Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
THÊ
HÀ CỔ TỰ – DI TÍCH THỜI LỤC TRIỀU
Nguyên tác:
Tử Long
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
I. DANH LAM THẮNG CẢNH ÐẤT GIANG NAM:
Từ đời Ðông
Tấn trở về sau, lịch sử phân ra Nam Bắc Triều. Nam Triều: Tống, Tề, Lương,
Trần đều xây dựng kinh đô ở Nam Kinh. Di tích Nam Triều rải rác các phương
ở Giang Nam chẳng ít, chùa núi Thê Hà là một trong số ấy. “Xuân Ngưu Thủ,
thu Thê Hà ”, lời nói đã minh chứng người Giang
Nam ôm lòng ngưỡng mộ đối với hai nơi thắng cảnh ấy. Núi Nhiếp Sơn cách
Nam Kinh chừng 40 dặm Trung Hoa, họăc gọi là Nhiếp (Sơn, hoặc gọi là
Nhiếp () Sơn, hoặc gọi là Nhiếp Lĩnh , hay Thê Hà sơn. Xưa nay
thường lấy Kinh Châu Ngọc Tuyền ,
Tế Nam Linh Nham ,
Thiên Thai Quốc Thanh ,
cộng với Giang Tô Thê Hà ,
xưng là Tứ Tuyệt Danh Sơn (Tứ đại Tùng Lâm ) của thiên hạ. Núi
ấy cao ước chừng 132 trượng, chu vi 40 dặm Trung Hoa. Núi có nhiều dược
thảo dùng để trị liệu bổ ích thân tâm, nên gọi là Nhiếp Sơn. Lại nữa, hình
trạng núi ấy như cái dù, nên xưng là Tản Sơn . Ngọn núi giữa đứng
sừng sững, cao chót vót, bên trái bên phải các vòng núi ôm lại như đi
nhiễu quanh (tỏ sự kính trọng). Chân ngọn núi giữa, tức là Thê Hà sơn vậy.
Truyện ngài Pháp Ðộ ở quyển thứ 8 trong Cao Tăng Truyện
viết: “Ngài Pháp Ðộ người Huỳnh Long, tuổi trẻ xuất gia, du học đất
Bắc, thông suốt đủ hết các kinh điển mà chuyên dùng khổ tiết để hoàn thành
công việc. Cuối đời Tống, ngài đi đến Kinh Sư, bậc cao sĩ quận Tề là Minh
Tăng Thiệu, che giấu tung tích, sống xa mọi người, ẩn cư ở Nhiếp Sơn, vùng
Lương Da, trút hết lòng chân thành đối với ngài Pháp Ðộ, tiếp đãi bằng sự
kính trọng thầy bạn, rồi ông mất. Ông bỏ chỗ núi mình đang ở để làm Thê Hà
tinh xá, mời ngài Pháp Ðộ đến ở, tức là lai lịch của Thê Hà Sơn Tự”.
Ðến nay đã 1.500 năm vậy.
Theo Minh
Trưng Quân Bi đời Ðường cho rằng: “Chùa ấy là do Tăng Biện khai sáng đầu
tiên”. Tục Cao Tăng Truyện, quyển thứ 7
lại nói: “Trong năm Chí Ðức
(583-586) nhà Trần, cung thỉnh
thiền sư Tuệ Bố
xây dựng (Thê Hà tự) .v.v...” Trưng ra sự thật các lịch sử thì
chùa ấy do nhiều người cùng kiến lập. Tăng Thiệu khi mới về ở vùng núi
này, nằm mơ thấy ánh sáng rực rỡ của đức Như Lai mới khai sáng, tạo hang
Phật. Chưa bao lâu thì Thiệu mất, rồi người con thứ hai của ông là Trọng
Chương nối chí cha. Ông đục xuyên vách đá ngọn Tây Phong làm hang Phật,
đồng thời cùng ngài Pháp Ðộ kiến tạo chung tượng ngồi đức Phật Vô Lượng
Thọ, cao 31 thước 5 tấc, tính luôn cả tòa ngồi là 4 trượng, và 2 tượng
Bồ-tát cao 3 trượng 3 thước. Bia Minh Trưng Quân đời Ðường cho là Trọng
Chương tạo tượng đức Thích Ca, Pháp Ðộ riêng tạo hơn 10 cái khám thờ. Năm
Ðại Ðồng thứ hai, đỉnh khám thờ phóng ra ánh sáng. Thái tử Văn Huệ của Nam
Tề, Dự Chương Văn Hiến Vương, Cảnh Lăng Văn Tuyên Vương, Thủy An Vương
.v.v... đều quyên góp tiền của để hoàn thành phước nghiệp chung. Tống Thái
Tể Giang Hạ, Vương Hoắc Cơ .v.v... cũng cho của cải, ba thạch (đơn vị đo
lường) ngọc đã mài. Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 10, đời Lương Võ Ðế, Lâm
Xuyên Tĩnh Tuệ Vương lại trang trí thêm thứ đá đẹp, trong suốt (theo bia
đời Ðường thì năm thứ 15, Tĩnh Tuệ Vương tạo một pho tượng Vô Lượng Thọ
Phật), liền cho khắc thành muôn vạn hóa thân, hiện còn kể cả lớn nhỏ là
294 tòa, tượng tạo là 505 pho, tòa lớn nhất là Vô Lượng điện. Ðây là Thiên
Phật Nham trứ danh. Nơi ấy là hang Phật duy nhất của đất Giang
Nam.
