SỰ HIỂU
BIẾT CỦA CHÚNG TA
VỀ CHÙA
PHẬT
VÀ CUNG
ÐIỆN ÐỜI ÐƯỜNG.
Nguyên tác:
Lương Tư Thành.
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư Sĩ
Những ví dụ thật tế về di vật kiến trúc triều đại
nhà Ðường, ngoại trừ mấy tòa tháp gạch ra, nếu nói không có gì thì chẳng
sai nhiều lắm. Tháp, xưa nay là một bộ phận của Chùa Phật nên sự tồn tại
của nó hiện tại chẳng phải là sự tồn tại độc lập mà phải theo chân những
mái điện khác với sự sai biệt về niên đại đến một ngàn hai hay ba trăm
năm. Kiến trúc Trung Quốc từ khi có lịch sử trở về sau thì tựu trung lấy
rường, trụ làm cốt cán mà vật liệu của cốt cán ấy một mực lấy gỗ làm chủ.
Gỗ vốn chẳng phải là vật chất bất hủ (chẳng mục nát), hơn nữa, bọn liệt tổ
liệt tông của cách mạng Trung Quốc thành công trở lại đây, ngoại trừ việc
giết người chúng lại còn thích phóng hỏa. Giả sử bọn chúng không có thứ
tính quốc dân đặc thù ấy thì gió mưa bào mòn hơn một ngàn năm, mọt ăn,
trùng đục cũng đã hủy hoại chẳng ít rồi. Nhưng sự tồn tại lâu dài của vật
kiến trúc bằng gỗ ấy đều chẳng hoàn toàn không khả năng. Kim Ðường, Tháp
năm tầng và cửa giữa của Chùa Pháp Long ở Nại Lương nước Nhật Bản
xây dựng vào năm Thôi Cổ Thiên Hoàng thứ mười lăm (năm đầu niên hiệu Ðại
nghiệp đời Tùy Dương Ðế, năm 605 TL) trái với sự so sánh ấy, có tháp ba
tầng của chùa Pháp Luân ở Nại Lương và tháp ba tầng của An Cư Viện v.v...
muộn hơn mười năm, thẳng đến nay những một ngàn ba trăm năm mà vẫn bảo tồn
được rất tốt. Ở tại Trung Quốc thì bất đồng rất lớn. Ðiện Phật chùa Hoa
Nghiêm trên (xây dựng năm Thanh Ninh thứ tám nước Liêu - năm 1062) Chùa
Hoa Nghiêm dưới (xây dựng năm Trung Hy thứ bảy - năm 1038 TL) của Ðại Ðồng
- Sơn Tây, tháp gỗ của chùa Phật Cung ở huyện Ứng tỉnh Sơn Tây (năm Thanh
Ninh thứ hai - năm 1056 TL), am Sơ Tổ của chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn (năm
Tuyên Hòa thứ bảy đời Tống Huy Tông, năm 1125 TL) đã được khen là những
kiến trúc cổ hiếm có của Trung Quốc. Niên đại so với chùa Pháp Long ở Nại
Lương của Nhật Bản tối cổ sai biệt bốn, năm trăm năm, mà đã băng hoại
không chịu nổi, cấu trúc còn lại của đời Ðường lại chẳng qua là huyễn
tưởng. Giả sử những học giả hay những nhà khảo cổ của chúng ta sau này ở
trong nơi làng cùng, đất hẹp (làng quê nghèo hẻo lánh) phát hiện được di
vật kiến trúc bằng chất liệu gỗ của thời Tùy - Ðường thì sợ đó chỉ là
những mẫu vật cô đơn, chẳng thể hiển lộ ra sự bố trí và phương pháp làm
của toàn cuộc di tích được.
Ðã không có những
thể lệ thật có thể tra xét thì những tư
liệu mà chúng ta nghiên cứu chẳng đặng đừng lùi một bước đến với
phương diện văn hiến. Ngoại trừ những ghi chép của sách sử ra, may mắn mà
có được những bích họa của hang Ðôn Hoàng. Do sự hoang vắng và khí hậu khô
ráo của địa phương này nên những bảo vật trong hang ấy vẫn được bảo tồn ở
nhân gian, như người đời Ðường chép Kinh v.v... Tuy trải qua việc ông
Tư-thản-nhân (Sir Aurel Stein)
lừa đão lấy đi từ trong tay Vương đạo sĩ, rồi lại bị ông Bá-hi-hòa (Paul
Pelliot)
chở đi mất. Nhưng những bức bích họa rốt cuộc chẳng dễ gì tùy tiện dọn
sạch được mà ngược lại chẳng hề hấn gì. Ông Bá-hi-hòa đã từng thu nhặt chế
tác làm ra quyển Ðôn Hoàng Thạch Quật
Ðồ Lục (Les Grottes De Touen-houang). Trong ấy, những kiến trúc
được vẽ trên mỗi bức bích họa rất chuẩn xác mà rõ ràng, tinh tế. Tại đây
đã cho chúng ta những tư lệu rất trọng yếu.
