơi
ấy, Thiền lữ các phương triều bái Bồ-tát, thăm hỏi bậc đại đức trọn
năm chẳng dứt. Hai mươi năm trước, tôi đã phát tâm triều bái các danh
sơn, nhưng bấy giờ gặp nhiều trở duyên sai khác nên chưa có thể được
như nguyện; đến năm hai mươi bốn mới triều bái Nga Mi, năm hai mươi
lăm lại Ngũ Ðài, năm hai mươi chín đi triều bái núi Kê Túc ở Vân Nam,
và Ngũ Ðài, Kê Túc đều ở lại hơn chín tháng, xem được sự biến hóa của
bốn mùa, lĩnh hội được thú vị của cảnh huống danh sơn, thân cận chư
sơn cao đức thu hoạch được một ít pháp ích cho thân tâm. Cửu Hoa, Phổ
Ðà do chúng ở gần, thuận tiện nên tạm hoãn lại. Năm rồi, tôi phục viên
(lính giải thể), trên đường qua Ðại Thông, ở trên sông nhìn thấy Cửu
Hoa gần trong gang tấc, tấm lòng kính lễ Ðại Nguyện Bồ-tát bỗng nhiên
phát sinh. Sau khi đến kinh đô, lại đem thân ràng buộc công việc xã
hội, lòng xao lãng hơn một năm. Ðến gần đây do tạp chí Hải Triều Âm kỳ
thứ tám phát hành sớm nên được nghỉ mười ngày. Trước tiên tôi đi đường
quanh An Khánh thăm người bạn cũ là thầy Trúc Cảnh, viếng hai vị
trưởng lão là Bản Tăng và Nguyệt Hải, mượn hai ngài vì pháp bận rộn,
nhờ vã một bề. Lưu lại hai ngày, chuyển Ðại Thông, qua Thanh Dương mà
lên núi. Một đường ruộng bằng phẳng đầy nước, lúa mè phì nhiêu, năm
gọi là được mùa. Tôi một đường mặc niệm: “Nam Mô Cửu Hoa Sơn U Minh
Giới Thập Luân Bạt Khổ Bổn Tôn Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ-tát”, cái
Thánh hiệu dài dằng dặc này được người đánh chuông u minh xướng lên
vào dịp rằm tháng bảy ở ngôi miếu nhỏ của tôi nên tạo ấn tượng rất sâu
sắc, dễ được đề khởi đầu ý niệm.
Cách chân
núi năm dặm có điện Nhị Thánh, chuyện là sau khi Bồ-tát Ðịa Tạng thành
đạo, quốc vương Tân La (bán đảo Triều Tiên) đã phái triều thần đến núi
yết bái mà chưa thấy về, thổ nhân gọi đó là Cậu của Ðịa Tạng, họ ở lại
nơi đây, người đời sau vì họ lập đền để thờ. Người thăm viếng núi phần
nhiều đốt hương đầu tiên ở đây. Ði về trước hai dặm có am Tiểu Kiều,
nước chảy dưới Tiểu Kiều, tiếng suối tuôn rào rào. Lại đi về trước nữa
thì có am Ðại Kiều, tiếng thác đổ nghe inh tai, rậm rạp ngăn đường,
chỉ có am viện là đều hiện tướng suy tàn. Ðến chân núi, chỗ mở đầu lên
núi có “Nhất Thiền Môn”, có câu đối viết rằng:
“Ðáo thử dĩ phi môn ngoại Hán
Tiến lai tiện thị cá trung nhân”.
(Ðến đây chẳng phải ngoài cửa Hán
Tiến lại chính là trong con người).
