Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
TỨ MINH ÐỆ NHẤT SƠN
TUYẾT ÐẬU
THIỀN TỰ
Nguyên tác:
Ðông Sơ
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
I. TRÙNG HIỂN THIỀN SƯ.
Từ cuối đời
Ðường đến thời Ngũ Ðại trở về sau, Phật giáo có xu hướng bảo thủ cái tàn
khuyết, chỉ một mình môn đình Thiền tông phát huy, nhiều Cao Tăng thạc đức
xuất hiện, xiển dương “Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến
tính thành Phật”. Khoảng năm Thái Bình đời Bắc Tống, xuất hiện một vị Ðại
thiền sư nổi tiếng là Minh Giác Trùng Hiển, tức là thiền sư Tuyết Ðậu, tác
giả quyển Bích Nham Lục, một quyển sách số một của Tông môn.
Núi Tuyết Ðậu
là một danh sơn của vùng Chiết Ðông, ngôi chùa trên núi ấy lại là một ngôi
“Thiền sát” của mười ngôi chùa danh tiếng trong thiên hạ. Tuy nó cùng với
Thiên Ðồng Thái Bạch
ngang danh nhưng mà tú khí linh thiêng của sơn thủy, hùng vĩ kỳ diệu của
núi khe, với những danh lam thắng địa của nó như Bộc Bố (Thác nước đổ
xuống như tấm vải), Cẩm Kính Trì (ao gương gấm), Diệu Cao Ðài (đài cao
đẹp), Thiên Trụ Phong (ngọn núi trụ trời) v.v... thì những nơi khác chẳng
bì kịp. Núi vòng bốn mặt, trên đỉnh có vùng đất bằng vài trăm mẫu, chọn
nơi đó làm Phật trường tên là Tư Thánh Tự vậy.
Lịch sử xa
xưa của chùa chẳng tỏ tường lắm. Căn cứ tương truyền đời Tấn, có vị ni cô
kết am tranh tu ở trong núi này. Năm đầu niên hiệu Hội
Xương nhà Ðường (năm 841 TL) sửa đổi,
trong những năm Quang Khải (năm 885-888 TL) gặp nạn binh loạn đốt
phá. Năm đầu niên hiệu Cảnh Phước (năm 892 TL), ngài Tuyên Thành - Thường
Thông (đời thứ năm phái Nam Nhạc) đến trụ trì đổi tên là Thập Phương Thiền
Viện. Năm Quảng Thuận thứ hai đời Hậu Chu (năm 952 TL) ngài Vĩnh Minh Diên
Thọ đến ở. Lúc đầu thời Bắc Tống, có hai vị sư là Thanh Giản và Hành Duyên
đã trụ ở đây. Khoảng những năm Thuần Hóa, Hàm Bình (năm
990-1003 TL) chùa được ban biển ngạch (biển treo trước cửa) là Tư
Thánh Tự. Năm đầu niên hiệu Càn Hưng (năm 1022 TL), ngài Minh Giác Trùng
Hiển thiền sư đã ở đây hơn ba mươi năm, truyền bá rộng lớn Vân Môn Tông,
mở rộng xây dựng cơ sở chùa.
Trùng Hiển
Thiền sư tự là Ẩn Chi, họ Lý, người Toại Châu (Toại Ninh - Tứ Xuyên), sinh
vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ năm. Năm ngài hai mươi ba tuổi, trong năm
Hàm Bình, cha mẹ qua đời, ngài đến Phổ An Viện ở Ích Châu (Thành Ðô), y
chỉ ngài Nhân Quang thượng nhân xuất gia. Sau khi thọ giới, ngài đi qua
khắp nơi giảng nói, nghiên cứu tận cùng huyền lý, tài năng hùng biện vô
địch. Cuối cùng nhân chỉ thị của một vị tọa chủ, ngài xả bỏ giáo môn, đi
đến các địa phương yết kiến thăm hỏi các đại thiện tri thức. Ngài lấy gió
trăng làm bạn, leo núi lội nước, nhàn tản giải bày bằng thi ca để gởi gắm
tấm lòng nhiệt tình hoài bão đạo pháp. Ðầu tiên ngài lên Tương Dương yết
kiến ngài Thạch Môn Thông, ở lại ba năm, thấy không khế hợp, ngài từ tạ ra
đi, đến tham vấn ngài Trí Môn Quang Tộ ở Tùy Châu (Ðức An - Hồ Bắc). Ngài
Trí Môn Quang Tộ là người nối dõi pháp của ngài Hương Lâm Trừng Viễn. Viễn
sư là đệ tử Vân Môn Văn Yển nên Tộ là truyền nhân đời thứ ba của Vân Môn.
