Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

DANH LAM KÝ

 

Nguyên tác: Bán Tăng

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

           

I. CHÙA THIẾU LÂM.

Ngụy Thư chép rằng: “Ngài Bạt-đà1 từ Tây trúc sang, có đạo nghiệp, rất được sự kính trọng của Hiếu Văn Ðế (467-499). Nhà vua xuống chiếu lập chùa Thiếu Lâm ở phía Bắc núi Thiếu Thất cho ngài ở”.

Huyện chí của huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam chép rằng: “Chùa Thiếu Lâm do Hiếu Văn Ðế đời Hậu Ngụy xây dựng. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam ngọn Ngũ Nhũ về phía bắc núi Thiếu Thất, có am Sơ Tổ, thời Lương Võ Ðế, tổ Ðạt-ma ở đây “diện bích” chín năm, lại có Chiếu ảnh thạch (đá chiếu ảnh)”.

“Du Trung Nhạc Ký” của Phan Lỗi ghi rằng: “Chùa Thiếu Lâm ở phía nam ngọn núi Ngũ Nhũ, dưới chân núi phía bắc Thiếu Thất, không gian rộng thâm u, hình thành cảnh thiên nhiên thắng diệu. Nơi ngài Bạt-đà tạo tháp, ngài Tuệ Quang phiên dịch kinh đã làm nên thần dị. Từ khi Tổ Ðạt-ma đến từ phía nam, ẩn cư ở chùa ấy, cuối cùng có được ngài Thần Quang để truyền “Tâm ấn”. Thiền Tông Ðông Ðộ bắt đầu hưng vượng từ đây. Nhưng đời sau chư Tổ đều hành hóa địa phương khác, chẳng ở Thiếu Lâm. Ðăng Lục đã chép, những bậc tôn túc đời Ðường, Tốâng, người làm chủ tịch Thiếu Lâm rất ít. Ðến thời Thế Tổ nhà Nguyên, ngài Tuyết Ðình Dụ Công phụng chiếu đến làm trụ trì, xưng là khai sơn đời thứ nhất. Những hậu nhân của ngài truyền đời ở theo, nhưng pháp đạo không quang hiển lắm”.

Sáng sớm ngày mười lăm tháng năm năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, chân đi hài cỏ, tay cầm gậy trúc, tôi cùng thị giả xuất phát từ huyện Ðăng Phong đến chùa Thiếu Lâm chiêm ngưỡng lễ bái di tích sơ tổ Ðạt-ma. Ra cửa tây mà đi về hướng bắc, vào công lộ chuyển sang hướng tây bắc mà đi, ăn trưa ở phố Thập Lý. Gặp tháng trời lạnh lẽo, vả lại thu ý (cảnh mùa thu) thêm não nùng. Nghỉ ngơi một chút, lại tiến về phía trước. Trông về bắc, những ngọn của dãy Thái Thất (Trung nhạc) giăng ngang theo chiều đông - tây như con rồng xanh nằm sóng soải trên đất, thân dài, xương sống cao, đoan nghiêm đáng sợ. Trông về hướng tây, những ngọn núi mặt nam của núi Thiếu Thất như ngôi tháp, như cây gươm, như mụt măng, như cây kích... nạo vót mài dũa vọt cao lên chẳng thể nêu danh trạng. Ði qua khoảng hai núi Thái Thất và Thiếu Thất, nhìn trái, trông phải, có cảm giác như “trên con đường phía bắc núi ứng tiếp chẳng thôi”.

Mười tám dặm thì đến nhà nghỉ ở bên ngoài, đất đai men theo đường không mầu mỡ, chẳng thích hợp cấy lúa. Núi đồi trơ trụi, mây mù lạnh lẽo, khung cảnh thật hoang lương. Vào nhà nghỉ bằng tranh nghỉ ngơi giây lát rồi chuyển sang hướng tây mà đi. Ði ước chừng hai dặm thì gặp ngã ba đường. Ðường lớn hướng tây bắc là đi về Lạc Dương, đường nhỏ hướng chánh nam là đến Thiếu Lâm. Ðành phải bỏ đường lớn mà đi vào đường nhỏ vậy.

Ði về phiá trước, đường núi quanh co chướng ngại trùng điệp, khe cao suối thấp cuồn cuộn chảy ầm ĩ, inh tai muốn điếc. Từ xa trông thấy cửa ải Hoàn Viên, giữa mở một đường khúc chiết quanh co, hình thể hiểm trở. Hậu Hán Thư chép rằng: “Năm Kiến Võ thứ chín đời Quang Võ (Ðông Hán năm 25 TL), tháng sáu mùa hạ Hạnh Hầu Thị lên Hoàn Viên”. Ðó tức là đất ấy.

Còn năm dặm nữa đến chùa Thiếu Lâm. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam núi Ngũ Nhũ, núi Thiếu Thất nằm ngang phía trước, một dòng suối trong bao quanh, quả thật là hình ảnh thắng địa. Tiếc là rừng cổ bách xanh tươi ngày xưa đã bị chặt phá hầu hết nên sao tránh khỏi cảm giác hoang vu!

Qua khỏi cửa Trung Thiên Phước Ðịa, trên ngạch đá có khắc bốn chữ “Bạt-đà Khai Sáng”. Bên ngoài sơn môn có một đôi sư tử đá điêu khắc rất tinh xảo. Nhan đề trên cửa là “Thiếu Lâm Tự”. Ðó là ngự bút của hoàng đế Khang Hy, chữ viết đoan nghiêm đáng xem. Tiến vào Sơn môn làm lễ Phật Di Lặc, pháp tượng tô vẽ rất tinh xảo, đáng gọi là một cấu tạo đẹp, sau lưng thờ pháp tượng Vi Ðà mà nét đẹp chẳng bì kịp. Tiến về phía sau, hai bên lối đi giữa có hai góc ngân hạnh2, vài gốc cổ bách3 mà tàng cây khép tán, bóng che nửa mẫu, bởi cây đã có số tuổi vài trăm năm. Ðiện chùa ấy có bảy tấn (nhà chia ra từng phần), qui chế cao rộng, ít đâu sánh bằng. Chỉ có điện Tứ Thiên Vương, Ðại Hùng Bảo Ðiện, Tàng Kinh Các, liêu tăng đông và tây cùng Diện Bích Thạch4, số còn lại thì vào năm Dân Quốc thứ mười sáu gặp cảnh binh lửa loạn lạc đều phó mặc cho một ngọn đuốc, đá gạch ngổn ngang trước mắt khiến cho người thương tiếc bùi ngùi! Du khách đến Tung Sơn phần nhiều là do Thiếu Lâm là đất danh thắng, nhưng nay xem ra khác xưa xa nên chỉ với tấm lòng thăm viếng chân thành mà thôi.

Trước điện Ðại Hùng là một rừng bia, tính gộp lại có hơn một trăm cái. Như: “Thích Ca Như Lai Song Tích Linh Tướng Ðồ”, “Tứ La-hán Họa Tượng”, “Ðạt-ma Ðộ Giang Họa Tượng”; Mễ Nguyên Chương viết “Ðệ Nhất Sơn”, “Nghi Sơn Họa Trúc” “Càn Long Ngự Thư Bi”. “Sơ Tổ Ðạt-ma Thật Tích Ký”. “Ðường Thái Tông Cáo Võ Hậu Thi Bi”, “Bùi Hoắc Bi” v.v... không luận là ở phương diện Phật giáo hoặc phương diện nghệ thuật chúng đều có giá trị tương đương. Bia của Ðường Thái Tông cao chín thước, rộng bằng nửa chiều cao, đề ngạch rằng: “Thái Tông Văn Hoàng Ðế Ngự Thư”, cuối bia ghi là: “Khai Nguyên Thập Lục Niên Thất Nguyệt Thập Ngũ Nhật Kiến” (Kiến tạo ngày rằm tháng bảy năm Khai Nguyên thứ mười sáu). Thư pháp viết theo thể chữ Lệ phóng túng tự nhiên đẹp đẽ. Những gì trong các bia ở đây rất là quý báu.

Sau cùng, có điện Tỳ-lô gồm năm gian. Vách điện vẽ năm trăm Ứng Chơn và pháp tượng Tổ Bồ-đề-đạt-ma, tương truyền do Ngô Ðạo Tử đời Ðường vẽ. Trên bức vẽõ, mây nước xa thăm thẳm, thần thái sinh động, thực là một tác phẩm kết cấu đẹp. Tăng chúng chùa ấy còn luyện tập việc võ, giỏi kỹ năng quyền kích. Lịch sử cho là Ðường Thái Tông phá giặc Vương Thế Sung đã được nhiều lực lượng tăng binh chùa Thiếu Lâm trợ giúp. Lại, vào đời Minh, một dãi duyên hải đông nam bị Nụy khấu5 làm loạn, tổng chế Hồ Tôn Hiến cũng đã mượn sử dụng tăng binh Thiếu Lâm. Ngày xưa đã cùng với quyền thuật Võ Ðang tranh đoạt danh tiếng trong nước, xưng là “Thiếu Lâm Phái”. Những tác giả tiểu thuyết võ hiệp cũng thỉnh thoảng múa diệu bút làm phát sinh ra tinh hoa của phái ấy, cực lực làm thấm đượm lan truyền phái võ ấy. Ngày nay trên đất Phật điện còn bảo tồn dấu chân đạp khi diễn tập quyền kích nên sự thâm hậu thuần thục của công phu ấy có thể thấy ở đây vậy. Những kẻ bài bác Phật đôi lúc cho rằng, tư tưởng Phật giáo bi quan, tiêu cực, yếm thế... Thử nghĩ, ở hai đời Ðường, Minh tăng chúng Thiếu Lâm cầm mác vung quyền mà hộ vệ xã tắc mà gọi là “tiêu cực” “yếm thế” ư?

Trên vách mái vũ phía đông có vẽ “Quyền kích đồ tượng”, những tư thế sở hữu đều có đủ hết, nhưng đó mới là “lam bản ” (bản gốc) của quyền kích sơ học vậy.

Từng đọc “Danh Họa Ký” của Trương Ngạn Viễn đời Ðường chép rằng: “Ngài Tăng-già Phật-đà6  ở chùa Thiếu Lâm, đến nay họa thần còn trên cửa phòng tức là dấu tích Tăng-già Phật-đà”. Ngày nay tìm khắp các cửa phòng đều mù tịt chẳng tìm được, hỏi các vị tăng trong chùa, cuối cùng cũng không ai biết. Danh họa chìm mất làm cho kẻ này than thở ân hận hồi lâu! Lại sách của Mai Tung nói rằng: “Sau Tàng Kinh các chùa Thiếu Lâm có một gốc hòe cổ, tương truyền được trồng vào thời Tần và được phong hàm Ngũ phẩm. Thơ của Văn Ngạn Bác đời Tống có câu: “Ngũ phẩm phong hòe kim thượng tại ”. (Cây hòe ngũ phẩm nay còn đó). Du ký của Ðô Mục ghi rằng: Cây hòe Tần cao mười trượng, chu vi hai mươi thước”. Tiếc thay! Cây hòe Tần ngũ phẩm cũng đã thành danh từ trong lịch sử thôi vậy.

Ngôi chùa ấy có thiết lập một sở học hiệu Quốc Dân, học sinh lối hai, ba mươi người, tăng đồ theo học được một phần tư trong số ấy, còn lại đại đa số là con em nông gia vùng phụ cận. Ngày học tập khóa nghiệp, ban đêm luyện tập quyền kích, còn bảo tồn được Tông phong thượng võ của Thiếu Lâm. Giáo sư của trường ấy có hai vị: Một vị họ Ngụy, người huyện Yển Sư. Một vị họ Ðịch, người huyện Lâm Nhữ, đều là những người đôn hậu trung thành, có lễ nghĩa hoàn hảo.

Ðến pháp đường, thừa lệnh tri khách tăng Vĩnh Quý chuẩn bị trà, dọn cơm, khoản đãi rất ân cần. Vị tăng hơn hai mươi tuổi, tính tình khóat đạt ngay thẳng, trước có năm ở Hạ Môn, khá tinh thông Thiền lý và am tường việc học tân thời, là một thanh niên mới vậy.

Sau khi ăn trưa, nhờ tăng Vĩnh Qúy và ông Ðịch làm người dẫn đường đi xem Sơ Tổ am. Sơ Tổ tức là tổ Bồ-đề-đạt-ma, người đảo Tích Lan, nam Ấn Ðộ, vào thời Lương Võ Ðế bắt đầu vào Trung Quốc. Ðầu tiên ngài đến Quảng Ðông, tiếp theo đến Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Ngài vì Lương Võ Ðế đàm luận Thánh Ðế Ðệ Nhất Nghĩa, nhà vua chẳng ngộ, biết cơ duyên không khế hợp, ngài mới đi lên bắc đến Ngụy, dừng bóng (ý nói ở lại) trong hang đá núi Ngũ Nhũ của chùa Thiếu Lâm, diện bích chín năm. Sau khi chứng đạo, ngài làm Tổ của Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc. Cho nên gọi là “Sơ Tổ”. Tăng đồ đời sau ngưỡng mộ đạo của ngài mới xây dựng am để kỷ niệm.

