Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
CHÙA PHÁP HẢI Ở BẮC KINH
Nguyên tác:
Lý Tùng
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
Pháp Hải Thiền Tự với ngói xanh tường đỏ
khuất lấp trong rừng rậm dày đặc kín mít dưới chân núi Thúy Vi, thôn Giao
Ma Thạch Khẩu phía tây Bắc Kinh. Bên trong chùa bảo tồn hoàn chỉnh mười
bức bích họa tinh mỹ và không ít pháp khí, đồ thờ cúng hiếm thấy của đời
Minh thuở trước. Dù trải qua cuộc phong trần hơn năm trăm năm mà màu sáng
vẫn rực rỡ chói mắt y vậy.
Chùa Pháp Hải
xây dựng hoàn thành vào khoảng năm Chánh Thống thứ tư đến thứ tám đời Minh
(năm 1439-1443), cùng đồng thời với chùa Trí Hóa nổi danh về kiến trúc
tinh mỹ. Ngôi chùa là do Thái giám hưng công xây dựng, hoàng đế ban tên và
ngự ban “Ðại Tạng Kinh”, đã nói lên lúc bấy giờ nó là một tòa tự viện có
địa vị.
Năm 1962,
thầy trò của hệ Mỹ Thuật Sử Viện Mỹ Thuật Học Trung Ương, thời gian ở tại
chùa Pháp Hải tìm hiểu về bích họa, đã tiến hành điều tra khảo cổ, phát
hiện được nhiều tư liệu có liên quan đến việc nghiên cứu lịch sử kiến
trúc, hội họa đời Minh và cả việc thăm dò nghiên cứu vấn đề xã hội. Họ đã
cung cấp những tìm tòi mới mà trong số ấy, cái phát hiện trọng yếu là điều
tra được tác giả của những bích họa. Họ cũng đã nghiên cứu xếp loại nhiều
bi kệ, kinh tràng v.v... cung cấp phạm vi rộng, rõ ràng về lịch sử của
ngôi chùa.
I. GIẢN SỬ CỦA CHÙA PHÁP HẢI.
Căn cứ vào bi
ký thì chùa Pháp Hải nguyên là di chỉ của ngôi cổ sát Long Tuyền. Năm
Chánh Thống thứ hai dự trù xây dựng (năm 1437), năm thứ tư bắt đầu hưng
công, đến năm thứ tám thì cơ bản hoàn thành xây dựng, năm thứ mười được
ngự ban bộ “Ðại Tạng Kinh”.
Liên quan đến
quá trình xây dựng tu sửa của ngôi chùa có ba tư liệu trọng yếu: Một là,
“Sắc Tứ Pháp Hải Thiền Tự Bi Ký” của Lễ Bộ Thượng Thư Hồ Quỳnh soạn, một
là “Pháp Hải Thiền Tự Ký” của Lại Bộ Thượng Thư Vương Trực soạn, hai người
ấy đều là danh thần đầu đời Minh. Hồ Huỳnh là bề tôi tâm phúc của thời
Vĩnh Lạc (1403) trở đi, phụng sự trải sáu đời vua, trong các Tự, quán đời
Minh số lượng văn bia của ông soạn ra rất nhiều. Một nữa là, tòa Lăng
Nghiêm Kinh được lập năm Chánh Thống thứ chín (1444) ở chỗ hơn một trăm
dặm phía tây ngôi chùa. Thân tòa (tràng) nhỏ mà dài, bên dưới có tòa Tu
Di, đỉnh làm hình hoa sen che, vòng tròn thân tòa khắc “Lăng Nghiêm Kinh
Tràng Ký”, phần cuối phụ thêm tên của những người giỏi, thợ khéo. Bài ký
này chưa thấy trước tác ghi chép, có giá trị lịch sử cao.
Người bỏ ra
của cải sửa sang xây dựng chùa là vị Thái giám coi sóc việc ngự dụng tên
là Lý Ðồng. Lý Ðồng pháp hiệu là Phước Thiện, người Giang Tây, vào cung
buổi đầu thời Vĩnh Lạc, đã từng theo vua Minh Thành Tổ (Chu Lệ) ra biên
cương phương bắc tuần thú. Thời Tuyên Ðức ông hộ giá bình định Võ Ðịnh
Châu (nay tỉnh Vân Nam) chinh phục Hỷ Phong Khẩu (nay thuộc tỉnh Hà Bắc),
sau thăng làm Thái giám.
Ðầu thời Cảnh Thái ông được ban cho đai ngọc, y phục mãng long.
Ông mất năm Cảnh Thái thứ tư (năm 1453).
Việc
Thái giám tu sửa chùa miếu ở đời Minh rất là phổ biến mà qui mô lại lớn.