Ngài Tuyết Ðậu một lần gặp gỡ Trí Môn liền khâm phục cao kiến của Trí Môn,
nguyện làm kẻ nối dõi pháp ấy, y chỉ dưới tòa, tinh tấn phi thường. Ngài
Trí Môn rất ái trọng Tuyết Ðậu, đặc biệt gia thêm sự cất nhắc! Một ngày nọ
sư hỏi rằng: “Người xưa một niệm chẳng
khởi thì có lỗi gì?”. Ngài Quang Tộ bảo tiến đến gần phía trước. Sư
vừa đến gần phía trước, ngài Trí Môn liền chụp lấy cây phất trần đánh lên
miệng, sư định mở miệng, ngài Quang Tộ lại đánh nữa. Ðến đây ngài “Hốt
nhiên đại ngộ”! Ngài ở lại đây năm năm, chuyên cần phụng sự, mài dũa rèn
luyện.
Ngài Tuyết
Ðậu từ giã ngài Trí Môn, men theo Giang Ðông đi xuống, hành cước tham vấn
khắp nơi, học hỏi qua những bậc đại thiện tri thức của các tông môn thời
bấy giờ. Ngài đã từng đến những nơi như Ðỗng Sơn, Ðại Long, Thê Hiền,
La-hán, Linh Ẩn .v.v... Có lúc ở trong chúng long tượng (uy nghiêm) ngài
xuất hiện với dáng dấp hùng dũng Sư tử hống, có lúc ngài trầm lặng vài năm
không người biết đến, quả thật là “Cây sào tùy thân chẳng dễ đương”! Thấy
ở câu: tiễn đưa Hùng Trực Tuế trong Tổ Anh Tập!
Pháp duyên của ngài cuối cùng ở chùa Tư Thánh trên núi Tuyết Ðậu tại Minh
Châu. Núi Tuyết Ðậu, thiền sư Vĩnh Minh Trí Giác đã từng ở qua, năm đầu
niên hiệu Càn Hưng rước thầy về trụ trì giống như sinh trở lại nhà. Sư trụ
ở đó ba mươi mốt năm, bạn học trong thiên hạ đua nhau tập họp dưới tòa hơn
một trăm năm mươi người, như Thiên Y Nghĩa Hoài, Xứng Tâm Tỉnh Tông
.v.v... và độ môn hạ tăng có bảy mươi tám người. Long tượng xuất hiện, đời
gọi là “Vân Môn Trung Hưng Tổ”, tự gọi là Tuyết Ðậu Thiền sư. Nhưng mà để
tránh tên húy ấy, Thị Trung Giả Công tâu xin Tống Nhân Tông ban hiệu là
Minh Giác đại sư. Năm Hoàng Hựu thứ tư, ngày mùng mười tháng sáu, ngài
viên tịch, thọ bảy mươi ba tuổi, tăng lạp (tuổi đạo) là năm mươi. Sư đã
từng chế tác “Tụng Cổ Bách Tắc”
để xiển minh Huyền Chỉ của Thiền môn, đồng thời có: Minh Giác Thiền Sư Ngữ
Lục sáu quyển, Bộc Tuyền Tập, Tổ Anh Tập mỗi thứ một quyển, Khai Ðường
Lục, Ðỗng Ðình Lục, Tuyết Ðậu Niêm Cổ Tập, Tuyết Ðậu Hậu Lục, Thập Di
.v.v... lưu hành ở đời.
