Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

CHÙA ÐẠI TỪ ÂN

ÐẠO TRÀNG CỦA NGÀI TAM TẠNG

HUYỀN TRANG

 

Nguyên tác: Ðông Sơ

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ  

          

I. HAI ÐẠI THẮNG TÍCH CỦA ÐỜI ÐƯỜNG

1. Xây dựng chùa báo ân 

Thời Thịnh Ðường là thời đại hoàng kim trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, chẳng riêng những bậc Cao Tăng thạc đức tiếp nối nhau ra đời, mở tông lập thuyết mà các đấng quân vương hiền minh, những bậc ưu sĩ lễ nghĩa hiền tài rất sùng kính Tam Bảo, dựng xây chùa tháp cho đến hôm nay vẫn còn lại di tích. Hiện còn có hai nơi: một là chùa Ðại Từ Ân , một là tháp Ðại Nhạn . Hai ngôi này đều là thắng tích trứ danh của Phật giáo đời Ðường.

Sùng đức báo ân chính là căn bản của truyền thống lập quốc năm ngàn năm của Trung Quốc. Ðức Khổng Tử nói rằng: “Hiếu là gốc của con người ư?”. Ðất nước thời Thịnh Ðường là bản đồ rất rộng trong lịch sử Trung Quốc, quốc uy chói sáng rất xa, xưa nay không gì sánh kịp. Lịch sử đã gọi là: “Phía đông từ Cao Ly, phía tây đến các nước xứ Ba Tư, kẻ triều hội đều là những người thống lĩnh những nơi phiên thuộc ấy phục tùng”. Quả thật như Tây Vực Ký đã nói: Ðất xa, nước gần đều vưng mệnh Chính sóc” (chính phương Bắc ý nói Trung Quốc). Ðến đây có thể thấy sự xương long của thế nước đời Ðường vậy. Nhưng mà sở dĩ thời Thịnh Ðường có thể phát huy uy nước lớn mạnh, danh dự lan xa, muôn phương hướng về là vì chính trị sáng suốt, văn võ gồm đủ, sùng kính Tam Bảo, đức sáng chuộng điều tốt, ánh sáng ngày một đổi mới, người cả thiên hạ không ai chẳng ngưỡng mộ chạy theo. Khi Cao Tông ở ngôi Hoàng Thái tử vì báo đáp ơn sâu của mẹ lành là Văn Ðức Hoàng Hậu nên vào năm Trinh Quán thứ hai mươi hai đã xây dựng chùa Ðại Từ Ân trên nền cũ của chùa Vô Lậu (có thuyết cho là chùa Tịnh Giác) ở phường Tiến Dịch, chỗ cách tám dặm phía nam thành Trường An để biểu chương hiếu đạo. Chùa Ðại Từ Ân, tổng xây dựng hơn mười viện gồm một 1897 gian rất là trang nghiêm, hùng vĩ không gì sánh bằng. Công đức viên thành, hoàng thái tử đích thân đến niêm hương, lễ Phật ban biển ngạch (biển cửa), ra lệnh độ ba trăm vị tăng và cúng dường năm mươi vị Cao Tăng đại đức. Trải qua nhiều đời Cao Tăng đại đức như Huyền Trang, Khuy Cơ, Ðạo Tuyên, Tĩnh Mại v.v... đều đã từng ở đây phiên dịch kinh điển hoặc soạn thuật sớ chương, tuyên dương Thánh giáo, hưng long Tam Bảo. Nơi ấy đối với việc xiển dương Phật giáo, truyền bá học thuật đã có sự cống hiến rất lớn. Ðời Thịnh Ðường sùng kính Tam Bảo, trọng hậu đãi ngộ bằng lễ nghĩa mà đời trước ít bì kịp. Khi đại chiến thế giới thứ hai kết thúc, Tổng thống Trung Quốc do Tưởng Công đứng đầu, đối với Nhật Bản đã tuyên bố chẳng chọn lấy chủ nghĩa “Báo phục”, khiến cho trăm vạn quân dân Nhật Bản ở tại Trung Hoa an nhiên mà trở về nước. Ðây là thứ đức độ nhân từ rộng lớn, quả thật là đã kế thừa đạo thống của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Châu Công, Khổng Tử... Sáng ngời cổ kim, cả thế giới khen ngợi.

 

2. Xây dựng tháp cất giữ Kinh.

Vào năm Trinh Quán Thứ mười chín, Trang sư (từ quen gọi ngài Huyền Trang của người Trung Quốc) từ Ấn Ðộ mang theo những cặp lớn đựng Kinh chữ Phạn, về đến Tràng An, theo đuổi nghiệp lớn dịch Kinh. Vì đề phòng Pháp bảo thất tán (lạc mất) và đề phòng hỏa hoạn nên vào năm Vĩnh Huy thứ ba, ngài tâu xin xây dựng Bảo Tháp ở chùa Ðại Từ Ân để cất giữ Kinh tượng, tức là tháp Ðại Nhạn ngày nay. Nền tháp vuông rộng một trăm bốn mươi thước, cao một trăm tám mươi thước. Năm Trinh Quán thứ hai mươi hai, Trang sư dịch ra Du-già Sư Ðịa Luận, tâu xin vua Thái Tông ngự chế bài tựa “Ðại Ðường Tam Tạng Thánh Giáo”, vị Hoàng thái tử lại soạn bài tự ký (ghi bài tựa), Năm Vĩnh Huy thứ tư sai Chữ Toại Lương viết hai bài tựa văn bia này rồi khắc đá đặt ở bên trong tháp mà mãi đến nay vẫn còn. Bia làm bằng đá cẩm thạch đen (đại lý thạch ), đứng ở trên chân đế vuông. Thân bia cao năm thước tám tấc bảy phân, biên đáy ba thước ba tấc, biên đỉnh hai thước tám tấc sáu phân, bên trên khắc năm pho tượng Thập Ca Ngũ Tôn (?) thêm tượng Nhị Thiên1. Bên dưới khắc tượng người cõi Tam Thiên, đường viền bên trái bên phải thì khắc hoa văn Bảo tướng2. Thân trên của bia làm thành đầu con ly3, đều có đề tên, thủ thuật tinh xảo, rất là ưu mỹ.

Khoảng năm Trường An, Võ Hậu đã từng triệt để xây dựng lại, nguyên tháp năm tầng, sau đổi làm bảy tầng. Khoảng năm Trường Hưng đời Ðường Minh Tông lại trùng tu thêm, diện mục ngày một mới hơn. Trong năm Hy Ninh đời Tống Thần Tông gặp hỏa tai. Khoảng năm Thuận Thiên đời Minh Anh Tông và khoảng năm Khang Hy đời Thanh Thánh Tổ đều kinh qua trùng tu cho đến hôm nay. Tháp nguyên được làm bằng gạch, vuông một trăm bốn mươi thước, cao một trăm tám mươi thước. Từ tầng hai trở lên, độ lớn của tháp lần lượt giảm dần, ngắm nhìn nó có cảm giác an toàn. Vách ngoài của tầng đầu và tầng hai dùng ngói che trụ, đều chín gian. Hai tầng ba, bốn đều bảy gian. Ba tầng còn lại đều có năm gian. Trụ tháp đều làm hình “đẩu củng” (trụ ngắn trên xà). Hiên là đoạn mười viên gạch xếp chồng lên nhau dần dần chìa ra phía ngoài. Tầng trên cùng cũng xếp chồng gạch lên nhau rồi dần dần lần lượt xây thành hình tháp. Mỗi thềm, ở chính giữa vách ngoài đều mở một cửa bồng lai hình vòm. Tựu trung, tầng đầu của tháp ấy hiện nay ba cửa đông, tây, bắc đều đóng kín, chỉ mặt nam mở một cửa làm đường giao thông. Từ đây có thể thông đến phía nội gian chừng hai mươi hai thước, dùng gỗ tạo thềm bậc mà có thể theo thứ bậc leo lên đến tầng thứ sáu. Lại phía phải, trái cửa vào mặt nam tầng đầu đều có ngôi nhà nhỏ rộng chừng năm thước, sâu chừng chín thước. Trước ghi Thánh Giáo Tự Bi tức là đặt ở bên trái, bên phải vách nhà. Thời nhà Ðường gọi tháp này là Phù-đồ của chùa Từ Ân, đời sau gọi là tháp Ðại Nhạn. Ngoài ra có tháp Tiểu Nhạn ở chùa Tiến Phước ở cửa nam của Tây Kinh, được xây dựng vào khoảng năm Cảnh Phước đời Trung Tông. Tháp này từ khi mới xây dựng ở đời Ðường, đến nay, những tầng trên tuy có trải qua biến đổi, từ tầng năm đến tầng bảy, nhưng cơ sở tháp ấy và các tầng dưới tuyệt nhiên chưa biến đổi mãi đến nay đã một ngàn ba trăm năm vậy!

 

II. CHÙA ÐẠI TỪ ÂN CÙNG SỰ NGHIỆP DỊCH KINH.

1. Hoằng nguyện của Trang sư.

Ðường Pháp sư Tam Tạng Huyền Trang quen gọi là Ðường tăng, họ Trần tên là Huy, vào năm Khai Hoàng thứ mười sáu (năm 569 TL) đời Tùy, sinh ra ở huyện Trần Lưu - Hà Nam. Phụ thân ngài tên là Tuệ, là một người có học vấn. Khi Trang sư được tám tuổi, nghe phụ thân giảng Hiếu kinh, đến chỗ Tăng Tử rời chiếu đứng dậy, chợt đứng dậy sửa áo. Cha hỏi Ngài vì cớ gì? Ngài đáp: Tăng Tử nghe thầy dạy còn phải tránh chiếu (tỵ tịch), con là người nào? Nay phụng từ huấn (cha dạy) đâu nên ngồi yên chẳng động? Ðến đây thân phụ ngài cảm thấy hân hoan an ủi, biết ngài nhất định trở thành đại khí, liền cổ vũ khích lệ ngài đọc hết nhiều sách vở của Thánh hiền, nuôi dưỡng hứng thú học hỏi nghiên cứu sâu rộng. Từ đây, ngài yêu cổ chuộng hiền, sách vở chẳng phải nhã chính thì không xem, chẳng phải phong cách của Thánh hiền thì không tập. Lúc bấy giờ Phật giáo đang hưng thịnh, Trang sư ở Ðại Nghiệp bốn năm, năm mười ba tuổi liền xuất gia ở chùa Tịnh Ðộ tại Lạc Dương, nơi anh hai ngài đã sớm xuất gia trước, tức là Trường Tiệp pháp sư. Do đó hai anh em ngài đồng ở một chùa, phong trào học ở Lạc Dương rất thịnh nên Niết-bàn, Nhiếp Luận, Câu xá, Tỳ Ðàm... đều có giảng dạy truyền trao. Trang sư luôn ôm sách vào lòng đến nỗi quên ngủ bỏ ăn, chẳng màng đến thời gian, đối với Phật học càng có thêm cơ sở sâu sắc. Nhưng vì mưu cầu sự tiến bộ nên ngài cùng anh đi đến các địa phương tham vấn các vị thiện tri thức. Trước tiên đến Tràng An, lúc mười tám tuổi, kinh qua Tý Ngọ Cốc4 vào đất Thục, cư trú tại Thành Ðô, lại học tập hết bốn, năm năm. Ðối với Nhiếp Luận, Tỳ Ðàm, Câu Xá, Niết-bàn... đều có sự nghiên cứu thâm sâu. Năm Võ Ðức thứ năm, ngài đã hai mươi mốt tuổi, liền thọ giới, tọa hạ (an cư, kiết hạ) học Luật, tông năm thiên bảy tụ một lần học qua được hết. Ngài quay trở về Kinh Châu tuyên giảng Nhiếp Luận, Tỳ Ðàm, Ngài lại đến đất Hà Nam, Sơn Ðông, Hà Bắc v.v... đương thì tuổi trẻ mà dấu chân đã in toàn quốc. Ngài lại đến Tràng An theo ngài Tăng Biện, ngài Pháp Thường, cùng các bậc đại đức giao du, nghiên cứu thảo luận Kinh luận. Những vị ấy biết căn cơ của ngài lớn liền than tiếc rằng: “Ông đáng gọi là con ngựa thiên lý của cửa Thích, tiếc là chúng tôi tuổi già sợ chẳng thể nhìn thấy vậy!”. Nhưng Trang sư đối với những Kinh luận hiểu chưa thể lý giải hết được thì thường theo các đại sư trong nước chất vấn những điều nghi ngờ mà lại chẳng được yếu lĩnh (đầu mối trọng yếu) nên phát bực muốn Tây du (đi tây) cầu danh sư. Ðồng thời ngài ngưỡng mộ ngài Pháp Hiển, ngài Trí Nghiêm nên đi về Tây cầu pháp. Với phong thái hạnh nguyện của ngài có thể dẫn đường lợi lạc quần sinh.