Am cách chùa hai dặm về phía tây bắc, qua khỏi đài Cam Lộ trèo lên gò cao mà đi về phía tây, xuống khe rồi lên trở lại là đến nơi. Am dựa vào chân núi mà xây dựng, cây rừng che kín, phong cảnh thanh tịnh tuyệt vời. Tiếc cho điện vũ đã nghiêng đổ, tường lở ngói hư, mắt chẳng nỡ nhìn vậy. Trước sân có một gốc bách chính tây Lục Tổ trồng, tương truyền là người đem từ Quảng Ðông đến. Thân cây bách chừng ba người ôm, cành lá như xưa, xanh biếc đáng yêu. Ðộng diện bích của Tổ Ðạt-ma ở trên Ngũ Nhũ phong, cách am còn xa. Am Nhị Tổ ở chân núi phía bắc Thiếu Thất đều theo lối núi mòn mà lên nên dừng lại mà không đến. Vả lại trời mưa lâm râm. giá lạnh quá sức nên vội vàng đi quan sát một lượt vườn tháp, rồi theo đường cũ trở về chùa. Nhìn trở lại, hơi mây bốc lên, màu núi mênh mông, các ngọn núi phía tây nam như ở trong sương mù, nghiễm nhiên trở thành bức tranh thủy mặc vậy.

Trời chiều mưa tạnh. Ðêm ở trong sân xem Sa-di và các học sinh biểu diễn quyền kích, múa đao đánh gậy (bổng), đều phấn chấn tinh thần. Bất đồ hôm nay tôi còn được ở đây đích thân xem tông phong võ thuật hơn ngàn năm của Thiếu Lâm, cũng gọi là may mắn lắm vậy!.

Xem xong, trở về ngồi ở pháp đường cùng với hai ông Ðịch và Ngụy chuyện vãng một lúc, rồi cởi áo đi ngủ. Nhớ bài ký của Phan Lỗi “Nghỉ đêm chùa Thiếu Lâm”, viết rằng: “Núi sâu nhà rộng, nắng nhiều mà trọn ngày mát mẻ. Cổ bách hơn hai trăm cây, thân vươn cao tròn ngay thẳng, dáng chẳng chút ủy mị. Sân vắng sáng ngần, trăng vẽ bóng cổ bách dọc ngang như rau hạnh, rong tảo. Cây Bồ-đề chẳng gặp lúc ra hoa thì vươn cao (lăng tiêu ) bám rễ nhiều bên cây bách, thắm hồng khả ái”. Tình này cảnh đây như thơ như họa, tiếc rằng ta không có duyên một lần nhìn thấy cảnh tượng danh thắng mà chỉ có tinh thần lĩnh hội thôi.

                       

II. CHÙA HỘI THIỆN.

Vừa du Ngoạn chùa Thiếu Lâm xong lại tiện đường xe, tôi đến chiêm ngưỡng lễ bái chùa Hội Thiện. Chùa cách chùa Thiếu Lâm mười lăm dặm về phía đông, ở bên dưới ngọn Tích Thúy phía tây nam núi Tung Sơn, nguyên là ly cung (cung điện ngoại thành) của Hiếu Văn Ðế nhà Ngụy. Nhà Ngụy mất, chùa đổi tên là Trừng Giác Thiền Sư Tinh Xá. Thời Khai Hoàng nhà Tùy chùa mới được ban tên như ngày nay.

Từ miếu Quan Ðế phía nam nhà nghỉ ngoại thành theo con đường nhỏ rẽ về phía Ðông mà đi. Vượt qua hai con đường bằng phẳng và quanh co (không thẳng) dưới chân núi Tung Sơn, thấy bên đường có một tòa tháp của Ðại Ðức Tịnh Tạng Thiền sư. Tháp bảy tầâng cao chừng hai trượng, tiếc là đã bị tàn phá chẳng chịu nỗi. Ðến đây thì còn chừng ba dặm nữa là đến chùa Hội Thiện. Vòng quanh ngôi chùa trồng hơn một ngàn gốc bách cổ thụ, xanh tươi bát ngát, ngăn ánh mặt trời, chen lên với trời xanh. Bên ngoài sơn môn, có cây ngân hạnh lâu đời, tư thái rất lớn.

Vào cửa góc bên trái, tiến về phía trước thì ngay trước mặt là Ðại Hùng Bảo Ðiện, phía trái trước điện có nhà bia đặt tấm bia “Càn Long Ngự Bi”. Bia cao hơn một trượng, trên khắc bài thơ ngự chế, thể chữ đẹp đẽ khả ái. Bên phải điện có một cái chuông đồng đúc vào niên hiệu Thành Hóa đời Minh và một tòa tháp Ba-la-mật-đa Tâm Kinh. Ngôi tháp xây bằng đá, hình lục lăng (sáu cạnh), chữ khắc mạnh mẽ khéo léo đẹp đẽ. Ngôi điện và hai mái vũ đều bị chiếm mượn làm trường trung học Thiểm Châu, đại điện là nhà ngủ, hai mái vũ là phòng học, thấy giáo và học sinh có đến vài trăm người, hằng ngày giảng dạy, học hành bàn luận, đàn hát không ngơi nghỉ, vả có phong cách còn sót lại của con nai trắng dưới chân núi Nhạc vậy!

Tiến tới nữa là Phật điện chính giữa. Dưới thềm có con suối trong leo lẻo, nước chảy róc rách, nghe như tiếng đàn thanh mảnh. Phía sau là điện Tỳ-lô, rường cột nghiêng đổ, không người sửa sang. Du Trung Nhạc Ký của Phan Lỗi ghi rằng: “Chùa Hội Thiện ở thời Ðường cũng là cảnh tối thắng, những vị chủ tọa (pháp tịch) phần nhiều được ghi chép trong Truyền Ðăng. An Quốc Sư7, Phá Táo Ðọa8, những chuyện ấy rất nổi tiếng vậy. Nay thì cháu của Phù Thạch Thiền sư là Phu Ẩn chủ trì ở đó. Một ngọn đèn cứu tế tông phái treo cô quạnh ở đây! Tăng nhân phương bắc chẳng quen khấu đầu tham vấn! Chưa ra khỏi mà trước pháp đường cỏ mọc dày hơn một trượng vậy!”. Ðọc đoạn văn này tôi càng thêm không kềm chế được xúc cảm về cảnh vật xưa và nay vậy! Bên ngoài chùa có những bia chùa Tung Dương đời Ngụy, bia Giới đàn đời Ðường và bia ghi về tháp của Cảnh Hiền Thiền Sư. Chúng đều là những tác phẩm khắc đá quý báu rất nổi tiếng. Chỉ vì trời chiều, chẳng rảnh rổi xem kỹ, lòng thêm ray rức ân hận.

 

III. CHÙA TUNG DƯƠNG.

Chùa Tung Dương cách năm dặm về phía tây bắc huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam, nhân ở tại phía nam núi Tung Sơn nên gọi là Tung Dương. Ngôi chùa được sáng lập vào thời Bắc Ngụy, đến đời Tùy bị đạo gia (lão giáo) cướp đoạt, đổi tên là Tung Dương quan, đời Tống đổi là Thiên Phong Cung, đến đời Tùy bị phế hủy hết. Khoảng năm Gia Tĩnh, huyện lệnh Ðăng Phong mới lấy di chỉ Thiên Phong Cung xây dựng làm thư viện, rồi lại liền bị phế hủy. Ðến cuối đời Thanh tri sự huyện Ðăng Phong là Diệp Tỉnh Thúc mới tu sửa lại mà gọi là “Tung Dương Thư Viện”. Nối theo lại có Kinh Cảnh Dật Am tiên sinh đề xướng dẫn đường xây dựng thêm nhà cửa cho thư viện, đồng thời chuyển giao hết gia sản ruộng đất của mình, tập họp những kẻ sĩ có chí đối với việc học hành, cung cấp cho ăn ở mà mở mang dẫn dắt họ. Ở nhà thì ông đích thân làm Thầy, ra đi thì mời danh sư chủ trì việc ấy. Quy điều thì phỏng theo Lộc Ðộng9 đào tạo được nhiều văn tài giỏi. Ngôi chùa từ thời Ngụy đến, thời Thanh chẳng chỉ thường trải qua hưng phế mà lại còn bị Tam Giáo Thích, Ðạo, Nho luôn thay đổi làm chủ ngôi chùa ấy. Ðáng gọi là “trải đủ tang thương” đó vậy!

Lưng chùa tựa núi Tung, mặt nhìn ra sông Dĩnh, hình thế thiên nhiên. Biển ngạch sơn môn viết bốn chữ lớn “Tung Dương Thư Viện”. Phía tây bên trong cửa có hai gốc cây bách, đời Hán được phong là tướng quân, cây lớn bảy người ôm, cây nhỏ năm người ôm. Bên dưới họp lại, bên trên rẽ ra, cuộn khúc vương cao, chúng đều là sản vật đời Chu, Tần. Tiếc là cây bách tướng quân lớn bị gió xô gãy hết một nửa, khiến cho người nhìn không khỏi cảm thấy “tuổi già ngắn ngủi”.

Bách tướng quân nguyên có ba gốc, nhưng cây tướng quân thứ ba, vào cuối đời Minh đã bị lửa cháy rụi không còn nữa. Ðem cổ thụ vài ngàn năm so với thọ mạng con người thì chắc chắn có thể gọi là dài, nhưng nếu đem so với thọ mạng của vũ trụ thì thật chẳng bằng một cái chớp mắt vậy! Ở giữa có “quá sảnh” ba gian, biển ngạch đề rằng: “Cơ Dĩnh Văn Ðàn”. Phía sau sảnh bên trái có một đạo bia Càn Long Hoàng Ðế Ngự Thi. Bia cao một trượng năm thước, rộng bốn thước, dựng trong một ngôi đình che bia. Có câu thơ trào phúng (cảnh cú ) rằng: “Khoe khoang diệu dược cầu phương sĩ, sao giống thanh nga nuôi tuấn anh”. Ðất đai sông suối Tần Hoàng, Hán Vũ có linh thiêng, chưa biết lòng ta cảm xúc gì?

Phía sau có giảng đường ba gian, sau nữa là Tàng Thư Lâu (lầu kinh sách), đều là những kiến trúc lâu năm không tu sửa nên bị tàn phá quá lắm. Lệch về phía tây dưới hành lang của Viện có ba cây bách tướng quân khắc đá. Tranh vẽ đã đẹp mà chạm trổ cũng tinh. Bên phải, trước sơn môn có “Ðại Ðường Tung Dương Quan Thánh Ðức Cảm Ứng Tụng Bi”. Bia cao một trượng năm thước, rộng năm thước hai tấc, dày hai thước năm tấc. Ðầu bia và tòa đều rộng hơn một trượng. Ðầu khắc hình trạng “Nhị Long Hệ Thù” (hai rồng giao nhau). Tòa chạm trổ mây rồng người vật. Công nghệ rất tinh mỹ, rất nhiều giá trị nghệ thuật. Bia lập vào ngày mùng năm tháng hai năm Thiên Bảo thứ ba, Lý Lâm Phủ soạn văn, Từ Hạo viết chữ theo phép chữ Lệ mạnh mẽ đẹp đẽ. Ðây quả thực là bản khắc quí báu chẳng thể có được nhiều trong những tấm bia danh tiếng của Trung Quốc. Nhưng tiếc là bị phơi bày nơi hoang dã, mưa đục gió bào không có người để ý bảo hộ vậy.

                                               

IV.- CHÙA NGỌA LONG

Chùa Ngọa Long ở tại phía nam lầu Tứ Bài, phía đông rừng cây Bách bên trong thành Tây An. Ðiện vũ hoàn chỉnh, Phật tượng trang nghiêm, là ngôi chùa đứng đầu các tòng lâm trong thành Tây An. Xem xét bi ký trùng tu chùa Ngọa Long, năm Ðồng Trị thứ bảy, rằng: “Ngôi chùa sáng lập từ đời Hán Linh Ðế, tên cũ là Phước Ứng Thiền Viện. Vì Ngô Ðạo tử đời Ðường vẽ Thánh tượng Quan Âm nên liền đổi tên là Quan Âm Viện. Ðầu đời Tống có vị Thiền sư pháp hiệu là Ngọa Long, Vua Thái Tổ thường lâm hạnh đến chùa này, cùng ngài đàm luận Phật pháp, cơ duyên khế hợp nhau. Do những dấu hiệu trước như vậy nên lại đổi tên là Chùa Ngọc Long”. Thời Hồng Võ đời Minh trùng tu, vua Anh Tông sắc ban cho Tạng Kinh. Bên trong chùa có tám cảnh: Một là Yêu Tiền Thạch, hai là Khai Hoa Bi, Ba là Thái Cực Ðồ, bốn là Phật Cước Bi, năm là Lưu Ly Tỉnh (giếng), sáu là Ðằng Tử Phật, bảy là Hoạt Vi Ðà, tám là Ngũ Nhãn Tỉnh (giếng). Từ khi Lãng Chiếu pháp sư tiếp nhận chủ pháp tịch đến nay, mỗi ngày giảng kinh nói pháp, tông phong càng chấn hưng hơn, tăng chúng hơn năm mươi người, biết chuộng giữ gìn thanh quy, khéo chuyển bánh xe pháp.