Như năm Chánh Thống thứ mười ba, Vương Chấn trùng tu chùa Khánh thọ, để
làm xong “thường quân dân phục dịch hơn một vạn người, kẻ phụ giúp lên đến
vài mươi vạn” (Sinh Thông Giám, quyển 24). Chỉ riêng khu vực Bắc Kinh mà
nói thì việc tu sửa xây dựng Chùa, Quán ở những triều Chánh Thống, Thành
Hóa, Chánh Ðức, Gia Tĩnh, Vạn Lịch của đời Minh là rất thịnh. Từ Tuyên Ðức
đến Thiên Khải thì cơ hồ mỗi triều đều có việc Thái giám bỏ ra của cải tu
sửa chùa miếu.
Thứ hiện
tượng đặc thù ấy cùng với vấn đề đất đai có quan hệ. Một hạng thì xây dựng
chùa, phần nhiều là trước tiên sắp đặt điền sản, nhiên hậu mới xây dựng từ
đường, nghĩa trang, miếu vũ... để làm kế lâu dài, mượn danh nghĩa “Vị quốc
chúc diên” để bảo tồn sản nghiệp đồng thời được miễn trừ thuế khóa sưu
dịch. Vị trụ trì trong chùa thủ đắc địa vị chính trị nhất định. Xem tình
huống miếu vũ từ chùa Pháp Hải và chùa ThừaÂn cùng chỗ thì ấy chính là
hiện tượng thông thường. Mộ của Lý Ðồng ở tại chân núi bên phía tây ngôi
chùa. Tấm “Ngự Dụng Giám Thái Giám Phúc Am Lý Quân Bi” được bảo tồn còn
hoàn hảo.
Thái giám đời
Minh nắm lấy hết đại quyền xây dựng, đất, gỗ, Thái giám nội quan làm chủ
việc ấy, khống chế cả bộ công. Hoạn quan sửa sang từ đường, xây dựng miếu
vũ thường thường huy động, sử dụng lực lượng của quốc gia. Như “năm Chánh
Thống thứ mười, Thái giám Tuần Nhật Tân đem nhà ở cho làm viện dưới Ngũ
Hoa Quán, năm Cảnh Thái thứ hai ban biển ngạch là Diệu Thanh và cấp cho
vật liệu công để trợ giúp hưng tác”.
Hoặc trực tiếp do quốc gia xuất ra của cải mà hưng kiến, danh mục cũng đều
chẳng đồng. Ở trong việc xây dựng chùa Pháp Hải thì sở Doanh thiện
của Bộ Công đã tham dự việc ấy, phó sở Doanh thiện là Trần Kính đích thân
làm biển ngạch bia chùa Pháp Hải bằng chữ Triện, viết chữ màu đỏ ở “Lăng
Nghiêm Kinh Tràng Ký”. Ở biên sau “Lăng Nghiêm Kinh Tràng Ký” có phụ thêm
danh hiệu của “Tượng quan” (thợ công, quan thợ). Do có sự tham dự của bộ
môn doanh tạo quốc gia mà khiến cho những kiến trúc ấy đạt được một trình
độ nhất định, mang những đặc điểm nào đó của kiểu nhà quan. Sau này, do ở
sự phát triển của kỹ thuật kiến trúc đã hình thành diện mạo kiến trúc mới,
mà chùa Pháp Hải theo kiến trúc thời kỳ đầu nhà Minh tạo nên những đặc
trưng nào đó của thủ pháp kiến trúc đời trước. Vậy là nó có đầy đủ tính
đại biểu nhất định đang được xem trọng.
Những ghi
chép có liên quan đến chùa Pháp Hải còn thấy ở những sách “Nhật Hạ Cựu Văn
Khảo”, “Kỳ Phụ Thông Chí”, “Thuận Thiên Phủ Chí”...
“Nhật Hạ Cựu Văn Khảo” đã chép “Trùng Tu Pháp Hải Thiền Tự Ký” của Lưu Cơ
soạn, sơ lược rằng: Chùa làm xong sau sáu mươi chín năm thì đã là “rui, xà
nghiêng lệch, đường qua cửa tiêu điều tan tác, trai ngư chẳng nghe (chẳng
nghe tiếng mõ tụng Kinh) hộp kinh lấm bụi trần. Bấy giờ triều đình mới tìm
hỏi khắp những ngôi danh sát (chùa nổi tiếng), phàm là cổ tỉnh, cầu di, bờ
đê cao, thục lộ (nhà cho người nghỉ ven đường) xuất ra của kho sửa sang.
Từ năm Hoằng Trị Giáp Tý đến năm Chánh Ðức Bính Dần (năm 1504-1506) mới
được cáo thành”. Bia này chúng tôi phát hiện dưới hành lang mái vũ phía
đông bên trong chùa vì lâu nên đã hư hoại (tàn đoạn). Ấy là đoạn ghi chép
sớm nhất liên quan đến việc trùng tu chùa Pháp Hải.