Theo bậc
mà lên, hai bên tre trúc rậm rạp, người mát mẻ vừa lòng, ngày đó trời
sáng gió nhẹ, lũ ve sầu kêu vang, người sống lâu ở thành thị, chịu
đựng nóng bức đến đây thì quả thực có cảm giác như vào cảnh tiên. Chỉ
có điều là kẻ du ngoạn khắc đề vào trúc loang lổ vằn vện, chưa khỏi
tục tằn, nếu dùng nhãn quang của học giả Sum Lâm mà quan sát thì rất
là đáng tiếc! Nguyện xin những người du sơn tự ái mà yêu thương trúc
vậy. Lưng chừng núi có chùa Cam Lộ là một trong bốn Ðại Tòng Lâm của
núi, do Ngọc Lâm quốc sư xây dựng, bấy giờ có điềm ứng là tùng núi
thổi xuống cam lộ, nhân đó mà thành tên. Chùa có điện Lưu Ly, Tàng
Kinh Các, qui mô rộng lớn, lầu, phòng trên dưới hơn một trăm gian,
tiếc là phần nhiều để trống không, đợi chờ mục nát. Nghe chỉ ở có bốn
người, một vị thập phương Tỳ-kheo đánh chuông u minh, tiếng chuông
thưa nghe xa, chấm phá sự tịch mịch của núi non. Ðến đây có thể ngước
xem các ngọn núi tranh nhau xuất hiện, cúi nhìn hang tối đá che, đỉnh
núi ấy cao chót vót lạ lùng khiến cho lòng khoái mắt vui, định tâm
giây lát, đi thẳng lên lại vào cảnh đẹp. Qua Ðịnh Tâm Thạch, Nhị Thiên
Môn, Chùa Thanh Ẩn, Am Long Trì, đình Vọng Giang, Tam Thiên Môn là đến
khu trung tâm núi Cửu Hoa. Tại đây có đường Cửu Hoa, hiệu buôn lớn nhỏ
lối vài mươi nhà, hình thức tản mạn, xen lẫn với khoảng chùa, am,
ruộng lúa, khe suối. Bốn bên trên dưới chùa cổ liền mây, tiếng chuông,
khánh nghe lẫn nhau. Ði qua Bách Tử đường, Tịnh Ðộ am, Quảng tế mao
bồng (chùa cỏ tranh, cỏ bồng) lên dến ngôi Thiền đường Quải Tháp, nơi
ấy là điểm tựa Chính Thiên Môn cùng cận kề tháp Nhục Thân vậy. Trụ trì
là Hòa thượng Tắc Hà, một vị lão thành trì trọng, tiếp đãi người chân
thành, không hư ngụy khách sáo, một lần gặp là như bạn cũ. Tắm gội,
thay quần áo, ăn uống xong mà trời hãy còn sớm, trước lên Nhục Thân
Bảo Ðiện lễ bái tháp chân thân Ðịa Tạng Bồ-tát, nhờ Hòa thượng Tắc Hà
bồi tiếp chỉ đạo nên việc thấy nghe riêng mình được nhiều.
Tháp Nhục
Thân là tháp tổ của toàn núi, địa thế cũng là trung tâm của Cửu Long
Phủng Thánh (chín rồng nâng Thánh), các ngọn núi vây vòng tròn, cổ thụ
rợp bóng, ngôi tháp ở trong Bảo Ðiện, hình bên ngoài là tháp gỗ, bên
trong là tháp đá, trong tháp đá lại có tháp đồng, bốn mặt tháp đồng có
cửa, bên trong rỗng, dưới thông không bờ bến, trong hang gió thơm vọt
lên, thanh hưởng áp sát người, chỉ thấy đất màu đen như bột gạo, hương
thơm lừng như cao sữa, chẳng thể biết thứ ấy là gì. Những bậc kỳ túc
trong núi nói là năm Quang Tự thứ hai mươi hai đã từng mở tháp trùng
tu, đã thấy như thế này rồi.
Căn cứ
theo lược truyện của Ðịa Tạng Bồ-tát thì: Sau khi đức Phật diệt độ một
ngàn năm trăm năm, đức Ðịa Tạng Bồ-tát giáng tích ở nước Tân La (nay
là Triều Tiên) làm thái tử, họ Kim tên là Kiều Giác, thân thể hùng vĩ,
đỉnh (đầu) cao xương lạ. Vào năm Vĩnh Huy thứ tư, ngài hai mươi bốn
tuổi, cắt tóc, đi đường biển vào Trung Quốc, đến núi Cửu Hoa tại Thanh
Dương, được hộ pháp là Mẫn Công cho đất, lại có thần núi làm nước vọt
ra thành suối, lại được Gia Cát Tiết xây chùa cúng dường. Ðợi sau khi
thành đạo, người tăng kẻ tục nước Tân La vượt biển thỉnh pháp rất
đông. Vào ngày ba mươi tháng bảy năm Khai Nguyên thứ hai mươi sáu đời
Huyền Tông, ngài gọi chúng đến cáo biệt, ngồi kiết già thị tịch. Ðến
năm Chí Ðức thứ hai đời Túc Tông, xây dựng tháp ở Nam Ðài, tháp hoàn
thành phóng ra ánh hào quang như lửa nên gọi đỉnh núi ấy là Thần
Quang, đến nay người bốn phương nối gót nhau triều bái quanh năm không
ngày trống.