                                                                       

V. CHÙA BẢO KHÁNH.

Chùa Bảo Khánh có một tên khác là chùa Hoa Tháp ở tại đường Thư Viện Môn bên trong thành Tây An. Nền chùa bị trường tiểu học chiếm lấy. “Quang Trung Thắng Tích Ðồ Chí” của Tất Nguyên ghi rằng: “Chùa Bảo Khánh ở tại phường An Nhơn bên trong thành, một tên gọi khác là chùa Hoa Tháp, xây dựng đầu tiên vào niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy. Tùy Văn Ðế, Ðường Trung Tông thường đến đây. Vua Văn Tông thấy tượng Cáp Lị Quan Âm10, cho xây dựng tháp ngũ sắc. Vào thời Ngũ Ðại, điện vũ bị binh lửa thiêu cháy, duy chỉ tháp là còn, niên hiệu Cảnh Thái nhà Minh tu sửa”. Sách lại nói rằng: “Xem xét cẩn thận thì tháp được trùng tu thời Võ Hậu. Nay có, vào năm Trường An (niên hiệu Võ Hậu) thứ ba, Ðào Nguyên Chi, Vương Tuyền, Cao Ðình Quí, Lý Thừa Tự, Vi Quân, Tiêu Nguyên Xuân, Lương Nghĩa Thâm, Ðào Nguyên Cảnh v.v... tạo tượng, khắc lời minh ở trên tháp, liêu (nhà tăng ở), tường thành” (tường thành thấp vây quanh chùa). Ngày nay bên trong chùa không có trụ trì, tăng chúng, chỉ có một tòa Hoa Tháp. Tháp có bảy cấp, sáu mặt, cao ước chừng ba trượng năm thước. Cấp thứ hai khắc tượng đức Như Lai nói pháp, không tinh xảo lắm. Việc tạo tượng khắc lời minh mà họ tất đã thấy, tôi tìm khắp mà chẳng thể được, hỏi người chủ sự của trường học thì ông ta bảo, thuở trước có nhiều pho tượng đá đời Ðường, nhưng sớm đã bị kẻ gian trộm bán. Ý cho tượng này như được khắc đời Ðường thì nhất định là sản phẩm tạo ra của Ðào Nguyên Chi v.v... không có gì nghi ngờ vậy.

           

VI. CHÙA KHAI NGUYÊN

Chùa Khai Nguyên ở phía đông đại lộ Chung Lâu, phía đông bên trong thành Tây An, tương truyền được sáng lập thời Khai Nguyên nhà Ðường. Biển ngạch trên đầu cửa đề bốn chữ: “Cổ Khai Nguyên Tự”. Nay chùa đã bị phế hủy nhiều, chỉ riêng còn lại Tàng Kinh Các. Vả lại đã bị phân sở cảnh sát chiếm cứ. Quanh chùa đều là hoa viện, kỹ quán, kẻ vãng du cũng đều là lũ “chương đài tẩu mã” (hạng người vô dụng). So với thời hưng thịnh Lý - Ðường thì thật không kềm chế được cảm xúc xưa nay vậy! Xem xét Ðường Hội Yến ghi rằng: “Ngày hai mươi chín tháng chín năm đầu niên hiệu Thiên Thọ, hai kinh và các châu thiên hạ đều đặt ra một ngôi Ðại Vân Tự. Ðến ngày một tháng sáu năm Khai Nguyên thứ hai mươi sáu đều đổi là Khai Nguyên Tự”. Từ đó mà quan sát thì chùa Khai Nguyên quả thật là chùa Ðại Vân đã thay đổi kiến trúc. Lại, xem xét việc bố trí chùa Ðại Vân, nhân vì Võ Hậu yêu mến ông Tăng Hoài Nghĩa11 đã tiến dâng kinh Ðại Vân ứng lời sấm nữ làm chủ nên mới lệnh cho toàn quốc các châu đều bố trí tên chùa ấy vậy.

           

VII. CHÙA VÕNG CỰC

Chùa Võng Cực ở tại bên trong cửa đông thành Tây An. Nay, chùa mái đã nghiêng đổ, chỉ còn lại sơn môn và đại điện mà thôi. Ngôi chùa do công chúa Thái Bình vì Võ Hậu mà kiến tạo. Ðến khoảng năm Khai Nguyên chùa đổi tên là Hưng Ðường Tự. Xét Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Hưng Ðường ở tại phường Ðại Ninh. Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Thần Long, sắc bảo công chúa Thái Bình vì Võ Hậu lập làm chùa Võng Cực. Ngày mùng bảy tháng sáu đổi là Hưng Ðường Tự”. Xem xét phường Ðại Ninh thì hiện nay ở tại vùng đất phía đông bắc bên ngoài cửa Trường Lạc thành Tây An. Ngôi chùa hiện nay là nền xưa của chùa Võng Cực đời Ðường không có nghi vấn gì nữa. Sau đại điện có một pho tượng Phật khắc đá đời Ðường, gió bào mưa đục lâu năm, hư hại thật đáng tiếc.

 

VIII. ÐẠI TIẾN PHƯỚC TỰ

Chùa Ðại Tiến Phước ở tại vùng đất phía nam thành Tây An, cũng là một ngôi danh sát đời Ðường. Căn cứ lời của sách Ðường Hội Yếu nói rằng: “Ngôi chùa ở tại một nửa phường Khai Hóa về phía đông, tại nhà cũ vùng ven của Tùy Dượng Ðế. Trong năm Võ Ðức ban cho Thượng Thư Hữu Bộc Xạ Tiêu Vũ làm vườn. Sau con của Vũ là Duệ Thượng Tương Thành công chúa chẳng muốn sống xa cô mình, liền lấy đất sau vườn cất nhà ở. Sau khi công chúa mất, quan thị làm nhà của Anh Vương. Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Văn Minh, ban sắc vì Cao Tông lập làm chùa Hiến Phước. Ðến tháng mười một năm thứ sáu, vua ban cho biển ngạch là Tiến Phước Tự”. Lời chú của điều phường Khai Hóa trong sách Trường An Chí của Thứ Ðạo đời Tống ghi rằng: “Năm đầu niên hiệu Văn Minh, sau khi vua Cao Tông băng một trăm ngày thì lập làm chùa Ðại Hiến Phước, độ tăng hai trăm người thật sự đó. Năm đầu niên hiệu Thiên Thọ đổi là Tiến Phước Tự. Vua Trung Tôn lên ngôi, cho xây dựng trang trí thêm rất lớn. Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, việc phiên dịch Kinh Phật đều diễn ra ở đây12. Viện ở phía đông chùa có ao phóng sinh, chu vi hơn hai trăm bộ, tương truyền rằng, tức là ao nước lớn đời Hán (Hồng Trì Pha). Cơ sở chùa vuông, rộng hơn một trăm mẫu, chung quanh bao vây bằng tường đất. Ngày nay còn có vài lớp điện vũ mà qui chế đã chẳng phải là cảnh quan xưa. Sau điện có một tòa tháp gạch mười lăm cấp, cao hơn ba trăm thước, được kiến lập trong niên hiệu Cảnh Long do cung nhân xuất tiền ra. Ngày nay quen gọi là Tểu Nhạn Tháp. Về các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều có sửa sang. Trong chùa còn có một cái chuông lớn, đúc năm Nhâm Tý nhằm năm Minh Xương thứ tư nhà Kim. Việc này trên Trường An Chí đã chép rằng: “Có cái chuông tìm ra được ở bờ sông Võ Công. Có người đàn bà giặt đồ ngồi trên phiến đá giặt quần áo, bỗng nghe tiếng từ đá phát ra, vang xa vài dặm, rồi mọi người (sĩ nhân) phát hiện ra cái chuông lớn đó, liền mang về để trong chùa đó vậy”. Chùa ấy ngày nay chỉ còn hai người ở giữ, buộc họ ở trong một gian tiểu thất. Nghi thức thờ cúng (hương hỏa) sơ sài, kinh kệ (phạm bối) vắng lặng. Tưởng tượng thời bấy giờ công việc phiên dịch Kinh Phật hưng thịnh với vài trăm tăng sĩ thì lòng chẳng kềm chế được niềm cảm khái vậy!

 

IX. CHÙA ÐẠI HƯNG THIỆN

Chùa Ðại Hưng Thiện cách ba dặm về phía nam chùa Ðại Tiến Phước, tức là sách Hàm Ninh Chí gọi: “Ở tại năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh” ấy vậy. Xem xét thời Ðường thì Chùa Ðại Hưng Thiện ở tại trong phường Tĩnh Thiện bên trong quách thành ngoài Trường An. Diện tích ngôi chùa ấy chiếm vừa hết đất của một phường. Ngày nay ngôi chùa ở dưới một cánh đồng nhỏ, chiều dọc nam bắc chừng nửa dặm, chiều rộng đông, tây chẳng quá một trăm bộ. Xem ra ngày xưa, diện tích một phường thì sai biệt nhau nhiều!

Tên đầu tiên của ngôi chùa ấy là Tuân Thiện Tự, cũng tên là Xá Vệ Tự. Chùa sáng lập từ đầu đời Tấn, hưng thịnh ở đời Tùy đời Ðường. Chùa phỏng theo qui chế kiến trúc điện Chuyển Luân Tạng Kinh của Tây Trúc, thời Vạn Lịch đời Minh đã từng được sắc ban Tạng Kinh. Năm Khang Hy thứ bốn mươi lăm đời Thanh, chùa được trùng tu. Năm Ung Chính thứ mười ba Tân Tạng Kinh hoàn thành, chùa lại được ban cho. Sau ấy năm Giáp thìn, niên hiệu Càn Long chùa lại được Kinh Thiểm Phủ là Tất Nguyên trùng tu. Ðến khoảng năm Ðồng Trị gặp phải cảnh loạn lạc, ngôi chùa chịu sự đốt phá của loạn binh, đã giao một nửa cho đống tro tàn. Qua sự quyên góp của cải của ngài trụ trì Ngộ Liên v.v... ngôi chùa được trùng tu nên mới phục hồi đôi chút cảnh quan thuở trước. Xem xét sách Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ của Phí Trường Phòng ghi rằng: “Thành gọi là Ðại Hưng thành, điện gọi là Ðại Hưng điện, cửa gọi là Ðại Hưng môn, huyện gọi là Ðại Hưng huyện, vườn gọi là Ðại Hưng viên, chùa gọi là Ðại Hưng Thiện13. Từ hóa của Tam Bảo từ sự đại hưng đó, phong cách nhân từ của muôn nước nhờ sự “đại hưng” ấy mà xiển dương trở lại”. Ngày nay người ta đều tỉnh lược chữ “Ðại” mà gọi giản dị là “Hưng Thiện” thì mất đi ý nghĩa của mệnh danh vậy!

Biển ngạch của chùa đề rằng “Ðại Hưng Thiện Tự”. Bên trong cửa, phía trái phía phải là lầu chuông lầu trống. Chính giữa là đại điện mới tu sửa với diềm mái cất bay lên, cột vẽ màu, vàng ngọc sáng ngời. Chính giữa điện thờ pháp tượng đức Thích Tôn, thân vàng một trượng sáu, rất là trang nghiêm. Vách sau điện có khắc bài thơ “Khang Nam Hải Du Hưng Thiện Tự”, chữ hùng mạnh đáng xem. Ngoài ra còn có “Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ” của Hòa Thượng Mãn Ðức khắc năm Thiên Thuận thứ tư đời nhà Minh cũng có giá trị lắm, giữa là điện Phật. Trước điện có bia ghi việc trùng tu chùa Ðại Hưng Thiện vào năm Khang Hy thứ mười lăm. Sau nữa là pháp đường, phương trượng và liêu xá. Trước sân hoa cỏ cây cối bố trí thanh nhã thích hợp với mọi người. Tăng lữ hơn mươi người, ăn rau mặc áo vải, tu trì nghiêm cẩn. Tông Phong Mật Giáo nhờ đó mà chẳng đồi trụy.