Bên phải của
chùa thì có tháp đá bát giác 5 tầng và phía sau đó là Thiên Khai Nham
. Tháp 5 tầng thuộc hệ tháp Xá-lợi, do Tùy Văn Ðế kiến lập, thời
Nam Ðường, lại qua sự sửa sang của Thương Việt, Lâm Nhân Triệu .v.v...
dùng đá nước Ðại Lý màu xám tro để xây dựng, vây đứng trên đất nền. Từ
tầng hai trở lên, thân tháp thấp hẹp dần dần theo hướng lên trên. Hình thể
lớn ấy lần lượt giảm đi, bộ phận trên và tướng luân sớm đã mất đi. Từ đàn
nền đến thân tháp đều được chạm khắc, trang trí rất tinh vi, đẹp đẽ. Ðặc
biệt ở đàn nền (đắp đất cao lên làm nền), Vũ Mục khắc “Thích Ca Bát Tướng
Ðồ”, thủ pháp rất là tinh xảo. Cung điện, lâu các, phục trang nhân vật đều
là chế độ truyền thống Trung Quốc và chẳng phải thể thức Ấn-Ðộ, cảm hứng
rất sâu sắc. Năm Dân Quốc thứ 18, Hà Ðông huân tước và phu nhân Trương
Liên Giác cư sĩ ở Hương Cảng, thấy ngôi tháp ấy đổ nát, một mình quyên góp
của cải trùng tu. Cái tháp mà ngày nay chúng ta thấy tức là tháp của họ Hà
xây dựng lại vậy.
II. DI TÍCH THỜI NAM TRIỀU:
Ðục mở động
đá ở Trung Quốc bắt đầu vào thời Bắc Ngụy, cho đến thời Ngũ Ðại. Như Ðại
Ðồng, Long Môn, Ðôn Hoàng, Thiên Long, nam bắc núi Hưởng Ðường đều đục vào
thời đại Bắc Ngụy, lại đều thiên về phương bắc, do khí hậu phương bắc khô
ráo, đá sa thạch cứng chắc, thích nghi cho việc đục mở. Thiên Phật Nham ở
núi Thê Hà đục mở vào khoảng đời Tề,
đời Lương, ấy là cái chỉ có ở đây, tuyệt không nơi nào có ở phương nam.
Quả thật là danh lam thắng cảnh số một của Giang Nam vậy.