Hiện tại,
trước tiên chúng ta lấy văn hiến làm căn cứ để sưu tập một ít tư liệu mong
sao cho có được một ấn tượng về chùa Phật cùng cung điện. Nhiên hậu đem
những bích họa trong Ðôn Hoàng Ðồ Lục của Bá-hi-hòa có quan hệ với sự miêu
tả của kiến trúc làm một cuộc qui nạp cùng phân tích. Trước tiên đem những
chủng loại kiến trúc qui ra. Tuy nhiên những kiến trúc đời Ðường hiện thời
chúng ta cũng không có mà chỉ đại để tương đồng thôi. Ðộc giả chắc chắn
cảm thấy đơn điệu vô vị khi đem phân tích từng bộ phận chi li. Tuy nhiên
tính toán những tiểu tiết của kiến trúc chính là đặc trưng của một thời
đại, phản ảnh khả năng nhìn thấy được nét đặc biệt rõ ràng, rồi đem so
sánh mới có hứng thú được nhiều.
Việc xây dựng
cung thất của Trung Quốc bắt đầu thịnh hành từ thời Tần Hán. Cung Hàm
Dương, cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng, ở trong sử sách đã ghi chép nhiều,
khả dĩ cho chúng ta được một ấn tượng đại khái, tuy chẳng thể biết rõ hình
thức thể chế thực tại. Nhưng chúng ta có thể biết được sự phồn vinh hoa lệ
của sự chạm khắc trang trí và sự rộng lớn của qui mô. Cung Trường
Lạc, cung Vị Ương của Hán Cao Tổ, cung Cam Tuyền, cung Kiến Chương của Võ
Ðế được ghi chép tỏ tường chi li, ở trong Văn hiến cho chúng ta biết được
qui mô của những kiến trúc lớn, biết được tường vây chu vi và vườn tược
bốn phía của những cung điện ấy, biết được phạm vi của chúng có từ vài
mươi dặm cho đến vài trăm dặm, đồng thời biết được sự hoa lệ và tinh xảo
trong kết cấu của chúng. Ðiều quan trọng là bàn về trình độ phát đạt của
kiến trúc Trung Quốc, sự chuẩn xác của thời Lưỡng Hán đã trải qua có thể
quan sát được.
Trải qua sự
biến loạn của thời Lục Triều về sau. Nhà Tùy thống nhất thiên hạ, Tùy Cao
Tổ xây dựng Trường An Cung, Dương Ðế nổi tiếng xa xỉ hoang phí, xây dựng
Lạc Dương Cung, Ðại Hưng Cung v.v... Bên trong lịch sử những vị quan nhỏ
quê mùa có nhiều những tài liệu khả dĩ truy tìm ra chẳng ít cảnh huống
hưng thịnh của kiến trúc đương thời.
Cung Ðại Minh
của Ðường Thái Tông, trong lịch sử không làm gì mà được nổi tiếng. Căn cứ
vào sự ghi chép trong Thái Tông Bản Kỷ và Ðịa Lý Chí, Lục Ðiển, Lưỡng Kinh
Ký v.v... thì đại lược chúng ta có được một ấn tượng như sau :
Cung Ðại Minh
là do Thái Tông kiến lập vào năm Trinh Quan thứ tám, nguyên tên là Vĩnh An
Cung, về sau vì cần chỗ tránh nóng cho Thái thượng hoàng nên đổi tên là
Ðại Minh Cung. Vị trí của nó ở phía đông nam vườn cấm, mặt tây tiếp giáp
với góc đông bắc của cung thành, gọi là “Ðông nội”. Phạm vi của cung ấy,
đông - tây một ngàn lẻ tám mươi bộ, nam - bắc một ngàn tám trăm bộ. Mặt
nam có năm cửa, chính giữa là Ðan Phượng môn, mé đông là Vọng Tiên môn, kế
tiếp nó là Diên Chính môn, mé tây là Kiến Phúc môn, kế tiếp nó là Hưng An
môn. Bên trong Ðan Phượng môn từ nam sang bắc ước chừng bốn trăm bộ, có
thần tài cao chừng bốn mươi thước, gồm ba tầng, mỗi tầng đều có đầu cuộn
lại rồi duỗi ra, hai bên có kỳ lân. Thềm đi xuống là đường đuôi rồng, dùng
gạch hoa xếp thành, chuyển bảy lần hõm vào (bảy cấp bước lên thềm), nhỏ
như đuôi rồng buông xuống đất. Lan can hai bên đều sử dụng đá xanh. Từ
dưới trông lên khí tượng thật trang nghiêm. Ở trên đài, chính giữa là Hàm
Nguyên điện, là nơi vua quan đến “thính triều” hàng năm vào Tết Nguyên Ðán
và tiết Ðông Chí. Từ trung tâm của chánh điện ấy men theo lên hướng bắc,
thuận theo số thứ tự là Tuyên Chính môn - Tuyên Chính điện - Tử Thần môn -
Tử Thần điện - Cửu Tiên môn - Bồng Lai điện, và Nguyên Võ môn ở chính giữa
mặt bắc của tường cung. Ðông lang của Hàm Nguyên điện có Tường Loan các,
phía đông của các (gác) có Thông Càn môn, tây lang có Thê Phượng các,