Truyện Từ Ân chép rằng: “Sư yết kiến khắp mọi tôn sư, tham vấn đầy đủ học thuyết của họ, khảo cứu tường tận nghĩa lý của họ, chiếm lĩnh hết đường lối của các tông phái, suy nghiệm các Thánh điển đều thấy ẩn hiện có sự khác biệt, không biết theo ai nên mới thề Tây du để mở ra sự nghi hoặc”. Vậy nên ghi chép hoạt động Tây du của Trang sư thuần túy xuất phát từ học vấn, chẳng phải như việc hành hương về Gia-lộ-triệt-lãnh5 của tín đồ Thiên Chúa Giáo hay việc hành hương về Mạch-gia6 của tín đồ Hồi Giáo thuần túy xuất phát từ việc tham bái mê tín. Ðến năm đầu niên hiệu Trinh Quán, năm ngài ba mươi hai tuổi, vừa gặp hiểm nạn về sương (băng giá, mưa đá), vua lệnh cho kẻ đạo người tục tùy theo chỗ phong thịnh mà tứ tản ra đi. Nhân đây ngài theo dân đói ngầm đến Qua Châu (Ðôn Hoàng), khoảng mùa đông đã đến được cảnh giới Cao Xương (huyện Thổ Lỗ Phiên)7, được vua Cao Xương là Khúc Văn Thái dùng lễ tiếp đãi và muốn ép ở lại cúng dường. Trang sư thề đem cái chết để chống lại nên sau một tháng nói pháp, vua Cao Xương mới chuẩn y cho tây hành. Vua Cao Xương lại đưa tiễn tặng nhiều lễ vật và hai mươi bốn phong thư hàm để đi qua hai mươi bốn nước như nước Khuất-chi8 v.v... Ðồng thời cấp cho quân kỵ tháp tùng, hộ tống đến tận nha sở Diệp Hộ Khả Hãn9 nước Tây Ðột Quyết10. Con lớn của Diệp Hộ là em họ xa của vua Cao Xương. Ðầu nhà Ðường nước Tây Ðột Quyết mới cường thịnh, từ núi Ðại Tuyết Sơn11 trở lên có hơn sáu mươi nước đều là bộ thuộc của nước ấy. Trang sư muốn đi đến Ấn Ðộ, nếu chẳng phải thư hàm của nước ấy bảo hộ thì chẳng thể được. Không thư hàm thì sau khi đi đến nước Khuất-chi (nay là huyện Khố Xa), chính có thể đi về phía nam, từ Sơ Cần12 vượt qua Thông Lĩnh13, hà tất quanh đường qua tây bắc, vượt biển băng qua ngọn Thiên Sơn Băng Lĩnh14 cao bảy ngàn mét, đi qua vùng Trung Á thuộc Nga ngày nay và A-phú-hãn15 để vào Ấn Ðộ. Con đường này là con đường mà Pháp Hiển, Pháp Dũng16 chưa đi qua. Trang sư ở thành Tố Diệp17 hội kiến với Diệp Hộ Khả Hãn rất vui mừng, ra lệnh cho một người thông hiểu ngôn ngữ Hán, hộ tống Trang sư đến nước Ca-tỳ-thí18. Nước này là nước cuối cùng ở phía nam của Tây Ðột Quyết. Từ nơi ấy đắp đổi đi dần đến nước Ca-thấp-di-la19. Vậy nên Trang sư được thuận lợi đi đến Ấn Ðộ quả thật là nhờ sức giúp đỡ của vua Cao Xương Khúc Văn Thái và Diệp Hộ Khả Hãn.

Trang sư tây du trải qua hơn một trăm ba mươi nước mất mười chín năm, chu du năm nước vùng Ấn Ðộ, tham vấn khắp các danh sư, đích thân thọ nghiệp với ngài Giới Hiền, Trí Quang, đồng thời ở những nước ấy hoằng hóa Tông phong. Nơi ngài đến, các nước đều dùng lễ quốc sư để đãi ngộ. Ðến năm Trinh Quán thứ mười chín, ngài trở về đến Tràng An. Vào khoảng mùa đông năm thứ mười sáu, sau khi mở đại hội biện luận ở thành Khúc Nữ20, ngài liền nghĩ đến việc trở về Ðông Ðộ, ngài Giới Hiền cũng khuyên ngài nên sớm trở về. Năm thứ mười bảy khởi trình về nước, dùng voi lớn, xe bốn ngựa, lạc đà chở kinh, tượng hơn sáu trăm bộ. Tháng ba năm thứ mười tám, ngài về đến Vu-điền21. Nhân vì ngựa chết nhiều, ngài tạm ở lại Vu-điền tám tháng, trước tiên dâng biểu báo cáo việc trở về. Ngài nghĩ đến việc trở lại Cao Xương để cảm tạ thành ý chiêu đãi và thư hàm giới thiệu tình cảm với Khả Hãn của vua nước ấy. Ngài nào biết, vào năm Trinh Quán thứ mười bốn, nước Cao Xương đã bị Hầu Quân Tập22 đánh chiếm, thu lấy đất đai, thiết lập châu huyện, ngài liền dừng lại. Cho nên vào ngày hai mươi bốn tháng giêng năm thứ mười chín, ngài về đến Tràng An. Trang sư về nước được mười ba năm, khoảng năm Hiển Khánh thứ ba (năm 658 TL) nước Tây Ðột Quyết liền bị Cao Tông bình định, thiết trí phủ, châu. Từ đây bản đồ nước Ðại Ðường, phía đông từ nước Cao Ly, phía tây đến các nước vùng Ba Tư23, lãnh thổ rộng lớn chưa từng có trước kia. 

2.- Tuệ nghiệp của Trang sư.

Thái Tông nghe nói Trang sư sắp về nước thì lệnh riêng cho Lương Quốc Công Phòng Huyền Linh đi ra ngoài thành đón tiếp, trong triều ngoại nội đều một mực sùng kính.

Cha con vua Thái Tông vì Trang sư mà thiết lập dịch trường ở Tràng An. Ðầu tiên ngài ở chùa Hoằng Phước bốn năm, tiếp theo ở chùa Từ Ân tám năm. Rồi ngài kính tiếp Cao Tông ở cung Tích Thúy tại Lạc Dương một năm, ở chùa Tây Minh hai năm, năm năm cuối cùng trụ ở cung Ngọc Hoa. Trang sư về nước hai mươi năm, theo sự nghiệp lớn dịch Kinh, chưa có một ngày nhàn hạ. Sự nghiệp ấy đã ghi chép theo năm mà chúng ta xem xét để thấy được sự nghiệp vĩ đại của ngài sau đây:

Năm Trinh Quán thứ mười chín (năm 645 TL), ngài năm mươi tuổi, ngày hai mươi bốn tháng giêng về đến Tràng An, tháng hai yết kiến Thái Tông ở Lạc Dương, tháng ba trở về Tràng An, trụ ở chùa Hoằng Phước, theo sự nghiệp lớn dịch Kinh. Năm đó ngài dịch ra Bồ-tát Tạng Kinh, Phật Ðịa Kinh, Lục Môn Ðà-la-ni Kinh, Hiển Dương Thánh Giáo Luận.

Năm Trinh Quán thứ hai mươi (năm 646 TL), ngài năm mươi mốt tuổi, năm đó trụ ở chùa Hoằng Phước dịch ra Ðại Thừa A-tỳ-đạt-ma Tạp Tập Luận, bắt đầu dịch Du-già Sư Ðịa Luận và hoàn thành Ðại Ðường Tây Vực Ký mười hai quyển.

Năm Trinh Quán thứ hai mươi mốt (năm 647 TL), ngài năm mươi hai tuổi, năm đó trụ ở chùa Hoằng Phước, dịch xong Giải Thâm Mật Kinh, Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận, Ðại Thừa Ngũ Uẩn Luận, và phụng sắc vua dịch Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử ra tiếng Phạn.

Năm Trinh Quán thứ hai mươi hai (năm 648 TL), ngài năm mươi ba tuổi, năm đó trụ ở chùa Hoằng Phước, hoàn thành Du-già Sư Ðịa Luận gồm một trăm quyển. Có thể quyết đoán là việc Thái Tông ngự chế bài tựa Ðại Ðường Thánh Giáo để đặt lên đầu các Kinh, Luận dịch mới như: Kim Cang Kinh, Nhiếp Ðại Thừa Luận, Vô Tính Bồ-tát Sở Thích, Nhiếp Ðại Thừa Luận, Thế Thân Bồ-tát Sở Thích Nhiếp Ðại Thừa Luận, Duy Thức Tam Thập Luận, Duyên Khởi Thánh Ðạo Kinh, Nhân Minh Nhập Chính Lý Môn Luận, Bách Pháp Minh Môn Luận... tháng mười thì chùa Ðại Từ Ân hoàn thành, thỉnh Trang sư làm thượng tòa, đồng thời ở trong chùa đặt biệt bố trí viện Hoằng Pháp, chuyên sử dụng làm chỗ dịch Kinh.

Năm Trinh Quán thứ hai mươi ba (năm 649 TL), ngài năm mươi bốn tuổi, từ đây Trang sư dời về trụ tại chùa Từ Ân, tháng năm vua Thái Tông băng hà, vua Cao Tông tức vị (lên ngôi). Vua Thái Tông lúc còn sống thường triệu ngài vào trong cung, trao đổi việc dịch Kinh thì chẳng lẽ không ảnh hưởng. Từ đây, ngài chuyên việc dịch Kinh, không bỏ một chút thời gian, năm đó dịch ra Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh, Tập Hy Hữu Kinh, Thiên Thỉnh Vấn Kinh, Tối Vô Tỷ Kinh, Như Lai Thị Giáo Thắng Quân Vương Kinh, Bồ-tát Giới Kinh, Phật Ðịa Kinh Luận Vương Pháp Chánh Lý Kinh, Ðại Thừa Chưởng Trân Kinh, A-tỳ-đạt-ma Thân Túc Kinh, Thắng Tông Thập Cú Nghĩa Luận.

Năm đầu niên hiệu Vĩnh Huy đời Cao Tông (năm 650 TL), ngài năm mươi lăm tuổi. Năm đó ngài dịch Vô Cấu Xứng Kinh, Chư Phật Tâm Ðà-la-ni Kinh, Phân Biệt Duyên Khởi Sở Thắng Pháp Môn Kinh, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Ðức Kinh, Xưng Tán Phật Ðộ Phật Nhiếp Thọ Kinh, Quảng Bách Luận, Ðại Thừa Quảng Bách Luận Thích, Bổn Sự Kinh, Du-già Sư Ðịa Luận Thích.

Năm Vĩnh Huy thứ hai (năm 651 TL), ngài năm mươi sáu tuổi, năm đó ngài dịch Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập Luận Kinh, Thọ Trì Thất Phật Danh Hiệu Sở Sinh Lịch Pháp Kinh, Ðại Thừa Thành Nghiệp Luận, A-tỳ-đạt-ma Câu-xá Luận Bản Tụng một quyển.

Năm Vĩnh Huy thứ ba (năm 652 TL), ngài năm mươi bảy tuổi, năm đó ngài dịch ra A-tỳ-đạt-ma Hiển Tông Luận, Phật Lâm Niết-bàn Ký Pháp Trụ Kinh, Ðại Thừa A-tỳ-đạt-ma Tập Luận.

Năm Vĩnh Huy thứ tư (năm 653 TL), ngài năm mươi tám tuổi, năm đó dịch A-tỳ-đạt-ma Thuận Chính Lý Luận. Năm đó Huệ Thiên Trí Quang ở chùa Na-lan-đà gửi thư đến hỏi thăm, đồng thời báo tin ngài Giới Hiền đã viên tịch!

Năm Vĩnh Huy thứ năm (năm 654 TL), ngài năm mươi chín tuổi, năm đó dịch tiếp Thuận Chính Lý Luận, Nan-đề Mật-đa-la Sở Thuyết Pháp Kinh Trụ Ký, Thuận Vô Biên Phật Ðộ Công Ðức Kinh, Xưng Tán Ðại Thừa Công Ðức Kinh, Ðà-la-ni Tam Chuẩn Cộng Kinh, ba quyển.

Năm Vĩnh Huy thứ sáu (năm 655 TL) ngài sáu mươi tuổi, năm đó ngài dịch Du-già Sư Ðịa Luận Thích, một quyển.

Năm đầu niên hiệu Hiển Khánh (năm 656 TL), ngài sáu mươi mốt tuổi. Trang sư ở tại chùa Từ Ân, nhân chuyến tây du Ấn Ðộ, đã đi qua những ngọn núi băng như Thiên Sơn và Tuyết Sơn nên mắc phải chứng bệnh hàn, nay tái phát phong bế tim. Từ khi về nước trở về sau, hàng năm phát bệnh luôn, đều nhờ thuốc trấn áp. Năm nay, tháng năm lại phát bệnh đến tháng mười mới khỏi. Ngài dịch Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh. Từ năm đó ngài bắt đầu dịch Ðại Tỳ-bà-sa. Trang sư nhân chùa Từ Ân chưa được lập bia truyền tiếng thơm cho đời sau nên mới mời Triệu Nguyên Siêu, Lý Nghĩa Phủ v.v...tâu xin kiến lập bia chùa Ðại Từ Ân. Nhân đó được vua ân chuẩn, tháng ba đích thân vua chế văn ban cho.