Thiên Phật
Nham ở phía sau chùa dựa theo tầng đá sa nham mà tạo thành. Thiên Phật
Nham ấy cắt theo ven núi khoét, mở ra nhiều khám đá thờ. Chính giữa mặt
nam là khám thờ tượng Phật lớn, rộng chừng 27 thước, sâu chừng 22 thước,
cửa hang vào rộng chừng 10 thước, bên trong có tượng Phật lớn. Khám thờ ấy
do người con thứ hai của Minh Tăng Thiệu và ngài Pháp Ðộ đục. Tượng Vô
Lượng Thọ Phật ngồi kiết già trên tòa ngồi, cao 6 thước, toàn bộ cao chừng
20 thước (y theo thước tấc của bia họ Trần ở trước, e rằng hệ thống đo
tính theo thước tấc bấy giờ). Hầu bên phải bên trái của tượng ấy là tượng
hai vị Bồ-tát. Ðời gần đây, người ta lấy đất tô đắp, sửa chữa hình của
tượng, thật đã làm tổn thất lớn cho mỹ quan, nay đã tróc lỡ quá rồi, khó
dòm thấy dạng thức đương thời. Phía đông của khám thờ Ðại Phật khắc 4 khám
thờ, trên những khám ấy có 3, 4 khám thờ Phật lớn hay nhỏ. Lại ở phía tây
có chừng 20 hang đá, bên trong những hang ấy lớn nhỏ bất nhất, lớn thì
rộng 2 gian, sâu chừng 10 thước, nhỏ thì chẳng quá 3, 4 thước, nội bộ đều
khắc tượng Phật, tượng Ðộc Tôn, tượng Tam Tôn Phật, hoặc tượng La-hán,
tượng Nhân vương,
tượng Thiên bộ (Chư Thiên, Thiện thần) .v.v... Khám thờ trên vách đa số là
khám thờ tượng Phật nhỏ. Giếng trời là hình trạng khum khum, chạm khắc ra
Phật, Bồ-tát, thân quang rất cạn. Nếu đem so sánh với hang đá Ðại Ðồng,
Long Môn thì chẳng những chỉ bất cập về quy mô, mà cả sự vĩ đại nữa. Ngay
tay nghề khéo léo cũng kém xa sự tỉ mỉ tinh vi của những hang đá kia.
Nhưng ở Giang Nam thì nó lại thuộc loại hiếm có. Ở trên lịch sử nghệ
thuật, nó cũng lại là thứ kiến trúc quý trọng. Ở trong đình để bia, bên
ngoài cửa chùa có bia Minh Trưng Quân, rộng 4 thước 1 tấc, dày 1 thước 1
tấc, cao ước chừng 13 thước, kiến lập vào năm Thượng Nguyên thứ 3, đời
Ðường. Bài minh là ngự chế của vua Cao Tông, đại
thần Cao Chính viết chữ, Triện Ngạch (tấm biển viết chữ Triện)
do Vương Tri kính bút. Quả thật là thủ pháp rất tinh mỹ của buổi
Sơ Ðường, mà ở đất Giang Nam chẳng thấy nhiều vậy.
Thiên Khai
Nham ở chỗ cách phía sau chùa 3 dặm Trung Hoa, tương truyền là nền cũ nơi
thiền sư Vân Cốc
truyền trao tâm ấn Minh Viên Liễu Phàm.
Núi Nhiếp Sơn thuở xưa có chùa Khánh Vân. Theo Trần Thư Bản Kỷ quyển thứ
2, thì cuối đời Thiên Lam nhà Lương, vị tăng cùng chùa là Tuệ Hưng lấy
được răng Phật ở chùa Ðịnh Lâm Thượng , núi Chung sơn, cất giữ
chẳng bao lâu, đem phú chúc cho Tuệ Chí, cuối niên hiệu Vĩnh Thánh, bí mật
đưa cho Trần Cao Tổ Võ Ðế, năm đầu niên hiệu Vĩnh Ðịnh, tháng 10, Võ Ðế
sắc chỉ đến Trụ Mỗ Trạch tập họp 4 bộ, tổ chức Vô Già đại hội. Nhà vua
đích thân làm lễ Phật, con cháu về sau dõi theo sách sử, chẳng rõ vậy.