Tôi lễ
bái Bồ-tát xong, thầy chủ ngôi điện dẫn tôi tham quan trước sau rồi
đến ngôi khách sảnh ngồi uống trà, lại chuyển qua chùa Pháp Hoa thăm
Tâm San lão hòa thượng, lão nhân người đất Ngạc, nay đã tám mươi sáu
tuổi, từng bỏ ra nhiều công phu đối với Thiền Tông, là vị đại đức duy
nhất của vùng Giang Nam, tinh thần sung mãn, tuyệt không có vẻ già cả
lẩm cẩm, cả ngày đứng trong nắng gió đốc suất thợ tạo dựng chùa mới,
nhân vì ngôi chùa Pháp Hoa bị lửa thiêu hủy. Tôi đến vừa lúc thợ nghỉ
đi ăn chiều. Tôi lễ bái cúng dường, ba lần thỉnh ngài khai thị, lão
nhân kiên quyết từ chối không nói gì, thường dùng trà mời nhau. Hoặc
tôi căn khí cạn cợt chẳng đủ sức chịu lời chỉ giáo, hay nhân vì hư
danh mà chướng ngại sự thật thêm chăng? Kế đó tôi ngộ ra là lão nhân
khai thị vô ngôn (không lời nói): Vốn phần việc trên là ở hành động
chẳng ở lời nói, chỉ quản lấy mục tiêu nhận định mà vùi đầu làm đi,
bất tất hướng ra ngoài mà cầu phải trái vậy. Trời chiều, tôi từ biệt,
đường đi qua Quảng Tế mao bồng, gặp Tuệ Chân hòa thượng, cùng nhau hàn
huyên quay quýt, rồi nghỉ qua đêm ở Thiền đường trên. Mục đích chủ yếu
của lần triều sơn này - Lễ Ðịa Tạng cùng thăm tâm lão - có thể nói là
đã đạt. Ðêm nay sao sáng đầy trời, gió mát tràn phòng, nằm bên cửa sổ,
thân tâm sung sướng lắm!
Sáng hôm
sau đi triều bái đỉnh Thiên Thai, từ bổn cảnh Cửu Hoa đi lên phía đông
ba dặm, qua Hồi Hương Các, xuống đỉnh núi vượt qua cầu đá của đầm
Thanh Y (y là sóng lăn tăn), rồi qua cầu Hồi Long, có cây cổ tùng
giống hình chim nhạn tung cánh lên trời, hình thái phiêu dật cổ nhã.
Một đường am viện chập chùng, hoặc nối tiếp nhau, hoặc gián cách nhau,
giống như khu nghỉ mát (tránh nóng) Cổ Lĩnh, chỉ có điều chẳng bằng sự
hoa lệ của Lưu Sơn. Ở đây phần nhiều là am cỏ tranh của Ni chúng tịnh
tu. Ðến đây lên bậc đá đi năm dặm nữa, qua am Hoa Vân, chùa Tuệ Cư,
chùa Cát Tường, chùa Thiên Hưng, am Triêu Dương là đến am Thúy Hoa tức
là đã đến được nửa núi Thiên Thai vậy. Có câu đối rằng:
“Lai đáo bán sơn tọa nhất tọa.
Tái thượng ngũ lý thiên thượng thiên”.
(Ði đến nửa núi ngồi lại ngồi.
Lên đến năm dặm trời trên trời).