Năm Hiển Khánh thứ hai (năm 657 TL), ngài sáu mươi hai tuổi, năm đó ngài kính tiếp Cao Tông trụ ở cung Tích Thúy tại Lạc Dương và mang theo năm người đồng ở, tiếp tục phiên dịch. Ðồng thời ngài về quê cũ thăm thân nhân, chỉ còn một người chị già, đã không anh em, song thân đã mất hơn bốn mươi năm rồi, gặp phải loạn đời Tùy nên chôn cất vội vàng. Ðến lúc này, ngài xin phép cải táng, mọi chi phí nhu cầu đều do quan cấp, người đạo kẻ tục đến thăm hàng vạn người. Từ đây sư chán sống ở vùng Kinh Lạc (chỗ kinh đô đông người), tâu xin về ở chùa Thiếu Lâm để yên tĩnh tu tập Thiền nghiệp, chuyên tâm lo công đức dịch Kinh. Trong lời biểu có câu: “Sáu mươi năm thoáng chốc đã đến”. Lại viết rằng: “Từ thiếu thời đến nay chuyên tinh giáo nghĩa, chỉ ở ba thiền chín định chưa từng nhàn hạ an tâm, nếu chẳng thu giấu vết trong núi thì chẳng thể thành tựu” v.v... Nhà vua chưa cho phép, ngài tiếp tục dịch Ðại Tỳ-bà-sa, Sở Duyên Duyên Luận, Phát Trí Luận.

Năm Hiển Khánh thứ ba (năm 658 TL), ngài sáu mươi ba tuổi, nửa năm đầu năm ấy trụ ở chùa Từø Ân, tháng bảy ngài phụng sắc dời về chùa Tây Minh. Từ khi Trang sư về nước trở về sau, trụ ở chùa Từ Ân được tám năm, nên chùa Từ Ân chẳng những chỉ có trợ giúp cho nghiệp lớn dịch Kinh mà phong cách nhân từ của Trang sư lan xa, đức cảm hóa muôn phương thì có thể nói đều được thai nghén nuôi dưỡng ở chùa Từ Ân. Vậy nên chùa Từ Ân chính là đạo tràng của Trang sư. Trang sư được sắc vua dời về ở chùa mới, môn nhân của ngài là Khuy Cơ kế tục trụ ở chùa Từ Ân, pháp hóa rộng lớn. Khuy Cơ là môn nhân đắc ý của Trang sư, đã từng tham gia với mười luận sư lớn giải thích, luận bàn về Duy Thức mà làm Thành Duy Thức Luận, ngài đối với Duy Thức Học mà Trang sư truyền cho đã phát huy và có cống hiến rất lớn. Những Kinh luận trọng yếu của Duy Thức Học đều trải qua việc giải thích chú sớ về nghĩa của ngài Khuy Cơ nên hiệu xưng là “Bách Bộ Sớ Chủ”, đời gọi là Từ Ân Ðại sư. Năm Vĩnh Thuần thứ hai đời Cao Tông, ngài tịch ở chùa Từ Ân lúc năm mươi mốt tuổi.

Trang sư từ năm Hiển Khánh thứ ba bắt đầu trụ ở chùa Tây Minh được hai năm, đến năm Hiển Khánh thứ năm đổi sang ở tại cung Ngọc Hoa, phiên dịch Ðại Bát-nhã Kinh, đến tháng mười năm Long Sóc thứ ba, trải qua bốn năm mới hoàn thành. Ngày mùng năm tháng hai năm đầu niên hiệu Lân Ðức ngài viên tịch ở cung Ngọc Hoa, hưởng thọ sáu mươi chín tuổi. Các môn nhân tuân theo di mệnh của ngài, dời linh cửu ngài về viện phiên dịch kinh, tháng tư, an táng ở cánh đồng Bạch Lộc (huyện trường An tỉnh Thiểm Tây) phía đông sông Sản. Kinh ấp và các châu đưa đám đến hơn trăm vạn người. Ngày đó tăng, tục (truy tố)24 túc trực ở mộ địa hơn ba vạn người. Ðến năm Tổng Chương (năm 669 TL), phụng sắc vua dời về an táng ở cánh đồng phía bắc sông Phàn (huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây), xây dựng chùa tháp. Ngày nay đất ấy ở cách phía nam thành Tràng An bốn mươi dặm. Vua Túc Tông ban biển ngạch là: Hưng Giáo Tự.

Ở đây lại có một người còn đợi người đề cử, tức là Na-đề Tam Tạng. Tục Cao Tăng truyện chép rằng: “Nan-đề người miền trung Ấn Ðộ, vào năm Vĩnh Huy thứ sáu mang hơn năm trăm cặp, đựng hơn một ngàn năm trăm bộ Kinh, Luật, Luận, của Ðại, Tiểu thừa đến kinh sư. Có sắc lệnh cho an trí ở chùa Từ Ân. Bấy giờ Trang sư đang đảm đương việc dịch Kinh, tiếng tốt bốc lên vang lừng, không gì đánh đổ sự rực rỡ ấy được. Vậy mà Trang sư đã chẳng dắt dẫn kẻ còn mờ tối mà ngược lại bổ sung thêm cấp sứ (người giúp đỡ), rồi vào năm đầu niên hiệu Hiển Khánh sai đi sang các nước vùng núi Côn Lôn thu hái lấy dị dược (thuốc lạ). Ðến năm Long Sóc thứ ba, Na-đề quay lại chùa cũ thì những Kinh đã mang theo đều bị Trang sư đem xuất về phương bắc, muốn dịch không có gì làm bằng cứ... Tôi (ngài Ðạo Tuyên tự xưng) hỏi rộng rãi những hành nhân cả Hoa Hạ (chỉ Trung Quốc) rằng: “Na-đề, môn nhân của ngài Long Thọ, thâm giải (hiểu biết sâu sắc) thật tướng, khéo đạt phương tiện, năm bộ Tỳ-ni của Tiểu thừa, bốn quyển Phệ-đà Luận của ngoại đạo, không gì không thông suốt đến nguồn đáy, sáng thông lời nghĩa, đã trước tác Ðại thừa Tập Nghĩa Luận được hơn bốn mươi quyển, định đem nó ra dịch, bị mất nên còn thiếu. “Căn cứ vào đây thì ngài Na-đề phải là đại sư của Pháp Tính Tông”. Do cùng Trang sư tông phái chẳng hợp liền bị đuổi đi. Số Kinh điển ngài Na-đề mang lại đủ sức cùng với Trang sư sánh bằng, nhưng chưa có một quyển được dịch ra lưu thông. Quả thật là di hận ngàn xưa của học giới chúng ta vậy! Ngày xưa ngài Phật-đà-bạt-đà-la bị La-thập xua đuổi, nếu chẳng phải Tuệ Viễn đại sư điều hòa thỉnh ngài xuống phương nam thì sáu mươi quyển Kinh Hoa Nghiêm chưa xuất hiện được. Nhưng mà Na-đề chưa có thể phát triển tài lớn của ngài, thật đúng như Tục Cao Tăng Truyện nói rằng: “Ôi! dùng lời tán thán ôm giữ con Lân, đời có dấu vết ấy, biết người khó thành, ngàn năm ít gặp! Nhưng mà Trang sư hại hiền, ngăn học thì cũng chưa đáng gọi là bậc chất chồng thịnh đức được, tại bởi vật chẳng hai cái lớn, lý chắc chắn đều vậy thôi...”

Thời Huyền Tông ngài Nghĩa Phước đến ở, rất được vua sùng kính, trụ ở đây hơn hai mươi năm thì viên tịch. Thời Ðức Tông ngài Mâu-ni Thất-lợi đến đây dịch ra Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Ðà-la-ni Kinh mười quyển, tháng sáu năm đầu niên hiệu Nguyên Hòa thì mất tại chùa. Chùa Ðại Từ Ân thật là thuyền từ cứu đời, là đá trụ giúp đỡ, là mưa hóa thấm ướt, là ân lành hóa độ chồng chất, cho đến ngày nay cửa pháp vẫn còn thấm đượm ân trạch còn lại của ngôi chùa ấy.

Chùa Ðại Từ Ân lâu năm hoang hóa suy đồi, hưng phế bất nhất. Ngày nay rất có thể nhìn thấy di tích ấy đã chẳng phải là diện mục của ngày xưa. Chùa Ðại Từ Ân của đời nhà Ðường chắc đã là đống tro tàn vậy.

 

III. CÔNG LAO VĨ ÐẠI CỦA NGÀI HUYỀN TRANG TAM TẠNG VÀ SỰ CỐNG HIẾN CỦA NGÀI.

Ðem Phật pháp ra mà bàn luận thì ngày nay Phật giáo suy lạc đã cùng cực, tăng lữ đa số dẫm vào quan niệm quyền lợi, kim tiền nhiều hơn trí tuệ, có thể gọi là cái danh thì còn mà sự thật đã mất. Muốn phục hưng Phật giáo thì cần phải có thứ tinh thần vì pháp quên thân như Trang sư để kích phát. Trang sư chẳng những chỉ là một lưu học sinh mà đồng thời là một nhà phiên dịch vĩ đại, một nhà Phật học vĩ đại. Ngài đã cống hiến cho học thuật Phật giáo so với sự cống hiến của những ngài Ðạo An, Tuệ Viễn, Trí Giả, Hiền Thủ, Thanh Lương, Ðạo Tuyên, Thiện Ðạo, Lục Tổ... tuyệt đối chẳng thể bì kịp. Nhưng ngàn trăm năm trở lại đây có thể có bao nhiêu người biết sự vĩ đại ấy. Chỉ có vua Ðường Thái Tông ngự chế bài tựa Tam Tạng Thánh Giáo mới thưởng thức được diều đó của ngài. Vua Thái Tông nhân yêu mến tài ngài đã từng hai lần thỉnh ngài tùng chính, phụ trợ quốc thị mà ngài đều khéo léo cự tuyệt. Thứ phong cách vĩ đại mà uy vũ chẳng thể khuất phục, giàu sang chẳng thể động lòng ấy quả thật là mẫu mực thiên cổ vậy.

 