Từ bên trong
chùa, xem thấy những tình huống biến động của nguyệt đài, mặt ngói, việc
tu sửa lầu chuông, lầu trống, tường vây v.v... của các điện thì khẳng định
được là đời sau lại trải qua biết bao lần trùng tu lớn. Nhưng đáng tiếc là
không có ghi chép để lại. Phía bên trái, trước đại điện có một tấm bia
nhưng một chữ chẳng còn, có khả năng là bia ghi việc đời sau trùng tu. Có
quan hệ để suy tìm thì chỉ nhờ vào những cái trên đất bên cạnh chùa mà
thôi. Ðó là lời ghi chép trên tấm biển gỗ của nhà dân, một chỗ gần cạnh
chùa Long Tuyền, của Lý Ðồng trùng tu. Biển là Sử Lý Tấn viết, tự đặt tên
cho nhà của mình là “Tự Tại Am”, trong lời bạt xưng là chùa Pháp Hải vào
năm Khanh Hy thứ hai mươi mốt đã từng được trùng tu (năm 1682). Sau này
chỉ biết là chính phủ đã từng bỏ ra một khoản lớn để làm một lần duy tu
lớn.
Ngoài việc
này, phần phụ thêm đã đề cập đến vị tăng trụ trì đời thứ nhất của chùa này
là Phước Thọ Thiền Sư, chẳng bao lâu ngài được thăng Tả Giác Nghĩa,
kiêm trụ trì hai chùa là Pháp Hải và Công Ðức, năm Thành Hóa thứ bảy thì
viên tịch, tháp ở tại bên ngoài tường viện phía đông của chùa, năm Thành
Hóa thứ hai mươi hai, Truyền Hãn soạn bài “Tháp Minh” và có Dụ Tế Bi (bia
ghi chỉ dụ cúng tế). Kế thừa ngài là vị Tăng Lục Tả Thiện Thế Tuệ Nghĩa.
Trên sườn núi
chính phía sau chùa là bia Thánh chỉ “Ðại Tạng Kinh” của vua ngự ban vào
năm Chính Thống thứ mười, ngày mười lăm tháng hai, đứng sừng sững. Và
“Uyển Thự Tạp Ký” quyển mười chín đã chép, vua ban cho chùa Ðại Long
Thiện, địa sở của Tăng Lục Ty, Ðại Tạng Kinh cùng đồng một ngày (Chùa Ðại
Long Thiện nguyên tên là Sùng Quốc Tự). Từ bia khắc có thể xét định lại sự
lẫn lộn trên văn hiến trong việc trước tác sao lục.
Tư cách của hai đời trụ trì chùa này kết hợp với tình huống vua ban cho
Ðại Tạng Kinh đều đã biểu hiện rõ ràng chùa Pháp Hải tại lúc bấy giờ có đủ
địa vị trọng yếu tương đương.
II. KIẾN TRÚC VÀ TU SỬA CHÙA PHÁP HẢI.
Kiến trúc của
Chùa Pháp Hải tuy trải qua sự trùng tu của đời sau, nhưng chẳng ít chỗ vẫn
bảo lưu được những đặc điểm kiến trúc thời kỳ đời Minh mà giá trị được chú
trọng. Sự chỉnh trang tu sửa tinh mỹ lại là mười phần trân quí.
Nguyên mạo
quần thể kiến trúc ngôi chùa này có thể tìm biết từ hai tấm bi ký về việc
xây dựng ngôi chùa. Cứ như văn bia của Vương Trực soạn: “... Trước làm
chánh điện, tiếp theo làm Dược Sư điện, Thiên Vương điện, rồi làm lầu
chuông, lầu trống ở hai cánh. Hai ngôi nhà Già Lam và Tổ Sư lại làm tiếp
theo. Các nhà phương trượng, tăng phòng, lang vũ, bếp, kho theo thứ lớp
đều hoàn thành. Vòng quanh chùa bằng tường cao dày kiểu thức tương xứng.