phía tây của các có Quan Tượng môn. Hai gác Tường Loan, Thê Phượng là hai
điện kèm hai bên chánh điện, cùng với chánh điện tạo thành hành lang bay
nối tiếp nhau. Bên ngoài cửa Tuyên Chính, đông lang đối nhau là cửa Tề
Ðức, tây lang là cửa Hưng Lễ. Bên phải bên trái điện Tuyên Chính có Ðông
Thượng các, Tây Thượng các. Ðông lang trước điện có cửa Nhật Hoa, Tây Lang
có cửa Nguyệt Hoa. Mé trái của Tử Thần môn là Sùng Minh môn, mé tây là
Quang Thuận môn. Mặt đông của Tử Thần điện là tả Ngân Ðài môn, mặt tây là
Hữu Ngân Ðài môn, Bên ngoài Nhật Hoa môn có những cơ quan nhà nước (công
sở) như Môn hạ tỉnh, Hoằng văn quán, Sử quán v.v... Về phía đông Môn hạ
tỉnh có đường nam bắc thông qua cửa Hàm Diệu đi ra cửa Chiêu Huấn. Bên
ngoài cửa Nguyệt Hoa có công sở như Trung Thư tỉnh v.v... phía tây Trung
Thư tỉnh có một con đường nam bắc thông qua Chiêu Khánh môn đi ra Quang
Phạm môn. Trung Thư Tỉnh lại sang phía tây có cửa Diên Anh, bên trong cửa
Diên Anh có điện Diên Anh và điện Hàm Tượng. Bên ngoài này còn có rất
nhiều điện, trong số ấy có điện Hoàn Châu ở phía tây điện Bồng Lai và điện
Kim Loan, ở tây bắc điện Hoàn Châu, địa thế vị trí có thể khảo sát được.
Xem xét lời nói của Lưỡng Kinh Ký : “Kim Loan điện tên phụ là Kim Loan
Pha, theo Hàn Lâm cố sự là nơi đặt Học sĩ viện, về sau lại đặt Ðông học sĩ
viện ở Kim Loan Pha”. Tây nam Kim Loan điện là Trường An điện, mặt bắc
Trường An điện là Tiên Cư điện, tây bắc Tiên Cư điện là Lân Ðức điện. Lân
Ðức là một tòa điện ba mặt, do đó lại còn gọi là “Tam Ðiện”. Ðó là nơi
hoàng đế yến tiệc hội họp. Ðông tây lang của điện ấy là hai ngôi lầu Kết
Lân và Uất Nghi. Mé bắc Tam Ðiện có Ðại Phước điện, đông nam Ðại Phước
điện là Xả Thúy điện. Soi xét phần ghi thuật bên trên, chúng ta chế thành
một bức vẽ phục lại nguyên trạng bình diện cung điện thời Ðại Minh bằng
tưởng tượng. Bức vẽ ấy đương nhiên chẳng phải là cái dạng thức của nguyên
gốc, bởi vì tại trên bình diện cự ly chỉ có cự ly cực lớn của đông, tây,
nam, bắc và cự ly của Hàm Nguyên điện cùng Ðan Phượng môn. Vả lại cự ly
tính từ bộ phận nào của điện, lượng định bộ phận nào của cửa không có ghi
chú rõ ràng chuẩn xác. Nhiều lâu đài ở góc điện phía sau điện Hàm Nguyên
chỉ có chỉ thị phương hướng mà không có ghi chú rõ cự ly. Vả lại hình thức
lớn nhỏ và phương pháp kết cấu của mỗi ngôi điện không căn cứ vào đâu để
được biết. Chúng ta chỉ có thể được một ấn tượng, một định luận là bình
diện của cung điện nhà Ðại Minh phối trí trên một tuyến trung tâm xuyên
suốt nam bắc. Tại mặt đông - tây của tuyến trung tâm, cung điện được phối
trí cân bằng.
Qua lịch sử
và truyền thuyết, chúng ta biết Hoa Thanh Cung là một cung điện cực kỳ
lãng mạn. Nguyên nó tên là Ôn Tuyền Cung do Thái Tông đặt vào năm Trinh
Quan thứ mười tám. Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo đời Huyền Tông đổi Ôn Tuyền
là Hoa Thanh, sửa sang suối nước nóng thành ao, vòng quanh núi xây dựng la
liệt cung thất, chu vi có một giải tường vòng, bao quát hết Ly sơn (huyện
Lâm Ðồng tỉnh Thiểm Tây). Trong ấy, Quan Phong điện có con đường kép khả
dĩ ngầm thông với cung Ðại Minh. Nhà tắm của vua Huyền Tông gọi là Cửu
Long điện, chế tác rộng lớn tráng lệ, chạm trổ xảo diệu, chung quanh dùng
đá trắng xếp thành thềm bậc, mặt nổi ẩn hiện hoa văn cá, rồng, hoa chim
v.v... Khoảng giữa có hai con suối, dùng đá trắng điêu khắc thành hoa sen,
nước từ miệng suối phun ra, rót vào trên hoa sen. Ngoài nơi này lại có
mười tám chỗ suối nước nóng. Nước nóng phù dung (hoa sen) trong những suối
ấy tương truyền là Dương Quý Phi ban cho địa phương tắm gội. Vậy là cũng
dùng đá trắng xếp thành.