1. Lưu học sinh vĩ đại

Học sinh của Trung Quốc lưu học tại Ấn Ðộ tuy chẳng phải bắt đầu ở Trang sư. Nhưng Trang sư là người thành công “vô tiền khoáng hậu”, trong số học sinh Trung Quốc lưu học tại Ấn Ðộ. Ngài Pháp Hiển là lưu học sinh Trung Quốc sớm nhất25, tính đến nay đã một ngàn năm trăm năm. Từ đời Tấn đến đời Ðường, qua lại trên con đường Trung Ấn, ra sức lưu thông văn hóa hai nước với nhau thì chẳng dưới vài trăm người, một thời kỳ rất thịnh, diễn ra suốt hai thế kỷ. Thật ra thời bấy giờ con đường Tây du gian nan hiểm trở, chẳng phải như ngày nay rất tiện lợi có tàu biển, phi cơ, sáng đi chiều đến. Việc giao thông Trung - Ấn bây giờ chỉ có một con đường trên đất liền, đi bộ phải mất vài năm mới có thể đến nơi. Thường phải kết thành nhóm bạn đồng hành mà giữa đường hoặc có người sợ khó lui trở về, hoặc có người giữa đường bệnh chết, hoặc có người chết ở Ấn Ðộ, hoặc người ở lại Ấn Ðộ chẳng muốn quay trở về, hoặc có người trở về rồi lại quay sang... Nhưng kẻ thông suốt trước sau, chẳng sợ gian hiểm, may mắn đến được, học tập thành công, mang đầy những cặp lớn sách vở Phạn văn mà trở về thì trong ngàn trăm người có thể có được mấy người vậy? Trang sư mới là người thứ nhất trong số trăm ngàn người Tây du Ấn Ðộ vậy. Vào tháng tám năm đầu niên hiệu Trinh Quán, ngài dấn thân vào gian khó vượt qua lệnh cấm đi về hướng tây, vào sa mạc (lưu sa) tám trăm dặm, bốn bề mênh mông, người, ngựa đều tuyệt vọng, trên không chim bay, dưới không thú chạy, nhìn mặt trời mặt trăng để phân biệt đông tây, quan sát di cốt mà nhận biết đường đi. Sự gian hiểm của đường lữ thứ đến đây càng thấy rõ, luôn bị yêu ma quấy nhiễu, bị giặt cướp bắt bớ, hoặc bị đói khát bức bách. Ngài chỉ mặc niệm Thánh hiệu Quan Âm và Bát-nhã Tâm Kinh, nguyện cầu gia bị. Tóm lại, ngài dùng lòng tin kiên định, xa thì nối dõi Như Lai, gần thì làm sáng đại pháp, thề chẳng dời về phía đông một bước, thà được đến phương tây mà chết. Thứ tinh thần mạnh mẽ, trăm lần bẻ gãy chẳng chùng với chiếc thân xa cách tổ quốc những hơn năm vạn dặm này thử hỏi xưa nay có thể có mấy người vậy? Năm Trinh Quán thứ năm (năm 631 TL), ngài đã ba mươi sáu tuổi, đến được Ấn Ðộ. Ngài liền tiến vào đại bản doanh Phật học, chùa Na-lan-đà, thân gần với Luận sư Giới Hiền, Trí Quang. Ngài Giới Hiền là người đích truyền của Bồ-tát Thế Thân, năm đó đã tám mươi chín tuổi, đem cái học của mình truyền hết cho Trang sư. Ðặc biệt vì Trang sư, ngài Giới Hiền khai giảng Du-già Sư Ðịa Luận, Thuận Chính Luận, Hiển Dương Thánh Giáo Luận, Ðối Pháp Luận, Nhân Minh Thanh Minh Tập Lượng Luận và Trung Luận, Bách Luận v.v... còn Câu-xá, Bà-sa, Lục Túc, A-tỳ-đàm v.v... đã nghe qua trước ở nước Ca-thấp-di-la thì đến đây tìm cách tháo gỡ những mối nghi ngờ. Thường ngài lưu lại chùa những năm năm, đây là chỗ rất đắc lực trong trọn đời học nghiệp của Trang sư. Ngài lại theo Luận sư Thắng Quân học Duy Thức Quyết Trạch Luận rồi thêm vào ý nghĩa lý luận làm thành Vô Úy Luận, Bất Trụ Niết-bàn Luận, Thập Nhị Nhân Duyên Luận, Trang Nghiêm Kinh Luận v.v... Ngài còn hỏi thêm những nghi ngờ trong Du-già, Nhân Minh v.v... Vậy nên đối với điển tịch Ngũ Minh, Tứ Hàm, bao quát ba Tạng mười hai bộ, âm thất lệ bát chuyển26, câu tam thanh27lục thích28... Không gì mà ngài chẳng hết lòng nghiên cứu, nghiên cứu đến cực cùng những cái rất nhỏ. Ðồng thời, ở tại Na-lan-đà ngài cùng với ngài Sư Tử Quang v.v... bàn luận về Không Hữu chẳng hai, mới trưóc tác ra ba ngàn câu tụng “Hội Tông Luận”. Bài luận hoàn thành ngài trình cho ngài Giới Hiền và các đại chúng thì không ai chẳng khen tốt. Dung thông lĩnh hội yếu chỉ của Du-già, Bát-nhã quả thật là nguyện lớn trọn đời của Trang sư. Quan sát việc dịch Kinh, Luận của ngài, sau khi trở về thì biết ngài tận lực với Bát-nhã, đồng thời ngài chẳng đứng sau La-thập. Nhưng đáng tiếc là Hội Tông Luận bản chữ Phạn ngài chưa tự dịch ra. Luận sư tiểu thừa Bát-nhã Cúc Ða và các ngoại đạo ở nước Ô ràbài báng Ðại Thừa nên ngài mới tạo ra một ngàn sáu trăm bài tụng để khống chế các ác kiến, gọi là Ác Kiến Luận. Luận này đã khống chế mười tám bộ tiểu thừa, đả phá chín mươi sáu thứ ngoại đạo, danh tiếng ngài vang lừng. Ðối với vua Ðông Ấn Ðộ ngài thuyết giảng về Tam Thân Luận của Như Lai. Vậy nên các đại luận sư Ấn Ðộ không ai chẳng khen ngợi thịnh đức và tôn ngài là Ðại Thừa Thiên (vị trời Ðại Thừa). Ngoại đạo bị Luận của ngài đánh đổ thì muốn chặt đầu tạ tội, hoặc cầu xin làm nô bộc, Trang sư đều chẳng chịu, chỉ chấp nhận thu làm môn nhân. Ba năm sau cùng ở đây, danh tiếng ngài đầy ấp năm nước Ấn Ðộ. Các nước tranh nhau thỉnh ngài trước đến thuyết pháp. Thỉnh chẳng kịp đến thì đã bao phen dấy động binh đao. Cuối cùng đã được vua Giới Nhật khéo léo an bài. Ở thành Khúc Nữ mở đại hội Biện Luận, cùng dự hội có mười tám vị Quốc vương, tăng tiểu thừa mỗi nước ba ngàn người, tăng của chùa Na-lan-đà hơn một ngàn người, ngoại đạo Bà-la-môn và Ni-kiền29 hơn hai ngàn người. Ðại hội thiết lập bảo sàn thỉnh Trang sư ngồi làm Luận chủ, xưng dương Ðại Thừa, lập nên bài tụng Chân Duy Thức Lượng, đồng thời tuyên lời thề rằng: “Như có người có thể phá được lượng này thì nguyện cắt lưỡi tạ tội”. Trải qua mười tám ngày không một người dám hỏi, lại không dám biện luận pháp nghĩa, vua Giới Nhật ta thán chẳng thôi. Ðến đây tiếng tăm của Trang sư tại Ấn Ðộ có thể nói là lên đến tột đỉnh vậy! Năm Trinh Quán thứ mười bảy Trang sư đông qui (trở về nước), vua Giới Nhật và các tăng lữ sai sứ mang theo Kinh báu để hiến tặng Trung Hoa. Bang giao Trung - Ấn do đó mà thông suốt. Từ sau khi Trang sư về nước vua Ðường Thái Tông ra lệnh cho Vương Huyền Sách v.v... gồm hơn hai mươi người đáp lễ Ấn Ðộ, đồng thời đưa tặng vua Giới Nhật và các tăng lữ nhiều phẩm vật lụa là gấm vóc.

Trang sư tây du Ấn Ðộ cộng hơn mười chín năm, trải qua hơn một trăm ba mươi nước, nhân dân người đạo kẻ tục của các nước không ai chẳng ngưỡng mộ quy tòng. Ngài ở Tây Vực đã làm các Phiên thuộc dị tộc hướng về Trung Hoa, an định biên cương, trợ giúp việc quốc phòng, thật là chẳng nhường công huân viễn chinh Tây Vực của hai ông Trương Bác Vọng (Trương Khiên) và Ban Ðịnh Viễn (Ban Siêu) đời Hán. Vua Ðường Thái Tông đã từng khen trước mặt rằng: “Công ngang Bác Vọng chẳng truyền, Ban Ðịnh không được mà chép”. Nhân Trang sư đi tây chưa từng mang theo một binh một tốt mà hàng phục được dị tộc, chẳng phải bằng vào vũ lực mà vận dụng sức từ bi cảm hóa của Phật pháp Ðại Thừa. Chính điều này khiến cho họ cam tâm phục tùng. Ðây là pháp môn duy nhất để sửa trị các dân tộc dã man. Vậy nên Trang sư chẳng những chỉ là người vĩ đại trong số người lưu học, cũng lại là một chính trị gia vĩ đại hóa tà quy chánh, làm rạng rỡ đất nước dân tộc Trung Hoa đối với các dân tộc khác. 

2. Nhà phiên dịch vĩ đại.

Sinh mạng của Phật giáo ký thác ở việc phiên dịch, từ đời Hán đến đời Ðường khoảng bảy trăm năm, là thời kỳ phiên dịch Phật giáo, mà người theo sự nghiệp phiên dịch nhiều đến hơn một trăm người. Nhưng thời kỳ đầu Cao Tăng của Tây Vực đến Trung Hoa đều không có Kinh điển nguyên bản, chỉ dựa vào việc đọc thuộc lòng của những cá nhân ấy mà thôi. Phân Biệt Công Ðức Luận chép rằng: “Pháp sư ngoại quốc truyền nhau dùng miệng trao phó cho nhau, chẳng nghe có văn ghi chép”. Ðầu tiên đến Trung Quốc, họ chưa thông ngôn ngữ, người ghi chép tuy thuộc người trong nước nhưng chưa chắc tinh thông giáo nghĩa nên đối với những kệ tụng trong Kinh, lý hội rất gian nan. Thường truyền một câu nhất định phải trải qua nhiều phen suy xét, còn phần nhiều chẳng tránh khỏi lầm lẫn. Sách Cao Tăng Truyện đời Tống ghi rằng: “Ðầu tiên thì khách Phạn (chỉ thầy tu Tây Vực) Tăng Hoa (thầy tu Trung Hoa), người nghe kẻ nói đắn đo cân nhắc ý tưởng, vuông tròn chung lỗ (ý nói không khớp), vàng đá khó hòa, bát nhỏ phân phối hết thế gian (ý nói không đủ sức), động gọi tịnh (Tam Muội), thước chỉ ngàn dặm (dùng cái quá nhỏ đo cái quá lớn), gặp mặt khó thông”. Ðây là đoạn văn diễn tả thời kỳ đầu dịch Kinh. Kinh điển dịch ở thời kỳ này phần nhiều thuộc tiểu phẩm (tác phẩm nhỏ), chưa qua chọn lựa, lại không hệ thống, có thể gọi là hỗn tạp vụn vặt. Ở trong lịch sử dịch Kinh, người có khả năng làm công tác này có hệ thống, biết thu nhập, trước sau chẳng quá vài người mà thôi!

(1) Trước có Cưu-ma-la-thập.

Pháp sư La-thập, người nước Qui Tư30, từng theo mẫu thân lưu học Ấn Ðộï, là vị Luận sư Ðại thừa. Năm Hoằng Thủy thứ ba đời Diêu Tần, ngài đến Trung Hoa. Ngài La-thập chẳng những chỉ tinh thông phạm văn mà còn thông cả Hán ngữ, là bậc tài giỏi số một của giới phiên dịch. Kinh luận dịch của ngài so ra nghiêng nặng về dịch ý. Ngài dịch Pháp Hoa thì “uyển chuyển theo phương ngôn mà ý vị không trái với Kinh bản” (bài tựa Pháp Hoa Tông Yếu của Tuệ Quán). Ngài dịch Trí Ðộ thì “văn chữ Phạn khúc mắc, do vì người Tần ưa giản dị nên cắt bớt mà lược đi” (Bài tựa Ðại Trí Dịch Luận của Tăng Duệ). Ngài dịch Trung Luận thì “chỗ nào trái ngược khiếm khuyết hệ trọng thì ghi chép bổ sung thêm” (bài tựa Trung Luận của Tăng Duệ). Ngài dịch Bách Luận thì “rèn nắn xem xét lại thông suốt, cốt sao còn được ý chỉ của Luận, khiến cho mộc mạc mà không quê mùa, giản đơn mà nhất định thấu đáo” (Bài tựa Bách Luận của Tăng Duệ). Ngài dịch lại Duy Ma thì “đạo tục bền chặt, một lời ba lần xem xét, nặn đúc cầu cái tinh túy, cốt bảo tồn Thánh ý, văn giản ước mà thấu đáo, ý chỉ hay mà rực rỡ” (Bài tựa Duy Ma của Tăng Triệu). Ngài dịch Ðại Bát-nhã thì “tay cầm bản chữ Phạn, miệng nói tiếng người Tần (chỉ tiếng Trung Quốc) hai lần dịch tiếng khác, phối hợp nhau để hiện ra ý chỉ của lời văn... cùng với hơn năm trăm người tôn túc kỳ cựu tỏ tường ý chỉ nghĩa của Kinh ấy, thẩm xét trong văn Kinh ấy, nhiên hậu mới viết ra. Tiếng Hồ (chỉ tiếng người miền Tây Vực) mất thì đính chính bằng tiếng Thiên Trúc, lời Tần lầm lỗi thì định lại bằng tự nghĩa, cái chẳng thể biến đổi thì cứ như thế mà chép. Vậy nên tên khác mà vẫn y nhiên, tiếng Phạn còn gần một nữa. Ấy thật là tính kỹ lưỡng chung của người tài hoa, sự thận trọng của người cầm bút”. (Bài tựa Ðại Kinh Phẩm của Tăng Duệ). Từ chỗ này mà quan sát việc phiên dịch của Ngài La-thập thì chúng ta thấy, đối với nguyên bản thì Ngài hoặc tăng thêm, hoặc xén bớt đi, cốt làm sao đạt được ý chỉ. Ở đây có thể thấy nỗi khổ của sự làm việc thảm đạm của Ngài vậy.