Ðường đi
lên này lại cao và hiểm trở, vùng núi có vượn núi ẩn hiện, qua ngọn
núi Quan Âm, bên chùa có ngọn núi đá như đức Quan Âm, bên ngọn núi ấy
lại có ngọn núi nhỏ như dáng đồng tử bái Quan Âm, ngôi chùa lấy tên
núi vậy. Ði lên nữa là Bái Kinh đài, tương truyền là chỗ ngài Ðịa Tạng
bái Kinh, sau chùa, vách đá cao chót vót thẳng lên tầng mây là núi Lão
Ưng Thính Pháp (Chim Ưng già nghe pháp), nay gọi là núi Hương Lô Hương
vì tả hữu có hai ngọn núi nhỏ như đài nến (chân đèn) vậy; lại tên là
núi Thiên Trụ vì nó đứng sừng sững tận từng mây như cây trụ chống trời
vậy. Nghỉ ngơi một chút trước chùa, nhìn kỹ tả hữu thấy có các ngọn
núi Liên Hoa, Bát Vu, Lão Nhân, Song Ðào, Kim Qui, hình giống vật
giống đều rất đẹp. Từ đây lại đi lên nữa tức là đạt đến đỉnh chính
Thiên Thai, là ngọn cao nhất của toàn vùng núi, có ngôi chùa gọi là
Ðịa Tạng Thiền Tự, trụ trì là Nghĩa Phương pháp sư, thời thanh niên
được Hoằng Nhất luật sư lúc còn tại thế rất là khí trọng, thường cùng
nhau thư từ qua lại. Hoằng sư tự cho mình bậc cô thần (bề tôi đơn độc)
của Ðịa Tạng Bồ-tát nên đem trách nhiệm trung hưng chấn chỉnh danh sơn
giao phó cho sư Nghĩa Phương. Cho nên sư Nghĩa Phương chịu ảnh hưởng
vị ấy rất sâu sắc, học hạnh đều tốt, xử sự đối nhân rất thành thật,
mọi người mong mỏi theo về, toàn núi đa số đều nương cậy. Trước chiến
tranh, ngài tiếp quản Thiên Thai, ở trong hoàn cảnh khốn khó, đem toàn
chùa chỉnh đốn sửa sang như mới. Lên đài ngoái trông bốn bề, núi non
la liệt, phong cảnh danh thắng rất nhiều, như có thể ở được vài ba
ngày thì có thể xem cảnh mặt trời mọc, quan sát biển mây (Hải Vân),
ngắm nhìn kỳ quan của trời đất. Tiếc là tôi chưa thoát được trần lụy,
chẳng thể buông bỏ vạn duyên, mặc tình theo cảnh vật. Sau buổi ngọ
trai (ăn trưa) tôi liền vội vàng cáo biệt, nhờ pháp sư Nghĩa Phương
giúp đỡ đồng xuống núi, một đường chỉ điểm và lãnh đạo tham quan những
ngôi Ðại Sát của bản cảnh.
Tìm đường cũ xuống núi, đến Hồi Hương Các nghỉ ngơi một chút, thuận
theo đường sườn núi đến Ðông Nham Thượng Viện, đất Ðông Nham vách núi
hiểm trở cao vòi vọi, trước chiến tranh là tòng lâm rất lớn ở trong
núi, sắp đặt tiếp mọi người phần nhiều tụ tập ở đây, sự nghiệp hoằng
hóa Phật Giáo trong núi cũng lấy chùa này làm trung tâm, như Cửu Hoa
Phật Học Viện, Cửu Hoa Phật Giáo Hội v.v... đều do chùa ấy chủ trì
giải quyết. Tiếc thay không thận trọng, năm nào đó bị lửa thiêu hủy,
một miếng ngói không còn, cảnh tượng rất thảm thương! Hiện nay di cư
xuống Hạ Viện để mưu tính trung hưng trở lại, tuy nhiên danh sơn duyên
thắng mà việc thì ở người làm, cũng chẳng dễ dàng lắm vậy! Tôi nhất
định muốn lần tham quan này được thấy cái chuông U Minh lớn đã từng
một thời làm ầm ĩ. Khoảng năm Dân Quốc thứ hai mươi bốn, hai mươi lăm,
do sáu đoàn thể: hội Phật Giáo Trung Quốc, hội Phật Giáo Thượng Hải
Thị, Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm, Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xã, Phật Học
Thư Cục, hội Phật Giáo Cửu Hoa Sơn phát khởi cuộc quyên góp để đúc quả
chuông đồng lớn một vạn cân, trên chuông khắc toàn bộ Kinh Ðịa Tạng,
