Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

CHÙA TỪ ÂN VÀ THÁP ÐẠI NHẠN

 

Nguyên tác: Võ Bá Luân

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ

 

Có mt thi đại nhà Ðường (618 - 907), đó là mt thi k rt phn vinh ca xã hi phong kiến c đại Trung Quc. trong nước thì s phát trin kinh tế, văn hóa đạt đến cao độ mà t trước chưa có. nước ngoài và các nước Châu Á thì vic giao lưu tiếp xúc vi các nn văn hóa bt đồng luôn din ra phn thnh phi thường. Nhân đó, t đời Hán Pht giáo m đầu lưu truyn sang, ri tiến đến mt thi k cc thnh. Th đô Trường An ca triu Ðường đã tr thành mt trung tâm văn hóa rt ln trên thế gii thi by gi. Trong thành Trường An xut hin nhng ngôi chùa Pht to rng tráng l chng ít. Chùa T Ân trong s chùa y, ni danh là nh chính nó và có quan h mt thiết vi pháp sư Huyn Trang, mt nhà phiên dch, mt nhà l hành tr danh Pht giáo. Ngôi tháp Ði Nhn trong chùa li chính do ngài Huyn Trang đã đích thân xây dng. Do đó trong lch s Pht giáo Trung Quc, ngôi chùa đã chiếm mt v trí trng yếu và được s trng th ca mi người. Kiến trúc ban đầu ca chùa T Ân đã chng tn ti, chúng ta ch có th t trong s ghi chép ca tin nhân mà tưởng tượng ra qui mô ca nó. Tuy nhiên tháp Ði Nhn đã tri qua bao phen tu sa thêm nhưng đại th vn bo tn được hình thc ca thi Ðường, đến nay vn còn đứng sng sng vùng đất phía nam ca đô th Tây An, tr thành mt đơn v văn hóa trng đim được bo h ca Trung Quc. Bài văn này phng theo vic tri qua hưng phế ca chùa T Ân và tháp Ði Nhn mà trình bày mt cách khái quát.

Chùa T Ân chính là vào năm Trinh Quán th hai mươi hai (648) đời Ðường Thái Tông, thái t Lý Tr (tc là vua Cao Tông sau này). Vì để k nim người m quá c ca mình là Văn Ðc hoàng hu mà xây dng lên nên ly “T Ân” đặt tên. Sách “Ði T Ân T Tam Tng Pháp Sư Truyn” (gi tt là “T Ân Truyn”) quyn th by có chép là, vua Ðường Cao Tông vì kiến lp ngôi chùa y mà tuyên lnh yêu cu tuyn chn vùng đất “rng suiù quyn nhau, ct sao hình thế hơn hết”. Ðến đây quyết định chn phường Tn Xương đông nam b bên trong thành Trường An ca nhà Ðường làm địa đim xây dng. Ða phương y, mt bc đối din vi đin Hàm Nguyên ca cung Ði Minh, mt đông nam ph cận Khúc Giang Trì1 vùng phong cảnh rt m l ca toàn thành là hoàn toàn phù hp ý đồ xây dng chùa. Quan h vi vic xây dng chùa, chính lúc y được gi là “năm tr vì Trinh Quán”, chính là lúc t trong bóng đêm đời trước mà nhà Ðường tiến lên mt bước theo xu hướng toàn thnh thì đương nhiên có kh năng làm đạt đến hết mc hoa l rng ln. Nhân trong truyn này có ghi rng: “Ngh khéo hết bc, g tt chn lc đến cùng, mã não (văn thch ), cây th (g t ), cây long não (g d chương ), cây c (bính lư  ‘g g... đầy trong rng y. Châu ngc đỏ xanh, đá đỏ (giã thch ), bùn trng, vàng, ngc biếc đủ trang trí công trình y. Nào là lu kép, đin đôi, gác mây, phòng thông sut... có đến hơn mười vin, tng cng mt ngàn tám trăm by mươi chín gian”. Din tích toàn ngôi chùa chiếm mt na vùng đất ca phường Tn Xương. Quyn th tám sách Trường An Chí ca Mn Cu đời Tng, bên dưới điu nói v phường Tn Xương ghi rng: “Mt na v phía đông là chùa Ði T Ân”. Nhưng bên trong y ch nói là “thường hơn mười vin”, cũng chưa thy ông y ghi chép c th nói rõ là nhiu hay ít vin, thm chí b phn bên trong lm lc li không cách gì biết được. Trong quyn th by sách Lch Ði Danh Ha Ký ca Trương Ngn V đời Ðường ghi chép, chùa T Ân có nhng bc bích ha ca các ha sư Dun Lâm, Ngô Ðo T, Diêm Lp Bn, Trnh Bân, Vương Duy v.v...Nhng bích ha y được phân b nhng ch: gian đông và tây bên trong tháp, ca phía nam dưới tháp, hai gian và hai ca nam bc, gian ca s trước đin phía bc tháp, vách phía bc hành lang ca hiên phía đông đại đin, t hành lang phía đông đại đin đến vin th nht phía bc, vách phía bc đi vào vin, khong cách hai hành lang, hơi lch v bên ngoài ca gia phía đông nam ca tháp, đông lang ca ni vin t gian phòng th nht đến vách phía nam, vách phía đông bên trong đại Pht đin, hai mt bên trong ba ca gia v.v... Vn đề y đương nhiên ch có th nói rõ v kiến trúc ca mt b phn và chng th căn c vào để tưởng tượng b cc ca toàn b kiến trúc. Ngoài vn đề này li có th nêu lên my danh xưng c th:

Phiên Kinh Vin - Căn c vào T Ân Truyn quyn th by ghi rng: “Ðo tràng mi xây dng y tên là chùa Ði T Ân. To dng riêng Phiên Kinh Vin, trang hoàng rt tráng l, nào là cu vòng by sc, giếng rong lng ly, hơi mây xanh đỏ, đá ngc kê chân ct, nm đồng sáng lóa, khâu vàng phô đẹp... lnh cho pháp sư di v phiên dch”. Thì có th biết ngài Huyn Trang tr chùa T Ân tc là ti Vin này mà phiên dch kinh.