Hưng Khánh
cung là do vua Huyền Tông cho xây dựng, xưa nay là nhà nghỉ của các chư
hầu đến chầu vua. Năm Khai Nguyên thứ hai bắt đầu bố trí cung, đến năm thứ
mưới bốn lại mở rộng thêm, gọi là “Nam nội”.
Sách Tân
Ðường Thư Ðịa Lý Chí chép rằng: “Năm thứ hai mươi, xây dựng thành sát nhập
vườn Phù Dung. Thẳng phía trước kinh thành là Tý Ngọ Cốc (hang), phía sau
gối lên núi Long Thủ (núi Ðầu rồng), bên trái đến bờ sông Bá, bên phải đến
sát sông Lễ. Chiều dài kinh thành là sáu ngàn sáu trăm sáu mươi lăm bộ,
rộng năm ngàn năm trăm bảy mươi lăm bộ, chu vi hai vạn bốn ngàn một trăm
hai mươi bộ, cao một trượng tám thước”.
Qui mô ngôi
thành ấy rất lớn. Chúng ta xem xét địa đồ của Tây An, từ sông Bá đến sông
Lễ thì diện tích gấp mấy mươi lần của thành Tây An có hiện nay là rất ít.
Tuy đó là sức lực của những triều đại đế vương thời hoàng kim trong lịch
sử Trung Quốc nhưng tính chất khả năng ấy vẫn khiến cho hậu thế hoài nghi.
Bạch Hương
Sơn Lư Sơn Thảo Ðường Ký có một đoạn văn tự trích ra dưới đây :
“... Thảo
đường thành ba gian hai trụ, hai mái đường bốn cửa sổ... Thông cửa bắc đón
gió mát (âm phong) thổi lại phòng khi nóng nực. Mở mái phía nam hứng ánh
sáng mặt trời dự phòng giá rét. Vốn đẻo gọt mà thôi chẳng gia thêm màu đỏ,
tường khéo mà thôi chẳng gia thêm màu trắng. Lấp thềm dùng đá, che cửa sổ
dùng giấy, rèm trúc trướng tơ gai, phép định là vậy. Trong nhà bày bốn cái
giường gỗ, hai cái bình phong bằng tơ trắng, ... phía trước đất bằng rộng
lớn mười trượng, bên trong có bình đài chiếm một nữa đất bằng. Phía nam
đài có ao vuông, đất ao đắp bình đài. Vòng quanh ao có nhiều tre núi và cỏ
dại, trong ao sinh ra sen trắng và cá trắng...
Ðoạn ghi chép
ấy, hoàn toàn miêu tả ra một ngôi nhà ở bình dân của phương nam mà bố trí
nối liền sân vườn. Vậy là có thể thấy thêm một kiểu.
Ðến với kiến
trúc chùa Phật cùng kiến trúc cung điện hay nhà ở bình thường thì xưa nay
sử dụng chung một dạng thức. Kiến trúc tôn giáo và kiến trúc phi tôn giáo
của Trung quốc xưa nay không có những điểm bất đồng căn bản, chẳng giống
sự bất đồng khác hẳn giữa giáo đường cùng nhà ở của Châu Âu. Vấn đề ấy sở
dĩ như vậy là có nguyên nhân rất lớn. Ðương nhiên sự bất đồng căn bản của
chùa Phật cùng Giáo đường là vấn đề công dụng, xem lại từ công dụng của
kiến trúc, chúng ta thấy Giáo đường là một chỗ tụ họp nhiều người để
cầu nguyện, nghe giảng. Do đó bên trong
giáo đường cần phải có chỗ ngồi cho hằng mấy trăm người. Ðó là điều
kiện rất trọng yếu của giáo đường, còn lại việc thờ cúng thần vị v.v...
đều là chẳng quan trọng. Công dụng của điện Phật thì hoàn toàn chẳng đồng.
Lúc bình thường chúng ta mở miệng nói “Cúng Phật” thì cúng là cúng dường,
là thăm dò trông ngóng, Phật của chúng ta là “trụ” ở bên trong Phật điện,
cần người cúng dường. Công dụng Phật điện đều chẳng phải là dự bị cho số
đông người đến nghe giảng mà là cung cấp chỗ cho Phật trụ. Do đó điện Phật
là nhà ở của Phật cùng với nhà ở của phàm nhân chúng ta có công dụng tương
đồng, chẳng sai biệt nhiều. Ở điểm này thì Phật điện của Trung
Quốc cùng với thần miếu của Hy Lạp rất giống nhau, bởi vì đền thờ
của Hy Lạp là nhà ở của các vị thần của họ.