III. TRUNG HƯNG TAM LUẬN TÔNG:
Nhiếp Luận
Tông mới chỉ là một phái của các tông phái Ðại thừa, do Trần Chân Ðế
làm Sơ tổ. Ngài y theo Nhiếp Ðại Thừa Luận, chủ trương Vô Cảnh Giới Duy
Thức Luận, lập thêm Cửu Thức Luận, đối
trị A-lê-gia thức, chứng nhập thức thanh tịnh vô cấu A-ma-la, độc
xướng một phái. Chân Ðế là người nước Ưu-thiền-ni,
phía tây Ấn-Ðộ. Vào năm Ðại Thanh thứ hai nhà Lương, ngài đáp ứng lời
triệu mời, đi đến kinh đô Kiến Khang. Do binh loạn, ngài quay trở lại,
lánh về Quảng Châu, ở tại chùa Chế Chỉ, dịch ra Nhiếp Ðại Thừa Luận 2
quyển, Thế Thân Thích Luận 12 quyển, đồng thời giảng giải và chú thích
nghĩa 8 quyển. Ngài lại biệt dịch Quyết Ðinh Tạng Luận, Tam Vô Tính Luận,
Chuyển Thức Luận .v.v... Môn nhân của ngài như: Tuệ Khải, Tào Tỳ, Pháp
Thái, Tăng Tông, Ðạo Ni, Pháp Chuẩn, Tuệ Khoáng .v.v... tiếp nối nhau
hoằng dương lan tràn khắp miền Giang Tả. Có ngài Tăng Lãng, người Liêu
Ðông Cao Ly, đến đây một mình thờ thầy độ pháp. Tăng Lãng ở chùa núi,
thông suốt sâu sắc kinh Hoa Nghiêm và Tam Luận, xưng là Sơ Tổ Tam Luận ở
Giang Nam. Lương Võ Ðế rất sùng kính sư Tăng Lãng. Năm Thiên Lam thứ 11,
vua sai Tăng Thuyên, Tăng Hoài, Tuệ Linh .v.v... gồm 10 người, tề tựu chỗ
sư Tăng Lãng giảng dạy mà lĩnh thọ Tam Luận. Nam Lan Lăng Tiêu Sâm
ẩn cư tại núi này, ngưỡng mộ lời dặn bảo của sư Tăng Lãng nên lúc lâm
chung di chúc muốn được chôn bên cạnh mộ ngài Tăng Lãng. Tăng Thuyên trụ
trì chùa Chỉ Quán , ở trong núi (chùa Chỉ Quán, một thuyết cho là
chùa Thê Hà, hoặc có thuyết cho là chùa Chỉ Quán ở trong núi, chùa Thê Hà
ở tại chân núi), hoằng dương hưng thịnh Tam Luận. Môn hạ của ngài có Pháp
Lãng, Tuệ Biên, Tuệ Dũng, Tuệ Bố, Tuệ Phong .v.v... Tựu Trung Tuệ Bố trụ ở
trong chùa, giữ gìn di huấn của thầy, cầu đạo, nghiên cứu, học hỏi rất là
tinh tấn. Tháng 11, năm đầu niên hiệu Trinh Minh nhà Trần, ngài tịch ở
trong chùa. Trong môn đệ Pháp Lãng có Cát Tạng, Minh Pháp Sư .v.v... Cát
Tạng là người tập đại thành của Tam Luận. Ông trước tác rất nhiều, kế thừa
học thuyết của Tăng Lãng, Tăng Thuyên .v.v... Ðối lại với Tam Luận Cổ của
quan nội, thì học thuyết các vị ấy lập là Tân Tam Luận, lại gọi là Sơn Môn
Nghĩa. Năm đầu niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy Văn Ðế, thiên hạ có 30 châu, năm
tiếp theo là 50 châu đều kiến lập tháp Xá-lợi. Chùa ấy là một trong số đó,
tức là kiến lập vào thời ấy vậy. Khoảng năm Nhân Thọ Khai Hoàng, ngài Pháp
Vân đến trụ. Thời Dương Ðế, ngài Tuệ Khoáng ở đây giảng Trí Ðộ Luận. Thời
Trần, ngài Trí Thông lĩnh thọ Tam Luận ở chùa Chỉ Quán. Sau, vào thời Sơ
Ðường, phía tây tháp Xá-lợi của chùa là nơi ngài ngồi thiền, kinh hành. Do
trong núi lương thực chẳng nhiều, nên 300 thanh tín sĩ Dương Châu đồng
chung cung cấp, mỗi năm đưa đến một thạch nhỏ. Tháng 4 năm Trinh Quán thứ
22, ngài sang chùa Chỉ Quán làm lễ ảnh tượng của Ðại sư, trở về đến phòng
mình mà viên tịch. Người đạo kẻ tục chịu sự giáo hóa của ngài hơn 3.000
người.
Thời Ðường
Cao Tông bố trí “Phạm vũ đàn” 49 nơi.
Từ đời Ðường đến đầu đời Minh, biển ngạch (tấm biển) danh xưng của
chùa thỉnh thoảng theo sự mừng vui của vua mà đổi thay cho vừa ý:
- Ðầu tiên,
Ðường Cao Tông đổi xưng là Công Ðức tự, lại đổi là Ẩn Quân Thê Hà tự.
- Khoảng năm
Hội Xương, một lần bị phế bỏ.
- Năm Tuyên
Tông Ðại Trung thứ 5 trùng tu, ban cho biển ngạch là Diệu Nhân tự.
- Năm Thái
Bình Hưng Quốc thứ 5, ban lệnh đổi là Phổ Vân tự.
- Năm Cảnh
Ðức thứ 5 lại đổi là Thê Hà Thiền tự.