Chùa Ðại Hưng Thiện ở đời Ðường là đạo tràng của Mật Tông. Thời Khai Nguyên ba vị đại sư Kim Cương, Trí Bất Không, Vô Úy trước thường dừng tích trượng (ý nói đến ở) nghỉ ở đây. Xem xét sách “Trường An Cổ Sát Ðề Yếu” của Tịch Viên cư sĩ có ghi rằng: “Ngôi chùa ở tại chỗ năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh thành Tây An, phía đông nam cách chùa Ðại Từ Ân ba dặm, ngài Xà-la-cấp-đa14 đã từng dịch Kinh trong chùa ấy, chiếu triệu thỉnh tới hai mươi vạn tăng đồ. Sự hưng thịnh của việc đề xướng chiêu nạp đứng hàng đầu ở trong nước”. Số chúng tăng lữ thời bấy giờ quả thật làm người nghe phải giật mình vậy!

 

X. CHÙA ÐẠI TỪ ÂN

Chùa Ðại Từ Ân cách chùa Ðại Hưng Thiện ba dặm về phía đông nam, cách thành Tây An mười dặm về phía nam, cùng với Thái Bình bảo liên tiếp nhau. Tuy ngày xưa không nhiều trùng lâu, phức điện gác mây, phòng rộng nhưng ngày nay trụ, mái chùa hoằng tráng, Phù-đồ nguy nga, vẫn chẳng mất đi vị trí đứng đầu các chùa của thành Tây An. Ðối diện thẳng sơn môn có Thạch kiều (cầu bằng đá), tên đầu tiên là Ngộ tiên kiều (cầu gặp tiên), sau đổi là Từ hàng kiều (cầu thuyền từ). Ðồng thời có Ðóa Tích (?), phía đông thông với dòng Khúc Giang tức là Hoàng Ðóa (?) của ngày xưa vậy. Biển ngạch của sơn môn đề rằng: “Ðại Từ Ân Tự”. Bên trong có điện Kim Cương, lầu chuông lầu trống và các điện Quan Âm, Già Lam, Tổ Sư, Di Lặc, Ðại Hùng, Dược Vương. Sau điện Di Lặc lập rừng đá bia. Ðó là đá khắc tiến sĩ đề danh của đời Minh trở lại và công việc trùng tu tự vũ. Sau điện Ðại Hùng là tháp Ðại Nhạn rất nổi tiếng. Tháp hình vuông có bảy cấp, nền cao hơn một trượng, tầng nền có bốn cửa, bậc cửa có khắc đá đời Ðường, phần nhiều bị người đề danh đục đẽo, rất là đáng tiếc!

Nguyên do của danh xưng chùa Từ Ân thì xem xét sách Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Từ Ân xây trên phế tích của chùa Vô Lậu đời Tùy tại phường Tấn Xương. Ngày hai mươi tháng mười hai năm Trinh Quán thứ hai mươi hai, vua Cao Tông ở tại Xuân Cung vì Văn Ðức hoàng hậu lập làm chùa nên lấy Từ Ân làm tên”. Chùa Từ Ân tại thời Ðường qui mô rất lớn, không đâu có thể sánh bằng. Tam Tạng pháp sư (chỉ ngài Huyền Trang) từ Ấn Ðộ thỉnh Kinh về lại đã từng dừng tích trượng ở chùa này. Xem xét sách Trường An Chí có ghi rằng: “Một nửa phường Tấn Dương về phía đông là chùa Ðại Từ Ân. Tây viện của chùa là Phù-đồ sáu cấp, cao ba trăm thước. Toàn chùa có hơn mười viện, độ tăng ba trăm, do ngài Huyền Trang làm Thượng tọa. Sự hưng thịnh của ngôi Phạm sát không đâu bằng”. Lại sách Tự Tháp Ký của Ðoạn Thành Thức ghi rằng: “Chùa Từ Ân, ngôi chùa vốn là ngôi Già Lam cũ Tịnh Giác, nhân đó mà xây dựng lên vậy! Thường có hơn mười viện, gồm hơn một ngàn tám trăm bảy mươi gian, vua sắc chỉ cho độ ba trăm vị tăng. Ðầu tiên, ngài Tam Tạng từ Tây Vực trở về, vua xuống chiếu sai Thái Thường Khanh Giang Hạ là Vương Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc nghênh đón kinh tượng vào chùa. Xe trang trí lụa là có hơn ngàn cỗ, vua ngự trên An Phước môn quan sát”. Lại sách Huyền Trang Truyện chép rằng:“Vua Cao Tông tại cung, vì Văn Ðức thái hậu tìm phước mà tạo chùa Từ Ân và Viện phiên dịch Kinh. Bên trong cung xuất ra phan phướng lớn, lệnh cho chín bộ nhạc và tràng phan, bảo cái của các chùa trong kinh thành, mọi thứ khéo đẹp đưa ngài Huyền Trang và các vị Cao Tăng đã phiên dịch Kinh tượng v.v... vào chùa Từ Ân”. Xem xét phường Tấn Xương thì phường ở đường thứ nhất phía đông hoàng thành, đông - tây đều một trăm năm mươi bộ mà chùa Từ Ân chiếm đất một nửa phường thì có thể biết sự to lớn của diện tích ngôi chùa ấy! Tháp của chùa Từ Ân ngày nay ở tại chính giữa viện, tháp của chùa thời Ðường ở tại tây viện của chánh điện thì biết chùa Từ Ân ngày nay chính là tháp viện của chùa xưa ấy, chẳng phải là nguyên chỉ (nền) của chùa Từ Ân đời Ðường. Ngôi chùa vào khoảng năm Ðồng Trị đời Thanh cũng bị binh loạn đốt cháy phá hủy thì rõ ràng ngôi chùa hiện nay chẳng phải là chùa xưa vậy!.

Tháp Ðại Nhạn là do ngài Huyền Trang pháp sư sáng lập năm Vĩnh Huy thứ ba đời Ðường. Nền móng có bốn mặt đều một trăm bốn mươi thước, cao một trăm tám mươi thước. Ngoài xây gạch, trong ruột bằng đất, mô phỏng theo qui chế Tốt-đổ-ba (tháp) của Ấn Ðộ, dùng để an trí Kinh, tượng của Tây Vực. Trung tâm của mỗi tầøng đều chôn cất Xá-lợi. Tầng trên lấy đá làm buồng, mặt nam có hai tấm bia, ghi chép “Tam Tạng Thánh Giáo Tự Ký” của hai vị Thánh (Chỉ Thái Tông và Cao Tông nhà Ðường). Viết chữ cho hai bia ấy là bút pháp của Hà Nam Công Chữ Toại Lương. Ngôi tháp đầu tiên chỉ có năm tầng, về sau trong lòng tháp cây cỏ mọc đâm ra làm cho nghiêng đổ dần. Ở trong những năm Trường An, Võ Hậu và Vương Công cho tiền xây dựng lại gia thêm mười tầng theo phương thức xây dựng tháp chùa của Ðông Hạ (Trung Quốc), đặc biệt cao hơn trước. Tháp còn lại từ sau cuộc binh lửa của An Sử (An Sơn Lộc) chỉ có bảy tầng. Trong năm Trường Hưng, Tây Kinh Lưu Thủ là An Trọng Bá tu sửa một lần nữa. Phán quan Vương Nhân Dụ vì việc này viết bài ký. Tháp Nhạn hiện nay tức là di chế của thời sửa sang ấy vậy. Về mệnh danh của Nhạn Tháp thì xét sách Chí Lâm có ghi rằng: “Chùa Từ Ân đời Ðường, có con nhạn bay đến sân, tăng chúng bắt được đem nấu ăn, một vị lão tăng nói rằng: “Ðây là vua Nhạn vậy”. Nhân đem chôn xác Nhạn rồi xây tháp lên trên, gọi là “Nhạn Tháp”. Xem xét Tam Tạng pháp sư truyện thì cũng có nói việc đó.

Việc Nhạn Tháp Ðề Danh của Chùa Từ Ân bắt đầu ở những vị Tiến sĩ đời Ðường. Xét sách Thiểm Tây Thông Chí ghi chép bài Từ Ân Nhạn Tháp Ðề Danh Tự của Phàn Sát đời Tống, nói rằng: “Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, những Tiến sĩ đăng khoa đều ban cho du lãm trên sông, đề danh dưới tháp Nhạn, từ đó đã trở thành cố sự. Tỉnh lược cho hương thí đề danh Nhạn tháp bắt đầu từ năm Ðinh Mão Chính Ðức đời Minh. Kẻ chép sách Thánh Hiền đời sau ái mộ việc ấy nên tranh mô phỏng nhau. Ðến đời Thanh phong trào ấy cũng chẳng suy giảm nên việc khắc đá đề danh trong viện thì đời Thanh hơn phân nửa trong số ấy vậy!” Việc khắc đá trong chùa Từ Ân hiện nay so ra danh tiếng quí báu hơn thì ngoại trừ hai cái Ðà-la-ni Kinh Tràng ở trước điện được tạo vào năm Hàm Thông thứ tám, còn có “Nhị Thánh Chế Thánh Giáo Tự” do Chữ Toại Lương viết chữ, khắc sâu vào vách phía nam của tháp và việc khắc đá đề danh của Lữ Ðại Phòng, Phạm Thuần Nhân v.v... đời Tống trên bậc ngang cửa phía tây tháp.

Thơ của người xưa ngâm vịnh tháp của Chùa Từ Ân rất nhiều, nay chẳng thể trích lục đầy đủ, chỉ chọn một bài “Ðăng Từ Ân Tự Phù-đồ” của Sầm Tham mà chép ra sau đây để làm phần kết thúc bài viết. Bài thơ ấy là:

Tháp thế như dũng xuất

Cô Cao tủng thiên cung

Ðăng lâm xuất thế giới

Ðặng đạo bàn hư không

Ðột ngột áp Thần Châu

Tranh vanh như quỉ công

Tứ Giác ngại bạch nhật

Thất tằng ma thương khung

Hạ khuy chỉ cao điểu

Phủ thính văn Kinh phong

Liên sơn nhược ba đào

Bôn thấu tự15 triều đông

Thanh hòe Giáp trì đạo

Cung quán hà linh lung

Thu sắc tùng tây lai

Thương nhiên mãn Quan Trung

Ngũ Lăng bắc nguyên thượng

Vạn cổ thanh mông mông

Tịnh lý liễu khả ngộ

Thắng nhân túc sở tông

Thệ tương quải quan khứ

Giác đạo tư vô cùng

Tạm dịch:

Thế tháp như vọt thẳng

Cất cao tận trời xanh

Ði lên ra thế giới

Ðường bậc lượn vào không  

Ðột ngột áp Thần Châu16

Chênh vênh như quỉ công17

Bốn góc cản vầng nhật

Bảy tầng mó trời xanh

Dòm xuống đếm chim liệng

Cúi nghe gió kinh hoàng                    

Núi liền như gợn sóng

Vội họp chầu về đông

Bên đường hòe xanh thắm

Cung quán sao lung linh

Sắc thu từ tây đến

Trời xanh đầy Quan Trung18

Ngũ Lăng19 trên đồng bắc

Vạn cổ xanh mênh mông

Tịnh lý rồi được ngộ

Thắng nhân sớm qui tông

Thề đem treo mũ áo

Giác đạo vốn vô cùng.

 

XI. NAM NGŨ ÐÀI (NÚI NGŨ ÐÀI PHƯƠNG NAM)

Núi phía nam Tây An, xưa gọi là “Chung Nam ” hoặc gọi là “Trung Nam ”, danh xưng núi ấy bất nhất. Tên Chung Nam thấy ở sách Thượng Thơ Thiên Vũ Cống “Chung Nam đôn vật đến từ Ô Thử”. Lại thấy ở Mao Thi: “Chung Nam có gì? - Có cành nhánh, có cây mai”. Tên Trung Nam thấy ở Thi Mao Thị Truyện sớ giải Tần phong thiên: “Trung Nam núi danh tiếng khắp vùng Chung Nam”. Lại thấy ở Tả Truyện: “Tư Mã Hầu nói rằng: Ðường của Tứ Nhạc (Bốn ngọn núi), nhà lớn Dương Thành thì Kinh Sơn, Trung Nam, Cữu Châu hiểm trở vậy”. Tên Nam Sơn thấy ở Hán Thư bài Thượng Lâm phú trong truyện Tư Mã Tương Như: “Núi Cữu Tông () hiểm trở, Nam Sơn chót vót; thầy xưa chú thích rằng: Nam Sơn là núi Chung Nam vậy”. Lại thấy ở Hán Thư truyện Ðông Phương Sóc: “Ôi! Nam Sơn, nơi hiểm trở của thiên hạ vậy”. Chung Nam cũng tên là Tần Lĩnh. Tây Kinh Ký nói rằng: “Ngọn núi hướng chánh nam Tràng An tên là Tần Lĩnh, phía đông khởi từ Thương Lạc20, phía tây đến tận Khiên Lang21, từ đông sang tây đến tám trăm dặm. Dòng nước từ núi ở phía bắc chảy vào sông Vị , hiệu là Bát Bách Tần Xuyên” đó vậy! Cựu ký ghi rằng: “Chỗ sâu núi Nam cao mà lớn mạnh thì gọi là Tần Lĩnh”. Nhưng mà Chung Nam, Tần Lĩnh vốn là một ngọn núi vậy! Nam Ngũ Ðài là những chi phụ (gò, núi) của Chung Nam, cách phía nam thành Tây An năm mươi dặm. Ngũ Ðài ấy là “Ðại Ðài”, là “Linh Ứng” là “Quan Âm”, là “Văn Thù”, là “Xả Thân”. Rừng khe u mỹ, núi quanh co kỳ tú, cũng là vùng đất danh thắng của miền Tần Trung vậy. Tôi có bệnh đam mê sơn thủy, hâm mộ danh tiếng vùng ấy, muốn mang guốc gỗ vãng du lâu rồi vậy!