Phía trước mở ba cửa, mở rộng đường đi để người qua lại thông suốt. Bắt
đầu làm vào ngày 22 tháng 2 nhuần năm Chánh Thống thứ tư mà đến ngày 15
tháng 10 năm Chánh Thống thứ tám mới xong công việc. Chạm trổ, trang trí,
hội họa, thiết trí tranh tượng trang nghiêm, hương hoa khí vật, phàm cái
gì trong chùa cần dùng đều có cả, không thứ gì mà chẳng đầy đủ...”. Văn
bia của Hồ Huỳnh lại cụ thể thêm: “... Giữa là Ðại Hùng Bảo Ðiện, bên trái
bên phải là hai ngôi nhà Già Lam và Tổ Sư, vòng hai cánh là hai mái vũ
(nhà đông nhà tây), phía trước hậu điện, bên trái là chỗ phương trượng,
bên phải là trường tuyển Phật, điện Tứ Thiên Vương ở phía trước
điện, hai lầu chuông trống phụ thêm, điện Kim Cương Hộ Pháp lại ở trước
chúng... Bên ngoài thì bao quanh bằng tường cao lớn; cửa ngoài xa lại
nương vào sơn khẩu (dốc đèo)...” Cái mà văn họ Hồ gọi là “Hậu Ðiện” nay
tức là điện Dược Sư.
Quần thể kiến
trúc hiện tồn tại, trên đại thể còn có thể thấy được diện mạo nguyên lai.
Ngôi chùa tọa lạc ở phía nam chân núi Thúy Vi,
điện vũ dựa vào thế núi chất chồng mà vươn lên, tuy chẳng mở ra rộng lắm,
nhưng tự có khí độ hiên ngang.
Tường hồng
bao vòng quanh chùa viện. Sơn môn (cửa chùa) tức là điện Kim Cương Hộ
Pháp, trên kiến trúc bảo tồn được dạng thức thuở trước. Mặt điện rộng ba
gian, đỉnh mái kiểu “yết sơn” lợp ngói lưu ly, “sơn hoa” nhỏ, trụ có chân
nghiêng, dưới là khối đá đỡ trụ kiểu gương mặt trống, trên là “đẩu củng”
kiểu lá cây gai
giao nhau. Có một ít trụ “đẩu” hư còn lại, trụ “đẩu” dài có cổ. “Bình bản
phương” (gỗ cứng hình vuông) so với
“ngạch phương” (gỗ xà ngang) hơi rộng, đầu lộ ra làm thành nắm tay
bá vương. Có những chỗ so với chùa Trí Hóa thì lại nhiều chỗ bảo lưu được
đặc điểm của kiến trúc thuở trước. Gác đỉnh bên trong nhà nguyên là làm
thông suốt lên trên lộ ra rõ có vẽ màu sắc, nhưng đời sau trang hoàng
tranh dán thành đỉnh bằng giấy. Tượng Kim Cương, bích họa sớm đã chẳng
còn.
Tiến vào nữa,
bên trái bên phải là lầu chuông, trống, hình chế thấp kém, hiển nhiên là
đời sau xây dựng lại.
Ðối diện
chính với Kim Cương điện, nương thế núi sửa thành đài cao, chính giữa và
hai bên có đường đi lên cao đến ba mươi bậc. Phía trước đường đi lên, hai
bên đều có đầu Ly,
chân rùa đỡ bia, tức là bia ghi việc xây dựng chùa, bên trái là Vương Trực
soạn, bên phải là bia Hồ Huỳnh soạn, thân bia còn hoàn hảo.
Bước lên
đường đi lên, trên nguyệt đài, chính giữa là di chỉ Thiên Vương điện. Xem
xét từ những phiến đá đỡ trụ hư còn lại thì nguyên là mặt rộng ba gian,
tiến sâu vào là vật kiến trúc hai gian, cùng với di chỉ của điện Thiên
Vương bên trái bên phải tiếp liền nhau hợp thành hai mái vũ của sân (viện
lạc) phòng thứ hai và hai ngôi Già lam, Tổ Sư nhị đường (đều ba gian), cửa
sổ lại là vật cũ sửa sang cá biệt. Trong ấy bao quát có cùng hoành phi,
ván bìa liên hoàn bao ngoài, ván bìa tứ hợp như ý vân (?) v.v...
của đại điện đồng hình thức chế tạo, so ra chế tác tinh mỹ hơn.
Chính giữa
nam đối diện với di chỉ Thiên Vương điện, ở dưới tàng che tùng bách cao
lớn, một tòa đại điện xanh lam, đỉnh bốn mái, tường vàng rực rỡ. Ðó là
toàn bộ kiến trúc rất trọng yếu của ngôi chùa, tức là Ðại Hùng Bảo Ðiện.
Mười bức bích họa đời Minh nổi tiếng và những pháp khí, những đồ thờ cúng
của đời Minh hiện còn đều được bảo tồn bên trong ngôi điện ấy.