Kinh Luận của ngài La-thập dịch ra chẳng những chỉ giàu có từ đẹp, ý vị văn học rất nồng nàn mà tố chất lại khơi dậy một sự biến hóa lớn vậy. Những tác phẩm lớn đã dịch của Ngài như Pháp Hoa, Duy Ma cho đến Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, Ðại Trí Ðộ Luận, chẳng riêng vì giới tư tưởng chúng ta mở ra một cõi trời đất mới mà còn là món bảo điển chủ yếu của Tam Luận Tông đời sau, tức là ảnh hưởng đến giới văn học rất sâu rất lớn. Giáo nghĩa Ðại thừa của ngài Long Thọ thịnh hành rộng rãi ở Trung Quốc thật là nhờ công sức của ngài La-thập vậy. Môn đồ của ngài những ba ngàn người, kẻ thành đạt đến bảy mươi, bậc thượng túc có bốn người: Ðạo Sinh, Ðạo Dung, Tăng Duệ, Tăng Triệu là những người rất nỗi tiếng.

(2) Kế tiếp có Tam Tạng Huyền Trang

Trang sư từng lưu học Ấn Ðộ mười chín năm, tinh thông Phạn văn và phương ngôn tục ngữ của những nước đó. Kinh Luận Ngài dịch so ra nghiêng nặng về trực dịch (dịch thẳng). Tục Cao Tăng Truyện quyển năm ghi rằng: “Từ đời trước đến nay, những Kinh giáo đã dịch, đầu tiên từ ngôn ngữ Phạn viết đão ra văn bản xứ, tiếp theo mới thuận đồng theo tục ngữ ở đây viết trở lại, rồi nhiên hậu người chấp bút quan sát lý lẽ và câu văn mà trung gian thêm bớt vào, phần nhiều hoàn toàn rơi vào lời nói. Việc phiên dịch truyền đạt ngày nay đều theo ý chỉ của Trang sư, ý tứ độc đoán (ý tứ tự mình quyết), ra lời thành chương, lời văn tùy người diễn đạt, tức là có thể vạch ra theo thói thường...” Căn cứ đoạn văn này có thể thấy những bậc thầy phiên dịch đời trước không luận đến thông tục như thế nào, rốt cuộc là sau khi đến Trung Quốc họ mới bắt đầu học Hoa ngữ, việc từ nghĩa chống chế làm sao có thể tránh khỏi? Miệng đắn đo, bút nhận viết rốt cuộc phân ra làm hai mảng, tức là như pháp sư La-thập, phát biểu: “Chuyển khả năng ngôn ngữ Hán thành phiên dịch âm thanh lưu thông tiện lợi”. Ngài dịch Ðại Trí Ðộ Luận đã làm cho Tăng Duệ nói rằng: “Pháp sư đối với ngôn ngữ người Tần rất thấu đáo... Nếu lời chẳng dẫn dụ nhau thì tình không do đâu tuông ra... Tiến, muốn dừng bút tranh phải (trái) thì tranh đua trọn ngày, rốt cuộc không gì thành; lùi, muốn giản đơn mà thuận tiện thì chê tay thương tật thủng nát” (bài tựa Ðại Trí Ðộ Thích Luận trong sách Xuất Tam Tạng Tập Ký). Căn cứ vào lời này thì tình hình chống chế có thể tưởng đã thấy rõ. Những năm cuối đời ngài Chân Ðế mới được Pháp Thái cặp đôi phiên dịch hai quyển Luận Nhiếp Ðại Thừa và Câu-xá. Ngài Chân Ðế than rằng: “Ta sớm gặp ông thì không hận vậy!” (Ðường Cao Tăng Truyện, Pháp Thái Truyện). Vậy là biết đời trước chấp nhận tài danh gì rồi. Tóm lại là người dịch cần phải cùng với người chấp bút nương nhau hợp tác. Nguyên bản đã bao hàm nghĩa đế thì tối thiểu cũng phải cần đến tâm lý của hai người trở lên mới thực hiện được bản dịch. Luận về việc phải đợi dịch ra mới thông hiểu thì đã là gián tiếp, còn đây thì trong gián tiếp lại gián tiếp vậy! Sự gián tiếp ấy phát sinh lỗi lầm là điều khó tránh khỏi. Vậy nên như Trang sư có thể dùng một thân kiêm luôn hai việc, miệng nói ra, tay viết lấy thì mới đủ dùng ngôn ngữ cho việc phiên dịch. Do đó Trang sư bất luận dịch ý hay dịch thẳng đều có thể điều hòa khéo léo, viên mãn không có điều lầm lỗi vậy. Những sách dịch ra của ngài như: Du-già Sư Ðịa Luận, Nhiếp Ðại Thừa Luận, Hiển Dương Thánh Giáo Luận, A-tỳ-đạt-ma Luận, Nhị Thập Duy Thức Luận, Tam Thập Duy Thức Luận, Thành Duy Thức Luận, Biện Trung Biên Luận, Tạp Tập Luận, Bách Pháp Môn Luận, Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận... có hơn mười thứ, chẳng phải chỉ xác lập Pháp Tánh Tông mà thôi, mà có thể toàn bộ học thuyết của Vô Trước, Thế Thân được chuyển vào Trung Quốc thật ra là nhờ vào sức lực của Trang sư, từ Trang sư trở về sau không ai có thể làm tiếp được. Trang sư chẳng làm độc một việâc phiên dịch chữ Phạn ra chữ Hán mà đồng thời còn dịch Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử ra chư Phạn và Ðại Thừa Khởi Tín Luận của Bồ-tát Mã Minh. Nhân việc Trang sư dịch Kinh này, chẳng những chỉ bao trùm phương đông đồng thời gồm cả việc truyền bá qua phương tây, khiến cho danh tiếng Trung Quốc truyền bá đên những thành bang khác, quả thật là một vinh điển lớn trên lịch sử giao lưu văn hóa Trung - Ấn!

Trang sư tuy truyền bá học thuyết của ngài Thế Thân nhưng không tơ hào quan niệm về tông phái, chẳng bài xích những học thuyết khác mình. Những Kinh Luận ngài dịch ra bao quát hết Kinh điển của Ðại thừa, Tiểu thừa và ngoại đạo. Sáu trăm quyển Ðại Bát-nhã cũng do Trang sư dịch ra, trải qua bốn năm mới hoàn thành. Ðó là tập đại thành của những bộ Bát-nhã, là số quyển tối đa trong tất cả Kinh điển Hán dịch. Kinh Ðại Bảo Tích, Trang sư cũng từng cố gắng dịch vài hàng, cuối cùng vì tinh lực chẳng theo kịp mà phải dừng bút. Ðại Bát-nhã, Du-già Sư Ðịa Luận, Ðại Tỳ-bà-sa Luận, A-tỳ-đạt-ma Thuận Chính Lý Luận của ngài dịch ra đều là điển tịch của người, trời là báu vật trấn quốc. Trang sư về nước chỉ khoảng hai mươi năm mà dịch ra Kinh Luận tổng cộng bảy mươi ba bộ gồm một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển. Ngài La-thập ở Trung Hoa lối mười năm chỉ dịch được bảy mươi tư bộ gồm ba trăm tám mươi tư quyển. Nếu đem so sánh với nhau thì thật chẳng thể đồng thời gian mà nói hơn kém vậy. Trang sư dùng hết sức lực, tuổi già mà dốc lòng, hai mươi năm qua tự lập công quả, không bỏ phí chút thời gian. Mỗi ngày ngài quy định thời khóa dịch. Nếu ban ngày có việc chưa thể hoàn tất thì nhất định làm tiếp vào ban đêm, thường đến tận thâm canh mới dừng bút. Rồi ngài lại lễ Phật hành đạo mãi đến canh ba mới tạm ngủ nghỉ, canh năm lại thức dậy đọc tụng Phạn bản (bản Kinh chữ Phạn), điểm châu theo thứ lớp (đánh dấu đỏ theo thứ tự quan trọng) hoạch định khóa trình trong ngày. Cứ như thế này, trọn hai mươi năm như một ngày chứ chẳng phải sốt sắng nhất thời, thật đáng khâm phục! Hơn nữa tinh lực của ngài cũng chẳng phải người thường có thể bì kịp. Bằng tinh lực của một người dịch ra hơn một ngàn ba trăm quyển Kinh điển, bình quân mỗi năm dịch ra sáu mươi bảy quyển. Khoảng bốn năm sau cùng, từ năm Hiển Khánh thứ năm đến tháng mười năm Long Sóc thứ ba, bình quân mỗi năm ngài dịch ra một trăm bảy mươi quyển. Chẳng những chỉ dịch Kinh mà ngài còn cải chính những lầm lẫn của Kinh dịch đời trước nữa. Những điều mà ngài qui định để dịch Kinh đã trở thành những mẫu mực vĩnh viễn trên lịch sử dịch Kinh. Như sự thành tựu bất hủ này chẳng phải là cái “không tiền tuyệt hậu” trên lịch sử Phật giáo Trung Quốc thì tức là trên lịch sử học thuật thế giới, chẳng tìm ra người thứ hai. Tuy nhiên, những Phạn bản đã mang về ngài chỉ mới dịch ra được một phần mười, còn đến năm trăm tám mươi hai bộ chưa qua phiên dịch. Giả như năm tháng quay trở lại đủ cho ngài dịch hết ra thành Hán ngữ những Phạn bản đã mang về thì không biết phúc lành ban cho học giới chúng ta lại sẽ như thế nào đây? Khó có thể dự liệu vậy!

Trang sư dịch Kinh, dịch một mực thẳng đến trước lúc lâm chung hai mươi bảy ngày mới dừng bút. Cái tinh thần chăm chắm chẳng mệt, chết mà chưa thôi ấy sẽ vĩnh viễn tạc vào sử xanh. Chỉ khoảng hai mươi bảy ngày này, ngài còn tùy thời vì các đệ tử giảng giải Kinh mới, cởi mở các nghi nan, không một ngày an nhàn, đích thực là khuôn mẫu ngàn xưa vậy. Người xưa đã nói rằng: “Võ sĩ phải chết ở chiến trường, người học phải chết nơi tòa giảng”. Từ xưa đến nay, những học giả trong, ngoài nước đã hiến thân cho học giới, hoằng pháp lợi sinh, chưa có người nào như Trang sư của chúng ta vậy. 

3. Nhà học Phật vĩ đại.

Trang sư ở trên lịch sử Phật giáo chẳng những chỉ là một nhà phiên dịch vĩ đại mà đồng thời còn là một nhà học Phật vĩ đại. Ngài đối với những điển tịch “ngũ minh”, “tứ hàm”, toàn bộ ba tạng mười hai bộ, âm vận “thất lệ bát chuyển”, câu tam thanh”, “lục thích”... không gì ngài chẳng tinh thâm nghiên cứu. Quan sát ngài ở Ấn Ðộ vì dung hòa tư tưởng hai đại học phái Du-già và Bát-nhã nên đã từng trước tác ba ngàn câu tụng “Hội Tông Luận”. Và để chế ngự mười tám bộ Tiểu thừa, đả phá chín mươi sáu thứ ngoại đạo, ngài đã trước tác Ác Kiến Luận. Ngài vì tuyên dương chân nghĩa Ðại thừa nên đã lập ra Chân Duy Thức Lượng Tụng, trải qua mười tám ngày không có người dám hỏi. Ðến đây có thể thấy, ngài đối với ba tạng Kinh Luận học hỏi thấu đáo, tinh thâm rộng lớn như thế nào rồi. Giáo điển mà ngài rất tinh thông là Du-già Sư Ðịa Luận. Du-già của ngài Vô Trước, Trung Quán của ngài Long Thọ là hai đại học phái Ấn Ðộ ra đời sau khi đức Phật diệt độ bảy trăm năm. Học phái Trung Quán của ngài Long Thọ qua ngài La-thập dịch đến Trung Quốc. Nhưng mà những người truyền Duy Thức của ngài Vô Trước, Thế Thân thì trước sau có ba người: Một là ngài Bồ-đề-lưu-chi đời Bắc Ngụy, hai là ngài Chân Ðế đời Trần, ba là ngài Tam Tạng Huyền Trang đời Ðường. Ba người này tuy đồng truyền bá Duy Thức Học nhưng do ở mỗi người có sự bất đồng về kiến giải chủ quan của mình đối với việc giải thích ý nghĩa Duy Thức Học rõ ràng có sự khác biệt. Việc truyền bá Kinh Luận của hai người trước chỉ thuộc từng bộ phận, lại chẳng phải theo hệ thống. Duy chỉ ngài Huyền Trang đích thân kế thừa luận sư Giới Hiền mà ngài Giới Hiền là đại đệ tử đích truyền của Bồ-tát Thế Thân nên ngài Huyền Trang là người đệ tử được Luận sư Giới Hiền truyền cho Duy Thức Học chính thống mà những người khác không bì kịp. Ngài Giới Hiền vì Trang sư khai giảng Du-già Sư Ðịa Luận, người đồng nghe có đến vài ngàn người mà Trang sư nghe liền ba lần. Vậy nên đối với Du-già Sư Ðịa Luận ngài hiểu biết rất sâu. Du-già là Bộ Luận căn bản của Pháp Tướng Tông được gọi là “một gốc mười nhánh” (Nhất bản Thập chi). Ðương thời, chùa Na-lan-đà là học phủ tối cao của pháp tướng học Ấn Ðộ. Thường giải Kinh Luận hai mươi bộ thì hơn một ngàn người, ba mươi bộ thì hơn năm trăm người, năm mươi bộ thì cùng với Trang sư có mười người. Chỗ giúp đắc lực cho học nghiệp của Trang sư tức là tại chùa Na-lan-đà. Ngài lại theo Luận sư Thắng Quân đệ tử của ngài An Tuệ học Nhân Minh, Thanh Minh và Luận Ðại thừa, Tiểu thừa và cả những sách vở của ngoại đạo, Kinh điển Tứ Phệ-đà, Thiên văn, Ðịa lý, Y học, Phương thuật, Lý số... không gì ngài không xem xét đến cùng căn nguyên, đến tận cành lá. Vậy nên Trang sư chẳng chỉ học tinh thông Phật học mà thiên văn, địa lý, y thuật, phương số, điển chương ngoại đạo không gì ngài chẳng tinh thông. Tại phương diện dịch thuật truyền bá Duy Thức Học, qua sự truyền dịch của ngài thì chắc chắn cái học Tứ Hàm Ngũ Minh cũng nhờ sự truyền dịch của ngài. Sự cống hiến của Trang sư đối với Duy Thức Học chẳng phải chỉ ở việc dịch thuật truyền bá và đồng thời đem Duy Thức Tam Thập Tụng của ngài Thế Thân đã được sự chú thích của mười Ðại Luận sư Ấn Ðộ như Hộ Pháp v.v... trộn lẫn lại hợp thành một bộ Thành Duy Thức Luận. Thành Duy Thức Luận là bảo điển của Duy Thức Học. Tuy Trang sư có tham khảo ý kiến các Luận sư rồi diễn đạt theo ý mình thì rõ ràng đã ngang bằng với tự sáng tác, nhưng trên danh nghĩa vẫn là phiên dịch. Ðây là kiệt tác tập đại thành của Duy Thức Học. Tựu trung là lấy Luận Sư Hộ Pháp làm chủ, quán triệt tư tưởng chính thống của Duy Thức Học, còn tư tưởng của chín Luận sư khác đều phải qua sự san định lại khiến cho độc giả đời sau không cách gì nhìn thấy được kiến giải của chín vị Luận sư kia. Ðối với công việc nghiên cứu, so sánh tham khảo chứng liệu trong vấn đề học thuật thì hạng dịch giả này có công hay có tội đối với lịch sử học thuật, còn chưa phân minh.