- Năm Tống
Hựu thứ 8 đổi lại là Nghiêm Nhân Sùng Báo Thiền viện, lại đổi là Cảnh Ðức
Thê Hà tự. Chẳng bao lâu lại đổi là Hổ Huyệt tự.
Thời Minh
Thái Tổ, ngài Tố Am Chân Tiết trụ trì, đã đánh trống pháp hơn 30 năm, kiến
lập một ngôi Phù-đồ ở phía tây giảng đường.
Năm cuối đời
Võ Tông, ngài Vân Cốc Pháp Hội đến trụ trì, làm hưng thịnh ngôi Tam bảo,
đồ đệ của ngài là Năng Tuệ cũng kết am ở Thiên Khai Nham, nghinh đón thầy
về ở. Chưa bao lâu, mùa hạ năm Vạn Lịch thứ 19 lại xây dựng lại. Từ đây
dần dần suy đồi. Vua Cao Tông nhà Thanh 5 lần đi tuần thú phương nam đều
nghỉ chân ở Thê Hà, chi phát của kho dựng thêm hơn 2.000 gian pháp tràng.
Khoảng năm
Hàn Phong, Thái Bình Thiên Quốc làm loạn, ngôi Phạm vũ trang nghiêm bị
binh lính đốt phá tan hoang, hoàn toàn hủy diệt. Dân Quốc bắt đầu tạo dựng
lại, đầu tiên do Tông Ngưỡng thượng nhân mở đầu sự phục hưng.
IV. HỐI THÚC CÁCH MẠNG:
Chùa núi Thê
Hà chẳng những chỉ là sơn thủy tuyệt thiên hạ, mà còn là những thắng tích
chùa Phật (Phạm vũ) kiến lập trong rừng như tháp Xá-lợi, Thiên Phật Nham,
Khai Thiên Nham .v.v... Thật là một đạo tràng nổi tiếng số một vùng Giang
Nam vậy.
Chùa Thê Hà
trải qua nhiều đời hưng suy bất nhất, khi Thái Bình Thiên Quốc làm loạn,
ngôi Phạm Vũ trang nghiêm bị thiêu cháy ra tro. Ðến năm Quang Tự thứ 27,
Pháp Ý thiền sư bắt đầu dựng lại một cái am nhỏ, quy mô thua xa đời trước.
Năm Dân Quốc thứ 8, Kim sơn Tông Ngưỡng thiền sư, sớm lễ Cữu Hoa, đi qua
Thê Hà, nhân thấy dấu xưa hoang phế mới phát nguyện trùng hưng, lại được
Nhã Thuấn thiền sư và Minh Thường, Phương Liêm, Tịch Nhiên, Ngưỡng Sơn
.v.v... nối nhau nghiệp ấy mới có được đạo tràng hùng vĩ trang nghiêm ngày
hôm nay vậy. Ngài húy là Tông Ngưỡng, tự là Trung Ương, biệt hiệu là Ô Mục
Sơn Tăng, người Thường Thục, họ thế tục là Hoàng, sinh vào năm Hàm Phong
thứ 11. Năm 16 tuổi theo Dược Hàm, chùa Tam Phong ở Thường Thục,
xuất gia nghiên cứu tinh thông tam tạng, kiêm thêm Anh văn, Nhật văn, khéo
thư họa thi từ. Năm 21 tuổi, ngài thọ giới ở chùa Kim Sơn. Năm Quang Tự
thứ 18 (năm 1892), ngài đáp lời mời của phú thương La Ca Lăng cư sĩ, đến
đất Hỗ (Thượng Hải) hoằng pháp, được cùng với danh sĩ đương thời tiếp xúc,
mắt thấy triều đình nhà Thanh hủ bại và chịu sự mời gọi của tư tưởng cách
mạng Tôn Trung Sơn tiên sinh, ngài liền cùng với Ngô Kính Hằng, Chương
Thái Viêm, Thái Nguyên Bồi, Tưởng Trí Ðiền, Trân Dung .v.v... tổ chức
“Trung Hoa Giáo Dục Hội”. Tông sư nhậm chức Hội trưởng, đồng thời làm chủ
biên tờ Tô Báo (tạp chí Giang Tô), cổ xúy cách mạng.