II. TÔNG MÔN ÐỆ NHẤT THƯ.
Trùng Hiển
thiền sư từng vì người học chế ra “Tụng Cổ Bách Tắc” tức là sách mà người
đời gọi là “Tông Môn Ðệ Nhất Thư”, tiền thân của Bích Nham Lục. Ðây là
tinh túy cả đời của sư. Sư từng nghiên cứu rộng giáo điển, đem “Bách tắc”
công án dùng lời có vần điệu để ca ngợi sự mật áo của Thiền, làm tài liệu
tham khảo học tập ở Tòng Lâm, gọi là “Tuyết Ðậu Tụng Cổ”. Thiền sư biện
tài vô ngại, văn hào một đời, có đủ cái nhìn thấu suốt chính xác siêu
việt, là bậc Cao Tăng hiếm thấy của người xưa. Lời trong bài tụng của ngài
giang hồ tương truyền là tuyệt tác thiên hạ, nhưng lời giản dị mà ý thâm
trầm, chẳng những là “núi bạc, vách sắt” mà người tham học phải khổ nhọc
với sự dùi mài phân giải như con muỗi với con trâu sắt, không có chỗ để
chỉa mỏ vào. Thiền sư sau khi viên tịch được hơn sáu mươi năm, tức là
khoảng năm Chính Hòa đời Tống Huy Tông, ngài Viên Ngộ Khắc Cần thiền sư
khi trụ ở viện Linh Tuyền ở Giáp Hạ thuộc Lễ Châu, những học giả mê hoặc
cầu thỉnh ngài căn cứ vào “Tụng Cổ Bách Tắc” mà chú thích từng câu một.
Mỗi “Tắc” đầu tiên ngài rũ lòng giải bày, sau đó đối với “công án” (bản
tắc) thì dưới câu tụng cổ đều viết lời phụ thêm mà tiếp tục bình xướng,
chọn nhặt ra những điều sâu sắc, phân tích lý lẽ đến cùng tận, phát huy sự
huyền vi, “trực chỉ” đang khi sống, đâu
phải lập ra
chỉ biết để trang sức như phát huy theo
tôn chỉ “đơn truyền” mà thôi! Hết vậy! Sau đó, trong năm Kiến Chân
đời Cao Tông, môn nhân của ngài Viên Ngộ là Từ Chiếu .v.v... thu góp ghép
lại đề là “Bích Nham Lục”, bởi vì biển ngạch của nhà phương trượng viện
Linh Tuyền ghi tên là Bích Nham. Bích Nham Tập nguyên vì học giả mê thích
mà thỉnh vấn thêm, ngài Viên Ngộ rũ lòng từ, cứu giúp tệ hại, nào biết
trên tuyết thêm sương, trên tệ thêm tệ. Vậy nên chỉ có đại tuệ mới thiêu
rụi cây tử (cây thị) tệ hại ấy, nhưng đây là “lửa đồng nội đốt chẳng hết,
gió xuân thổi, lại sinh ra”. Ðến đời Minh, Trương Minh Viễn lại sang định
một lần nữa và cho ra đời thì lại hiển bày ra giá trị của Bích Nham Tập,
tức là hiển bày giá trị Vô Thượng của Tuyết Ðậu Tụng Cổ vậy.
III. PHONG CÁCH CỦA THẠCH KỲ VAÂN THIỀN SƯ.
Từ Minh Giác
Thiền Sư trở về sau, những ngài Vô Chuẩn Sư Phạm Dã, Ông Bỉnh Ðồng .v.v...
nối tiếp nhau chủ trì, trong những năm Cảnh Hựu (năm 1034-1037 TL), vua
Nhân Tông đời Bắc Tống nằm mơ đi chơi núi này nên ban biển ngạch “Ứng Mộng
Danh Sơn”. Cuối đời Bắc Tống chủ trì là Ðạt Quan Ðàm Dĩnh, nổi danh nhờ
thi ca. Năm Thiệu Hưng thứ mười bảy đời Nam Tống (năm 1147 TL) chùa bị
cháy rụi, ngài Như Trạm xây dựng lại. Ðời Minh Tông (năm 1195 TL), Sử Di
Viễn tâu xin chế độ: “Thiên hạ Ngũ Sơn thập Sát”,
chùa ấy được chọn là một của mười sát. Người nối dõi đời sau, có vài lần
trùng tu. Năm Chí Nguyên thứ hai mươi bảy nhà Nguyên (năm 1290 TL) lại
phục hưng, được ban biển ngạch “Thiên hạ Thiền Tông Thập Sát Chi Nhất”.