Nhân vì cái
duyên cớ ấy nên trên công dụng và kết cấu kiến trúc Phật điện và cung điện
khả dĩ thảo luận dưới một tổng đề. Tựu trung là nhà ở và Phật tự của Bắc
Bình (Hà Bắc) hiện tại trên bình diện phối trí không gì chẳng phải là
tương tợ. Kiểu phân phối một gian chính hai gian chái rất phổ thông. Cái
mà nhà ở kêu là Thượng phòng thì tại Phật tự gọi là Chánh điện. Cái mà nhà
ở kêu là Sương phòng (phòng chái) thì ở chùa Phật gọi là Phối điện. Ngoài
nhà ở như nha thự (nhà làm việc công, công sở) thương điếm (hiệu buôn)
công xưởng (xưởng thợ)... thì sự bố trí và qui cách của chúng sai biệt
chẳng nhiều, đều là như ở đây cả. Về kết cấu thì như đoạn văn trên đã nói
qua, phương pháp cốt cán xây dựng nhà ở, chùa Phật, kho tàng cho đến thành
quách, lâu đài là đều dùng chủ yếu vật liệu gỗ. Trên phương diện kết cấu
và công dụng về căn bản đã hoàn toàn tương đồng, có thể sẽ là một dạng
thức mọi người trông đợi. Ðiểm bất đồng giữa chùa Phật cùng nhà ở là chỉ
tại phép ở của Phật và phép ở của con người có sự bất đồng giống như hoàn
cảnh sinh hoạt của đế vương, quan lại cùng bình dân chẳng đồng một dạng.
Ở trong lịch
sử, lại có ghi chép, chúng ta được biết khởi nguyên của chùa Phật là quan
xá (nhà công) hoặc là nhà ở. Tự là quan xá vậy : Phàm là đình phủ sở tại
đều gọi là tự, phủ ngự sử đời Hán cũng gọi là “Ngự Sử Ðại Phu Tự”, các cơ
quan nhà nước sau này có Ðại Thường tự, Hồng Lô tự v.v... Ở trong thần
thoại Phật giáo mới du nhập Trung Quốc nói ngựa trắng Tây Vực chở Kinh đến
Trung thổ, đầu tiên dừng ở Hồng Lô tự, do đó đem tên chùa đổi là Bạch Mã
tự. Ðời sau chỗ ở của Phù-đồ đều gọi là Tự, tóm lại là do sự khởi đầu này.
Chẳng những chỉ có công sở đổi làm chùa mà lệ thường nhà ở đổi thành
chùa, trong lịch sử rất nhiều. Lạc Dương Già Lam Ký đã chép, chùa Kiến
Trung “vốn là nhà của hoạn quan Lưu Ðằng”, chùa Nguyên Hội là do “Trung
thứ xá nhân bỏ nhà ra xây dựng vậy”, chùa Bình Ðẳng là do “Quảng Bình Võ
Mục bỏ nhà ra làm”, chùa Cao Dương Vương được “Cao Dương Vương ủng hộ nhà
để làm”. Bài ký về Chùa tháp của Kinh đô Lạc Dương có nói đến chùa Quang
Trạch, trong chùa Phổ Hiền đường vốn là nhà tắm gội chải đầu của thiên
hậu”. Lại nữa, chùa Tĩnh Vức “vốn là nhà của Thái Mục hoàng hậu”. Ghi chép
lại những loại như đây chẳng phải là hiếm, bởi vì chùa Phật cùng nhà ở lúc
ban đầu không có phân biệt, một mực đến ngày hôm nay khả dĩ chứng minh trở
lại.
Ðến với sự bố
trí của chùa Phật thì ở trong sách xưa ít ghi chép. Tuy nhiên phần hoa lệ
và điển cố quan hệ đến Già lam thì Lạc Dương Già Lam Ký ghi thuật rất rõ
ràng. Nhưng hiềm một nỗi là chúng có
chỗ chẳng đủ. Ðến với những tác phẩm đời Ðường quan hệ đến chùa
Phật thì có một quyển sách Kinh Lạc Tự Tháp Ký nhưng sách này sợ đã lạc
mất, chỉ còn thấy dẫn trích trong các sách. Nhưng mà chẳng thể nhân đó nêu
lên được tình hình kiến trúc Chùa Phật lúc bấy giờ, chúng ta chẳng qua có
thể biết được đại khái mấy điểm sau đây :
(1)
Phân viện (- như chùa Ðại Hưng Thiện có “Hành Hương viện”, “Tố Hòa
Thượng viện”. Chùa triệu Cảnh Công có “Tam Giai viện”, “Hoa Nghiêm
viện” v.v... Chùa Từ Ân “thường có hơn mười viện”.
(2) Hành lang
(Lang - “Năm vách của Tây lang ở phía Bắc cửa Thiền viện bên đông, do
đệ tử của Ngô Ðạo Nguyên là Thích Tư Ðạo vẽ”, “bên dưới Tây lang của viện
Tam Giai trong chùa Triệu Cảnh Công, Phạm Trường Thọ vẽ cảnh Tây phương
biến hóa...”, hành lang của chùa đại khái là từ cửa chùa
nối liền đến trên điện Phật. Vả lại
hành lang ở trong chùa cũng chiếm địa vị trọng yếu tương đương,
chẳng vậy thì những họa sư danh tiếng chẳng từ bỏ việc vẽ vách hành lang.