Năm tiếp
theo, triều đình nhà Thanh tra xét đóng cửa tờ Tô Báo, Chương Thái Viêm,
Trân Dung bị bắt hạ ngục, ngài bị lùng bắt. Ngô Kính Hằng, Thái Nguyên Bồi
.v.v... đã lưu vong ra nước ngoài. Ngài được La Ca Lăng cư sĩ tư trợ, liền
đào thoát sang Nhật Bản. Vừa lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh từ Việt Nam tới
Hoành Tân, ngài đuổi theo để yết kiến, đó là Tông sư lần đầu tiên yết kiến
quốc phụ, vỗ tay mà bàn bạc, trở thành người quan trọng gánh vác đại kế
cách mạng. Ngài được tham dự mật nghị. Mùa thu năm đó, Trung Sơn tiên sinh
muốn đi đến Ðàn Ðảo, do ở Tứ Xuyên thiếu của tiền nên Tông sư dốc hết túi
tư trợ. Ngài khẳng khái tư trợ cách mạng, rất được quốc phụ tán dương. Từ
đây, Tông sư cùng với quốc phụ thư từ qua lại chẳng dứt, thương nghị sách
lược đại nghiệp cách mạng.
Quay trở lại
Nhật Bản, ngài cho ra lại Giang Tô tạp chí, khơi dậy dân tâm, thúc giục gỡ
bỏ ngói triều đình nhà Thanh. Năm Quang Tự thứ 24 (năm 1908) ngài mới từ
Nhật trở về đất Hỗ (Thượng Hải) sáng lập Thượng Hải Ái Quốc Nữ Hiệu
(Trường Nữ Ái Quốc Thượng Hải). Quốc phụ ở tại Ðàn Ðảo gởi thư rằng:
“Trung
Ương thượng nhân anh minh nhã giám. Thư đến từ Hoành Tân, đã được bái đọc.
Tại Ðàn Ðảo, đệ lập tức đại chiến cùng với phái bảo hoàng. Trong bốn đảo
lớn đã trấn áp được hai đảo, còn hai đảo tưởng như không ngày có thể hoàn
công. Chẳng phải đem cái độc hại này phát trừ, chặt đứt là việc chẳng thể
làm, nhưng đảng kia xảo trá dị thường, thấy ngày nay cách mạng rất thịnh,
chúng ở đất này mượn danh cách mạng để nói năng, mà thật sự là bảo hoàng.
Ở Mỹ Châu, chúng tự xưng bảo hoàng là đảng cách mạng, dối lừa quá lắm vậy!
Người Hoa sống ở nước ngoài, chân ngụy không biện rõ, phần nhiều chịu sự
mê hoặc ấy. Kế này do bọn bảo hoàng trắng trợn hùa nhau như quái nhân
Khang Hữu Vi, rất độc hại và mưu đồ giảo hoạt của thủ lĩnh Lương Khải
Siêu. Nghe nói các địa phương tại Kim Sơn (Cựu Kim Sơn - Mỹ) đã thu gom
rất nhiều của tiền. Số của cải này đại đa số là của những người có lòng
cách mạng lật đổ Thanh triều. Họ Lương mượn danh cách mạng, lừa đảo được
số của cải này, dùng để thi hành chính sách lập hiến bảo hoàng của chúng,
muốn lôi kéo 4 vạn vạn người Trung Quốc vĩnh viễn làm nô lệ cho Mãn Châu.
Tội thông đến trời vậy! Tội thật đáng tru diệt thay!
Ðệ và các
đồng chí chuyên tâm hướng đến việc dấy binh khởi nghĩa, chưa rảnh rỗi mưu
tính và vận động hải ngoại, nên để cho bọn bảo hoàng tung hoành như thế.
Ðệ cũng có lỗi, chẳng thể chối được vậy. Nay nhân lúc đang nhàn hạ này,
tận lực quét sạch những thứ độc hại ấy để cho lòng dân là một. Dân một
lòng thì của cải sức lực khả dĩ không lo vậy. Hy vọng rất nhiều ở các đồng
chí đất Hỗ, cũng đánh tiếng viện trợ từ xa, như có sách mới, báo mới cần
phải tìm cách gởi nhiều sang Mỹ Châu và Ðàn Hương Sơn để phân phối bán
rộng rãi cho người người đều biết mà theo, đồng thời phải đem hết sức lực
công kích lửa độc bảo hoàng ở các địa phương vậy. Vội vàng thảo thư này,
mong ngài đại an, đệ Trung Sơn kính cẩn tỏ bày”.