Dáng vẻ bên
ngoài của Ðại Hùng Bảo Ðiện do được nhiều lần trùng tu nên đã có biến đổi,
như nguyệt đài là một tòa Tu Di chạm trổ bằng đá đã được di dời từ nơi
khác đến, vị trí điên đảo chẳng hợp. Mặt ngói xanh lam của đỉnh bốn mái
thì cứ như lời người vùng này nói, đã thay đổi khi trùng tu. Chẳng qua nội
bộ ngôi điện đều không có biến động cải đổi lớn. Mặt đại điện rộng năm
gian, tấn sâu (phần sâu bên trong) ba gian. Ðòn dong chính hơi ngắn, “đẩu
củng” làm năm chỗ đứng, “kiều ” đơn, “ngang ” đơn. Ðầu “kiều” làm hình
“ngang”
thân đỡ bằng “đẩu củng”.
Khoảng tiếp theo đều là bốn “đóa”,
khoảng trên ngọn hai “đóa”, chính giữa “sơn diện” (mặt hình chữ sơn) năm
đóa, hai đầu đều hai đóa.
Bên trong đại
điện hai hàng trụ vàng, liền nối sau hàng trụ là tường mặt cánh cửa, chính
giữa là ba pho tượng Phật đắp, kèm hai bên có người hầu, tượng đắp còn
tốt. Tượng La-hán hai bên, thợ đắp tượng thấp kém. Việc chỉnh trang tu sửa
đại điện mang đặc điểm Mật Tông nồng hậu. Mặt trước năm gian trang trí cửa
ô vuông. Chấn song của tam hoa cửa ô vuông tạo thành ba chữ thập, sáu hình
cái bát mang hình củ ấu, rùa gấm thật tinh tế đẹp đẽ. “Thiên hoa bản”
và “Tảo tỉnh”
đều vẽ “Man- đà-la”.
Trên Thiên hoa bản vẽ Tỳ-lô-giá-na Phật (tức Phật pháp thân của Phật Thích
Ca Mâu Ni). Mạn-đà-la có hai loại là hình vuông hay hình chữ nhật, vẽ chữ
Phạn đại biểu cho tượng Phật, tượng Bồ-tát. Ở chính giữa là Bổn tôn Tỳ-lô-
giá-na Phật, trên tám cánh hoa sen màu đỏ phân biệt là Tây phương là A Di
Ðà Phật và Bạch Y Phật Mẫu, Nam phương là Bảo Sinh Phật và Mãng Mang Kế
Phật Mẫu, Ðông phương là A Súc Phật và Phật Nhãn Phật Mẫu, Bắc phương là
Bất Không Thành Tựu Phật và Cứu Ðộ Phật Mẫu. Trong hình khám thờ tứ giác
là Tứ Ðại Thiên Vương. Trấn hai bên dùng cỏ man thảo (cỏ dại) màu
xanh lục, đất màu xanh lam, tô thêm vàng, trên cành nhánh dùng chày Kim
cang ba nhánh (Tam cổ Kim cương chử)
cùng các Mạn-đà-la buộc liền nhau. Có một bộ phận Thiên hoa bản vẫn còn
tồn tại đến nay chế tác lạ thường, nghiêm cẩn, tinh mỹ là nguyên vật thời
bấy giờ. “Ðẩu bát ” (?) “Tảo tỉnh” cộng ba cái, phải trái hai cái,
hình thức chế độ tương tự, “minh cảnh” (gương sáng) lớn, chính giữa vẽ
Mạn-đà-la. “Ðẩu củng” chạm trổ tinh tế. Chính giữa “Tảo tỉnh” vẽ
Tỳ-lô-giá-na Phật Mạn-đà-la, đài giữa là Bổn tôn, bên ngoài hoa sen tám
cánh vòng quanh bốn lớp Phật và Bồ-tát. Bốn phương đều có cửa. Bên đông
Tảo tỉnh vẽ Dược Sư Phật Mạn-đà-la, bên tây Tảo tỉnh vẽ A Di Ðà Phật
Mạn-đà-la mà màu sắc dầu còn mới. Mạn-đà-la của ba cái Tảo tỉnh ấy là đồ
độc đáo đặc sắc quí giá có tiếng trong kiến trúc của chùa Pháp Hải còn để
lại.
Màu sắc vẽ gỗ
rường nhà (xà nhà) đã bảo tồn được cái đặc sắc của màu sắc vẽ đời Minh. Nó
cùng với màu sắc vẽ đời Minh của những nơi như chùa Trí Hóa v.v... có chỗ
tương tự, chủ yếu làø sử dụng hai màu xanh và lục, những chỗ “thoái vựng
” (ánh sáng mờ), “hoa tâm ”nhụy hoa)v.v... thì sử
dụng vàng. “Toàn tử ” (vòng tròn) cùng với dạng thức đời Thanh
chẳng đồng, “hoa tâm” làm hình đầu trái thạch lựu, “phương tâm ” (?)
sử dụng một loại màu sắc không trang sức thêm. gian trước (minh gian
) cùng với gian tiếp theo thì sử dụng màu xanh màu lục trộn lẫn xen
nhau, tố chất mộc mạc của hình thức rất rõ.