Nguyên Qu Vin, Thái Chân Vin - Sách Nam B Tân thư ca Tin Dch đời Tng ghi rng: “ Trường An vào ngày mười lăm tháng ba, người ta đi xem mu đơn hai con đường, xe nga chy rn ràng. Mu đơn ca Vin Nguyên Qu chùa T Ân là các mu đơn n na tháng trước, mu đơn ca Vin Thái Chân là nhng mu đơn n na tháng sau”. Căn c vào đây có th biết các vin còn li ca chùa y cũng đều có tên chuyên dùng.

Ðoan môn, Tây vin - Sách T Ân Truyn quyn th by chép rng: “Tháng ba mùa xuân năm Vĩnh Huy th ba, pháp sư mun to Phù-đồ bng đá phía nam ca Ðoan Môn ca chùa... vua ra lnh cho Trung Thư Xá Nhân2 là Lý Nghĩa Ph báo cho pháp sư rng: “Công xây tháp mi ln, s khó làm xong, nên dùng gch để làm... đến đây thì s dng gch, mà vn đổi v Tây Vin”. Chính v trí ca tháp Ði Nhn ngày nay là Tây Vin ca chùa T Ân đời Ðường.

Nam Trì (ao phía nam) - Ðường Thư ng Vt có đề bài thơ là: “T Ân T Nam Trì Thu Hà vnh”. Ðã có Nam Trì thì có kh năng li có nhng ao khác na.

Tháp Ði Nhn là vào năm Vĩnh Huy th ba, Ðường Cao Tông (năm 652 TL) căn c vào đề ngh xây dng ca ngài Huyn Trang mà hưng to. Ngài Huyn Trang đồng thi t nhn thiết kế và giám sát công th xây dng. Mc đích xây dng tháp chính là để tàng tr kinh, lun Phn bn ngài đã mang v t Tây Vc. T Ân Truyn quyn th by ghi quá trình xây dng tháp nói rng: “Tháng ba mùa xuân năm th ba (Vĩnh Huy), pháp sư mun to ngôi Phù-đồ bng đá phía nam ca ca Ðoan Môn để an trí kinh, tượng Tây Vc đã đem v... Phù-đồ cao độ ba mươi trượng... lúc sp xây dng gi biu tâu xin, vua nghe tu lnh sai Trung thư Xá nhân là Lý Nghĩa Ph, báo cho pháp sư rng: “Công xây dng tháp ln, s khó làm xong, nên dùng gch mà làm”... đến đây thì s dng gch mà vn đổi v Tây Vin. Mt nn ngôi tháp y mi b đều mt trăm bn mươi thước, mô phng theo chế độ ca Tây Vc, chng tuân theo phương thc cũ đây. Tháp có năm cp và tướng luân, l bàn, thường cao mt trăm tám mươi thước. T đây có th biết được địa đim và vt liu s dng to tháp. Vua Ðường Cao Tông không có chiếu theo ý kiến ca ngài Huyn Trang, nhưng hình thc thì có kh năng là ca ngài Huyn Trang. Tháp cao chng mt trăm tám mươi thước, mt nn mi b là mt trăm bn mươi thước, hình thc k l. Tháp y đại khái là “mô phng y chiếu theo chế độ Tây Vc”. Trong truyn đồng thi nói rng, ngài Huyn Trang vì to ngôi tháp này đã tng đích thân mang ky, xách gi, vn chuyn gch đá.

Nhưng tháp to thành sau bn mươi, năm mươi năm thì phát sinh hin tượng nghiêng đổ, do đó chng th chng tiến hành trùng tu. Sách Trường An Ký ca Mai Cu đời Tng, quyn th tám có nói rng: “Ngôi Phù-đồ sáu cp ca chùa (T Ân) cao ba trăm thước” bên dưới ghi chú rng: “Năm Vĩnh Huy th ba, Sa-môn Huyn Trang đã lp, đầu tiên ch có năm tng, cao mt trăm chín mươi thước (đã lm s đo), gch bên ngoài, đất bên trong, phng theo chế độ ca Tt-đổ-ba Tây Vc, để ct gi tng Kinh Tây Vc. V sau bên trong lòng Phù-đồ c cây mc thng qua nên st l hy hoi dn. Trong khong năm Trường An (niên hiu ca Võ Tc Thiên - năm 701 - 704 TL) li phá đi làm li, y theo kiu chùa dng thc cũ ca Ðông H (phía đông Trung Quc), đặc bit cao hơn trước. Có th thy rng, khong năm Trường An đời Võ Tc Thiên, lúc trùng tu đã có s ci biến v hình thc đối vi ngôi tháp. Tra kho t đon văn chúng ta có th biết, tháp Ði Nhn hin ti mà dng thc cơ bn được bo tn là ca ln trùng tu đời Võ Tc Thiên.

Liên quan đến cao độ và tng cp ca tháp có s hn lon trong ghi chép ca thi Ðường, Tng. T Ân Truyn nói rng: “Tháp đó có năm cp, thường cao mt trăm tám mươi thước. y là vic ghi chép đầu tiên, đương nhiên không có vn đề gì. Sách Du Thành Nam Ký chép rng: “Trong năm Trường An tháp đổ ngã, Thiên Hu và Vương Công cho tin xây dng li gia thêm đến mười tng”. Ð