treo ở trên Ðông Nham, ngày đêm đánh lên để lợi lạc cõi U minh. Bấy
giờ một lần phát động đã quyên mộ được vài vạn lượng vàng, mua được
hơn một vạn cân đồng, trải qua hai lần đúc tạo chưa thành, liền đuối
hơi hết hy vọng mà bãi bỏ, hiện niềng sắt khuôn bùn hố thân chuông còn
để ở trên núi, chất đồng thô mềm, gió mưa bào mòn, chẳng bao lâu thành
phế vật (đồ bỏ đi) vậy. Có căn cứ nói rằng, hạng mục công đức ấy, đến
nay vài chữ cũng chưa báo cáo rõ ràng, sau cuộc chiến loạn, khoản
thặng dư chẳng biết đi đâu? Người trong núi đã biểu hiện bất mãn lắm,
mong những kẻ đã qua tay đem nhân quả trình bày rõ ràng, chớ đợi tương
lai lại cầu Ðịa Tạng Bồ-tát cứu độ vậy. Nhân cuộc viếng thăm Ðông
Nham, lòng cảm khái muôn mối, ngói vỡ cỏ hoang, nơi đây không còn gì
lưu luyến nữa. Lại đi về phía trước đến Bách Tuế cung, cũng là một Ðại
Tòng Lâm, có vị lão Hòa Thượng tuổi đã bảy mươi, trời nóng mà mặc áo
bông giống như có bệnh, pháp sư Nghĩa Phương cùng ông nói về việc
trong núi, còn tôi thì nghỉ ngơi uống trà giây lát, rồi đi xuống đến
chùa Kỳ Viên thăm hòa thượng Thọ Dã. Ðiện đường của chùa Kỳ Viên tráng
lệ, ở tại trung tâm của vùng đất cũ, kiến trúc rất là rộng lớn. Hòa
thượng Thọ Dã đã từng đồng trụ ở núi Ngũ Ðài Sơn, lần này vì tránh sự
phiền lụy o ép chùa miếu ở vùng Hỗ - Dũng, một mình đến núi bế quan,
do quan duyên chưa đủ nên ở tại chùa Kỳ Viên xem Kinh Pháp Hoa, bái
Ðịa Tạng Bồ-tát, hành trì tinh tấn, cũng khó có thể làm được vậy. Cố
nhân trùng phùng, đó đây kính mộ, trở nên thân thiết. Ngồi nói chuyện
chừng một giờ, rồi chuyển qua am Thông Tuệ thăm vị Lý sự trưởng của
Bảo Nham (núi báu), lược bàn về tình hình việc hội trong núi và ở lại
ăn cơm chiều, rồi đi tiếp đến chùa Hóa Thành. Chùa Hóa Thành là ngôi
Cổ Sát trong núi, sáng lập vào khoảng năm Long An đời Tấn, là đất mà
thiền sư ở Tây Trúc là Bôi Ðộ đã ở. Ðến đời Ðường, Ấp nhân là Gia Cát
Tiết đến nền cũ dựng nhà cúng dường Ðịa Tạng Bồ-tát, cuối đời Minh bị
hủy, đầu đời Thanh xây dựng lại. Hiện chùa cất giữ toàn bộ Minh Tạng
và vài quyển ngự bút, Trang Liệt Ðế nhà Minh viết bốn chữ biển ngạch
“Vi Thiện Tối Lạc”, Thánh Tổ nhà Thanh khi nam tuần viết biển ngạch
“Cửu Hoa Thánh Cảnh”, năm thứ ba mươi mốt đời cao Tông (nhà Thanh) lại
viết biển ngạch “Phân Ðà Phổ Giáo”, biển ngạch và nguyên mực viết đều
được bảo tồn hoàn thiện, được kiểm xét ra trong một lần tham quan, mắt
ta thỏa mãn thì phước chẳng cạn vậy. Hiện ngôi chùa ấy và vật sở hữu
được toàn núi công hữu hóa, hội Phật Giáo liền thiết lập ở nơi ấy,
tháp nhục thân cũng qui về hội Phật Giáo quản lý. Chi hội Phật Giáo
trong núi được dễ dàng hoạt động hơn, thành tích ấy biểu hiện cũng là
tốt hơn cho một Chi hội huyện. Nhân vì chùa am trong núi tập trung,
tiện cho việc liên lạc, vả lại mười người hết chín là con cháu của bổn
sơn nên ở trên phương diện quan niệm cũng dễ đoàn kết. Tám năm trong
kháng chiến trải qua đủ sự mài dũa rèn luyện, chịu đủ sự kinh dị nên
tình tự (mối tình) hướng thượng của họ cũng là tiến bộ hơn trước chiến
tranh. Chùa am lớn nhỏ trong núi ước chừng hơn một trăm cái. Tăng Ni
chừng hơn năm trăm người đều có thể giữ gìn việc chính luôn an định.