(3) Cửa (Môn
) - Cửa là một vật kiến trúc tự làm thành một tòa, là trải qua nhiều họa
sư danh tiếng trang trí. Như trên vách phía đông bên trong Nam-trung-tam
môn của chùa Triệu Cảnh Công,
Ngô Ðạo Tử
vẽ cảnh biến hóa của địa ngục... trên vách nổi của viện vẽ cảnh cây, đá,
hơi giống của Diêm Lập Ðức,...
phía nam cửa bên trong Tây-trung-tam môn Ngô Sanh vẽ rồng và in rõ nét râu
vua trời...” Cửa loại ấy lại có đối xứng “Tam môn”, đại khái là mặt rộng
mở ba khoảng, vả lại đông tây nam bắc đều có cửa loại ấy. Ở trong chùa
Triệu Cảnh Công đã có ghi chép “Trung-tam môn” ở hai chỗ đông và tây.
(4) Ðường
- Phật đường hoặc Phật điện là vật kiến trúc chủ yếu của mỗi chùa, mỗi
viện mà mỗi chùa đều có.
(5) Nhà ăn
(Thực đường - Chùa Bồ tát có thực đường (nhà ăn) mà trên vách phía
đông có bức họa của Ngô Ðạo Tử.
(6) Lầu
chuông (Chung lâu )- Ở trong việc ghi chép về chùa Phật ít đề cập
đến lầu chuông, nhưng chùa Bồ tát nhân có duyên cớ đặc biệt nên có ghi
chép như dưới đây: “... chế độ của chùa là lầu chuông ở phía đông, nhưng ở
đây vì nhà của Lâm phủ Lý Hữu Tòa ở phía đông nên xây dựng lầu chuông ở
phía tây...”
(7) Vẽ vách
(Họa bích ) - Họa bích của đời Ðường là tinh hoa trong lịch sử nghệ
thuật Trung Quốc. Toàn bộ sự ghi chép của sách Kinh Lạc Tự Tháp Ký đều chú
trọng đến họa bích. Cái hiện còn của họa bích thì Thiên Phật nghiêm
tại Ðôn Hoàng
là rất trọng yếu mà Viện mỹ thuật của trường Ðại Học Bành Tỉnh Mỹ Quốc
(University of Pennsylvania) đã cất giữ là vật trân báu hiếm thấy.
Từ trong
những ghi chép tìm tòi lại tình hình của cung điện Tần - Hán trở về sau đã
rất khó khăn, mà dựa vào ghi chép để khảo sát nghiên cứu tình hình kiến
trúc chùa Phật đời Ðường lại chẳng hoàn toàn đạt đến cực điểm. Nhân vì
những tài liệu liên quan đến chùa Phật đem so sánh với sự liên quan đến
cung điện thì lại sai biệt nhau rất xa. May mắn là ngoài sự ghi chép ra,
chúng ta lại có một số tài liệu mới. Trong khoảng tài liệu đó tuy dẫn
chứng di vật không là bao nhưng sử sách truyện ký đều ghi lại một thời huy
hoàng. Tài liệu quí giá ghi lại bổ sung đó là “Bích họa Ðôn Hoàng”, đã đem
những kiến trúc đời Ðường - Cung điện, chùa Phật, cho đến nhà ở bình dân -
vẽ phỏng lại một cách trung thực ở bối cảnh Phật tượng, khiến cho chúng ta
có được những di vật kiến trúc bằng vật liệu gỗ của thời bấy giờ chưa phát
hiện. Rốt cuộc có thể đem đối chiếu với tình hình kiến trúc đại khái thời
bấy giờ vẫn được một cái nhìn không sai sót. Quả thật là một sự kiện đáng
mừng.
Thiên Phật
nham của Ðôn Hoàng mở động vào thời đại Phù Tần (năm 357 - 384 TL), nhưng
những di vật đại bộ phận là tác phẩm của triều Ðường. Sau loạn Ngũ Ðại, sự
phồn vinh của Ðôn Hoàng theo sự suy loạn của chính trị và sức nóng của tôn
giáo lắng xuống mà suy bại. Việc tăng gia hang động mới ít dần, sách mới,
tượng mới chẳng nhiều. Do đó chúng ta khẳng định được thời đại bích họa
(vẽ vách), phần nhiều là di tích của thời Trung Ðường, Vãn Ðường (giữa và
cuối nhà Ðường). Ðồng thời, nếu chúng ta đem những bích họa ấy cùng với
bức vẽ chạm trên xà ngang đá của cửa tháp Ðại Nhạn ở Tây An để so sánh,
rồi lại so sánh với điện Phật theo phương thức nhà Ðường của mấy chỗ hiện
còn trên nước Nhật Bản thì thấy sự tương đồng của chúng trong kiến trúc.
Rồi lại có thể dùng chúng để đoán định những bích họa ấy, và thời đại kiến
trúc được biểu hiện trong những bức họa.
Những bích
họa ấy tuy chẳng tránh khỏi sự tu bổ của hậu thế, nhưng về đại thể chúng
ta không có thoát ly nguyên hình. Vả lại, những bộ phận tu bổ chẳng nhiều.
Hiện tại chúng ta dùng phần soi rọi Ðôn Hoàng của ông Bá-hi-hòa (Paul
Pelliot) làm căn cứ để làm một cuộc phân tích kiến trúc trong bích họa Ðôn
Hoàng. Những số hiệu của động dùng để dẫn ra đều là biểu hiện của ông
Bá-hi-hòa.