Căn cứ bức
thư này, chẳng những chỉ thấy Tông sư rất dược Quốc phụ nhờ cậy, nể trọng,
san sẻ hoạn nạn, thúc hối cách mạng, quả thật là công huân đầu khai quốc,
mà còn việc Quốc phụ đau đớn bài xích Khang, Lương mà lịch sử thiếu sót,
thì nó đã bổ sung cho sự bất túc của văn hiến vậy.
Loạn Hồng
Dương, sách, hình, kinh Phật bị lửa đốt cháy hết. Năm cuối đời Quang Tự,
Dương Nhân Sơn cư sĩ ở Nam Kinh nhân theo sứ giả xuất ngoại, đi sang nước
Anh, nước Nhật .v.v... rộng giao thiệp với nhân sĩ Phật học các nước, ông
liền từ Nhật Bản sưu tập các trước tác để lại của các bậc cổ đức đời Tùy,
đời Ðường ở Trung Quốc. Vì số lượng khá nhiều, nên ông liền ở Kim Lăng
thành lập nơi khắc bản kinh để lưu thông kinh điển. Viện tàng kinh ở Dương
Châu, chùa Thiên Ninh ở Thường Châu trước sau phát động khắc bản
in kinh, tuyên dương Phật pháp. Tông sư vào năm đầu niên hiệu Tuyên Thông,
nhân được La Ca Lăng cư sĩ tư trợ, biên
tập và in cho ra đời “Tần Già Tạng Kinh”
tuyên dương giáo thừa. Ðây là lần đầu tiên Trung Quốc in ấn kinh tạng,
việc ấy đã trợ giúp học giả tham khảo, nghiên cứu Phật học. Lại nữa, so ra
việc của Dương Nhân Sơn cư sĩ .v.v... lại là quảng bác và cụ thể vậy.
Năm cuối niên
hiệu Tuyên Thống, Võ Xương khởi nghĩa, Nam Kinh sáng sủa trở lại, Quốc phụ
từ hải ngoại trở về, đồng chí cách mạng trong nước vân tập về đất Hỗ
(Thượng Hải) nghinh tiếp. Quốc phụ về nước nhận chức vụ Ðại Tổng Thống Lâm
Thời. Quốc phụ đến đất Hỗ, có bằng cứ nói rằng: các đồng chí xô nhau về
phía trước tranh rước Quốc phụ về chỗ trú ngụ để bàn bạc thỏa thuê, nhưng
Quốc phụ nhún mình cảm tạ mọi người, rồi một mình đi đến chỗ Tông sư mà
mật đàm, đồng thời yêu cầu Tông sư đồng đi đến Nam Kinh tham gia chính
phủ, phụ trợ việc nước. Tông sư nhún mình từ tạ hết sức chân thành. Hôm
sau, nơi nhà trạm phía bắc hoan hỷ tiễn đưa. Sau khi Quốc phụ đi đến Nam
Kinh, Tông sư liền ẩn cư nơi núi rừng. Quốc phụ thường muốn triệu kiến mà
chẳng được. Quốc phụ đối với Tông sư từ đây càng thêm sùng kính. Dân quốc
năm thứ 8, Tông sư quả xứng đáng là một sự kiện lớn của lịch sử Phật giáo
cận đại Trung Quốc, ngài tiếp quản trụ trì chùa Thê Hà, Quốc phụ Tôn Trung
Sơn tiên sinh đầu tiên quyên góp ngân tệ một vạn đồng, giúp ngài sửa sang,
xây dựng. Sự sùng kính của Quốc phụ đối với Tông sư được thấy thêm ở hành
động này. Tông sư chẳng những chỉ là Cao Tăng của Phật giáo, mà cũng lại
là người số một của đệ tử Phật môn hiến thân tham gia quốc dân cách mạng
vậy.
V. THÂN HẬU QUANG VINH.
Chùa núi Thê
Hà sau khi Tông sư tới nhậm chức thì quy hoạch hưng thịnh trở lại, tông
phong được trùng chỉnh. Chùa Thê hà nguyên thuộc hệ phái Tam Luận Tông, do
Tông sư là pháp phái Kim Sơn Lâm Tế, nên từ đó đổi là Kim Sơn Phân Tông.