Hiện các nhà đang tích cực chuẩn bị nghinh tiếp đại hội Âm Chất (họa
phúc tốt xấu do trời định) cứ mười năm một lần. Thời gian tôi ở tại
núi chỉ có một ngày rưởi, chẳng đủ thời gian khảo sát kỹ càng, phần
nhiều nhờ quý thầy Tắc Hà, Nghĩa Phương, Bảo Nham, chiêu đãi chỉ đạo
và được pháp sư Nghĩa Phương mượn duyệt quyển Cửu Hoa Chỉ Chưởng đã
trước tác, lược ghi thêm ấn tượng ấy để ghi nhớ sự bồi đắp to lớn
vậy.
Ghi ngày mười lăm tháng tám năm
Dân Quốc thứ ba mươi sáu.
Dịch xong ngày 14 tháng 7 Nhâm Ngọ.
(22.8.2002).
BỐN ÐẠI DANH SƠN CỦA
PHẬT GIÁO
Nguyên tác:
Kim Sơn
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
IV. NGŨÐÀI SƠN
Ngũ
Ðài Sơn ở tại huyện Ngũ Ðài thuộc đông bắc bộ tỉnh Sơn Tây, chu vi hơn
năm trăm dặm, năm ngọn núi cao vút, đỉnh ít cây rừng. Ðỉnh của năm
ngọn núi có đất bằng từ hai đến sáu vạn
dặm, bằng phẳng như cái đài nên gọi là Ngũ Ðài. Ngọn Bắc Ðài cao nhất,
cách mực nước biển ba ngàn tám trăm mét (công xích), thế núi hùng hồn,
dấu chân người ít đến. Trong núi tháng bảy đã thấy tuyết, tháng tư
băng tan, cốc sâu hang tối chứa tuyết quanh năm, người trong vùng gọi
đó là “Vạn niên tuyết”, thanh lương tuyệt trần nên còn gọi là Thanh
Lương Sơn. Cuối xuân đầu hạ thì hoa dại đầy núi, nước trong chảy xói
đá, ánh sáng khí núi, bóng tháp, tiếng chuông, lời Kinh Phạn xướng,
khí tượng trang nghiêm. Thân đến cảnh ấy giống như lên cõi Phật. Bốn
đại danh sơn của Phật Giáo, chỉ có Ngũ Ðài Sơn là thấy ở các Kinh
Phật. Tương truyền thời thượng cổ, đức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát đã trụ
trong núi này, lúc này nước Ni-bạt-nhĩ (Nepal) còn là một cái hồ nước,
trong hồ có con rồng ác trú ẩn, lại còn hoa sen nở rộ từ thân thể
phóng ra ánh sáng. Do đó ngài Văn Thù Bồ-tát thống lĩnh chúng đến
trước, một tay cầm kiếm, khai sơn mở đỉnh, gạt bỏ hồ nước, một tay cầm
Kinh, hưng khởi việc giáo hóa. Ðến nay người Ni-bạc-nhĩ vẫn thờ ngài
Văn Thù Bồ-tát làm thần bảo hộ của nước ấy, nhân đó núi Ngũ Ðài Sơn
cũng được nhân sĩ nước đó sùng kính. Lúc thế kỷ mười bốn ông A-ni-ca,
kiến trúc sư trứ danh của Ni-bạc-nhĩ, đến Trung Hoa, nhận đủ lễ đãi
ngộ của Nguyên Thế Tổ. Ngôi Bạch Tháp tiêu chí ở Ngũ Ðài Sơn là do họ
Ni thiết kế xây dựng nên. Rừng chùa Phật tạo lập tại Ngũ Ðài Sơn phân
chia thuộc về các tông phái Hiển, Mật, Thiền, Tịnh. Thời Bắc Tề có hơn
hai trăm ngôi chùa, rồi đời có hưng phế, đến đời Tống chỉ còn bảy mươi
hai ngôi chùa, khoảng năm Vạn Lịch đời Minh đã từng hưng phục đến ba
trăm ngôi chùa, hiện tại vẫn có nhiều hơn một trăm ngôi chùa, bảy phần
mười trong số ấy thuộc phái Lâm Tế (Thiền Tông). Tôi xuất gia ở chùa
Tôn Thắng và thế độ thọ cụ túc ở chùa Kim Các, đều thuộc Tông Lâm Tế.