1.- Phối
trí bình diện (mặt bằng)
Về phối trí
mặt bằng thì ở đoạn văn trên đã thảo luận qua. Bản vẽ thứ nhất tuy là bản
vẽ tưởng tượng, nhưng chúng ta có thể biết được nguyên tắc cơ bản và đặc
trưng của việc bố trí mặc bằng cung Ðại Minh cho đến cung điện cùng chùa
Phật thời bấy giờ. Trong ấy phải y theo tuyến giữa nam bắc, rồi phối trí
cân bằng bên trái, bên phải, việc phối trí ấy chẳng hiếm và lạ trong kiến
trúc Trung Quốc hiện tại mà lại hoàn toàn theo dạng ấy; lớn như cung cũ
và chùa Phật ở Bắc Bình (Hà Bắc), nhỏ như nhà ở của “Tứ Hợp Ðầu” đều bảo
tồn được đặc trưng ấy.
Sự phân phối
của Viện lạc (khuôn viên của viện) thì ở trong Kinh Lạc Tự Tháp Ký đã có
chứng cứ rõ ràng. Phần trên của bức vẽ thứ tư phía bên trái tại động thứ
117 của Ðôn Hoàng là một tòa Ðại Già Lam, gồm chung ba viện, trung ương
một viện lớn, bên trái bên phải đều có một viện nhỏ hơn, mỗi viện đều có
tường vây, cửa nẻo của mình. Ðộng thứ 8, động thứ 71 cũng có những bức họa
tương tự. Ở hai động ấy tuy biểu hiện là ba viện nhưng chẳng phải có lập
tường vây mà là ở hai bên viện lớn trung ương đều phụ thêm ba mặt tường
vây, làm thành hai khuôn viên viện phụ thuộc so với những điều thấy được ở
động 117 thì việc bố trí lại là xoắn xít nhau. Bộ phận giữa của khuôn viên
viện Trung ương ấy thì điện Phật là trọng yếu. Bốn phía chung
quanh là tường của hành lang (Lang
tường vừa là hành lang (tẩu lang ), đồng thời lại là
tường vây của mỗi viện hoặc mặt bên ngoài. Ở chính giữa của mặt chính
tường ngoài là cửa có ba gian hoặc năm gian, phía sau chánh điện cũng có
cửa loại tương tợ, hoặc là một tòa kiến trúc hậu cung cùng với cửa trước
tương xứng. Bên phải bên trái chánh điện, trong hành lang có hai cửa phải
và trái. Hai cửa ấy đa số là lầu hai tầng. Ở bốn góc tường bên ngoài cũng
có lầu hai tầng, phản phất giống một dạng lầu góc.
Tại động thứ
117 lại có bức họa Ngũ đài sơn mà số lượng Già Lam đã biểu hiện trong đó
có chừng hai mươi ba, hai mươi bốn nơi cũng đều là phối trí nhiều dạng.
Trong đó có một chỗ là “Chùa Nam Ðài”, bên trái chánh điện có tháp ba
tầng, bên phải có lầu hai tầng. Ðem chùa này cùng với cửa giữa, Kim đường,
tháp năm tầng của chùa Pháp Long ở Nại Lương nước Nhật Bản sánh với nhau
thì sự phối trí mặt bằng của thời đại ấy hiển hiện rõ ràng (bản vẽ thứ
hai). Bản vẽ thứ ba là bản vẽ mặt bằng Già lam của chùa Ðại Tây ở Bình
Thành Hữu Kinh nước Nhật Bản, được vẽ vào năm Bảo Qui thứ mười một (năm
781 TL - năm Kiến Trung thứ hai đời Ðường Ðức Tông), tuy nó chẳng phải là
Già lam của Trung Quốc nhưng là sản phẩm của thời kỳ nghệ thuật rất thịnh
mà Nhật Bản chịu ảnh hưởng Trung Quốc, khả dĩ xem ra rất trọng yếu, đồng
thời biết được phép phân phối của cái gọi là “Viện”.
Ðến với sự
phối trí mặt bằng nhà ở bình dân thì có thể tìm thấy trong những bức họa
nhỏ hai bên những bức họa cảnh Tịnh Ðoä biến tướng. Trong những bức
họa nhỏ ấy, cung điện, nhà ở riêng được biểu hiện, tuy nhiên phần nhiều
chỉ là một góc hoặc một bộ phận, nhưng
việc đi, ở bên trong viện thì bức vẽ phân phối gia nhân trai, gái cùng
khuôn viên viện chùa Phật nhìn chung thì giống nhau. Kiến trúc được
vẽ làm bộ phận bối cảnh trung ương ở bức họa Tịnh
Ðộ là chánh điện ở giữa, mặt sau có
hành lang, hành lang lại bẻ cong về phía trước, bên trái bên phải
có lầu, gác hai tầng. Ðem vấn đề này so cùng với những điều thuật ở trên
thì hoàn toàn tương đồng. Bức vẽ bố cục loại ấy thì số hiện còn là vài
mươi bức trở lên. Nếu chẳng phải là
phép bố trí rất phổ thông của cung điện hoặc chùa Phật thời bấy giờ
thì tuyệt nhiên chẳng có sự biểu hiện phổ biến như ở đây. Ở trong bức vẽ
loại ấy chẳng chỉ có thể truy cứu ra sự bố trí của điện, hành lang, vả lại
có thể phát hiện được phép phân phối ao hoa sen tề chỉnh và đặc trưng chủ
yếu trên những kiến trúc ấy.