Phụ cận tảo
tỉnh, khoảng giữa gỗ rường nhà sơn lót (điện bản ) màu đất đỏ, vẽ
hoa cúc leo,
cỏ thân cuộn (quyển thảo ) v.v... Trên đầu cây rui có bản vẽ thếp
vàng khéo léo, tinh vi.
Sau Ðại Hùng
Bảo Ðiện là điện Dược Sư và nhà phương trượng, di chỉ Tuyển Phật trường so
với đại điện lại cao hơn một tầng, một nửa ở bên ngoài tường vây. Bên
trong tường vây còn có di tích nền đài, di tích phương trượng, chúng đều
tàn hoại, còn lại đá đỡ trụ, đá bậc thềm.
Vòng tường
hồng bao toàn ngôi chùa đứng đè lên trên nền đài mặt sau điện Dược Sư nên
phần giữa của tường chùng xuống, có thể thấy là đời sau tu sửa xây dựng.
Phạm vi mặt bắc ngôi chùa so với chùa nguyên lai thu nhỏ lại nhiều. Nguyên
đá xếp làm tường vây hoặc đứt hoặc nối, một bộ phận nền tường xây đè mặt
dưới tường vây hiện tại.
III. BÍCH HỌA CÙNG PHÁP KHÍ.
Bích Họa của
chùa Pháp Hải là vật phẩm trân quí trong bích họa đời Minh.
Trên tường
mặt cửa sau lưng tượng Phật ở tại Ðại Hùng Bảo Ðiện vẽ đầy hơi mây năm
sắc, bút mực bay bỗng linh động, làm mạnh thêm hơi khí vây quanh mây lành.
Chú ý đến bích họa ở hai bên đông và tây có cỏ kết hợp cùng tượng đắp
La-hán hai bên, đầu trên đều dùng hình ảnh trời bay làm đầu, bên dưới ấy,
trong tường vân (mây lành) biến ra tượng Phật mười phương, tượng tám
Bồ-tát, bên dưới, sau tượng đắp La-hán vẽ bốn mảng hoa cỏ xếp dài theo,
rừng rậm mọc lên trong vùng thác lở, đá tứ tung, điểm xuyết một hoàn cảnh
sơn dã. Bích họa cùng với tượng đắp hợp thành một chỉnh thể hồn
nhiên. Do tượng đắp ngăn che nên màu sắc của bích họa ở bộ phận bên dưới
tòa La-hán chưa biến đổi chút nào. Ðối với việc nghiên cứu bích họa thì bộ
phận ấy đã cung cấp nguyên mạo tham khảo quí báu vậy. Bích họa ở lưng
“phiến diện tường” là ba bức tượng Bồ-tát lớn, chính giữa vẽ QuanÂm, phía
đông Phổ Hiền, phía tây Văn Thù. Hai bên cửa sau vách phía bắc là hai mươi
chư thiên hướng về nhau xếp hàng đi tới, đứng đầu là Phạm Vương và Ðế
Thích. Công việc vẽ chế ra tượïng hai mươi chư thiên cùng Bồ-tát là cực kỳ
tinh mỹ. Phục sức của nhân vật thếp vàng điểm phấn, làm bằng gấm, đoạn
trang sức hoa văn rất mịn màng. Bồ-tát mặc lụa mỏng nhẹ thân thể lộ ra,
như bay lên, như cử động, dùng ánh sáng mờ (thoái vựng) phô sắc khắp cùng.
Ðường viền mép đai áo từ cạn đến sâu dần, có nếp gắp đến sáu, bảy
lần. Tuy ý người khắc cầu sự khéo léo, nhưng hiệu quả chỉnh thể vẫn thống
nhất. Hình tượng khắc hoạch đẹp, sáng tạo nhiều hình tượng nhân vật lý
tưởng hóa đã phơi bày rõ ràng công lực nghệ thuật của tác giả tinh thâm.
Nội dung cụ thể của bức vẽ Phạm Vương, Ðế Thích và giá trị nghệ thuật của
nó, có người đã viết thành truyện luận, việc này chẳng tường thuật ở đây.
Những chạm
trổ bằng gỗ, chạm trổ bằng đá, chạm trổ bằng đất nung, cho đến những pháp
khí, đồ thờ cúng đúc bằng đồng bằng sắt được bảo tồn bên trong đại điện
đại đa số là những phẩm vật đời Minh rất tinh mỹ, tiếc là có khuyết tổn.
Những vật trọng yếu trong số ấy có:
Bàn
thờ (cung trác ) sơn màu hồng cộng sáu cái, chia làm bốn dạng thức.