Kim Các Tự là một của mười ngôi chùa lớn Hiển Tông, kỳ dư là các chùa
Hiển Thông, Tháp Viện, Viên Chiếu, Quảng Tông, Thù Tượng, Bích Sơn,
Phụng Sơn, Linh Cảnh v.v...đều do các vị tăng người Hán trụ trì. Mười
ngôi chùa lớn của Mật Tông là: Bồ-tát Ðỉnh, Ngọc Hoa Trì, Kim Cương
Quật, Trấn Hải, La Hầu, Phổ An, Tam Tuyền, Thất Phật, Thọ Ninh, Ðài
Lộc v.v... đều do Lạt Ma Mông Cổ và Tây Tạng trụ trì.
Lâu đời
nhất trong số chùa Phật ở Ngũ Ðài Sơn là chùa Ðại Hiển Thông, xây dựng
thời Minh Ðế nhà Ðông Hán (năm 58 - 73 TL). Bấy giờ Cao Tăng
Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan theo chân ngựa trắng chở Kinh đi đến
Lạc Dương, đã từng cùng nhau đến Ngũ Ðài Sơn triều bái, nhận ra là
hình thế của Ngũ Ðài Sơn cùng với núi Linh Thứu của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni tu hành giống nhau nên tâu xin xây dựng chùa. Chùa làm xong vua
ban tên là “Ðại Phu Linh Thứu Tự”, tức là tiền thân chùa Hiển Thông
ngày nay mà chùa Viện hiện tại đã được xây dựng lại vào thời Nguyên
thời Minh. Trong chùa Hiển Thông có ngôi điện Vô Lương cao đến bốn
trượng, dài hơn mười trượng, toàn bộ dùng gạch đá xây dựng nên, toàn
điện không một cây trụ chống mái nên lại tên là Vô Lương điện (ngôi
điện không rường), là kiệt tác trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc, đã
có hơn bốn trăm năm lịch sử. Phía bắc điện là “Ðồng điện” trứ danh,
toàn bộ dùng đồng đúc nên, phỏng theo kiến trúc bằng gỗ, cửa và cửa sổ
đều đúc thành đồ án hoa cỏ, bên trong điện một vạn tượng Phật đồng,
điêu khắc sinh động, là tác phẩm tinh vi của nghệ thuật Phật Giáo thời
Cổ đại.
Chùa Viện
làm bằng gỗ xưa nhất hiện còn của Trung Quốc là phải tìm đến chùa Phật
Quang, xây dựng vào năm Ðại Trung thứ mười một đời Ðường (năm 857 TL).
Toàn bộ cấu tạo bằng gỗ, xây dựng kiên cố, trải qua thời gian hơn một
ngàn năm, một mình tồn tại uy nhiên lồng lộng, quả thật là Linh Quang
ngôi điện vậy. Pho tượng Phật đắp rực rỡ đời Ðường thờ ở Ðại Ðiện chùa
Phật Quang vang danh khắp thế giới.