Duy Thức Học tuy bắt nguồn sâu xa ở Ấn Ðộ, nhưng làm cho được sự thành tựu to lớn ấy, ở trên lịch sử Phật giáo Trung Quốc, có thể có một hệ thống tư tưởng học thuật hoàn chỉnh thì đây lại không thể không qui công lao cho Trang sư. Ngài đề xướng phân tích giảng giải theo phương pháp Nhân Minh, làm cho người trong nước biết sử dụng một cách “Lô-gich” (La tập ) để ứng dụng trong học tập, quả thật bắt đầu từ Trang sư. Ở trong Duy Thức Học, Trang sư là người kế thừa Duy Thức Học chính thống của Ấn Ðộ, là thỉ tổ của pháp Tướng Tông Trung Quốc. Ở trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc nói riêng, lịch sử Phật giáo thế giới nói chung ngài đều chiếm địa vị cực kỳ trọng yếu. Các môn nhân của ngài như Khuy Cơ, Tuệ Chiểu, Trí Châu kế tiếp nhau truyền thừa phát huy giáo nghĩa Duy Thức Học khiến cho Duy Thức Học ở thời Thịnh Ðường trở thành một học thuyết tân hưng mà ở vào địa vị lãnh đạo Phật giáo!

 

IV. HUYỀN TRANG TAM TẠNG CÙNG VĂN HÓA ÐỜI ÐƯỜNG

 (1). Dùng lễ đãi ngộ của Thiên tử nhà Ðại Ðường.

Ðời có thiên lý mã (ngựa hay) nhiên hậu mới có Bá Nhạc31, thiên lý mã thường có mà Bá Nhạc không thường có. Vậy nên sự vĩ đại của Trang sư ngàn trăm năm sau có thể có bao nhiêu người biết sự vĩ đại ấy? Trang sư Tây hành vốn thuộc dạng lén xuất quan vượt lệnh cấm là vi phạm pháp lệnh quốc gia. Từ đây, mãi mười tám năm sau mới về đến Vu-điền, trước tiên ngài dâng biểu báo cáo trở về, xin vua Thái Tông khoan thứ cho tội vượt lệnh cấm của ngài. Vua Thái Tông chẳng những chưa truy hỏi thêm gì mà sắc bảo rằng: “Nghe thầy đi học hỏi đạo ở đất nước khác nay đã trở về, trẫm hoan hỷ không lường, hãy tức tốc đến cùng trẫm tương kiến. Những vị tăng giải được Phạn văn và Kinh nghĩa của nước ấy cũng mời đến luôn”. Thứ phong độ khoan dung ấy là điều mà người đời sau chẳng bì kịp. Vào ngày hai mươi bốn tháng giêng năm Trinh Quán thứ mười chín, Trang sư đường đường chính chính trở về đến Tràng An, dâng lên vua năm trăm hai mươi cặp đựng Kinh, gồm sáu trăm năm mươi bảy bộ do hai mươi bốn con ngựa chở đến. Lương Quốc Công Phòng Huyền Linh thống xuất quan viên văn võ ra tận vùng ngoài thành nghênh đón. Cảnh hoan nghênh của nhân dân hai bên đường thật là “vô tiền khoáng hậu”. Lúc bấy giờ, vua Thái Tông đang viễn chinh nước Cao Ly32, nghe nói Trang sư đã về, ngài vội vàng từ tiền tuyến về Lạc Dương. Tháng hai, Trang sư yết kiến vua Thái Tông ở Lạc Dương, diện tấu với vua quá trình đi tây của mình. Riêng việc tự ý Tây du, ngài cảm thấy sợ hãi và hổ thẹn. Vua Thái Tông xem xét ý ấy rồi nói rằng: “Thầy xuất gia cùng với người thế tục cách biệt, nhưng thầy có thể vất bỏ tánh mạng để cầu pháp để đem lợi ích cho quần sinh, nay trẫm rất vui vậy!” Ðồng thời vua nói với bày tôi theo hầu rằng: “Ngày xưa Phù Kiên gọi Thích Ðạo An là thần khí, cả triều tôn trọng vị đó. Nay trẫm xem thầy phong cách tuyệt vời, ngôn từ nhã nhặn, không nên hổ thẹn, vì là người trải qua một cuộc hành trình xa xôi như vậy!”. Nhân đây nhà vua càng thêm đãi ngộ ưu ái. Do quá thương yêu, nhà vua đã từng ba lần khuyên Trang sư trở về thế tục để “phụ trợ quốc thị” Trang sư khéo léo dùng lời từ tạ rằng: “Huyền Trang thiếu thời nương theo cửa tu hành, lòng khâm phục Phật đạo, lập tông phái thì quen, còn công việc Khổng giáo chưa học hỏi, nay vua khiến trở về tục, không khác gì người đi thuyền trên dòng sông mà bỏ nước lên đất liền, chẳng những không công mà cũng là tội đồ, trở thành hủ bại vậy. Thần nguyện được trọn đời hành đạo để báo đền ơn nước, tức là Huyền Trang may mắn lắm rồi! Xin được thỏa nguyện mới thôi!”. Trang sư chẳng nguyện theo thế tục vua Thái Tông cũng không sao nài ép được. Vua Thái Tông muốn chinh phạt Liêu Ðông (nay là vùng đông nam tỉnh Liêu Ninh) lại yêu cầu ngài cùng đi. Trang sư lấy việc giới luật chẳng cho phép nhìn xem chiến trận làm lý do từ chối mới thôi. Căn cứ việc này, chúng ta thấy Thái Tông chẳng những hiểu được sự vĩ đại của ngài mà hầu như ngài cùng Trang sư có túc duyên chẳng phải cạn, càng thêm sùng kính. Ðầu tiên từ Ấn Ðộ về lại, Trang sư liền muốn ở chùa Thiếu Lâm trong núi Tung sơn để phiên dịch Kinh điển, vua Thái Tông lại chẳng cho, ra lệânh đến ở Hoàng Phước Tự phía tây kinh thành mà phiên dịch Kinh điển, mọi kinh phí nhu cầu đều do quan cấp. Vào năm thứ hai mươi hai Trang sư dịch ra quyển Du-già Sư Ðịa Luận, tâu xin vua ban cho bài tự, ngài viết rằng: “Cúi mong bệ hạ rủ lòng thương thần ngự chế viết đề một bài tựa, tán dương tông cực (tông phái rất cao), mong muốn được lời bay bổng, ý sâu xa, cùng mặt trời mặt trăng sáng bằng ngọc tự ngân câu (giống như ca ngợi, lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu), bền chắc sánh bằng trời đất, khiến cho trăm đời sau tụng vịnh chẳng cùng, ngoài ngàn năm chiêm ngưỡng cứ là tuyệt vời. Ðầu tiên vua Thái Tông xem Du-già Sư Ðịa Luận, nói với quan hầu rằng: “Trẫm xem Phật pháp giống như trông trời ngắm biển không lường được cao sâu, chín dòng đạo Nho33 kia so với đó giống như vùng đất bãi sông bị nước xoáy, như vũng biển với biển cả vậy”. Ðối với việc ngự chế bài tự nhà vua khiêm tốn nói rằng: “Trẫm học cạn, tâm vụng về, đối với sự vật còn mê hoặc, huống là Phật đạo u vi (sâu tối vi diệu) đâu có thể ngưỡng mong đo lường được? Nay thỉnh vì Kinh đề tựa thì chẳng phải là sự hiểu biết của mình!” Qua ba lần tâu xin nhà vua mới ban cho bài tựa của Kinh, tức là bài tựa Ðại Ðường Tam Tạng Thánh Giáo ngày nay. Gồm bảy trăm tám mươi mốt chữ. Vua Cao Tông lại ngự chế bài tựï ký (bài ký về bài tựa), Tăng Hoài Nhân... lại họp với Vương Hy Chi viết chữ rồi ân cần khắc bia đá. Sau khi Thánh Giáo Tự được ban bố, vương công, đại thần, bách tính không ai chẳng hân hoan vui mừng ca tụng đức hạnh, lê dân khắp thành thị, nông thôn tranh nhau qui tùng. Ðó chẳng những là một bộ hiến pháp của Phật giáo, chẳng chỉ có từ đẹp phong phú mỹ lệ mà bao hàm muôn ngàn thứ và từ xưa đến nay chưa có ai có thể đổi một chữ trong bài ấy. Quả thật là “ngoài ngàn năm chiêm ngưỡng tuyệt vời mà còn định yên cơ sở cho việc hoằng hóa Thánh Giáo cho ngàn trăm năm sau kể từ Ðường Tống. Do đó dòng văn học Ðường - Tống hậu lai như Hàn Dũ, Âu Dương Tu tuy đem hết tâm lực trọn đời bài xích Phật giáo những chẳng chút tỏ hào có thể lay động lòng tin của người trong nước đối với Phật giáo mà kết quả thì ngược lại. Hàn Dũ đã khuất tất với thiền sư Ðại Ðiên, còn Âu Dương Tu thì lòng theo về với thiền sư Tổ Ấn, đều là được sự đồng hóa của Phật pháp. Sự cảm hóa ấy đều là công đức cảm hóa thầm lặng của Thánh giáo vậy.

Vua Thái Tông đối với Phật giáo, đầu tiên chưa thuần tín. Năm Trinh Quán thứ mười một đã từng xuống chiếu lệnh cho Ðạo sĩ, nữ đạo sĩ (nữ quan ) có địa vị ở trên tăng, ni. Những năm cuối, nhân Trang sư về nước, nghe giảng “Du-già”, “Kim Cương Bát-nhã” về đại ý và nhân quả báo ứng mới so sánh với tín ngưỡng trước. Lúc sắp mất ngự trước Trang sư và bảo rằng: “Trẫm với sư gặp nhau quá muộn, chẳng thể hưng khởi Phật pháp rộng rãi”. Sau khi vua Thái Tông băng, vua Cao Tông tức vị (lên ngôi).

Năm Hiển Khánh thứ hai, ngài theo vua Cao Tông đến Lạc Dương, trụ ở Tích Thúy Cung một năm, và mang theo năm người cùng đến để tiếp tục dịch Kinh. Ðồng thời ngài tâu xin cải táng cha mẹ, lại xin về ở chùa Thiếu Lâm để tịnh tu Thiền định, nhưng nhà vua chưa định cho phép. Tháng giêng năm thứ ba ngài lại theo vua trở lại Tràng An, khoảng mùa thu thì phụng sắc dời về ở chùa Tây Minh, qui ngôi chùa ấy rất lớn, có đến mười viện, phòng ốc hơn bốn mươi gian, rất là trang nghiêm cho dù là chùa Ðồng Thái đời Lương, chùa Vĩnh Ninh đời Ngụy cũng chẳng bì kịp vậy.