Bàn thờ chính giữa chạm chìm (lũ không ) hình cỏ man thảo (cỏ dại),
dạng hoa văn nghiêm cẩn rất khéo; bên trái bên phải có đồ kê, cái đài của
bàn thờ cong lên trên cuộn lại như hoa xuân buông nhụy, ở bên trong biến
hóa ổn định. Riêng ba kiểu bên ngoài thì đại đồng tiểu dị, mặt chính làm
lối đi nhỏ (khổn môn ), bộ phận nhỏ trang sức có khác biệt, cùng với
bàn thờ khắc đá ở mộ địa của Thái giám Ðiền Nghĩa đời Minh trong vùng có
hình thức tương đồng.
Chuông đồng:
Chuông đúc vào năm Chánh Thống thứ mười hai (năm 1447) bằng chất đồng
thuần khiết, hình chế mỹ quan. Móc treo chuông đúc hai con rồng chặp lại
trông mạnh mẽ có lực. Thân chuông đúc đầy kinh chú bằng Phạn văn. Một vòng
mép dưới cùng bên trong chuông là chú kệ bằng Tạng văn, trong ấy có “Duyên
Khởi Chú”
(tức là “Pháp Thân Kệ”). Cách thức của
chuông, phong cách thể chữ cùng với cái chuông lớn của chùa Giác Sanh ở
Bắc Kinh gần giống nhau. Ở trong danh sách người gom góp tài sản để đúc
chuông liệt kê dài có thể thấy nổi lên tên của đại Thái giám Vương Chấn,
kẻ sốt sắng, quen thuộc lúc bấy giờ.
Giá trống gỗ:
Giá trống chạm trổ bằng gỗ. Bốn mặt bộ phận trên làm hình “đẩu củng”,
“đẩu” dài có u, hoàn toàn phỏng theo kiến trúc đương thời điêu khắc từng
bộ phận nhỏ mà tạo ra. Bộ phận dưới của giá trống chia làm bốn mặt, mỗi
mặt điêu khắc cỏ thân cuộn, bên dưới đầu voi nối liền. Miệng giá bao hàm
cái trống. Bản vẽ đám mây ở bốn mặt khoảng giữa bên dưới trụ đẩu kê cùng
với bản vẽ bộ phận trên của “Lăng Nghiêm Kinh Tràng” làm năm Chính Thống
thứ chín hoàn toàn tương đồng.
Ðài nến gỗ:
Ðài nến cao được một mét. Bên dưới “chúc bàn” (mâm giá nến) có khắc chìm
tua viền (lưu tô ) vòng tròn trang trí xoay quanh. Trong giá đài nến
là cái bình báu mà bên trên bên dưới có vài lớp hoa sen úp ngửa. Ở
trên đáy sơn màu hồng điểm phấn thếp vàng, tạo thành bản vẽ hoa cúc leo và
cỏ cuốn.
Ngoài những
thứ này ra, còn có tòa gỗ chạm rồng, tòa đá chạm rồng và hoa văn nhỏ rất
tinh xảo, nhưng đường lối sử dụng chẳng rõ.
Những phẩm vật công nghệ tinh tế ấy cùng với sự kiến trúc, bích họa v.v...
có đủ những điểm cộng đồng rõ rệt, phong cách nhất trí, tuy tìm cầu hoa
lệ, nghiêm cẩn mà chẳng mất đi phần đại thể. Từ trên tính nghệ thuật mà
yêu cầu thì có những địa phương vượt qua sự ràng buộc. Sự tinh xảo của kỹ
nghệ đã hiển thị cái đặc sắc của thời đại. Thân phận đặc thù của những
người thợ lành nghề ấy cùng tham dự chế tạo không ai không quan hệ.
IV. LĂNG NGHIÊM KINH TRÀNG.
Xem đến những
di vật tinh mỹ ở mọi phương diện của chùa Pháp Hải, không thể không khiến
cho chúng ta nghĩ ngợi triền miên đến thân thủ của những người thợ lành
nghề đã tạo ra những vật phẩm ấy. Họ là những ai? Họ tiến hành sáng
tạo trong những điều kiện nào? Những vấn đề ấy chẳng phải đều nhanh chóng
có thể được hồi đáp thỏa lòng.
Có thể là
trên “Lăng Nghiêm Kinh Tràng” phát hiện bao năm qua đã ghi chép tường tận
danh tự của những người kiến tạo đầu tiên chùa Pháp Hải. Ðể thuyết minh
vấn đề được rõ, hiện tại chắc chẳng thừa, nếu đem nguyên văn tường tận ấy
sao lục lại như dưới đây:
“... Năm
Chánh Thống thứ chín nhằm ngày đông tiết năm Giáp Tý, đại Thái giám Lý
Phước Thiện cùng với tín quan Hạ Phật Tín, Nguyễn Giác Bảo v.v... tạo lập
- Tu chức lang công Doanh Thiện bộ
phó sở Kinh Khẩu
Trần Kính viết chữ - Cổ Tinh Cổ Anh khắc.