2.- Chủng
loại kiến trúc :
Ở bên trong
những bức bích họa ấy mà qui ra loại nhỏ hơn về kiến trúc thì có thể được
mười hai thứ sau đây :
(1)
Ðiện đường - Phật điện, chánh
điện, phòng xá đều qui cho loại ấy. Ðiện đường chùa lớn là vật kiến
trúc chủ yếu hoặc thứ yếu ở bên trong tường vây, là chỗ của chủ nhân ông
dựng lên để ở. Mặt bằng hơn, một nửa là hình dài vuông (hình chữ nhật).
Một mặt dài thì hơn một nửa có ba khoảng mở ra hay năm khoảng mở ra nhưng
năm khoảng so ra ít hơn. Trong bức vẽ, điện đường chiếm vị trí chủ yếu ở
trung ương phần nhiều không có tường mái (thiềm tường ),
tường đầu hồi (sơn tường
khoảng hai trụ đều không có tường, vươn lên không như cái đình. Trong ấy
đôi khi có hành lang vòng quanh. Khoảng giữa trụ chữ Kim () lại có kiểu
dáng của tường. Kiểu dáng tường ấy so ra ít hơn, vả lại tường chỉ ở ít
gian tiếp theo mà chẳng có gian sáng sủa. Gian sáng hẳn nhiên mở cửa, cùng
với biện pháp kiến trúc hiện tại tương đồng. Nhưng trong những bức họa thứ
yếu bên cạnh thì việc sử dụng tường so ra phổ biến hơn.
Phép kết cấu
căn bản của những điện tường ấy là sử dụng khung giá gỗ đứng ở trên nền
đài bằng đá hoặc bằng gạch. Khoảng giá gỗ mái nhà - diềm mái - thì dùng
kết cấu trụ ngắn trên xà ngang. Từ trụ ngắn trở lên có cây rui đôi chồng
lên, trên nữa là phòng đỉnh. Mái nhà thì sử dụng ngói xanh che phủ, đồng
thời trang trí đuôi cú tai mèo, châu báu v.v... Chùa Ðường Chiêu Ðề
ở Nại Lương (bản vẽ thứ tư) bắt đầu xây dựng vào năm Bảo Vũ
thứ ba đời Thuần Nhân Thiên Hoàng (năm 759 TL) chính là năm Càn Nguyên thứ
hai đời Ðường Túc Tông, là công trình xây dựng của Ngài Giám Chân pháp sư,
người Trung Quốc, khi truyền đạo ở Nhật
Bản, đủ để đại biểu cho loại đại điện xây theo phương thức đời
Ðường lúc bấy giờ.
Bức họa khắc
đá ở cây xà trên cửa tháp Ðại Nhạn tại Tây An rất có thể tiêu biểu cho
phép kết cấu cung điện đời Ðường.
(2) Lầu hai
tầng (nhị tầng lâu ) - Buồng lầu hai tầng, bức bích họa trong nhà
thờ của Võ Lương đời Hán và “âm trạch” tìm ra trong đất của lăng mộ đời
Hán đã cho chúng ta biết được thuở xa xưa của nguyên thủy kết cấu ấy mà ở
trong bích họa của Ðôn Hoàng đã được thấy rất nhiều. Chính điện, phối điện
cho đến chỗ chuyển góc của tường vây hành lang đều có hai tầng. Phương
pháp kết cấu là đem trụ chữ Kim của tầng đầu xuyên ra đến diềm mái đầu
tầng từ ngói trở lên. Trên đầu trụ lộ ra kiểu ngạch phương
hoặc bình bản phương,
rồi lại trên mặt dựng lên trụ nhỏ để làm cơ sở cho tầng trên. Từ đây trở
lên, tất cả cùng với đường, điện đơn tầng như nhau, chỉ có điều là bốn
chung quanh đều lan can vây giữ.

(3) Cửa lớn
(Ðại môn ) - Cửa lớn của kiến trúc đời Ðường cùng với cửa lớn của
kiến trúc Trung Quốc hiện tại là một dạng chiếm vị trí trọng yếu, trở
thành vật kiến trúc đứng riêng một tòa. Mặt bằng là một hình dài vuông,
phần nhiều là ba khoảng. Ở khoảng trụ
giữa hoặc trụ chữ Sơn (lắp đặt cánh cửa. Cửa lớn có nền đài là đá
hoặc là gạch, có cấp đá hoặc đường xe khả dĩ lên xuống. Ở trên nền đài
trang trí hoa lệ lại có lan can. Cửa lớn có hai tầng.
(4)
Lầu góc (Giác lâu ) - Trên bốn góc tường phần nhiều có lầu góc
tầng kép. Lầu làm bằng giá gỗ, tường màu trắng, mặt bên trong tường tầng
dưới có cửa, khả dĩ ra vào lầu góc, tầng trên là đại khái có thể đi lên.
Xét phương pháp kết cấu và tánh chất xem ra chẳng giống vật kiến trúc
phòng ngự của quân sự. Sự kết cấu cùng hai tầng của chúng đại để tương
đồng.