Năm Hiển Khánh thứ năm, ngài tâu xin về ở cung Ngọc Hoa dịch Kinh Ðại Bát-nhã, cảm thấy sinh mạng vô thường, sợ chẳng thể làm xong, ngài đối trước môn nhân dạy rằng: “Huyền Trang nay đã sáu mươi lăm tuổi, nhất định sẽ mất ở ngôi Già Lam này, các ngươi phải nỗ lực chuyên cần thêm, chớ từ bỏ lao khổ”. Ðến tháng mùa đông năm Long Sóc thứ ba, Kinh Ðại Bát-nhã hoàn tất, ngài lại bảo với môn nhân rằng: “Ta đến Ngọc Hoa vốn do duyên sự Bát-nhã, nay việc dịch Kinh đã xong, bến bờ cuộc sống của ta cũng hết”. Ðến ngày mùng năm tháng hai năm đầu niên hiệu Lân Ðức, bậc vĩ nhân một đời viên tịch. Ngài năm ấy tròn sáu mươi chín tuổi. Vua nghe Trang sư viên tịch liền bãi triều và nói rằng: “Trẫm đã mất quốc bảo rồi!”. Văn võ bách quan không ai chẳng buồn đau rơi lệ. Nhà vua nói xong cũng nghẹn ngào buồn thương chẳng thể kềm chế được. Chi phí việc mai táng đều do quan cấp. Vua Cao Tông đối với Trang sư tuy nhiệt tình thân thiết chẳng bằng Thái Tông, nhưng sự ưu ái đãi ngộ bằng lễ, hết lòng tôn kính y như cũ vậy.

(2) Ảnh hưởng văn hóa Phật giáo.

Trang sư từ Ấn Ðộ về nước đã từng mang theo về những cặp đựng Kinh chữ Phạn, tượng Phật, Xá-lợi, bảo cái, tràng phan và những sản phẩm đặc biệt của Ấn Ðộ mà Trần Liệt Công đã mở ra cho mọi người xem qua. Vua Thái Tông đặc biệt ra lệnh cho ở chùa Hoằng Phước, xây dựng riêng viện phiên dịch để an trí Kinh tượng. Trang sư đã ở đây triển khai công tác dịch Kinh, đem tư tưởng Phật học Ấn Ðộ tạo ra sự thâu nhập có hệ thống. Vua Thái Tông lại ra lệnh, đem những điều mắt thấy tai nghe của cuộc Tây du biên thuật một bộ danh trước, tức là đại Ðường Tây Vực ký, thuyết minh những phong tục khác lạ của hơn một trăm ba mươi nước. Quả thật là những tài liệu trọng yếu để nghiên cứu về địa lý học thế giới. Cho đến ngày nay các học giả phương tây nhận định ấy là vật báu không hai của việc nghiên cứu lịch sử học, địa lý học về Trung Á. Vậy nên có lời khen “Ban Ðịnh Hầu mà chưa xa, Trương Khiên Vọng mà chưa rộng”. Người pháp tên là Sa-uyển có nói rằng: “Ký thuật của Pháp Hiển, Tống Vân34 chắc chắn là tác phẩm có giá trị nhưng chẳng đủ, phải cùng với Tây Vực Ký của Huyền Trang năm 646 và Tam Tạng Pháp Sư Truyện35 của Tuệ Lập nâng đỡ nhau cùng luận bàn vậy. Ngài Huyền Trang chu du Ấn Ðộ từ tây sang đông, từ bắc đến nam, nơi dấu chân ngài chưa đến thì dựa vào lời nói mà nói. Ðó là theo sự dẫn dắt bác học của tất cả những nhà Ấn Ðộ học ngày nay. Những học giả ngày nay có cơ sở để chỉnh lý lịch sử, địa lý chẳng sáng sủa của bảy thế kỷ, khiến cho trong tối tăm lộ ra chút ánh sáng, trong rối loạn có một chút trật tự đều là công của ngài Huyền Trang cả”. “Trang sư trọn đời, liên tục ngày đêm, dịch ra Kinh Luận có đến một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển, chẳng những chỉ là sự cống hiến vĩ đại trong Phật giáo, khiến cho tư tưởng Phật giáo khởi sắc biến hóa mà đồng thời khiến cho văn hóa Trung Quốc phát sinh tính cách mạng vận động. Bởi thường một thứ tư tưởng học thuật truyền vào thì nhất định gia tăng nhiều danh từ mới. Từ Kinh Phật được phiên dịch truyền bá trở về sau đã khiến cho Trung Quốc mới thêm danh từ mới đến hàng ngàn hàng vạn. Căn cứ vào sự biên tập hiệu đính Phật Học Từ Ðiển của người Nhật Bản, tổng kê có hơn ba vạn năm ngàn danh từ. Những từ như Pháp tướng, Pháp tính, Chân Như, Niết-bàn, Bát-nhã, Pháp Giới, Bồ-đề, Lục Ðộ, Ngũ Uẩn, Bách Pháp, Duy Thức, Nhân Minh v.v... Thật là những nhân tố chân chính phục hưng văn nghệ đời Ðường mau hoàn thành. Văn hóa đời Ðường, Phật giáo ở vào địa vị chủ động, chẳng riêng lãnh đạo văn hóa ở trong nước, đồng thời còn hấp dẫn những thanh niên ưu tú quốc tế lân bang như Nhật Bản, Hàn Quốc v.v... rối rít tìm đến Trung Hoa để tiếp nhận tắm mình trong văn hóa mới đời Ðường. Thật sự họ bị tư tưởng học thuật vĩ đại của Trang sư cảm hóa vời đến, khiến văn hóa đời Ðường tỏa sáng mênh mông muôn trượng. Trên lịch sử Phật giáo tuy có ngàn trăm bậc Cao Tăng thạc đức như Ðạo An, Tuệ Viễn, Kiên Thủ, Thiện Ðạo, Thanh Lương, Ðạo Tuyên, Lục Tổ v.v... đều là những bậc sáng tông lập thuyết, truyền bá Phật giáo Ðại thừa. Nhưng nếu luận về ảnh hưởng đến văn hóa, cống hiến cho học thuật đương thời thì đều vĩnh viễn chẳng ai bì kịp Trang sư vậy. Trang sư chu du năm nước Ấn Ðộ, học hỏi khắp các danh sư đạo đức, tinh thông Phạn văn, quán triệt Ngũ Minh, Tứ Hàm, cái học Không - Có (không - Hữu). Người ảnh hưởng đến văn hóa Trung Quốc rất sâu xa không ai qua Trang sư. Vậy nên Trang sư quả thật là, trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, xưa nay không có ai như ngài. Trí tuệ ngài sâu xa, ý chí ngài to rộng, bi nguyện ngài vĩ đại, uy đức phối cùng thiên địa, học thức ngài quán triệt cổ kim. Cổ Thánh tiên hiền cũng không hổ thẹn, thờ ngài là Khổng Tử của nhà Phật, chắc chắn không cớ gì chẳng được, tôn ngài là quốc bảo của dân tộc Trung Hoa cũng chẳng phải quá khen ngợi!.

 

V. Ý NGHĨA ÐÀI LOAN XÂY DỰNG THÁP KỶ NIỆM

1. Linh cốc trùng qui, quốc vận xương long.

Linh cốt của Trang sư, đầu tiên được xây dựng tháp ở phía đông sông Sản để an trí phụng thờ. Nhưng do gần kinh đô, trong cung có thể nhìn thấy từ xa, làm thương tổn đến những tư lự của vua. Vậy nên phụng sắc chỉ dời đến sông Phàn cách phía nam thành Tràng An bốn mươi dặm. Vua Túc Tông ban biển ngạch là Hưng Giáo tự. Trở lại nhân loạn Hoàng Sào, binh lính hổn loạn đốt phá, đến khoảng năm Thiên Thánh đời Nhân Tông thời Bắc Tống, đại sư Khả Chính ở chùa Tử Các trong núi Chung Nam, phát hiện được linh cốt của Trang sư liền hộ tống xuống miền nam đến Kim Lăng (Nam Kinh) kiến lập tháp ở trên một sườn núi thuộc rìa phía đông của chùa Thiên Hy an táng phụng thờ. Khoảng năm Hồng Võ triều Minh xây dựng lại tháp ở phía nam chùa Thiên Hy. Thời Thái Bình Thiên Quốc lại gặp phải binh loạn đốt cháy hết. Từ đây về sau linh cốt Trang sư bị mai một tròn một trăm năm.

Thời kỳ kháng Nhật, Nam kinh rơi vào vòng vây hãm của quân Nhật, bộ đội trưởng Cao Sum Long Giới, vào năm Dân Quốc thứ ba mươi mốt, nhân xây dựng công trình quân sự ở chỗ gần xưởng binh công, bên cạnh Vũ Hoa Ðài ngoài cửa Trung Hoa, đã đào lên được một cái quan tài bằng đá cũ kỹ tại một gò núi mà đọc kỹ văn bia mới biết là đỉnh cốt của Trang sư (xương đầu của ngài Huyền Trang). Tin tức lan truyền ra, các địa phương đều rất là trọng thị, đồng thời quyết định đem đỉnh cốt chia ra làm ba phần, một phần để ở Nam kinh, xây dựng tháp bên hồ Huyền Vũ kỷ niệm, một phần đem về Bắc Bình (Bắc kinh) xây dựng tháp an táng thờ phụng, một phần thì do người Nhật yêu cầu, kính cẩn mang về Nhật Bản, xây dựng tháp tại huyện Ky Ngọc an táng phụng thờ. Ðến đây thì đỉnh cốt của Trang sư phân hóa ở trong nước, ngoài nước xa cách vài vạn dặm, phân thân nói pháp, ấy là phù hợp với thân ngài thuở trước, một thân mang hoằng nguyện chu du khắp năm nước vùng Ấn Ðộ.

Mùa thu năm Dân Quốc thứ bốn mươi hai, giới Phật giáo Trung Quốc như Ðại sư Chương Gia, pháp sư Ấn Thuận và các cư sĩ Triệu Hằng Dịch, Lý Tử Khoan, Lý Thiên Xuân đã đề xuất việc nhờ hội nghị Phật giáo đồ thế giới lần thứ hai tại Nhật Bổn, yêu cầu chính phủ Nhật Bản hoàn trả những quốc bảo của Trung Hoa Dân Quốc đã cướp đoạt trong kỳ chiến tranh Trung - Nhật - Linh cốt của ngài Huyền Trang - qua vài lần giao thiệp, chính phủ Nhật Bản chấp thuận yêu cầu của Trung Hoa nguyện đem đỉnh cốt của Trang sư về Trung Quốc xây dựng tháp kỷ niệm. Ðương thời Trung Cộng đối với việc này đã từng hết sức tranh thủ, người nước Mỹ cũng nguyện xuất ra vài vạn mỹ kim muốn lấy được linh cốt đó đều bị chính phủ Nhật Bản cự tuyệt. Hơn nữa do dòng họ của Cao Sum Long Giới, người đào ra linh cốt lúc bấy giờ đã bày tỏ rất là kiên quyết. Họ nói rằng: “Ấy là quốc bảo của Trung Hoa Dân Quốc, chính là mối quan hệ tinh thần tín ngưỡng của nhân dân hai nước Trung - Nhật, do linh cốt của Trang sư có tại đây chẳng chỉ có quan hệ đến sự thịnh suy của Phật giáo mà cũng lại là vì tượng trưng cho quốc vận xương long (vận nước hưng thịnh), là vì ổn định tình thân thiện vĩnh viễn của hai nước Trung - Nhật. Nguyện cho Trung Hoa Dân Quốc phục hưng, Châu Á ổn định, nguyện đem đỉnh cốt của Trang sư hoàn trả cho nước Trung Quốc tự do để xây dựng tháp kỷ niệm”. 

2. Ðường điện lạc thành - Tượng giáo trung hưng.

Do ở sự nỗ lực của đoàn đại biểu nên cuối cùng, vào ngày hai mươi lăm tháng mười một năm Dân Quốc thứ bốn mươi bốn, một số người Nhật bản: Bản Thương Trì Thiếu trạch, A Bộ Long Truyền, Trường Cương Ái Tín, Ðại Ðảo Kiến Thông, Liễu Liễu Trần đã cung phụng linh cốt sang Ðài Loan. Lúc bấy giờ linh cốt của Trang sư về đến phi trường Tùng Sơn Ðài Bắc được mười vạn quần chúng đứng hai bên đường đón rước, không khác gì cảnh huống văn võ bá quan đứng hai bên đường vài mươi dặm để hoan nghênh ngài từ Ấn Ðộ về đến Trang An thuở nào. Cảnh tượng ấy lại hiện ra ở trước mắt, xưa nay sáng chói lại chẳng thể nghĩ bàn!.