Thiện nhân
trợ duyên hiệp lực: Chu Tín .v.v... nêu tên chín mươi chín người (lược qua
bên dưới).
Những người
thợ lành nghề - Thợ mộc: Trương Phước Vượng, Trương Tín, Lưu Phước Nhượng
v.v... nêu tên hai mươi chín người.
Thợ ngói: Lý
Phổ Tín, Nghiêm Ân, Nhậm Trọng Lương, Khâu Hải .v.v... nêu tên mười lăm
người.
Thợ đá: Thẩm
Tường, Vĩnh Thành, Dương Vượng v.v... nêu tên mười ba người.
Quan họa sĩ:
Uyển Phước Thanh, Vương Thứ.
Họa sĩ:
Trương Bình, Vương Nghĩa, Cố Hành, Lý Nguyên, Phan Phước, Từ Phước Lâm
v.v... nêu tên mười lăm vị.
Thợ Trang
loan:
Ðới tường, Tả Thành .v.v... nêu tên bảy người.
Thợ Ðiêu loan:
Khổng Xương, Ðiền Quý, Lý Toàn v.v... nêu tên bảy người.
Thợ sơn:
Dương Nhị, Triệu Thường, Trần Tị v.v... nêu tên bảy người.
Quan đắp
tượng: Lục Quí, Hứa Thọ v.v... nêu tên chín vị.
Thợ cưa: Lý
Qui v.v... nêu tên bảy người.
Thợ làm vàng:
Vương Cảm Nhi v.v... nêu tên bảy người.
Quan đúc
luyện kim loại: Lý Trí v.v... nêu tên ba vị.
Thợ mài giũa:
Chu A Phục v.v... nêu tên ba người.
Thợ đóng đinh
bào nạo: Lý Tư Kính .v.v... nêu tên ba người.
Thợ sắt:
Dương Hải, Tôn Lâm .v.v... nêu tên bốn người.
Thợ ráp gỗ:
Lý Dương Bảo v.v... nêu tên ba người.
Năm thợ lấy
mực: Nghiêm Vũ, Lại Tường, Dương Tái v.v... nêu tên năm người.
Thợ Thổ Khẩu
(?): Tôn Bình v.v... nêu tên ba người.
Những thiện
nhân khuân vác vận chuyển, tiền lương, lo việc ăn uống: Doãn Long Ðiền,
...(khuyết họ) Vân, ... Hưng v.v... nêu tên hai mươi chín người.
Từ bản liệt
kê danh sách dài nêu trên ấy có thể thấy trong công trình kiến trúc tu sửa
đã trải qua một thời gian bốn năm tám tháng, động viên chung mười tám thứ
nghề nghiệp, một trăm sáu mươi chín người tham gia. Tình huống phân công
việc ấy đối với sự nghiên cứu công trình kiến trúc thời bấy giờ có ý nghĩa
tham khảo. Ðặc biệt giá trị là có quan họa sĩ, quan đắp tượng, quan đúc
luyện tham gia được chú ý, cùng một ban thợ lành nghề mà thân phận có khác
biệt, chính đã nói rõ đội ngũ kiến trúc ấy là của sở Doanh thiện bộ công.
Từ đó mà khả dĩ sáng tỏ việc chế tạo công trình kiến trúc chùa Pháp Hải và
Bích họa, pháp khí v.v... tinh xảo chính là đặc điểm kiến trúc và công
nghệ chế tác theo kiểu nhà quan thời bấy giờ. Chỉ riêng phương diện, một
cá nhân Hoạn quan xây dựng chùa miếu mà có thể mặc tình điều động lực
lượng xây dựng của bộ Công vừa lớn vừa lâu dài như ở đây thì có thể gián
tiếp thấy ra tình huống chính trị đương thời.
Ðặc biệt có
bản kê danh sách quan họa sĩ và họa sĩ khác là thú vị, chẳng những chỉ
khiến cho chúng ta biết được danh tính tác giả của bích họa đã từ lâu chưa
giải quyết mà vả lại quan họa sĩ và họa sĩ cùng quan đắp tượng, quan đúc
đã ghi tên chung ở trong Lăng Nghiêm Kinh Tràng thì đồng thuộc về sở Doanh
Thiện của bộ công. Ðiều ấy đối với chúng ta lý giải được tổ chức họa công
là của quan phủ đời Minh và tình huống sinh hoạt của nó có sự trợ giúp.
Phan Rang, ngày 24 tháng 6 năm 2002.
Tuệ Khai cư sĩ