Năm cuối niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (năm 1644 TL), chùa bị sơn tặc đốt
cháy rụi. Trong năm Thuận Trị nhà Thanh (năm 1644 TL), chùa được ngài
Thạch Kỳ Vân thiền sư trùng tu, cảnh chùa như thế rất là thanh bạch. Thời
bấy giờ, một ngàn ba trăm mẫu ruộng của chùa bị mất mát đã lâu, vị ấp tôn
là Cố Hầu muốn dùng thế lực vì chùa mà đòi lại. Nhà sư gởi thư cảm tạ vị
đó, nói rằng: “Sở dĩ người xưa để lại pháp sản là vì xem mọi người mà tu
pháp. Người sau sở dĩ phế bỏ tài sản sinh sống là vì quên pháp mà chạy
theo tài sản nên chùa tổ (tổ tịch ) ấy đã ba trăm năm trở lại không
có người chủ pháp, tài sản đã hại vậy, tức là niên vận gây nên biến đổi,
đâu phải chẳng nhân vì không có tài sản mà không có pháp ư? Vậy nên châm
chước để thường trụ. Nhất định ít tài sản là tốt, hơn nữa bần nạp (ngài
Thạch Kỳ Vân) đầu tiên thừa theo sự mời gọi của các đàn việt mà lại đây.
Riêng một điều bất nhẫn cảnh chùa tổ ngàn trăm năm bị hoang tàn cây cối
rậm rạp! Hôm nay, may mắn được nhà tranh cửa trúc với bao nhiêu bạn Thiền
ở đây tu trì để kéo dài chút tuệ mạng của Phật Tổ, ngoài việc này còn mưu
việc gì khác nữa đâu! Tài sản nhiều hệ lụy nhiều. Nếu bị tài sản sai khiến
thì đem lại sự quấy nhiễu, việc không một ngày bình yên. Bần nạp thì chẳng
bị của cải làm lụy, của cải chẳng thể chẳng bị chùa làm lụy vậy...”
Than
ôi! Ngày nay đâu phải một mình Tông Môn liêu lạc, tin tức đoạn tuyệt mà
một loạt chùa tăng, phần nhiều đem sản nghiệp của Như Lai buôn bán, tranh
thủ của lợi, lấy tài phú làm vinh, danh lợi làm chuộng. Hướng lên một bực,
không người hỏi thăm. Họ liền nói, ăn số châu báu thì cũng tiếng tiêu mất,
dấu lặn đi. Tông môn, Giáo môn đều thành hang ma, tăng ni trở thành loài
trùng trong thân sư tử, Phật pháp làm sao chẳng thể chẳng suy bại? Thạch
Kỳ rốt ráo, ôi Thạch Kỳ! Lạ thay!
IV. TỨ MINH ÐỆ NHẤT SƠN.
Ngôi chùa ở
cuối đời Thanh đã suy vi lắm, được đại lão Hòa thượng Từ Vận chùa Thất
Tháp đến trụ trì, rồi Hòa thượng Ðạm Thiền Quả Như kế tục. Trải qua đời
Quang Tự đến cuối đời Tuyên Thống, thời Dân Quốc, nhiều năm cay đắng nhọc
nhằn, chùa được xây dựng chỉnh lý mới trở lại, thỉnh Ðại Tạng Kinh, xây
lại pháp đường, Tàng Kinh Các... Bắt đầu có dấu hiệu trung hưng thì Ðạm
Công qua đời, lại suy lạc dần. Năm Dân Quốc thứ mười bốn, Hòa thượng
Lãng Thanh trụ trì được sáu, bảy năm, ngài tạo lại nhà kho, phòng
khách, trùng tu Phật điện, đặt thêm pháp khí, khí tượng lại một lần nữa
chấn hưng. Năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt, Thái Hư đại sư đáp lời mời của
ngài Lãng Thanh, vào ngày Trùng Cữu lên núi Cao Tấn tiếp nhậm trụ trì.