Bảy giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng tư năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy, một mình tôi chống gậy ra đi du lãm Nam Ngũ Ðài. Ra khỏi cửa Vĩnh Ninh thành Tây An đến Nam quan, rồi đi xe ngựa theo công lộ về phía nam. Sáng sớm, mặt trời mới mọc, màu xuân hợp với người, lá liễu xanh xanh hướng về khách như cười cợt. Ði qua chùa Ðại Hưng Thiện, trông về phía đông, tháp Ðại Nhạn bốn góc chênh vênh đứng cao sừng sững trong mây, hình trạng Tây Kinh chấm hết ở đây! Mười lăm dặm trèo lên Tháp Pha (địa danh), nhìn trở lại thấy sóng lúa mạch rập rờn theo gió y như biển xanh. Xem xét lời Trường An Chí ghi rằng: “Cánh đồng Thiếu Lăng từ tây bắc cánh đồng Long Ðầu đến phía tây Hàm Ninh - Vi Khúc vào ranh giới huyện là Tháp Pha”. Lại, Trường An Ðồ chép rằng: “Tháp Pha ở tại phía tây Vi Khúc, vì đất ấy có Phù-đồ (tháp) nên có tên đó”. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi Tháp Pha là đến Vi Khúc, tôi liền xuống xe đi ăn uống. Vi Khúc là một hương trấn nhỏ, thời Ðường những người họ Vi đời sống ở đây, nhân đó mà có tên. Thơ Ðỗ Phủ có câu: “Vi Khúc hoa vô lại” tức là chỉ nơi đây. Xét về thời Ðường thì họ Vi, họ Ðỗ được đời xưng là vọng tộc. Chỗ họ Vi ở gọi là Vi Khúc, chỗ họ Ðỗ ở gọi là Ðỗ Khúc. Tân Thị Tam Tần Ký ghi rằng: “Họ Vi họ Ðỗ của Thành Nam cách trời năm thước” là lời cực tả sự cao quí của hai họ ấy vậy. Tôi hỏi thăm về người họ Vi đang ở đây thì người trong thôn phần nhiều là kẻ không có trí, ôi ruộng dâu biến thành biển xanh! Thật đáng ngậm ngùi vậy!

Từ đây theo công lộ dời bước đi về phía nam chừng hai mươi dặm nữa thì đến sông Duệ. Xem ra Duệ Hà cũng tên là Trầm Thủy, nguồn phát xuất từ Miết Cốc (hang ba ba) núi Nam Sơn. Dòng Tây Sơn chảy qua Thân Ðiếm (?), Hạnh Giá Pha (?) rồi rẽ làm hai: Dòng phía bắc là Tạo Thủy, dòng phía tây nam chảy vào sông Giao. Ðọc sử Phương Dư rằng: “Cuối đời Hán, Ngũ hầu họ Vương22, sửa trị lớn ao đầm đã dẫn nước sông Duệ vào thành Trường An. Bá tánh ca ngợi họ rằng: Khơi tháo cao đô, nối liền ngũ Ðỗ. Năm Chí Ðức thứ hai đời Ðường, Quách Tử Nghi đánh bại giặc ở Bạch Cừ, liền từ Tây Vị Kiều tiến đến đóng quân ở sông Duệ”, đều là ở đây cả. Hai bờ của dòng sông, ruộng lúa nước dọc ngang, cỏ thơm cây ngọt, trông xa không bờ bến. Phía đông sông ấy là Hoàng Tử Pha, cũng có công lộ (đường cái quan) thông với Thái Ất cung. Xem ra Hoàng Tử Pha là do ở vùng đất nghiêng (Pha) chôn Hoàng tử đời Tần khởi dựng nhà trên bình nguyên phía bắc nên có tên đó. Vua Văn Ðế đời Tùy đổi tên là Vĩnh An Pha.

Tôi liền từ thạch Kiều qua sông đến Pha Ðiếm, phía tây nam thôn có chùa Hương Tích là ngôi cổ sát đời Ðường, tức điều mà thơ của Vương Duy đã gọi rằng:

Bất tri Hương Tích Tự

Sổ lý nhập vân phong

Cổ mộc vô nhân kính

Thâm sơn hà xứ chung?

Tạm dịch:

Chẳng biết chùa Hương Tích

Vài dặm vào núi mây

Cổ mộc không người viếng   

Núi sâu chuông đâu đây?

(Tuệ Khai dịch)

đó vậy. Qua khỏi thôn đi về phía đông nam chừng hai dặm nữa là đến cách đồng Thần Hòa. Trường An Huyện Chí ghi rằng: “Cánh đồng Thần Hòa từ chân núi phía bắc Thái Ất sơn của Hàm Ninh, theo chiều tây bắc đến Hạnh Giá Pha vào biên giới của huyện, dòng Giao Thủy phát xuất từ phía tây nơi ấy, dòng Duệ Thủy phát xuất từ phía đông nơi ấy, là ranh giới hai dòng sông”. Trên cánh đồng đều là ruộng tốt lúa ngon, hoa lúa mạch thơm ngọt ngào, ruộng thấp, gò cao liên tiếp. Ðời ngợi khen là một vùng trù phú (phong hạo), rằng là “Lục Hải” (biển đất bằng), “Thổ Cao” (chất keo đất) quả thật chẳng hư dối vậy.

Ði mười dặm nữa thì ngay trước mặt là một phường, biển ngạch đề ba chữ vàng lớn “Hoàng Bộ Thôn”. Thôn ấy nguyên tên là Hoàng Phủ Thôn, từ sau khi phân hiệu của Trung Ương quân hiệu được thiết lập ở Nam Sơn mới đổi tên như hiện nay. Lưng thôn dựa vào cánh đồng Thần Hòa, trước mặt thôn là dòng Giao Thủy. Dân phần nhiều ở trong hang đất (Thổ huyệt), có phong cách sống rất xưa vậy. Trước thôn có một ngôi chùa cổ vì được cảnh vệ nghiêm ngặt, nên chưa kịp đến chiêm lễ mà liền đi. Trông về phía tây, bờ ruộng dọc ngang, cây phủ muôn nhà, một khúc quanh nước chảy lăn lăn, thật đáng ngắm xem! Mục đồng dăm ba đứa buộc trâu dưới bóng liễu, ngồi trên cỏ, cười đùa vui vẻ, hình như chẳng biết thế giới đang có chiến tranh binh lửa. Thật chẳng lường được nơi đây còn có một gốc Ðào Nguyên vậy! Dựa theo núi đi về phía đông nam năm dặm nữa là đến Vương Khúc trấn, trấn ở tại bờ đông dòng Giao Thủy, có tiệm phố, bưu cục, bến xe, tiệm sách... nghiểm nhiên là một thị trấn núi, hiện đại hóa vậy. Xét về dòng Giao Thủy thì có một tên là Phước Thủy, nguồn của nó phát xuất từ Trúc Cốc (hang tre) núi Nam Sơn. Hà Cốc (miệng sông) rộng bốn, năm dặm tức là sông vua nghỉ lại đêm đời Hán. Dòng sông là trên đất vườn rừng đời Hán, vua Võ Ðế đã làm ngôi biệt quán ly cung, cấm người du lịch tham quan. Do vua dừng chân nghỉ ở đây nên đặt tên là Ngự Túc. Vào quán trà uống trà, nghỉ ngơi một chút, rồi lại theo công lộ tiến về trước. Trông về phía nam, núi Chung Nam, ngọn núi lạ lùng xanh ngắt, hơi núi lạnh, trời mây xanh biếc, muôn trạng xanh tía, Nam Ngũ Ðài quanh co tầng lớp đẹp đẽ hiện ra uyển chuyển như chuông úp, đỉnh sắp bày la liệt, mây trắng lớp lớp kéo tận vùng núi non xa tít. Nhớ thơ của Vương Ma-cật23:

Bạch Vân hồi vọng hợp

Thanh ái nhập khán vô

Phân dã trung phong đoạn 

Âm tình chúng hác thù...    

Tạm dịch:

Mây trắng trông lại hợp

Trời xanh vào xem không

Chia giữa đồng núi cắt

Âm tạnh hết mọi hang

    (Tuệ Khai dịch)

Quả là cảnh thật vậy.                           

Ði tám dặm nữa thì đến Lưu Thôn, trong thôn có chùa Quảng Huệ và chùa Viên Quang. Ði tiếp hai dặm là đến Trúc Cốc Khẩu, ngồi dưới bóng cây bên sông nghỉ một chút. Hoa dại nở khắp nơi, tiếng chim kêu ríu rít chẳng dứt. Thơ Sầm Tham viết rằng:

Liêu liêu nhân cảnh ngoại

Nhàn tọa thính xuân cầm

    Tạm dịch:

Ngoài cảnh người vắng vẻ

Ngồi nhàn nghe chim xuân.

   (Tuệ Khai dịch)

Chắc là vì ta mà vịnh vậy. Leo lên sườn núi, qua khỏi cái cầu bằng đá là đến chùa Di Ðà, ngôi chùa cũng là một ngôi Cổ Sát đời Ðường, có điện vũ hơn mười gian, qui chế rất rộng. Ðứng ở đây trông về hướng tây nam, ngọn Cô Phong cắm lên trời là Tôn Ðăng đài vậy. Vào chỗ hang thông tựa vào núi nương theo suối mà đi, dòng biếc mênh mang, lòng rung động, buồn lo sạch trơn. Qua khỏi chùa Lưu Thủy Thạch, đi hai dặm nữa thì đến chùa Hưng Bảo Tuyền. Có ba gian gác ngói, băng ngang qua giữa suối, dưới là đường thông qua lại. Từ đây mà lên, núi xoay đường chuyển, tuyệt không có dân cư, đường hoang vắng vẻ chỉ thấy tiều phu mà thôi. Qua Bạch y đường, Ðại Bi đường, Cam Lộ đường đi thêm bốn dặm qua cái cầu đá là đến chùa Trúc Lâm. Ðối diện với Sơn môn là điện Phật nhỏ, bên trong có một pho tượng Kim thân Văn Thù đắp bằng đất, rất nhiều giá trị nghệ thuật. Bên ngoài có ba gốc cổ hòe đều to bằng vài người ôm, ngờ là sản vật đời Ðường. Phía trên bên phải là điện Ngũ Phật, bên phải điện có đường ba ngã tức là đường tắt của Tôn Ðăng đài. Trên Tôn Ðăng đài có một tòa điện vũ như xây dựng ở trên mũi gai táo, mũi kim khâu, tùng bách vòng quanh xinh đẹp đáng yêu. Vườn tháp trong cốc phía đông bắc đài ấy có tháp Xá-lợi của Ấn Quang đại sư, vì đường hoang vu chưa đến chiêm ngưỡng lễ bái được.