Linh cốt của Trang sư trùng qui chẳng những chỉ có quan hệ đến sự trung hưng của Phật giáo Trung Quốc mà cũng lại là tượng trưng cho vận nước hưng thịnh, chánh khí hạo nhiên của dân tộc trường tồn, văn hóa chính thống vương lên cao ngất chẳng lay động! Trong lịch sử Phật giáo Ðài Loan đã chưa có một Cao Tăng Ấn Ðộ nào đến đây. Ngày nay linh cốt của Trang sư được thờ phụng an táng tại Ðài Loan, xây dựng tháp kỷ niệm thì đó là niềm quang vinh trong lịch sử Phật giáo Ðài Loan. Ðến đây, các địa phương rối rít tranh thủ, nhân việc tranh giữ không có hồi kết thúc, cuối cùng qua tổng thống tiên sinh là Tưởng Công (Tưởng Giới Thạch) chỉ định xây dựng tháp tại núi Thanh Long bên đầm Nhật Nguyệt, đồng thời ra lệnh cho viện hành chính, chính phủ của tỉnh và các cấp chính phủ quyên góp trợ giúp. Trải qua mười năm xây dựng tốn hao hết hơn hai trăm vạn Tân Ðài tệ, hoàn thành được cơ sở thứ nhất, một Phật điện ba tầng theo mẫu kiến trúc đời Ðường. Ðiện tên là Huyền Trang Tự, đồng thời bên trong điện xây dựng trước mô hình tháp Huyền Trang. Vào ngày mười tám tháng mười một năm Dân Quốc thứ năm mươi tư, cử hành điển lễ lạc thành, cách ngày linh cốt đem về lần hai tròn mười năm, đồng thời thỉnh rước thiền sư Thái Thương làm thượng tòa. Ngày đó thiện nam tín nữ đến dự lễ có đến vài ngàn người. Chúc mừng kỷ niệm này mang ý nghĩa giáo dục tính lịch sử một cách cụ thể, Ðại giáo đã nhanh chóng lộ ra khí tượng trung hưng!

Công trình kỳ thứ hai là hưng công xây dựng học viện Huyền Trang và bảo tháp an táng thờ phụng linh cốt, đồng thời định danh là Từ Ân Tháp. Năm xưa Ðường Cao Tông vì kỷ niệm mẫu hậu của ngài mà hưng công xây dựng chùa Từ Ân và thỉnh Trang sư làm thượng tòa, hơn một ngàn ba trăm quyển kinh, luận của Trang sư phần lớn đều được dịch ra ở chùa Từ Ân. Vậy nên chùa Từ Ân đối với Trang sư có nhân duyên thù thắng. Sau khi chùa Tây Minh lạc thành Trang sư lại phụng sắc dời về ở chùa mới, môn nhân của ngài là đại sư Khuy Cơ tiếp tục trụ ở chùa Từ Ân, xiển dương rộng lớn Duy Thức Tông nên lại được xưng là đại sư Từ Ân. Tổng thống tiên sinh Tưởng Công sùng kính Trang sư chẳng nhường trước cha con vua Ðường Thái Tông mà lại nhân hiếu tỏ bày thiên hạ, mà hương thơm đượm nhuần trang sách, từ công ơn của tưởng mẫu, Vương Thái phu nhân từ ái nuôi dưỡng. Những bậc mẫu nghi mẫu mực xưa nay ánh chiếu sáng ngời. Thái phu nhân dốc lòng hộ trì Phật pháp, bình sinh tụng kinh lễ Phật rất tôn kính, nay xây dựng tháp kỷ niệm chẳng những chỉ phù hợp với ý từ ân của Tưởng Công mà đồng thời còn biểu dương tinh thần lập quốc năm ngàn năm của dân tộc Trung Hoa: sùng đức báo ân! 

3. Học viện Huyền Trang, còn chờ xây dựng.

Sự nghiệp công lao bất hủ, sự cống hiến vĩ đại tư tưởng học thuật của Trang sư trong lịch sử Phật giáo hầu như chẳng nên lấy vật chất để kỷ niệm mà nên làm thế nào để phát dương tư tưởng học thuật của ngài, khiến cho tư tưởng học thuật ấy vĩnh viễn truyền bá đi khắp nơi thì mới là kỷ niệm có ý nghĩa và có giá trị. Tinh thần hiến thân cho học thuật, hoằng pháp lợi sinh, chẳng sợ gian hiểm, trăm lần gãy chẳng chùn của ngài tức là tinh thần của dân tộc Trung Hoa. Dân tộc Trung Hoa đứng ở trong trời đất những năm ngàn năm, thống nhất các tộc ở Hoa hạ đều chẳng phải bằng vào vũ lực mà thật ra nhờ vào tinh thần chẳng sợ gian hiểm phấn đấu khai phát của nhân dân đi trước và được hun đúc trong nền văn hóa lịch sử tinh thâm rộng lớn. Trang sư chu du năm nước vùng Ấn Ðộ mạo hiểm đi vào gian nan, trải mười chín năm, qua hơn trăm nước cũng chưa cất một binh một tốt, thân cô xa cách tổ quốc những hơn năm vạn dặm, luôn gặp gian hiểm mà chỉ bằng vào thứ lòng tin kiên nhẫn không gì lay chuyển về một câu Phật hiệu đã cảm hóa hết thành ý hàng ngàn trăm ức vạn nhân sĩ các nước khác. Thứ công hiệu của sự cảm hóa lặng thầm, sư dời đổi tiềm ẩn ấy đối với việc tranh thủ nhân sĩ nước khác qui hướng, điều hòa các dân tộc khác, có đủ sức hấp dẫn sâu xa. Sự cống hiến cho quốc gia dân tộc của ngài mà đem so với Trương Bác Vọng, Ban Ðịnh Viễn thì sẽ không kém sắc thái vậy!.

Công trình thứ hai đã lấy việc xây dựng tháp Từ Ân và lập ra học Viện Huyền Trang để bồi dưỡng nhân tài, hoằng dương Duy Thức học làm mục đích thì mọi người chúng ta thành khẩn hy vọng chính phủ có thể tiến tới một bước hiệp trợ thiết lập một ngôi Huyền Trang học viện ở tại núi Thanh Long, làm cho chùa Na-lan-đà tái hiện ở phương đông. Ðất trống trên núi Thanh Long còn nhiều, chỉ cần đả thông một đoạn công lộ vòng quanh đầm từ miếu Văn Võ đến núi Thanh Long (chính phủ huyện Nam Ðầu sớm đã có kế hoạch này). Công lộ thông rồi, giao thông thuận tiện, lại phát ra trợ giúp kinh phí xây dựng trường thì học viện Huyền Trang có thể thực hiện ngay. Học viện Huyền Trang quả có thể thành lập thì chẳng những chỉ biểu thị hết tấm lòng sùng kính của chính phủ đối với sự thành tựu bất hủ và tinh thần vĩ đại của ngài Huyền Trang mà đồng thời có thể mượn tinh thần mạo hiểm xông vào khó khăn, hy sinh “tiểu ngã” mà phấn đấu vì đại ngã nhân loại của ngài Huyền Trang này làm phương pháp bồi dưỡng thanh niên. Ngày nay dân tộc Trung Hoa chính là lúc rất cần thứ tinh thần mạo hiểm xông vào gian nan, trăm lần gãy không chùn, kiên nhẫn chẳng lung lay ấy để tạo nguồn cho lực lượng trường kỳ phấn đấu trong mai sau. Chúng ta tin rằng, những thanh niên tốt nghiệp ra từ học viện Huyền Trang đều lý hội và thu hoạch được những điều khải thị sâu xa, đều là những chí sĩ trung trinh trác tuyệt, hiến thân cho học giới, hoằng pháp lợi sanh, tuyên dương văn hóa phương đông.

Từ lúc học viện chưa thành lập trở về trước nên ưu tiên thiết lập “Duy Thức Học nghiên cứu sở” (chỗ nghiên cứu Duy Thức Học), triệu tập thanh niên trong ngoài nước nghiên cứu học thuyết Huyền Trang, đồng thời chu cấp để khen thưởng học sinh. Ðó là kỳ vọng của mọi người chúng ta vậy.

            

Dịch xong, Mùa Phật Ðản 2546, năm 2002.


 

1 Nhị Thiên : Có nhiều nghĩa: 1. Nhật Thiên và Nguyệt Thiên; 2. Ðồng Sanh Thiên và Ðồng Danh Thiên; 3. Phạm Thiên và Ðế Thích Thiên.

2 Bảo tướng : Là hoa Bảo tướng, giống hoa Tường vi nhưng đóa lớn, màu đẹp hơn. 

3 Ðầu con ly : Ngày xưa nói con ly giống con rồng, sắc vàng, không có sừng (theo truyền thuyết Trung Quốc cũ).

4 Tý Ngọ Cốc : Nay là núi Tần Lãnh huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây.

5 Gia-lộ-triệt-lãnh : Jerusalem, Cổ thành trứ danh của Palestine, là thánh địa của Hồi giáo (Islam), Do thái giáo (Judaism) và Cơ đốc giáo (Christianism), nay là thủ đô cả Israel và Palestine. 

6 Mạch-gia : Mecca, một thành phố của Ả-rập Xê-út (Saudi Arabia), nơi sinh Mohammed và là trung tâm tinh thần của những người theo đạo Hồi (Moslem).

7 Huyện Thổ Lỗ Phiên : Vị trí hiện nay phía Ðông nam huyện Ðịch Hóa thuộc tỉnh Tân Cương.

8 Khuất-chi : Sanskirt. KucÌna, Còn gọi là nước Qui Tư, một trong những nước thời xưa phía Tây Vực. Vị trí hiện nay nằm giữa hai huyện Sa Nhã và Khố Xa tỉnh Tân Cương (Trung tâm Asia).

9 Khả Hãn : Những người bộ tộc Hồi Hột, Ðột Quyết, Nhu Nhiên đều gọi quân chủ mình là Khả Hãn. Sau Mông Cổ cũng gọi vua nước mình là Hãn, do gọi tắt.   

10 Tây Ðột Quyết : Năm 582 (Tuỳ, niên hiệu Khai Hoàng thứ 2), Ðột Quyết (Turk, người Thổ Nhĩ Kỳ) phân chia Ðông Ðột Quyết: từ sa mạc Qua Bích (Gobi) tới cuối biên giới phía đông Trung Hoa và Tây Ðột Quyết ở Trung Á, phía bắc Thiên Sơn.

11 Ðại Tuyết Sơn : Phía nam Ðả Tiển Lô (nay là huyện Hội Khương Ðịnh) tỉnh Tây Khương. Núi này quanh năm tuyết phủ.

12 Sơ Cần : Trong bản nguyên tác in nhầm. Ðính chính: Sơ Lặc . Sơ Lặc (Skt. Khªsa) là vương quốc thời xưa phía Tây Vực, nay là huyện Sơ Lặc tỉnh Tân Cương.

13 Thông Lĩnh : Tại vùng Tây nam tỉnh Tân Cương, dải núi chạy dài từ Sơn Lặc đến phía tây huyện Bồ Lê.

14 Thiên Sơn Băng Lĩnh : Núi lạnh Thiên Sơn, vì mùa Ðông và Hạ đều có tuyết, nằm trong vùng Tân Cương, phía tây giáp núi Ô Xích Biệt Lý (tức Thông Lĩnh), Tây bắc giáp Sơn Lặc Tân Cương, chạy ven Trung Quốc và Nga.

15 A-phú-hãn: Afghanistan.

16 Pháp Dũng : Người huyện Triều Dương tỉnh Nhiệt Hà. Ngài du phương đến đất Phật khoảng năm 420-422 (niên hiệu Sơ Ðường đời Lưu Tống).

17 Thành Tố Diệp: Nay là thành phố Tokmak (Thác-khắc-mã-khắc) nước cộng hòa Kirghizia (Cát-nhĩ-cát-tư).

18 Nước Ca-tỳ-thí : Hay Ca-tất-thí kt. pisùa), nước này rộng hơn 4 ngàn dặm, phía bắc giáp Tuyết sơn, Hắc lãnh...

19 Nước Ca-thấp-di-la : Skt. KasùmÌra, Pªli. KasmÌra, vương quốc thời xưa phía Tây bắc Ấn Ðộ. Trung Quốc gọi nước Kế Tân. Nay là nước Khách-thập-mễ-nhĩ (Kashmir), thủ đô Tư-lợi-na-gia (Srinagar). 

20 Thành Khúc Nữ : Skt. Kanyakubja, Pªli. Kanïnïakujja, cũng là một nước xưa ở Ấn Ðộ, do vua Giới Nhật trị vì khoảng thế kỷ thứ 7. Nay gọi là Tạp-na-tề (Kanauji),Tây bắc sông Hằng.

21 Vu-điền: Xem cht. 10, tr. 80.