Những nhà tu hành có tiếng, lối vài trăm người đưa nhau vào núi, ngài Thái
Hư liền lên tòa nói bài kệ rằng:
“Thiền môn tuyệt xưng Tuyết Ðậu Tụng
Hải ngoại
do truyền Bích Nham Tập
Kim nhật đương trường niêm xuất thời
Thanh
phong tạp địa khởi hà cực”.
Rồi quay lại nói với
chúng rằng: “Tuyết Ðậu lấy thanh bạch, lao khổ, chất phát, thành thật, yên
tĩnh làm gốc, liệu đầu vào làm đầu ra, tới chùa rõ chùa, thường trăm lần
hưng kiến đều theo thế duyên, Thái Hư như thái hư, xưa nay không một vật
không thể tư tế thường trụ, nhưng tuyệt nhiên chẳng xâm phạm hao tổn
thường trụ, trừ ngoài việc ăn dùng ở tại chùa, cho dù nhỏ như giọt nước
cũng quy làm của công. Lời này xin tuyên cáo với những trời, rồng, Thánh,
phàm vậy!”. Tông chỉ của Thái Hư đại sư chuộng Duy Thức Học của Bồ-tát Di
Lặc, hiển thăng nội viện Ðâu Suất, nên quyết định chùa ấy là đạo tràng Di
Lặc, mà cùng với Phổ Ðà, Cữu Hoa, Nga Mi, Ngũ Ðài là năm đạo tràng rất nổi
tiếng trong thiên hạ. Thuở xưa Tống Nhân Tông nằm mơ thấy đi chơi ở Tuyết
Ðậu, Lý Tông ngự bút viết ban cho bốn chữ Ứng Mộng Danh Sơn, rồi khắc vào
đá, nay còn lại Ngự Thư Ðài. Năm Dân Quốc thứ mười sáu, Tưởng Công (Tưởng
Giới Thạch) đổi biển ngạch cũ Ứng Mộng Danh Sơn ở cửa chùa thành Tứ Minh
Ðệ Nhất Sơn. Chẳng những chỉ danh từ phù hợp nhau mà nhân do giao thông
tiện lợi, phong cảnh bồi dưỡng cho những thắng tích như Phi Tuyết Ðình,
Thiên Trượng Nhai, Quan Mộc Kiều .v.v... cũng trùng tu xây dựng làm tăng
thêm vẻ đẹp của rừng suối.
Sau khi kháng chiến thắng lợi, vì Trùng
Khánh
nên Thái Sư đại sư về lại, do môn nhân của ngài là Ðại Tĩnh Pháp Phảng nối
nhau địa vị của ngài cho đến khi triệt thoái khỏi đại lục. Pháp Phảng pháp
sư thông hiểu rộng rãi ba Tạng, tinh thông Anh văn và tiếng Ba-li (Pali),
là nhân tài kiệt xuất trong giáo giới. Nhưng do bước đường đất nước gian
nan, ngài chưa có thể phát triển sự gánh vác ấy. Chưa bao lâu thì ngài
viên tịch ở Tích Lan. Ngôi chùa ấy, mái điện hùng vĩ, Phật điện cao chừng
bảy trượng, rộng chừng mười một trượng, ngoài việc thờ cúng đấng Giáo Chủ
còn thờ tượng gỗ ba vị Tổ: Bách Trượng, Hoàng Bá, Lâm Tế. Ngoài ra có Tổ
sư Ðường, Ứng Cúng Ðường (điện thờ La-hán), Tiên Giác Ðường, Diên Thọ
Ðường,
Già Lam Ðường, Thiền Ðường, Vân Thủy Ðường,
Khách Ðường, Phương Trượng Ðường. Sân chùa có bài minh viết vào năm
Chí Chánh thứ hai mươi mốt nhà Nguyên, hiện còn phần dưới thạch tràng
lục giác. Bên ngoài sơn môn (cửa chùa), trong rừng tùng, bên dưới Thiên
Trượng Nhai có ngôi tháp của ngài Trùng Hiển Thiền sư.
Khí phái hùng
vĩ, phong cảnh tuyệt đẹp của ngôi chùa là thắng địa của Thiền Tông trong
thiên hạ vậy.
Phan Rang, ngày 9/6/2002.
Tuệ Khai cư sĩ