Qua Triều Thiên môn là Nhất Thiên môn, kẹp giữa hai mép núi, điện vũ chính là chỗ hõm ấy. Tiếng nước rì rào, vui tai sạch lòng. Lại đi thêm ba dặm là đến chùa Quan Âm. Vào chùa uống nước nghỉ ngơi một chút. Rồi từ đây leo lên, rừng sâu cây rậm, hang tối đá lạ, vào dần cảnh trở nên đẹp. Núi vừa lúc hoa đào nở rộ, sặc sỡ như gấm. Ngước nhìn Ngũ Ðài, tùng xanh sum suê, lầu các rạng ngời, phong cảnh như vẽ, thực chẳng hư dối vậy. Qua khỏi Cổ Loan Bách Thọ, Cổ Thắng Bảo Tuyền, đi ba dặm nữa thì đến Cổ Tây Phương Cảnh, các cửa chùa đều đóng khóa, hình như không người ở. Bên phải điện có một khối đá lớn, đường kính được bốn trượng, cao được tám trượng, bên trên xây một gian đình bằng ngói, một bên đục bậc đá có thể leo lên. Trước cửa có nhiều cây giãi, lá vừa một tấc lá non xanh có thể ăn được. Trên nữa là đường leo lên uốn khúc (quanh co), cứ mười bộ một lần chuyển, hương hoa u thảo quyện theo tay áo người. Qua am Từ Hàng, xuống Bảo Tuyền lại đi thêm ba dặm là đến Viên Quang đường. Trên ấy có một ngọn núi tròn như nắm tay, đứng một mình cao ngất, từ dưới dòm lên như không phụ thuộc vào đâu cả. Ðỉnh xây dựng điện vũ hơn mười gian, cổ thụ ngã rũ xuống, cành lá giao nhau rợp bóng, tràn đầy họa ý (ý vẽ). Bước theo cấp xoay tròn mà lên thì ngay trước mặt một cái cửa mà biển ngạch đề rằng: “Nhị Thiên Môn”, xuyên qua cửa lên nữa, qua chùa Di Phật, cung Nghinh Chân, lại đi hai dặm nữa là đến Ngũ Thánh điện, trên ấy có động Hỏa Long, sâu chỉ vài thước, hẹp chẳng quan sát được. Qua điện Lưu Ly, chùa Thạch Phật, bên đường cũng có một khối đá lớn quí lạ hùng vĩ, chẳng thể theo hình trạng đặt tên. Qua chùa Thiên Phật, Thùy Phật điện, Tam thiên môn, động Lữ Tổ24 rồi đi bốn dặm nữa là đến cung Tam Thánh. Trước cung có bình đài lan can bằng đá vừa ứng hợp với hõm núi, có thể băng vào đây để ngắm nhìn ra xa. Trông trở lại Tôn Ðăng đài thì trao riêng cho gió bên dưới vậy! Lại theo bậc leo lên, bậc đá trơn nhẵn, chuyển rẽ thêm nhiều lần, làm cho người nghẹn thở toát mồ hôi chẳng thôi. Trông về đông, ngọn Linh Ứng, cốt đá cao chót vót, trụ ngọc chống trời, tợ như chẳng thể tới gần vậy. Lại đi nửa dặm là đến Tứ Thiên Môn (còn gọi là Ta La Bình), vào chùa uống vài chén trà cùng với tăng nói chuyện bâng quơ giây lát, liền ra đi.

Rẽ ngang sau lưng đài lớn, chuyển sang hướng đông bắc mà đi, ngay trước mặt những ngọn núi liền nhau nhọn hoắc xanh biếc giống như măng tre mùa xuân. Qua ngọn núi nhỏ là Văn Thù đài, theo cấp mà lên, chỗ đường bậc hết thì nhặt đá xếp làm đường. Thường vài lần rẽ mới đến được đỉnh núi ấy, trên có điện vũ chín gian, bên dưới sơn môn bậc đá cao bỗng dứt tuyệt. Ðứng ở Sơn môn trông về phía bắc, ngọn Linh Ứng, núi lởm chởm cao hàng vạn nhẫn (đơn vị đo lường đời Chu), trơn nhẵn chẳng bám chân. Cúi nhìn hang sâu, tùng cao rậm rạp, tiếng sóng đầy tai. Cái lạ lùng của phong cảnh mà Thanh Thành, Nga Mi không có vậy. Gõ cửa xong thì cửa đã mở, thấy một vị lão tăng đón mời mười phần hợp nhau. Vị tăng tên là Ðại Thừa, người Sơn Ðông, cùng uống trà, nói chuyện một lúc, rồi đứng lên từ tạ ra đi. Xuống đài Văn Thù, đi về phía bắc vài mươi bộ, cũng có điện vũ vài gian gọi là Thanh Lương đài. Ngọn núi này cùng với Văn Thù đài nguyên là một thể, thế chẳng thể phân chia mà lại lập riêng môn hộ, tôi cảm thấy thế nào ấy! Ngôi chùa ấy cũng chỉ có một người trụ trì, đình vũ vắng lặng, bụi hồng chẳng bám đến, thanh tịnh nhàn dật, thật đáng ham muốn vậy.

Từ đây bước theo bậc mà xuống, qua ngọn Trắc Lĩnh (ngọn núi nghiêng), rồi lại leo lên là Linh Ứng phong. Gió bấc bỗng thổi, thế mạnh muốn bẻ gãy cây, bậc đi lên nghiêng nghiêng hiểm trở sợ vấp ngã. Trên đỉnh có điện vũ hơn mười gian đứng một mình như treo lơ lững, bốn bề cao chót vót. Bên dưới ấy tùng lạ um tùm quanh co sườn núi rợp miệng hang. Bài thơ Du Võ Ðang của Vương Thế Trinh có câu:

Hữu hác nan khuy địa

Vô phong bất thích thiên

     Tạm dịch:

Có hang khó dòm đất

Không núi chẳng chọc trời.

(Tuệ Khai dịch)

cũng có thể chiếu theo núi này mà miêu tả. Xô cửa mà vào, thấy có lối bốn, năm người nam nữ vừa tăng vừa tục đang vo gạo thổi cơm. Tôi lễ Phật xong, đứng hồi lâu ở trước điện, trông về nam, năm ngọn núi xếp la liệt, xanh biêng biếc tràn cửa sổ. Ðại Ðài cùng hai đài Văn Thù, Thanh Lương, cái cao, cái thấp rợp bóng nhau rõ là như Bồng Lai Tam Ðảo. Xuống đài Linh Ứng, đi về hướng bắc, thì lại lên đài Xả Thân. Ðài này so với các đài khác thì nhỏ hơn, trên có một gian điện vũ, mặt đông có vách núi cao vài mươi trượng gọi là Xả Thân Nham (núi Xả thân). Từ đây đi về phía bắc, rồi leo lên là đài Quan Âm, trên đỉnh cũng xây dựng hơn mười gian điện vũ, đài cao, thềm phức hợp, đứng hiên ngang cao chót vót. Trông về phía đông bắc là chùa Thiên Trì và tháp của Vô Hoài Thượng Nhân, rõ ràng như ở tại ghế tại chiếu (trông rõ mồn một).

Xuống khỏi đài Quan Âm, theo đường cũ rẽ trở về, đi quanh ngọn Văn thù về phía nam, thường vài lần chuyển mà leo lên Ðại Ðài, trông về nam núi non cuồn cuộn dài suốt như muôn cái hốt (vật quan cầm ở tay khi chầu vua) chầu trời, chứa tuyết dồn hơi lạnh (khí âm), sáng sủa chưa tan. Trông về bắc là bình nguyên miên man xa tít, dòng sông như dải lụa, ruộng đậu nương lúa như dệt xen nhau đẹp bội phần. Ðộc Sử Phương Dư rằng: “Bởi mạch núi Chung Nam khởi đầu ở Côn Lôn, đuôi ngậm Tung Nhạc, Chung Linh sinh tú khí, to rộng đẹp đẽ lạ lùng, làm bình phong phía nam của kinh đô, là lá chắn lớn của Ung, Lương. Trong ấy quanh đi quẩn lại những là núi thẳm hang sâu, chẳng thể tham cứu hết. Quan Trung có việc Trung Nam (Chung Nam)25, ấy là nhất định tranh về hiểm trở vậy”, đó là điều đáng tin! Ðại Ðài là đài cao nhất của Ngũ Ðài, trên đỉnh xây dựng hơn hai mươi gian điện vũ. Những viện lạc ấy rộng rãi so với những nơi khác hơn hẵn. Vào đại điện, thấy một vị lão cư sĩ vừa đốt hương lễ Phật, tôi hỏi vị tăng trụ trì ở đâu? Ðáp rằng, đã đi xuống núi rồi. Rồi lại thấy một sĩ quan quân đội trẻ tuổi tự nói rằng, họ La tự là Khoan Phác, người Trường Sa tỉnh Hồ Nam, hiện công tác ở Cục Trắc Lượng bộ Quốc Phòng, theo lệnh đến đây đo lường vùng tam giác này. Ðồng ngồi với nhau dưới mái vũ, uống trà tâm sự một lúc.

Từ Ðại Ðài bước theo bậc xoay tròn xuống phía nam, vượt qua Lĩnh Ác, lại ba lần rẽ là đến Ðại Mao Bồng. Chùa có điện Phật ba gian, nhà khách ba gian, hai ngọn núi bên trái bên phải cất cao lên làm cọc tiêu, trước mặt dẫn đến cái hang sâu tối, tùng xanh che mặt trời, phong cảnh trong sạch tuyệt vời. Vào Mao Bồng lạy Phật xong, vâng theo lời mời của Bổn Lập Thượng Nhân và Pháp sư Tuệ Minh vào ngồi ở nhà khách, rửa mặt, súc miệng xong liền tùy hỷ thọ trai, rau núi vài món, mùi vị rất ngon lành, trân tu hải vị chẳng đổi được vậy. Sau khi ăn, tôi bước ra bên ngoài điện, mặc tình thưởng lãm gió mát, thấy bên phải điện có một cái gò tròn nhỏ, trên ấy cổ mộc chen lên trời xanh, vừa to vừa nhỏ (như cái chén uống rượu) lô nhô. Mặt nam ở ven núi cheo leo có động Tương Tử. Tương truyền rằng, Hàn Tương Tử đời Ðường và hai vị Tăng Tính Thiên, Văn Lý thời Gia Tĩnh đời Minh đã từng tu đạo ở đây. Trong hố có cây nở hoa trắng, trắng ngần như tuyết, cùng với tùng xanh ánh nhau càng tăng thêm vẻ đẹp kỳ thú. Tham quan non nước Chung Nam, gọi lại có đủ vẻ hùng, kỳ, u, tú... thì biết là những cao tăng, danh sĩ đời Ðường đã theo nhau dừng nghỉ ở đây rồi đến nay có mình vậy! Ðêm cùng với pháp sư Tuệ Minh nhắp trà bàn về thiền lý càng khoái chí bình sinh. Thầy nói rằng: “Mao Bồng lớn nhỏ ở Nam Sơn không chừng đến vài trăm chỗ, đó là những chỗ có chúng tăng, đạo sĩ tu chân tập tịnh. Họ đều là những người tu trì nghiêm cẩn, trồng khoai, cấy lúa, tự nuôi sống. Vậy thì so cùng với những Ðại Tòng Lâm ở lầu cao, được cấp ruộng mầu mỡ, ăn sang ở sướng, chẳng lý đến việc sản xuất thì khác xa vậy”. Tôi nói lại với thầy rằng: “Rất tốt! Thời gian lần lữa qua hết, ngày nay tôi mới lĩnh hội qua được mùi vị đậm đà chân thật của kiếp người, đợi ngày mai đất nước thanh bình, nhất định sẽ kết mối duyên tái lai vậy.” Trao nhau một nụ cười, rồi về giường riêng ngủ. Mùng mền thanh khiết, không bị rệp, trùng quấy nhiễu, không sơn (cảnh núi) vắng lặng, hồn mộng đều thanh tịnh.

Sáng ngày hai mươi sáu thức dậy, rửa tay súc miệng xong, từ biệt pháp sư Tuệ Minh. Rồi cùng hai vị thượng nhân Bản Lập và Giới Hiền, rời khỏi Ðại Mao Bồng, theo đường phía đông xuống núi. Qua ba lần rẽ là đến Phược Long Thung, có một trụ đá cao chừng năm thước đứng ở trước Tiểu Mao Bồng. Tương truyền ngày xưa có một con hỏa long tinh, thường hóa làm người vào Trường An mua thuốc, thỉnh thoảng ưa làm hại người. Ðức Bồ-tát Quan Âm phát lòng đại bi, lập kế bắt con hỏa long cột vào cây thang đá để chế ngự nó, nhờ đó người ta chẳng bị hoạn nạn nữa. Thuyết này tuy là thần thoại nhưng ý cũng đã nói đến việc ngài An Thiền khống chế rồng của Kinh thần chú vậy.