Dân quốc năm thứ 10, chính đương thời kỳ đầu hưng khởi xây dựng thì Tông
sư nhập diệt vào tháng 7, hưởng thọ 62 tuổi. Mãi đến năm Dân quốc thứ 25,
các ủy viên của chính phủ Dân Quốc Trương Kế, Vu Hữu Nhiệm, Ðái Truyền
Hiền, Ngô Kính Hằng, Thiệu Nguyên Trùng, Chu Gia Hoa, Lý Liệt Quân, Cư
Chính .v.v... do Tông sư có công với quốc gia nên ngưỡng mộ công huân sáng
ngời, mới liên danh trình thỉnh chính phủ sáng suốt ban lệnh tuyên dương
khen ngợi. Bài văn viết rằng:
Từ khi Mãn
Châu vào làm chủ Hoa Hạ, ý chí dân tộc chìm đắm tiêu tan đã lâu. Ngài Tổng
Lý chúng ta thiên bẩm thông minh, đồng lứa nể sợ, cả tiếng hô hào, gọi
tỉnh dân chúng, tư trào cách mạng một thời nổi gió tuôn mây, chẳng thể
ngăn chận ức chế, để tập thành đại công. Người nhân ái, kẻ chí sĩ ở đời
này, nghĩa hưng vong hữu trách lẫm liệt, nguyện chẳng dung bê trễ. Người
gánh vác ấy đi ra nước ngoài, Thanh Triều tự có thể tu chỉnh, không hưng
phục nghiệp lớn, mà cũng cuối cùng được đồng chí rất sáng đại nghĩa dốc
hết trí tuệ, tận trung ra giúp ư? Giúp ngài trong giai đoạn ấy như Trung
Ương thượng nhân. Người ấy thật là khó có thể không quý trọng! Xét ra,
Thượng nhân lúc thiếu thời xuống tóc làm Tăng, từ năm Canh Tý về sau, uất
ức tức giận việc nước, luôn theo việc vận động yêu nước, gây án báo Tô
Châu, thân danh bị truy bắt, sang phía Ðông đến Nhật Bản, vừa lúc Tổng Lý
đến từ Nam Dương, nhân đó mà quen thân, dốc lòng phụng sự nhau, đem hết
của cải giúp đỡ. Nay biết Tổng Lý ở tại Ðàn Ðảo Mỹ Châu, đã cùng ngài trao
đổi hai phong thư, nói về việc tảo trừ thế lực phản động bảo hoàng và liên
lạc tình hình Hồng môn các địa phương, hy vọng số đông người bên ấy thông
tỏ tin tức, gởi nhiều sách báo tới cơ quan các nơi, biết ngay chủ nghĩa
hàm nhu (thấm đượm ân trạch) tại nơi ấy lúc bấy giờ, tham dự mật nghị, có
sự ngưỡng mong chẳng phải tầm thường. Trong thư đồng thời có hứa khi trở
về sẽ trọng dụng. Thật ra, bản thân chẳng phải giàu có, nhưng nóng lòng ưa
nghĩa cử của Tôn công mà vì nước quên việc riêng tư, cũng đáng nhìn xem
cân nhắc.
Từ sau khi
tình hình sáng sủa trở lại, đồng chí đang làm việâc, nhiều người thông
hiểu, một mình thượng nhân tỏ ra trầm tịch, chẳng trở lại dự nghe chính
trị, nên cùng với đời cách biệt. Trước ngài trụ trì chùa Kim Sơn ở Trấn
Giang, năm Dân quốc thứ 8, nhiều nơi chọn cử ngài nhậm chùa Thê Hà ở Giang
Ninh, phát quang gai góc, chỉnh đốn lại tông phong, nhưng chẳng may vào
tháng 7 năm Dân quốc thứ 10, ngài viên tịch, được chôn cất bên cạnh chùa.
Dấu vết bình sinh ôm hoài bảo lỗi lạc ấy, tính tình kiên định, nghe việc
nghĩa nhất định ứng trước, giấu tên nếu làm phiền người, quả thật là long
tượng (rồng, voi) của cửa Phật, cũng là của quý lạ trong đảng chúng ta.
Trung Ương sùng đức, biểu dương trung nghĩa thì nên có sự biểu dương
thương xót. Quyết định thỉnh cầu phát cấp một khoản tiền lớn để tu sửa
phần mộ của ngài mà hiển thị công lao rực rỡ của ngài.
Hội nghị
chính trị trung ương thông qua quyết nghị: Chính phủ chi phát quốc tệ
5.000 đồng, giao cho đội ủy viên Truyền Hiền, ủy viên Trương kế chủ trì tu
sửa tháp và lập bia cho việc ấy. Từ Dân quốc trở về sau, bậc Sa-môn tôn
túc được quốc gia ghi công khen thưởng chỉ có một người, là Tông sư mà
thôi!