Hoa
Nghiêm Ðại Sớ nói rằng: “Núi Thanh Lương tức là núi Ngũ Ðài Sơn ở Nhạn
Môn thuộc Ðại Châu, là chỗ Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi thị hiện” nên trong
chùa Phật của Ngũ Ðài Sơn phổ biến là thờ tượng ngài Văn Thù Bồ-tát,
như chùa Linh Ứng của ngọn Nghiệp Ðẩu ở Bắc Ðài thờ Vô Cấu Văn Thù;
chùa Vân Hải của ngọn Vọng Hải ở Ðông Ðài thờ Thông Minh Văn Thù; chùa
Phổ Tế của ngọn Cẩm Tú ở Nam Ðài thờ Trí Tuệ Văn Thù; chùa Pháp Lôi
của ngọn Quải Nguyệt ở Tây Ðài thờ Sư Tử Văn Thù; chùa Diễn Giáo của
ngọn Thúy Nham ở Trung Ðài thờ Nho Ðồng Văn Thù. Trứ danh nhất là
tượng Bồ-tát Văn Thù đi xe sư tử thờ trong chánh điện của Viện Thù
Tượng. Cao đến hơn hai trượng, vàng ngọc huy hoàng (chói lọi), pháp
tướng trang nghiêm, là cấu trúc tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc
tượng Phật Giáo đời Minh, đã có hơn bốn trăm lịch sử mà tượng Phật vẫn
rực rỡ như mới.
Bốn đài
Ðông, Bắc, Trung, Tây đều xếp thành một đường vòng cung, cách nhau gần
hơn, Nam đài thì xa hơn, vùng giữa năm ngọn núi gọi là Ðài nội, ngoài
vùng ấy gọi là Ðài ngoại. Trấn Ðài Hoài ở tại vùng Ngũ Ðài, đại bộ
phận chùa viện đều tập trung ở đây.
Từ Trấn
Ðài Hoài lên núi, cái đầu tiên ánh vào rèm mắt chính là ngôi Xá-lợi
Bạch Tháp của chùa Tháp Viện cao đến hơn mười trượng, đầu tháp có cái
“đồng bàn” (một hình thức kiến trúc hình cái mâm tròn bằng đồng),
chung quanh có trang trí những cái linh (chuông lắc nhỏ) bằng đồng,
gió đưa đẩy linh, tiếng leng keng xa gần đều nghe. Ði lên nữa tức là
chùa Hiển Thông, lầu chuông diềm mái cất cao lên, trụ màu hồng, rất là
tráng lệ, cùng với ngôi Bạch Tháp chói sáng lẫn nhau, ánh tà dương,
bóng tháp, lầu hồng, chuông chiều... là những tuyệt xướng (câu ca ngợi
tuyệt vời) của phong quang Ngũ Ðài vậy.
Từ chùa
Hiển Thông lên núi, qua một trăm linh tám bậc thềm đá là lên thẳng
đỉnh Bồ-tát. Kiến trúc trên ấy đều phỏng theo kiểu cung điện, nóc điện
lợp ngói lưu ly, vàng ngọc chói lọi, giống như hoàng cung, tương
truyền là chỗ xuất gia của hoàng đế Thuận Trị.
Hướng về
chùa Hiển Thông, chùa Bích Sơn có ngôi miếu Ngũ Lang, là chỗ tu hành
của danh tướng Ngũ Lang đời Tống. Từ miếu Ngũ Lang đi về phía đông,
tức là chùa Bích Sơn, là ngôi chùa cổ xây dựng đời Bắc Ngụy, tục gọi
là Quảng Tế mao bồng. Trong chùa có điện Văn Thù, nơi cất giữ một cái
răng Phật, điện Lôi Âm thờ một pho tượng ngọc Phật đều là chí bảo của
Phật Giáo, trong chùa cất giữ nhiều Kinh điển, là đứng đầu trong các
chùa của Ngũ Ðài Sơn.
Ngũ Ðài
Sơn khai sơn có hơn một ngàn chín trăm năm lịch sử, trải qua bao đời
những bậc Cao Tăng lớp lớp xuất hiện, quả thật là Thánh địa của Phật
Giáo, những đất nước Tây Vực, Ấn Ðộ, Tích Lan... thời cổ đại đã có các
Cao Tăng đến trước triều bái. Sự thật là núi Ngũ Ðài Sơn đã sớm trở
thành Thánh địa trong con mắt, trong tấm lòng của Phật Giáo đồ Quốc Tế
rồi, đâu chỉ là danh sơn của Trung Quốc mà thôi.
Dịch xong toàn bộ “Trung Quốc Phật Giáo Tự Tháp Sử Chí” trong mùa
Vu lan Nhâm Ngọ.
(15 tháng 7 năm Nhâm Ngọ - 23/8/2002)
Cầu nguyện pháp giới hữu tình đồng đăng Phật quốc.
Tuệ Khai cư sĩ