Lại xuống thêm vài lần rẽ là đến một tiểu lĩnh, phía đông núi ấy cao lồng lộng gọi là Hiền Thánh Ðài, cũng có xây dựng điện vũ hơn mười gian, vượt qua tiểu lĩnh đi về hướng chánh bắc, hai bên đường đều là những gốc tùng đại thọ, cành nhánh tiếp nhau, bóng cây che vài mẫu, qua khỏi Thập Phương Phổ Ðồng Tháp, ngồi trên đá nghỉ ngơi một chút, đi thêm bốn dặm là đến Ðẩu Mỗ đường, trông trở lại Ngũ Ðài thì núi linh thăm thẳm mà vẫn y vậy chẳng xa cách chút nào. Lại đi ba dặm thì đến chùa Hoa Nghiêm, có một đường thác nước đổ từ trên cao xuống, tiếc là thế nước chẳng hùng tráng lắm vậy. Lại đi ba dặm là đến Thạch Miết Ðậu, do miệng cốc có khối đá lớn như con ba ba nên đã thành tên. Cốc này cũng gọi là Thái Ất cốc. Lữ Ðại Phòng nói rằng: “Nhà Tùy xây đô thành, phía nam thẳng đến cốc Thạch Miết của Nam Sơn”, tức là chỉ chỗ này vậy. Nước từ cốc chảy ra tức là dòng Duệ hà, phía bờ đông sông ấy có con đường đi ngựa, có thể thông đến núi Thúy Hoa. Núi Thúy Hoa cũng là một danh thắng của Nam Sơn, nay là đất sở tại phân hiệu của Trung Ương Quân Hiệu. Vì khu quân sự nên không được đến du lãm, chỉ có đợi một ngày khác thôi vậy. Bờ phía tây của cốc, có xây dựng một tòa lầu mới theo kiểu phương tây (chỉ Châu Âu), rừng cây che lấp, phong cảnh tuyệt đẹp. Theo con đường quanh co ở bờ phía tây cốc đi về hướng chánh bắc, ra khỏi cốc, lại đi năm dặm là đến Thái Ất Cung. Cung hiện nay bị trường Trung học Trung Chính chiếm mượn, nó cũng là ngôi cổ miếu của đời Ðường vậy. Ngay ở đây tìm quán ăn, ăn xong bỗng trời kéo mây trùm khắp, mưa phùn bay lả tả, tôi liền cùng với hai vị thượng nhân bái biệt, một mình giương ô (che dù) đi trước. Theo đường ngựa đi về phía bắc, hai bên đường có hai con kênh dẫn nước, thôn dân nhờ đó mà tưới tiêu rất tiện lợi. Trông về đông, sườn núi mênh mông nổi lên tức là cánh đồng Long Thủ, cũng gọi là Long Thủ Sơn. Ðuôi nó khởi lên từ Phàn Châu, đầu vào sông Vị, chiều nam bắc dài sáu mươi dặm. Ðời Tùy cho thành Trường An hẹp nhỏ, mới đổi làm kinh đô mới ở trên Long Thủ nguyên. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi sườn núi là đến Phàn Xuyên. Xét ra Phàn Xuyên vốn là Phàn Hương của huyện Hán Ðỗ. Vào đầu đời Hán, Phàn Khoái được ban thực ấp ở đây, nhân đó mà thành tên. Sử xưng là năm Trinh Quán thứ mười bốn đời Ðường có cuộc đi săn lớn ở Phàn Xuyên, tức là nơi đây. Sườn núi cao phía bắc chỗ ấy tức là Ðỗ Lăng Nguyên (Cánh đồng Ðỗ Lăng), trên có hai ngôi mộ Ðỗ Lăng cùng Thiếu Lăng. Ðỗ Lăng là lăng của Hán Tuyên Ðế, Thiếu Lăng là lăng của Hứa Hậu. Hứa Lăng cách Ðỗ Lăng hơn mười dặm về phía đông nam, lăng nhỏ hơn nên gọi là Thiếu Lăng. Về phía tây Lăng có nhà cũ của Ðỗ Phủ, ông tự xưng là “Ðỗ Lăng Bố Y”. “Thiếu Lăng Dã Lão” bởi do đây vậy.

Về phía đông bắc mã lộ chừng hai dặm, trên Ðoan Ðoạn Nhai phía nam Ðỗ Nguyên có chùa Ðại Ðường Hưng Giáo, tháp Xá-lợi của pháp sư Huyền Trang ở tại đây. Xem xét về đường Tam Tạng Huyền Trang pháp sư thì ngài tục danh là Huy, họ Trần, nguyên quán huyện Trần Lưu tỉnh Hà Nam, ông Tổ đời sau mới dời về ở Hầu Thị. Sư sinh ra ở Trần Thôn, cốc Phượng Hoàng phía tây bắc chùa Thiếu Lâm, hậu duệ của Trần trọng Cung (Thật) đời Hán vậy. Năm mới mười ba tuổi liền theo anh thế độ (xuất gia) ở chùa Tịnh Ðộ tại Lạc Dương. Về sau, tránh loạn Vương Thế Sung ngài vân du khắp các danh lam cổ sát của miền Tần, Thục, Kinh, Tương. Năm Trinh Quán thứ ba đời Thái Tông, sư năm hai mươi sáu tuổi, quyết chí từ Trường An đi đến Ấn Ðộ du học. Tại Ấn Ðộ, ngài nghiên cứu tinh thông nội điển. Ngài ở đó mười sáu năm, đến năm Trinh Quán thứ mười chín mới chống tích trượng trở về Kinh sư. Triều đình xuống chiếu cho Ðại Thường Khanh Giang Hạ là Vương Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc, đồøng thời ra sắc chỉ đem tràng phan, bảo cái của các chùa trong kinh thành, mọi thứ kỷ nhạc đưa ngài và các vị Cao Tăng phiên dịch Kinh tượng vào chùa Từ Ân. Ngài thị tịch tại chùa Tây Minh vào năm đầu niên hiệu Lân Ðức thời vua Cao Tông, hưởng niên sáu mươi ba tuổi. Vua xuống chiếu an táng Ngài ở bờ đông dòng sông Sản, người đưa đám táng có hơn hai trăm vạn người. Ðến năm Tổng Chương thứ hai lại dời tháp về cánh đồng phía bắc Phàn Xuyên, đồng thời xây dựng chùa để thờ phụng. Về sau tháp của hai nhà sư Viên Trắc và Khuy Cơ cũng phụ cận bên trái, bên phải tháp của ngài. Chỉ là lâu năm không được sửa sang nên tháp, chùa trở nên điêu tàn. Ðến đầu thời Dân Quốc chỉ còn là một ngôi nhà nát với ngói đất ngổn ngang, người nhìn thấy thương cảm lắm! Năm Dân Quốc thứ mười một, trụ trì là Pháp sư Diệu Khoát đã xin quyên góp, xây dựng lại điện Phật, phòng tăng. Mùa thu năm thứ ba mươi (Dân Quốc), lại được cư sĩ Chu Tử Kiều sửa sang lại ba ngôi tháp và hai lầu chuông, trống. Hiện nay miếu mạo sáng sủa, Tông Phong chấn hưng, thật là một tuyển Phật trường rất tốt đẹp của vùng Tần Trung vậy. Tôi định trước đến lễ Phật và hỏi thăm Pháp sư Diệu Khóat trụ trì ngôi chùa ấy, không ngờ cơn mưa mạnh thêm, chưa tiện đi vòng đường, nên mới trông về phía tháp lễ mười một lạy mà ra đi.

Qua cầu lớn Thủy Nê trên sông Duệ, chuyển sang hướng tây bắc mà đi, hai bên đường đều là ruộng nước, vẻ đẹp của phong vật so cùng Vi khúc, Vương khúc tương tợ. Trông trở lại Nam Sơn mây mù mênh mông thoắt ẩn thoắt hiện, lộ ra vẻ kỳ quan. Lại đi mười lăm dặm nữa thì tới trấn Ðỗ Khúc, xem xét Ðường Thư có chép: “Thành Nam là chỗ ở của những người họ Ðỗ, danh hiệu Ðỗ Cố nhiều đời làm quan (y quan)26”. Ung Lục Văn nói rằng: “Vi khúc của Phàn Xuyên về phía đông có Nam Ðỗ, Bắc Ðỗ. Ðỗ Cố là gọi Nam Ðỗ, Ðỗ Khúc là gọi Bắc Ðỗ, đều là vùng đất danh thắng”. Ðỗ Hữu, Ðỗ Mục, Ðỗ Như Hồi ở đời Ðường đều sinh ra ở đất này. Do đó có thể thấy sự hưng thịnh về nhân văn địa lý của Ðỗ Khúc ở thời Ðường vậy! Từ đây lại tiến về phía trước, trời bỗng nhiên tạnh mưa, mặt trời lộng lẫy trên không, quang đãng bao la thích hợp với người. Lại đi hai mươi dặm nữa là đến trấn Vi Khúc, nghỉ ngơi chút ít lại đi nữa, ba giờ chiều thì về đến Tây An. Trong khách thứ vô sự viết lại để làm lời cáo cho những kẻ ham thích du lãm.

Viết tại Khách Thứ Trường An ngày mười hai tháng năm năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy.

 

XII. CHÙA LINH NHAM.

Chùa Linh Nham ở trên núi Linh Nham tỉnh Tứ Xuyên cách thành huyện Quán mười hai dặm về phía tây bắc, muốn đến thăm viếng phải mất nửa ngày. Ngôi chùa được sáng lập vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, cũng là một ngôi Cổ sát của Thục Trung. Tôi hâm mộ chốn danh thắng lâm tuyền ấy nên một mình gắng chống gậy đến thăm thú vậy!

Ra khỏi cửa bắc, chuyển về bên trái lần theo tường thành đi về phía tây ước chừng hơn trăm bộ rẽ sang hướng tây bắc, hai bên đường đều là ruộng nước, mịt mờ lúa trải xanh rờn, sương móc thấm ướt vớ giầy, cỏ rậm, vang tiếng suối chảy rì rào. Ði ước chừng ba dặm thì thấy một tòa nhà viện hiện lên trong cánh rừng rậm rạp nơi sâu thẳm, môn bài viết mấy chữ “Nông Lâm Thôi Quảng Sở”. bên trong viện hoa lá cây cối phù sơ, bố trí thành nhã, nghiễm nhiên như ngôi tinh xá ở phương ngoại. Quanh ngôi nhà ấy đều là cây ngọt trái ngon, rậm rạp che bóng mặt trời. Từ đây đi về phía tây, trông xa về phía Linh Nham, núi quanh co liền nối đỉnh đặc đẹp đẽ, những đám mây xa tít mờ. Chỗ ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xanh tía muôn hình trạng. Ði một dặm nữa thì gặp hai học sinh liền kết bạn đồng hành, leo lên chân núi, cỏ hoang cùng khắp, ướt át trơn trợt, chân chẳng bám trụ được. Ði ước chừng nửa dặm thì bỗng gặp con đường lớn. Bậc đá leo lên phẳng phiu rộng rãi, bất ngờ trước cảnh tượng ấy mà vui mừng lượn vòng đi lên, hai bên đường cây cối sum suê, trông xa không cùng tận, đi trong mây xanh, núi xoay đường chuyển, suối vang gió thét. Ði năm dặm nữa, rồi ngồi dưới bóng tùng nghỉ ngơi một chút. Trông về tây bắc, trước ngọn núi Linh Nham, trong đám cây rậm rạp xanh biếc lộ ra một góc điện vũ, tức là chùa Linh Nham vậy. Ðứng dậy, cổ vũ nhau mạnh mẽ leo lên, bậc đá vòng quanh lại, quanh co ở khoảng bóng mây ánh núi. Ði ba dặm nữa là vào rừng sâu, thường chừng vài lần rẽ là đến được chùa Linh Nham. Lưng chùa như treo vào núi, mặt trước cận kề hang sâu, diềm mái vút lên mà phức hợp, khí tượng cao rộng. Trước chùa có vài chục gốc cây Nam, thân đến hai người ôm, cao hơn mười trượng, sum suê xanh biếc, chẳng thấy mặt trời. Từ trong khoảng trống rừng cây cúi nhìn xuống vùng bình nguyên ẩm thấp thì thấy ruộng nước dọc ngang, hàng quán đan xen, cây phủ muôn nhà, sông Mân như dải lụa, dòng nhánh đan xen nhau. Thành Triệu Công Thanh (?), ngàn ngọn núi cao chất ngất, tranh cao giành đẹp. Khí núi quang tạnh, xa mù ngùn ngụt, quấn quanh như vẽ. Tiếc là tôi không mang theo giấy bút, chẳng thể thu nhỏ lại cảnh đan thanh (đỏ xanh) trăm dặm vào bức vẽ nhỏ, cảm giác tràn đầy mà đành phụ vậy. Bỏ bực cấp vào Sơn môn, bên trái bên phải thờ tượng Tứ Thiên Vương. Qua khỏi Sơn môn tiến về phía sau là Ðại Ðiện. Chính giữa thờ tượng đức Phật Như Lai, chẳng trang nghiêm lắm, bên trái bên phải trước điện là liêu phòng đều bị chiếm làm chỗ cho thuê. Thấy có bốn, năm người cả nam lẫn nữ ngồi vây quanh dưới hành lang đánh bài, hô “hồng trung” “bạch bản” vang dậy chẳng thôi. Cửa Phật thanh tịnh mà đã trở thành nơi vui chơi của bọn chăn bò trông lợn, thật là điếm nhục cho cổ sát danh sơn! Cố Ðình Lâm tiên sinh đời Minh từng nói rằng: “Mất nhà Minh, mất ở Mã điếu27”, nhưng kháng chiến hiện nay thất bại từng đoạn từng đoạn, được hay không, quy tội cho tướng nào ư?

Từ dưới hành lang điện ra phía trái, có chánh điện ba gian, ở giữa cũng thờ tượng Phật, bồ đoàn, phạm bối (Kinh Phật), trần thiết tinh khiết. Ði ra cửa góc bên trái, vách đá ngăn trước mặt, dưới ven núi có động Hắc Phong, đường kính cửa động ba thước, trông vào cốc dò tìm chỉ thấy u tối thăm thẳm, sâu chẳng thể dò được. Bên dưới ấy có một dòng nước trong leo lẻo, gọi là Linh Ðậu Tuyền. Nước suối trong xanh, cá lội có thể đếm được. Vách suối chạm nổi tượng Phật, hình như là sản vật đời Ðường. Tượng một nửa ngâm trong nước, một nửa lộ ra ngoài, rêu bám loang lổ, chẳng hiện rõ mi, mắt. Bên sát ven núi có nhiều chữ cũng bị bào mòn còn lờ mờ nên chưa sao chép được. Từ đây hướng về phía đông bắc, lại lên sườn núi, đường chim lượn vào hư không, trơn trợt chẳng bám chân. Ði chừng hai dặm thì thấy trong đám cây cỏ um tùm có ngôi thần điện ba gian, gọi là Thiên Phật Tháp, ngôi tháp ở trong điện, cao hơn một trượng, chung quanh đắp nhiều tượng Phật nhỏ, tầng tầng bài trí la liệt, gắng cho đủ số ngàn. Tiếc là hình vẽ màu sắc tầm thường kém cõi, chẳng đáng xem cho lắm. Xuống sườn núi sát chùa là đến khách đường, cùng với vị tăng uống trà, nói chuyện giây lát. Vị phương trượng hiệu là Xương Viên, đệ tử của ngài Thái Hư pháp sư, người rất trung thành. Ông nói rằng, chùa không có hằng sản, toàn nhờ vào số phòng cho thuê mà sinh hoạt, và bên trong chùa trước đây còn có đá khắc Kinh Bát-nhã, tiếc là bị kẻ gian đã lấy trộm mất, hiện nay chỉ còn lại mảnh bày ở trên án. Tôi quan sát thể chữ phỏng đoán là sản vật đời Ðường không gì nghi ngờ cả. Tiếc là chẳng thể dần thấy toàn bộ diện mạo của phiến đá khắc ấy, rất là ân hận! Nghe nói trên đỉnh còn có bàn cờ bằng đá, là vật của khoảng năm Thiên Hựu đời Ðường. Tôi chưa đến xem, liền từ giã ra đi, vẫn theo đường cũ xuống núi, trở về đến thành thì đã mười hai giờ rồi vậy!

 

XIII. CHÙA Ô VƯU, CHÙA LĂNG VÂN.

Ngày mùng sáu tháng chín năm Dân Quốc thứ ba mươi ba, khí trời trong lắng điều hòa, phong vật đẹp hẳn lên. Tám giờ sáng tôi đi du lãm thắng cảnh của hai ngọn núi Ô Vưu và Lăng Vân. Thuở trước người ta đi chơi Lăng Vân thì ở bờ sông bên ngoài cửa An Lan, góc đông nam của thành huyện Lạc Sơn, thuê một chiếc thuyền con bên cạnh chân thành nhô cao để vượt sông. Ði ngược dòng chừng vài trăm bộ, lại chuyển mái chèo đi xuống rất nhanh. Chớp mắt đã qua vài dặm, chẳng cần khua mái chèo. Do nước sông mới lên mênh mông, ba đào vọt cao nên tôi chẳng dám mạo hiểm, từ Mã Ðầu, đường lớn ở phía đông, buông một con thuyền dẹt như chiếc lá, thuận theo dòng mà đến vậy!

Ði về hướng đông nam chừng ba dặm là đến dưới Ðại Phật Nhai. Bờ đang đối cửa sông, đứng bên là Xích Bích. Chân núi, quái thạch xâu liền lại, sóng lớn xông lên vỗ mạnh như gió to quạt sóng, thuyền đi chòng chành làm mọi người sợ hãi. Tôi ngước nhìn Ðại Phật, đầu cất mũ, chân đi trần, ngay ngắn ngồi lặng. Cây cỏ rẽ lướt qua như xâu lại thành chuỗi pháp tượng trang nghiêm, công trình to lớn, đem so với Phật đá động Vân Cương chẳng phải là quá vậy. Tương truyền, khoảng năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, có ngài Hải Thông Thiền sư soi thấy nước con sông chảy xiết hung tợn, phá hoại thuyền bè, ngài mới về núi Lăng Vân, đến vách núi cạnh sông đục một tượng Phật lớn để trấn thủy quái. Ðang khi ngài Hải Thông bắt đầu thi công thì Quận sử đòi ăn của đút (hối lộ). Vị sư nói rằng: “Mắt kẻ tu hành có thể khóet, tài sản của Phật khó được!” Quận sử nổi giận nói: “Tương lai rồi thử xem!”. Vị sư liền tự móc mắt của mình đặt lên mâm bưng đến, quận sử hối ngộ, phát nguyện hết lòng trợ giúp công việc ấy. Toàn thân Phật chưa xong thì Thiền sư đã qua đời. Có những vị Liên Sư Chương, Cưu Kiêm Quỳnh mang đến hai mươi vạn tiền giúp kinh phí cho công việc ấy. Trong niên hiệu Khai Nguyên vua xuống chiếu ban cho số thuế muối, thuế sợi gai thu được tư cấp cho việc sửa sang xây dựng, kịp đến khi Vi Cao làm Tiết Ðộ sứ Kiếm Nam, từ trên tòa hoa sen đến đầu gối, thợ làm chưa xong, còn gần một trăm thước, năm Trinh Nguyên thứ năm, ông mới xuất ra năm mươi vạn tiền để tiếp tục hoàn thành. Các sách ghi chép xưng là, tượng cao ba trăm sáu mươi thước, đỉnh tròn một trăm thước, mắt rộng hai trượng, hiện nay qua sự đo lường của các nghệ thuật gia Tây Dương thì cao đúng hai trăm lẻ tám thước, họ cho thế cũng là vĩ đại vậy! Phật tượng nguyên được trang sức bằng vàng, ngọc bích, che bằng lầu tầng. Nhưng vào cuối đời Minh, binh lửa loạn lạc đã phá hủy những thứ ấy, rất là đáng tiếc vậy! Hiện nay tòa hoa sen đã bị dòng nước lớn khóet rỗng gần hết, Hơn nữa, sau ngần ấy năm, Phật tượng cũng đáng có nỗi lo bị hủy diệt. Tôi nguyện xin Hữu ty (Quan lại) để ý thêm việc bảo hộ cho cổ tích được tồn tại vậy. Bên trái bên phải khám thờ Phật lại khắc tượng đứng nhỏ, cao chừng hơn một trượng, hình như là tượng Kim Cương thị giả. Khoảng vách có bậc đá độ vài trăm cấp, nhưng do nước sông hiểm ác nên chẳng dám dừng thuyền vịn leo lên. Khua mái chèo tiến về phía trước, chừng nửa dặm tức là đã đến núi Ô Vưu. Ngọn núi biếc cao lồng lộng, đơn độc vươn lên chót vót, dòng nước xanh uốn quanh vòng giống như một đảo tiên. ven vách núi khắc bốn chữ lớn “Trung Lưu Chỉ Trụ”, vuông rộng hơn một trượng, nét chữ như bay như múa hùng mạnh. Ô Vưu nguyên tên là Ô Ngưu, đời Tống từ Hoàng Sơn Cốc đến đây mới đổi tên như hiện nay. Tức là từ câu “Ô Ngưu tại trung chữ” (Ô Ngưu ở bãi giữa) trong bài thơ pháp Gia Châu của Tô Tử đó vậy. Thuyền ghé vào chân núi, rời thuyền leo cấp mà lên, đường ven núi quanh co, đường bậc leo lên được sửa sang. Tạp thọ rập rạp, bóng rợp che mặt trời, tối tăm mát lạnh, hơi nóng tiêu tan. Phía trước có một phường, biển ngạch đề rằng: “Lũy Chỉ”, câu đối viết rằng:

“Giang Thượng Thần Cổ Lôi Công Miếu.

 Hải huyệt thông triều Ngọc Nữ phòng”

 (Trên sông thần cổ miếu lôi công.

 Hang biển triều thông phòng Ngọc Nữ),

bên ngoài là đền thờ Thổ địa. Qua cửa phường, thấy bên đường sát ven núi viết hai chữ lớn “Ly Ðôi” là Vinh huyện Triệu Hy đề. Xét ở Thục Trung Ly Ðôi thường có bảy: Một tại Quỳ Châu, một tại Thương Khê, một tại Nam Bộ, một tại Quán Huyện, một tại Nhã An, một tại Hán Nguyên huyện, một tại đất này. Tương truyền đều là do Lý băng đục khóet cả. Lại leo lên chừng hơn một trăm cấp thì ngay trước mặt là một ngôi cổ đình bên bờ núi, biển ngạch đề “Chỉ Tức Ðình”. Liên đối rằng:

“Vân ảnh ba quang thiên thượng hạ.

 Tùng đào trúc vận thủy trung ương”

(bóng mây ánh (sáng) sóng trên dưới trời.

Sóng tùng vận (phong nhã) trúc nước chính giữa),

 là do Thái Hư Pháp Sư đề. Bên trong đình có tấm bia nằm (ngọa bi) khắc “lên núi có đường, đi thông thả thì chẳng vấp ngã, cùng với ngài ở thế là đẹp” (Ðăng sơn hữu đạo, từ hành tắc bất chất, dữ quân thả trụ vi giai), liên đối rằng:

“Vũ quá lâm phi thanh thạch khí.

Thu tương sơn thúy nhập thi tâm”.

(mưa qua rừng lả tả sạch hơi đá.

 Thu đem núi biếc xanh vào lòng thơ),

đều là của Triệu Hy đề. Ngồi trong đình nghỉ ngơi một chút, cúi xuống nhìn mặt sông, sóng sáng như gương soi. Lại đi lên, thế đất càng cao phong cảnh càng thanh u, hai bên đường tre trúc rậm rạp cành nhánh vươn dài, trên dưới um tùm. Ði giữa trời biếc, mây xanh mênh mông, khe đá hoa dại nở rộ, phun hồng nhả trắng, sáng lạng sặc sỡ thích hợp với người. Ðến đây như vào cái giường mây sáng kín đáo, ý bợn trần sạch trơn. Ði quanh co hơn một trăm cấp nữa thì đến tháp Phổ Ðồng, bên trái tháp sát ven núi khắc bốn chữ “Linh Sơn Pháp Bảo”. Bên phải có cái động đá, tương truyền là ngôi mộ cổ đời Hán. Từ đây đi lên phía bên phải chừng hơn một trăm cấp là đến chùa Ô Vưu, chùa còn một tên nữa là chùa Chánh Giác, do Huệ Tịnh thượng nhân đời Ðường kiến tạo, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh có sửa sang thêm. Ngôi chùa dàn ra trên cao ở đỉnh núi, mặt hướng về sông lớn, cột dài, mái ngói cất cao lên, cây đá che rợp, quả thực là thắng cảnh. Biển ngạch Sơn môn đề rằng: “Thanh Y Biệt Ðảo”, liên đối rằng:

“Tự môn cao khai động đình dã.

 Thương nhai bán nhập tuyết đào đôi”.

 (Cửa chùa mở cao sân động hoang.

 Núi xanh vào nửa sóng tuyết đắp),

 bên trong là điện Tứ Thiên Vương, nhan đề biển ngạch viết theo phép Khải Thư. Qua điện Thiên Vương là điện Di Ðà, bên trong có một pho tượng Phật đứng đúc bằng đồng. Thân vàng một trượng sáu, trang nghiêm không gì sánh bằng; bên ngoài che bằng một cái đình gạch, là một kiến trúc mới gần đây. Dựa ven núi tiến về trước, đá rêu phong trơn trợt, đường xưa xanh mát, biển ngạch cửa lầu đề rằng: “Thanh Không Nhất Khí”, liên đối rằng:

“Thắng địa tiếp lăng vân, tịnh lý mỗi văn du khách kịch.

 Cách giang thời tống vũ, vọng trung vô hạn độ nhân chu”.

(Thắng địa tiếp váng mây, vắng lặng thường nghe guốc du khách.

 Cách sông tiễn đưa mưa, trông vời vô hạn thuyền qua sông).

 Lại đi hơn năm mươi bộ là đến điện Phật Di Lặc. Biển ngạch đề rằng: “Chánh Giác Thiền Lâm”, nhà bên phải điện là khách đường. Vào trong nhà khách uống tràø nghỉ ngơi một chút liền từ tạ ra đi đến Ðại Ðiện tham quan. Ðại Ðiện gồm năm gian, qui chế rất là cao rộng. Bên trong điện thờ ba pho tượng Phật cổ lớn bằng gỗ Chương, do Hòa thượng trụ trì Truyền Ðộ xin được tại tỉnh Chiết (tỉnh Chiết Giang), từ vùng biển ngược dòng sông vận chuyển về. Vách điện treo tượng năm trăm vị La-hán do Trúc Thiền vẽ in lại bằng mực. Bên p